Xác định chất mang thích hợp Để xác định được chất mang thích hợp, mỗi loại chủng giống chọn ra 1 chủng nhóm lactic chọn chủng 6H2; nhóm bacillus chọn chủng H4 lên men lên men riêng rẽ
Trang 1Nghiên cứu kỹ thuật sản xuất chế phẩm probiotic
dùng trong chăn nuôi lợn và gia cầm
Trần Quốc Việt 1 ; Bùi Thị Thu Huyền 1 ; Dương Văn Hợp 2 ; Vũ Thành Lâm 2
1 Viện Chăn nuôi; 2 Trung tâm Công nghệ Sinh học-Đại học Quốc gia Hà nội
1 Đặt vấn đề
Đường tiêu hoá của người và vật nuôi là nơi cư trú của nhiều (400-500) loài
vi sinh vật (Tannock, 1999) Số lượng tế bào vi sinh vật cư trú trong đường tiêu hoá của vật nuôi cao gấp 10 lần số lượng tế bào cấu tạo nên toàn bộ cơ thể (Fonty và ctv, 1995) Sự thay đổi về số lượng và cơ cấu của khu hệ vi sinh vật ruột ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ của vật chủ Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự thay đổi ấy, trong số đó thức ăn và thành phần của khẩu phần giữ vị trí rất quan trọng Theo Metchnikoff (1907) Sự phụ thuộc của các vi sinh vật đường tiêu hoá vào thức ăn
mở ra khả năng có thể thay đổi quần thể vi sinh vật này theo hướng có lợi cho sức khoẻ của con ngưòi và vật nuôi Đó là ý tưởng đầu tiên mở đường cho các nghiên cứu sản xuất và sử dụng các sản phẩm probiotic, chất bổ sung vi sinh vật sống có tác dụng tăng cường sức khoẻ vật nuôi và con người thông qua việc cải thiện sự cân bằng của hệ vi sinh vật đường ruột (Fuller, 1989) Các loài vi khuẩn được sử
dụng như nguồn probiotic rất phong phú như: Bacillus, Bifidobacterium, Enterococcus, Lactobacillus, Lactococcus, Streptococcus và nấm men Saccharomyces (Simon và ctv, 2001) Trong năm 2005 Viện Chăn nuôi phối hợp
với Trung tâm Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà nội đã phân lập, tuyển chọn được 10 chủng vi khuẩn probiotic (4 chủng vi khuẩn Bacillus và 6 chủng vi khuẩn lactic) Từ các chủng trên đã tạo được 3 tổ hợp, tổ hợp 1 gồm 3
chủng vi khuẩn (Enterococcus faecium- 6H2; Lactobacillus acidophilus-C3 và Bacillus subtilis-H4), tổ hợp 2 gồm 3 chủng (Pediococcus pentosaceus -Đ7; Lactobacillus plantarum-1K8 và Bacillus subtilis- H4) và tổ hợp 3 gồm (Lactobacillus plantarum-3K2; Lactobacillus rhamnosus-5M2; Bacillus licheniformis-H3) Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đưa ra được kỹ thuật sản
phẩm probiotic dạng bột trên cơ sở các tổ hợp nói trên
Trang 22 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
2.1 Vật liệu nghiên cứu
- Các chủng vi khuẩn Lactic (6H2; 1K8; Đ7; C3; 3K2; 5M2) và Bacillus (H3 và H4) sau khi đã được chọn lọc, đánh giá và định danh đã được lưu trữ tại Trung tâm Công nghệ Sinh học-Đại học Quốc gia Hà nội
- Các vật liệu khác: Giá đỗ, đường glucose; K2HPO4; MgSO4; Natri glutamat; Pepton, cao nấm men, tinh bột sắn, bột whey (11% protein)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Xác định môi trường lên men thích hợp
Bốn loại môi trường được đưa ra nghiên cứu là MT; MT1; MT2 và MT3 Trong đó MT là môi trường phòng thí nghiệm (MRS đối với vi khuẩn lactic; môi trường thạch thường đối với vi khuẩn Bacillus) MT1; MT2 và MT3 là các môi trường tự tạo, chúng khác nhau về hàm lượng nước chiết giá đỗ, đường gluco, thành phần một số loại muối khoáng và độ pH Để xác định được môi trường lên men thích hợp, trong nhóm vi khuẩn lactic chọn đủ 6 chủng, nhóm Bacillus chọn chủng H4 để nghiên cứu Các chủng giống này được lên men riêng rẽ trong các môi trường khác nhau để tạo sinh khối bằng thiết bị lên men của Nhật (B.E Marubishi) với tốc độ khuấy 220 vòng/phút, điều kiện yếm khí hoàn toàn, nhiệt độ lên men là 37oC Sau thời gian lên men (48-56 giờ) mật độ của từng chủng giống
được đánh giá để xác định môi trường thích hợp nhất
2.2.2 Xác định chất mang thích hợp
Để xác định được chất mang thích hợp, mỗi loại chủng giống chọn ra 1 chủng (nhóm lactic chọn chủng 6H2; nhóm bacillus chọn chủng H4) lên men (lên men riêng rẽ từng chủng) tạo sinh khối và kiểm tra nồng độ vi sinh vật, dịch lên men được hoà loãng với 3 loại chất mang khác nhau: tinh bột sắn; bột Whey và hỗn hợp tinh bột sắn + Whey (tỷ lệ 1/1 theo khối lượng) và đem sấy phun Sau khi sấy phun, sản phẩm thu được được đánh giá chất lượng thông qua việc xác định mật độ vi sinh vật (cfu/g) (mật độ VSV được xác định bằng các phương pháp nghiên cứu VSV thông thường)
2.2.3 Sản xuất chế phẩm Probiotic dạng bột
Trang 3Sau khi xác định được chất mang thích hợp, sản phẩm Probiotic dạng bột
được sản xuất theo qui trình sau: Bước 1: Lên men riêng rẽ từng chủng (6 chủng vi khuẩn lactic và 2 chủng Bacillus); Bước 2: Kiểm tra đánh giá chất lượng thông qua mật độ vi khuẩn (cfu/ml); Bước 3: Hoà loãng dịch lên men với chất mang đã được lựa chọn; Bước 4: Sấy phun bằng thiết bị sấy phun của Trung Quốc (nhiệt độ không khí đầu vào vòi phun: 160-180oC; nhiệt độ không khí đầu ra vòi phun: 60oC, tốc độ bơm: 2lít/giờ, trong thời gian từ 20-30 phút/mẻ)
2.2.4 Đánh giá chất lượng chế phẩm probiotic
Sau khi sấy phun (riêng rẽ từng chủng) sản phẩm thu được (dạng bột, độ ẩm
từ 4-5% - chỉ có một chủng vi khuẩn) được kiểm tra đánh giá chất lượng thông qua mật độ vi sinh vật trong điều kiện bảo quản (bọc trong túi lynon kín, tránh ánh sáng, bảo quản ở nhiệt độ lạnh (4-5oC) và nhiệt độ phòng) trong các khoảng thời gian khác nhau: 0 (ngày chế biến); 7; 15; 30; 45 và 60 ngày
Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành trong thời gian từ tháng 5 đến tháng 12 năm
2006 tại Trung tâm Công nghệ Sinh học - Đại học Quốc gia Hà nội Việc sấy phun tạo sản phẩm dạng bột được thực hiện tại viện Công nghiệp Thực phẩm
3 Kết quả và thảo luận
3.1 ả nh hưởng của các môi trường lên men khác nhau đến khả năng phát triển của các chủng vi khuẩn Lactic và Bacillus
ảnh hưởng của các môi trường khác nhau đến khả năng phát triển của các chủng vi khuẩn Bacillus và Lactic được trình bày ở bảng 1
Bảng 1 ảnh hưởng của môi trường đến khả năng tạo sinh khối của các chủng vi sinh vật
probiotic
Mật đô vi sinh vật (cfu/ml) Chỉ tiêu theo dõi
Vi khuẩn Bacillus - chủng H4 1,8 x 1014 1 x 108 5,2 x 1010 8 x 1013
Vi khuẩn Lactic
Trang 4Chủng Đ7 2 x 109 6,8 x 106 7 x 107 7,2 x 108
M T 1 ; MT2; MT3: Môi trường 1; 2 và 3; MT : Môi trường phòng thí nghiệm
Kết quả bảng 1 cho thấy môi trường phòng thí nghiệm là tốt nhất cho sự phát triển của vi khuẩn Lactic và Bacillus Được lên men trong cùng một môi trường MRS, các chủng 6H2, 1K8, C3 và Đ7 phát triển tốt (mật độ đạt 109 cfu/ml), kém hơn là các chủng 3K2 và 5M2 Chủng vi khuẩn Bacillus H4 phát triển rất tốt trong môi trường thạch thường (mật độ đạt 1,8 x 1014/ml) Trong các môi trường tự tạo thì môi trường MT3 tỏ ra thích hợp nhất Mật độ của các chủng vi khuẩn Lactic như 6H2, 1K8 vẫn đạt mức 109 cfu/ml, các chủng Đ7, C3 và 5M2 đạt 108 cfu/ml Phát triển kém hơn cả là chủng 3K2 Với môi trường MT3 vi klhuẩn Bacillus H4 phát triển tốt, mật độ đạt 8 x 1013 cfu/ml Qua kết quả trên cho thấy môi trường MT3 thích hợp cho cả vi khuẩn Lactic và Bacillus và trong nghiên cứu này môi trường MT3 được chọn là môi trường lên men tạo sinh khối phục vụ cho việc sản xuất các chế phẩm probiotic sau này
3.2 ả nh hưởng của chất mang đến mật độ của các vi khuẩn Lactic và Bacillus trong sản phẩm Probiotic sau sấy phun
Bảng 2 và 3 trình bày kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của chất mang đến mật
độ của các vi khuẩn Lactic (6H2) và Bacillus (H4) trong sản phẩm probiotic trước, sau khi sấy phun và được bảo quản ở các điều kiện khác nhau
Trước khi sấy phun mật độ vi khuẩn lactic (6H2) đạt 1010 cfu/ml và không khác nhau nhiều giữa các loại chất mang Sau khi sấy phun mật độ vi khuẩn ở tất cả các lô đều giảm, việc giảm này là bất khả kháng do tác động của các yếu tố vật
lý diễn ra trong quá trình sấy phun (như thay đổi áp suất, nhiệt độ và khí động học) Theo Damgaard và ctv (2006) các kỹ thuật chế biến như sấy phun và đặc bịêt
là làm khô lạnh có thể làm giảm mật độ các vi khuẩn hữu ích từ 20-70% Ngay trong ngày đầu tiên sau khi sấy phun, mật độ vi khuẩn thấp nhất quan sát thấy ở lô
có chất mang là tinh bột sắn (20 x 105 cfu/g), các lô khác với chất mang là bột whey và hỗn hợp (tinh bột sắn + whey) mật độ vi khuẩn đạt từ 4 đến 5 x 108 cfu/g)
Trang 5Bảng 2 ảnh hưởng của chất mang đến mật độ của các vi khuẩn Lactic (6H2) trong sản phẩm probiotic trước và sau khi sấy phun bảo quản ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau
Mật độ vi khuẩn (cfu/g) sau khi sấy phun và bảo quản (ngày) Chất mang Trước sấy
Tinh bột sắn 1 7,2 x 10 10 20 x 10 5 12 x 10 5 8 x 10 5 5,7 x 10 5 4 x 10 5 2,8 x 10 5
Tinh bột sắn 2 7,2 x 10 10 20 x 10 5 10 x 10 5 6 x 10 5 3,7 x 10 5 1,8 x 10 5 0,8 x 10 5
Bột sữa Whey 1 4 x 10 10 4 x 10 8 3,7 x 10 8 3,4 x 10 8 3,1 x 10 8 2,8 x 10 8 2,2 x 10 8
Bột sữa Whey 2 4 x 10 10 4 x 10 8 3,3 x 10 8 3 x 10 8 2,4 x 10 8 2,1 x 10 8 1,5 x 10 8
TBS + Whey 1 5 x 10 10 3,8 x 10 8 3,5 x 10 8 3,2 x 10 8 3 x 10 8 2,8 x 10 8 1,8 x 10 8
TBS + Whey 2 5 x 10 10 3,8 x 10 8 8 x 10 7 3 x 10 7 6 x 10 6 2 x 10 6 1,0 x 10 6
1 : Bảo quản trong túi nylon, tránh ánh sáng ở 4 o C; 2 : Bảo quản trong túi nylon, tránh ánh sáng ở nhiệt độ phòng
Mật độ vi khuẩn ở các sản phẩm sấy phun với các chất mang khác nhau biến thiên nhiều theo thời gian bảo quản Sau 60 ngày bảo quản ở nhiệt độ phòng, mật độ vi khuẩn giảm từ 1,8 đến 8,9 lần tuỳ theo loại chất mang và điều kiện bảo quản Nhìn chung khi được bảo quản ở nhiệt độ phòng mật độ giảm khá nhiều so với bảo quản lạnh (4-5oC)
Bảng 3 ảnh hưởng của chất mang đến mật độ của các vi khuẩn Bacillus (H4) trong sản phẩm probiotic trước và sau khi sấy phun bảo quản ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau
Mật độ vi khuẩn (cfu/g) sau khi sấy phun và bảo quản (ngày) Chất mang Trước sấy
Tinh bột sắn 1 5 x10 13 3,8 x10 8 3,1 x10 8 2,4 x10 8 1,6 x10 8 1,1 x10 8 0,7 x10 8
Tinh bột sắn 2 5 x10 13 3,8 x10 8 2,3 x10 8 1,8 x10 8 1,4 x10 8 1,0 x10 8 0,5 x10 8
Bột sữa Whey 1 5 x10 12 3,8 x10 8 3,3 x10 8 2,8 x10 8 2,4 x10 8 2,0 x10 8 1,5 x10 8
Bột sữa Whey 2 5 x10 12 3,8 x10 8 3 x10 8 2,2 x10 8 1,8 x10 8 1,3 x10 8 0,8 x10 8
TBS + Whey 1 3 x10 12 3 x10 8 1,8 x10 8 1,5 x10 8 1,1 x10 8 0,9 x10 8 0,5 x10 8
TBS + Whey 2 3 x10 12 3 x10 8 1,6 x10 8 1,4 x10 8 0,9 x10 8 0,6 x10 8 0,4 x10 8
Mật độ vi khuẩn Bacillus (H4) trước và sau khi sấy phun đều cao (1012-1013
cfu/g), không phụ thuộc nhiều vào chất mang và không thay đổi nhiều theo thời gian bảo quản Sở dĩ như vậy là vì vi khuẩn Bacillus thuộc nhóm vi khuẩn sinh bào
tử, rất dễ thích nghi với những thay đổi của môi trường sống và có thể tồn tại lâu dài trong những điều kiện không thuận lợi Chính vì những lý do đó mà một số chủng Bacillus được chọn để sản xuất các chế phẩm Probiotic (Alexopoulos và ctv,
Trang 62004; Duc và ctv, 2004; Jadamus et al, 2002) Từ kết quả ở bảng 2 và 3 cho thấy, mật độ vi khuẩn sau khi sấy phun giảm ít ở trong sản phẩm mà chất mang là bột sữa whey, sau đó là hỗn hợp whey và tinh bột sắn và thấp nhất ở sản phẩm có chất mang là tinh bột sắn Nhưng do bột sữa whey chứa nhiều đường lactose (> 40%) nên sau khi sấy phun, sản phẩm rất dễ hút ẩm khi tiếp xúc với không khí, gây khó khăn cho quá trình sử dụng Vì những lý do đó mà chất mang bao gồm hỗn hợp whey và tinh bột sắn (tỷ lệ 1/1 theo khối lượng) được coi là chất mang thích hợp cho sản xuất chế phẩm Probiotic bằng phương pháp sấy phun
3.3 ả nh hưởng của sấy phun và các điều kiện bảo quản khác nhau đến mật độ của các chủng vi khuẩn Lactic và Bacillus trong sản phẩm Probiotic
Sau khi được đánh giá là chất mang thích hợp nhất cho sản xuất probiotic, hỗn hợp whey và tinh bột sắn được sử dụng để sản xuất các chế phẩm probiotic
đơn chủng Tất cả 6 chủng vi khuẩn lactic và 2 chủng Bacillus được lên men riêng
rẽ, tạo sinh khối, hoà loãng với chất mang, sấy phun tạo sản phẩm dạng bột và bảo quản trong các điều kiện khác nhau Kết quả được trình bày ở bảng 4
Bảng 4 Mật độ của các chủng vi khuẩn trong sản phẩm probiotic được bảo quản ở nhiệt
độ lạnh (4 o C) và nhiệt độ phòng trong các khoảng thời gian bảo quản khác nhau (cfu/g)
Thời gian bảo quản sau khi sấy phun (ngày)
Kí hiệu
chủng
Trước sấy
6H21 5 x 1010 3,8 x 108 3,5x108 3,2x108 3x108 2,8x108 1,8x108
1K81 3 x 109 8 x 106 5,2 x 106 2 x 106 9,2 x 105 7,2 x 105 4 x 105
1K82 3 x 109 8 x 106 1 x 106 8 x 105 6,2 x 105 3 x 105 2 x 105
Đ71 7,2 x 108 3,4 x 106 2 x106 9,5 x 105 6,7 x 105 4 x 105 8 x 104
Đ72 7,2 x 108 3,4 x 106 1 x 106 5 x 105 2 x 105 1,5 x 105 1,2 x 104
C31 8 x 108 7 x 106 6,2 x 106 4,4 x 106 3 x 106 2,5 x 106 2 x 106
C32 8 x 108 7 x 106 5,4 x 106 4,2 x 106 2,8 x 106 1,5 x 106 8 x 105
3K21 7 x 107 3 x 107 2,6 x 107 2,3 x 107 8,5 x 106 3,8 x 106 1,8 x 106
3K22 7 x 107 3 x 107 5,5 x 106 2 x 106 8,2 x 105 4 x 105 3,8 x 105
5M21 1 x 108 8 x 106 6,5 x 106 5,6 x 106 4,8 x 106 2,8 x 106 1,8 x 106
5M22 1 x 108 8 x 106 4,5 x 106 1,6 x 106 6,8 x 105 2,8 x 105 1,2 x 105
H31 8 x 108 3 x 107 2,5 x 107 2,3 x 107 2 x 107 1,8 x 107 1,5 x 107
Trang 7H32 8 x 108 3 x 107 2,5 x 107 2,1 x 107 2 x 107 1,7 x 107 1,3 x 107
: Bảo quản trong túi nylon, tránh ánh sáng ở 4oC; 2: Bảo quản trong túi nylon, tránh ánh sáng ở nhiệt độ phòng
Kết quả ở bảng 4 cho thấy ngay sau khi sấy phun, mật độ của các chủng trong sản phẩm cũng rất khác nhau, trong số 6 chủng vi khuẩn Lactic, chỉ có chủng 6H2 có mật độ đạt 108 cfu/g, sau đến là 3K2 (107 cfu/g), các chủng còn lại (1K8;
Đ7; C3 và 5M2) mật độ chỉ đạt 106 cfu/g Theo thời gian mật độ của các vi khuẩn Lactic giảm dần Cùng trong điều kiện bảo quản lạnh (4-6oC) mật độ của hai chủng Đ7 và 1K8 giảm mạnh sau 15 đến 30 ngày (chỉ đạt 105 cfu/g), trong khi đó
4 chủng khác (6H2, C3, 3K2 và 5M2) vẫn giữ được mật độ 106 cfu/g sau hai tháng bảo quản So với bảo quản lạnh, bảo quản ở nhiệt độ phòng làm giảm đáng kể mật
độ của các vi khuẩn lactic trong sản phẩm, trong đó mức giảm nhiều nhất quan sát thấy ở chế phẩm với chủng Đ7 (sau 60 ngày bảo quản, mật độ chỉ đạt 104 cfu/g)
So với các chủng vi khuẩn lactic, mật độ của các chủng vi khuẩn Bacillus tương
đối ổn định theo thời gian và biến đổi không nhiều trong các điều kiện bảo quản khác nhau Sau 60 ngày, ngay cả khi được bảo quản trong nhiệt độ phòng, mật độ của chủng H4 vẫn đạt 108 cfu/g, chủng H3 thấp hơn (107 cfu/g) Theo kết quả nghiên cứu của Lê Tấn Hưng và ctv (2003), khi bảo quản chế phẩm BIO II (chế
phẩm Probiotic gồm các chủng vi khuẩn lactic (Lactobacillus sp) và Bacillus (Bacillus sp) được sản xuất theo phương pháp đông khô) trong túi nhôm, ở nhiệt
độ phòng mật độ các vi khuẩn này cũng có giảm nhưng không nhiều, sau 90 ngày mật độ các vi khuẩn lactic đạt 1010 cfu/g Từ đó cho thấy với công nghệ sấy phun bằng máy của Trung Quốc, việc đạt được mật độ các vi khuẩn hữu ích cao (từ 109
cfu/g trở lên) là khó khăn
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
Từ các kết quả trên, một số kết luận được rút ra như sau:
- Môi trường nuôi cấy thích hợp đối với các chủng vi khuẩn Lactic (6H2;
1K8; Đ7; C3; 3K2; 5M2) và Bacillus (H3 và H4) là môi trường MT3
Trang 8- Chất mang thích hợp cho sản xuất chế phẩm probiotic dạng bột bằng phương pháp sấy phun là hỗn hợp tinh bột sắn và bột sữa whey theo tỷ lệ 1/1 (theo khối lượng) Với chất mang này mật độ vi khuẩn probiotic (cả Lactic và Bacillus)
sau khi sấy phun đạt từ 106 đến 108 cfu/g
- Kỹ thuật bảo quản tốt nhất đối với các chế phẩm Probiotic chỉ gồm các chủng vi khuẩn lactic là bảo quản ở nhiệt độ lạnh (4-6 oC) Tuy nhiên, trong điều kiện sản xuất có thể bảo quản ở nhiệt độ phòng trong thời gian không quá 1 tháng
Đối với các chế phẩm probiotic gồm các chủng Bacillus có khả năng sinh bào tử,
có thể bảo quản được ở nhiệt độ phòng trong thời gian 2 tháng
- Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu phân lập, tuyển chọn và đánh giá đặc tính probiotic của các chủng vi khuẩn lactic và kết quả nghiên cứu này, một qui trình kỹ thuật sấy phun tạo sản phẩm probiotic đã được xây dựng Qui trình tóm tắt
được trình bày ở phụ lục
4.2 Đề nghị
Đề nghị được tiến hành sản xuất thử
Tài liệu tham khảo
1 Alexopoulos, C., I.E Georgoulakis, A Tzivara, S.K.Kritas, A Siochu, and S.C Kyriakis 2004
Field evaluation of the efficacy of a probiotic containing Bacillus lichenformis and Bacillus subtilis spores on the health status and performance of sows and their litters J Anim Nutr (Berl) 88
381-392
2 Damgaard and Mclaren 2006 Probiotics for pigs www.pigsite
3 Duc, LH., Hong, H.A., Barbosa, T.M., Henriques, A.O and Cutting, S.M 2004 Characterization
of Bacillus Probiotics Available for Human Use Applied and Environmental Microbiology Vol
70 pp 2161-2171
4 Fonty G, Jouany J.P, Forano E and Gouet P 1995 Cited by Didier Jans 2005 Probiotic in
animal nutrition
5 Fuller, R 1989 Probiotics in man and animals Journal of Applied Bacteriology, 66, 365-378
6 Gardener, G E, E O’Sullivan, J Kelly 2000 Comperative survival rates of human-derived probiotic Lactobacillus paracasei and L salivarius strains during heat treament and spray drying Applied and environmental microbiology Vol 66, No 6, p 2605-2612
Trang 97 Jadamus, A., W Vahjen, K Schafer, and O.Simon 2002 Influence of the probiotic strain Bacillus
cereus var Toyoi on the development of enterobacterial growth on selacted parameters of bacterial metabolism in digesta samples of piglets J Anim Nutr 86 42-54
8 Lª TÊn H−ng, Vâ ThÞ H¹nh, Lª ThÞ BÝch Ph−îng, Tr−¬ng ThÞ Hång V©n., Vâ Minh S¬n 2003 Nghiªn cøu s¶n xuÊt chÕ phÈm probiotic BIO II vµ kÕt qu¶ thö nghiÖm trªn ao nu«i t«m TuyÓn tËp b¸o c¸o t¹i Héi nghÞ C«ng nghÖ Sinh häc toµn quèc n¨m 2003 75-79
9 Metchnikoff 1907 TrÝch theo: FAO/WHO 2001 Reprot of a Joint FAO/WHO Expert
Consultation on Evaluation of Health and Nutritional Properties of Probiotics in Food including Powder Milk with Live Lactic Acid Bacteria
10 NguyÔn ThÞ Hång Hµ, Lª Thiªn Minh, NguyÔn Thuú Ch©u 2003 Nghiªn cøu c«ng nghÖ s¶n xuÊt
chÕ phÈm vi khuÈn lactic probiotic Héi nghÞ C«ng nghÖ Sinh häc toµn quèc p 251-254
11 Simon O, A Jadamus and W Vahjen 2001 Probiotic feed additives – effectiveness and expected modes of action J Animal Feed Sci 10 51-67
12 Tannock G.W 1999 Analysis of the intestinal microflora: A renaissance Antonie van
Leenwenhoek 76 265-278
Trang 10Phụ lục Qui trình sản xuất chế phẩm probiotic
Định danh
Kiểm tra số lượng vi sinh vật
Kiểm tra số lượng vi sinh vật
Lên men trong môi trường dịch thể ( các cấp )
Thu nhận sinh khối vi sinh vật
Trộn cùng chất mang
Sấy phun riêng rẽ
Phối trộn và đóng gói Phân lập và tuyển chọn chủng vi khuẩn Probiotic
Các chủng vi sinh vật có đặc tính probiotic