1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn (rau muống và dây lang) đến lượng thu nhận thức ăn, khả năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng

9 313 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 194,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn rau muống và dây lang đến lượng thu nhận thức ăn, khả năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng Doãn Thị Gắng 1 , Khúc Thị Huê 1 ,

Trang 1

ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn (rau muống và dây lang) đến lượng thu nhận thức ăn, khả

năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng

Doãn Thị Gắng 1 , Khúc Thị Huê 1 , Nguyễn Thị Mùi 2 , Đinh Văn Bình 1

1 Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây; 2 Bộ môn NC Đồng cỏ và Cây TAGS

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi thỏ hiện là một nghề đang được phát triển mở rộng trong sản xuất, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Chăn nuôi thỏ góp phần cải thiện dinh dưỡng trong gia đình, tiết kiệm nguồn thức ăn phụ phẩm dư thừa, nhân công lao động phụ như cụ già, em nhỏ và tăng thêm thu nhập cho gia đình từ nguồn bán thỏ (Sức &Bình, 1996) Thỏ có thể ăn nhiều loại cỏ, lá, quả (chuối ) củ (sắn, khoai lang), các phụ phẩm (gạo, cám gạo) Đặc biệt thỏ rất thích ăn các loại rau như: rau muống, dây khoai lang

Rau muống có sản lượng rất cao và khoảng 28% Protein thô, 12% xơ thô Rau muống có khoảng thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu được với côn trùng thông thường Rau muống có thể sinh trưởng được cả trên cạn và dưới nước ở vùng nhiệt đới người và động vật sử dụng rau muống thường xuyên Một số nghiên cứu cho rằng rau muống bổ sung nguồn Protein cho lợn Ba Xuyên(Mến, 1999) Hơn nữa thỏ sinh trưởng tăng 18g/ngày khi chỉ dùng rau muống (Hongthong, 2004)

Dây khoai lang trồng một lần sau đó cắt suốt cả năm, 20 ngày thu hoạch một lần với sản lượng 1.7 tấn dây lang tươi/ha/1lần thu hoạch (Mận, 1994) Rau lang có hàm lượng cacbonhyđat thấp nhưng Protein thô cao (18-20% DM) Vì vậy

nó được sử dụng như là nguồn Protein và vitamin cho động vật (Ffoulkes, 1997; Dominnguez, 1992), là nguồn thức ăn cho các trung tâm lợn ở miền nam Việt Nam (Ly, 2000), thức ăn chính cho gia súc nhai lại(Ruiz, 1980) Kết quả trước đây chỉ

ra rằng dê sinh trưởng sử dụng 100% dây khoai lang tươi tăng trọng 44/ngày (Vo Lam, 2003)

Trang 2

ăn là một hành động có mục đích thu nhận thức ăn theo nhu cầu của mỗi cơ thể sống Tuy nhiên hnàh động này có sự biến thiên rất khác nhau ở mỗi loài Cách chế biến và điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến chức năng thu nhận của mỗi loài Gia súc nhai lại và tiểu gia súc (thỏ) thích ăn thức ăn sống hơn thức ăn chín, thích

ăn lá cây hơn thân cây, do vậy trong quá trình ăn chúng thường lựa chọn những loại và những phần thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao để ăn trước (Lu 1987)

Phương pháp cho ăn trong chăn nuôi thỏ ở Việt Nam hiện nay vẫn thường

sử dụng phương pháp cho ăn truyền thống là vứt thức ăn xuống sàn chuồng, do đó tye lệ sử dụng thức ăn thấp, rơi vãi nhiều lại không đáp ứng đúng với bản chất sinh học của loại gặm nhấm này Tuy nhiên đã có một số hộ nông dân biết sử dụng biện pháp cho ăn mới là cột nhiều loại ngọn lá cây khác nhau cùng một lúc và treo chúng lên thành chuồng mỗi khi cho thỏ ăn Đây có thể là một cải tiến nhằm tăng lượng thức ăn thu nhận và khả năng tiêu hóa của thỏ

• Mục đích của nghiên cứu:

- Tìm ra phương pháp cho ăn tối ưu cho thỏ nhằm nâng cao khă ăng thu nhận thức ăn, tỷ lệ tiêu hoá thức ăn và khả năng tăng trọng

- Tìm ra được tập tính ăn uống và quy luật hoạt động của thỏ nuôi nhốt trong một ngày, từ đó rút ra được thời gian và các bữa cho ăn thích hợp cho thỏ

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Thỏ Newzeland White 30 ngày tuổi có khối lượng 0.7-1 kg

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: 2005-2006

- Địa điểm: Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn Tây Hà Tây

2.3 Thiết kế thí nghiệm

2.3.1 ả nh hưởng của phương pháp cho ăn rau muống, rau lang tới lượng thức ăn thu nhận của thỏ sinh trưởng (TN1)

36 thỏ con giống Newzeland White được đưa vào thí nghiệm với thiết kế thí nghiệm khối ngẫu nhiên với 02 yếu tố ảnh hưởng (phương pháp cho ăn và thức ăn

bổ sung) Khẩu phần cơ sở được sử dụng cho thỏ là Block với 5% khối lượng cơ

Trang 3

thể, bao gồm các thành phần: 15% bột đậu tương + 25% bột sắn + 20% cám gạo + 5% khoáng + 35% rỉ mật Trước khi cho ăn Block được nắm chặt lại thành những nắm nhỏ và bỏ vào máng đựng thức ăn tinh

Các khẩu phần sử dụng trong thí nghiệm bao gồm:

I- BMT: Block + Rau muống treo

II- BMGM: Block + Rau muống và cỏ ghine cho vào máng

III- BLT: Block + Rau lang treo

IV-BLGT: Block + Rau lang treo và cỏ ghine

V- BMLT: Block + Rau muống treo + rau lang treo

VI-BMLGT: Block + Rau muống treo + rau lang treo và cỏ ghine

2.3.2 ả nh hưởng của phương pháp cho ăn rau muống, rau lang tới khả năng tiêu hóa của thỏ sinh trưởng (TN2)

06 con thỏ giống Newzeland White có khối lượng và ngày tuổi tương tự thí nghiệm 1 được đưa vào nghiên cứu trong thí nghiệm này tương ứng với các khẩu phần ăn ở thí nghiệm 1 Thí nghiệm sử dụng thiết kế ô vuông Latinh 6 khẩu phần x

6 giai đoạn Mỗi giai đoạn thỏ được tập ăn thức ăn thí nghiệm trong vòng 07 ngày,

07 ngày kế tiếp cho thu thập số liệu và 07 ngày cho thỏ nghỉ ngơi ăn các loại thức

ăn ưa thích trước khi đưa vào giai đoạn thí nghiệm mới

2.3.3 Tập tính của thỏ (TN3)

Thí nghiệm này được tién hành đồng thời cùng một lúc với TN1 vào tuần cuối cùng trước khi kết thúc thí nghiệm Mỗi khẩu phần thí nghiệm tiến hành theo dõi 3 con thỏ và mỗi con đều được theo dõi liên tục trong vòng 24 giờ trong

2 4 Theo dõi và thu thập số liệu

Thỏ được nhốt riêng biệt mỗi con một ô chuồng và được cho ăn 3 lần/ngày vào lúc 8 giờ, 14 giờ và 20 giờ hàng ngày

Rau muống và rau lang được cắt ngắn thành 20-30 cm để ráo nước trước khi cho ăn Thức ăn được buộc cao hơn so với sàn của lồng chuồng là 5-7 cm

Thỏ được cân khối lượng lúc bắt đầu thí nghiệm và cứ liên tiếp sau 7 ngày cân một lần vào buổi sáng trước khi cho ăn Thức ăn cho vào và thức ăn thừa được cân ra vào buổi sáng hàng ngày Mẫu thức ăn thừa được thu lại hàng ngày tương

Trang 4

ứng với từng khẩu phần thí nghiệm, sau đó trộn vào hàng tháng để đưa đi phân tích các thành phần vật chất khô, tro, protein, NDF và ADF

Thí nghiệm sẽ được tiến hành trong 90 ngày đối với thí nghiệm sinh trưởng,

42 ngày đối với thí nghiệm tiêu hóa và 3 ngày đối với theo dõi tập tính

Trong thí nghiệm tiêu hóa: Mẫu phân được tiến hành lấy 2 lần/ngày vào lúc

7 giờ sáng và 4 giờ chiều

Số liệu được thu thập hàng ngày và xử lý theo phần mềm Minitab 13.31 Sử dụng công cụ phân tích Anova General Linear model để phân tích sự sai khác giữa các khẩu phần thí nghiệm ở mức ý nghĩa P <0,05, với các nhân tố ảnh hưởng là phương pháp cho ăn, thức ăn bổ sung

3 Kết quả và thảo luận

Bản g 1 Thành phần hoá học của một số loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm

Loại thức ăn VCK(%) Protein(%) Tro(%) NDF(%) ADF(%)

Bảng 1 cho thấy, vật chất khô của thức ăn trong thí nghiệm giao động từ 12.5%

đối với rau lang tới 90.2% bột đậu tương Protein thô giao động từ 1.62%-39.1%, rau muống 23.2% và 26.18% đối với rau lang

Bảng 2 VCK, protein thu nhận hàng ngày của thỏ

Tổng VCK cho vào, g/ngày 150 191 140 191 161 193 1,89 VCK thu nhận, g/ngày

Trang 5

Cỏ Ghine 40 44 34 0,68

Protein thô, g/ngày 20,5 21,8 23,9 24,8 25,4 25,3 0,26

Bảng 2 cho thấy: Trong các lô thí nghiệm thỏ ăn được khoảng 40-77% tổng vật chất khô đưa vào Lượng thức ăn thỏ ăn được tương tự nhau giữa các lô 147.27-149.7 g VCK/thỏ/ngày đối với lô II, IV, VI Lượng vật chất khô thu nhận ở 3 lô có

cỏ ghine cao hơn so với lô chỉ sử dụng rau muống, rau lang và rau muống - rau lang 111.62 - 124.74 g/thỏ/ngày Protein thô thỏ ăn được cao nhất lô sử dụng rau muống - rau lang, rau muống - rau lang - cỏ ghine và thấp nhất lô chỉ dụng rau muống

0%

20%

40%

60%

80%

100%

Block Cỏ Lang Muống

Tăng trọng của thỏ trong thí nghiệm (bảng 3, biểu đồ 2)đạt được 21 - 27g/con/ngày Tăng trọng cao nhất trong lô sử dụng rau muống - rau lang - cỏ ghine và thấp nhất lô chỉ sử dụng rau lang Tuy nhiên không có sự khác nhau giữa giữa 3 lô II, IV, VI Khả năng sinh trưởng của thỏ trong thí nghiệm cao hơn so với báo cáo của Hong Thong Phimmmasan (2004) ở Lào với 18g/ngày; Sarwatt (2003) ở Tanzania với 13 - 19g/ngày và Pok Samkol (2005) ở Cambodia với 14 - 20g/ngày của Chi phí thức ăn cho 1 kg tăng trọng của thỏ cao nhất lô chỉ có rau muống 10.72kg VCK và 1.73 kg Protein

3 Khả năng tăng trọng của thỏ sinh trưởng

Trang 6

Chỉ tiêu I II III IV V VI SE Khối lượng ban đầu (g) 980 940 925 970 930 950 0,04 Khối lượng cuối kỳ (g) 2700 2890 2530 2900 2760 3060 0,06 Tăng trọng g/con/ngày 21,90 26,41 21,11 26,73 23,07 27,24 1,11 Chi phí VCK/kg tăng trọng 10,72 8,23 7,68 7,26 6,21 7,03 0,52 Chi phí Protein/kg tăng trọng 1,73 1,18 1,65 1,22 1,26 1,2 0,87

g/con/ngày

0 5 10 15 20 25 30

g/con/ngày

Biểu đồ Khả năng tăng trọng của thỏ sinh trưởng

Bảng 4 Tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến của thỏ với các khẩu phần ăn

Thức ăn ăn được

Phân

Tỷ lệ tiêu hoá, %

Trang 7

Bảng 4 cho thấy: Trong lô I, III, V chỉ dùng rau muống, rau lang tỷ lệ tiêu hoá cao hơn so với lô kết hợp với cỏ ghine: 84.9-86% vật chất khô và 84.6-85.7%

đối với Protein thô Tỷ lệ tiêu hoá NDF thấp nhất lô I chỉ sử dụng rau muống(-36.695) Theo kết quả cho thấy NDF ăn vào thấp hơn NDF thải ra Tuy nhiên nhu cầu xơ trong bữa ăn của thỏ cao hơn so với tiểu gia súc khác(13-16%) Khi thí nghiệm thức ăn chỉ có rau muống hàm lượng xơ trong thức ăn không đủ nhu cầu tiêu hoá

Diets

Note: Eating: Red; Sleeping: Black; Exceted urine: Heavy green; Excreted feaces: Light green; Access soft feaces:

SP-GG

SP-WS

SP-WS-GG

WS

WS-GG

SP

2 3 4 5

22 23 0 1

18 19 20 21

14 15 16 17

10 11 12 13

6 7 8 9

  5 Tập tính của thỏ trong thời gian ban ngày

ăn

Phút/ngày 113.3 149 116.7 120.7 115.7 143.7

Nghỉ

Ngủ

Thải nước

Trang 8

Thời gian ăn của thỏ tập chung chính ở 3 thời điểm: 7-11h, 14-19h và 20-23h, thời gian tiêu tốn 113-149phút/ngày Qua biểu đồ 1 biểu thị thời gian ăn của thỏ trong lô có kết hợp với cỏ ghine II, IV, VI trong mỗi lần ăn trong ngày dài hơn lô chỉ dùng rau muống, rau lang và rau muống-rau lang(I,III, V) Thời gian ăn chiếm 60-70% vào ban đêm tính bắt đầu sau 6h tối

Thỏ trong lô sử dụng rau muống, rau lang hoặc kết hợp tiêu tốn quá nhiều thời gian cho những hoạt động ngủ và nghỉ bởi vì trong suốt thời gian thí nghiệm thỏ bị bệnh tiêu chảy, cũng như số lần đi tiểu hoặc thải phân nhiều hơn so với lô khác Thời gian ngủ và nghỉ tập chung 11:00-14:00h, 21:00-0:00 hàng ngày Thời gian ăn phân lại 4:00-5:30 sáng hàng ngày, đây là một hoạt động đặc trưng nhất của thỏ

4 Kết luận

- Phương pháp cho ăn có ảnh hưởng đến khả năng thu nhận thức ăn, tăng trọng và tiêu hoá khẩu phần trên thỏ Phương pháp cho ăn treo, có sự kết hợp nhiều loại thức ăn khác nhau ( rau muống + cỏ ghine, rau lang + cỏ ghine, rau muống + rau lang + cỏ ghinê) cho kết quả tốt hơn các phương pháp khác về thu nhận thức

ăn, tăng trọng và tỷ lệ tiêu hoá của thỏ sinh trưởng

- Thời gian ăn của thỏ dài hơn khi bổ sung nhiều xơ (cỏ ghine) trong bữa

ăn

- Nên cho thỏ ăn vào 03 thời điểm trong ngày lúc 7:00 giờ sáng, 14:00 giờ chiều và đặc biệt là 19:00 đến 20:00 giờ đêm, với tỷ lệ khối lượng thức ăn trong ngày là 50% ban ngày và 50% ban đêm

Tài liệu tham khảo

1 A OA C 1990 Official Methods of Analysis Association of Official Analytical Chemists 15 th edition (K Helrick editor) Arlington pp 1230

2 Le Thi Men, Brian Ogle and Vo Van Son 1999 Evaluation of water spinach as a protein source for

Baxuyen and Large White sows fattening crossbred pigs MSc thesis, Swedish University of Agricultural Sciences, Uppsala

3 Van Soest P J, Robortson J B and Lewis B A 1991 Methods for dietary fiber, neutral detergent fiber and

non-starch polysaccharides in relation to animal nutrition Journal of Dairy Science 73:2583-3593

4 Ly Thi Luyen, 2003 Effect of the urea level on biomass production of water spinach (Ipomoea aquatica) grown in soil and in water Goat and Rabbit Research Centre, Bavi, Vietnam : manhluyen@yahoo.com

Trang 9

5 Vo Lam 2003, Agricultural potential of the sweet potato (Impomoea batatas L) for forage production

and sweet potato vines as a feed for growing goats MscThesis Swedish University of Agricultural Sciences, Uppsala

6 Theng Kouch 2003, Studies on feeding behavior in goats fed tree foliages

7 MscThesis Swedish University of Agricultural Sciences, Uppsala

8 Ho Bunyeth, Biodigester effluent as fertilizer for water spinach established from seed or from cuttings

Heifer Project International PO Box 2447, Phnom Penh, Cambodia: bunyeth@online.com.kh

Ngày đăng: 17/05/2015, 23:28

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  1. Thành phần hoá học của một số loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm - Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn (rau muống và dây lang) đến lượng thu nhận thức ăn, khả năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng
ng 1. Thành phần hoá học của một số loại thức ăn sử dụng trong thí nghiệm (Trang 4)
Bảng 1 cho thấy, vật chất khô của thức ăn trong thí nghiệm giao động từ 12.5% - Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn (rau muống và dây lang) đến lượng thu nhận thức ăn, khả năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng
Bảng 1 cho thấy, vật chất khô của thức ăn trong thí nghiệm giao động từ 12.5% (Trang 4)
Bảng 2 cho thấy: Trong các lô thí nghiệm thỏ ăn đ − ợc khoảng 40-77% tổng  vật chất khô đ − a vào - Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn (rau muống và dây lang) đến lượng thu nhận thức ăn, khả năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng
Bảng 2 cho thấy: Trong các lô thí nghiệm thỏ ăn đ − ợc khoảng 40-77% tổng vật chất khô đ − a vào (Trang 5)
Bảng 4. Tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến của thỏ với các khẩu phần ăn - Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn (rau muống và dây lang) đến lượng thu nhận thức ăn, khả năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng
Bảng 4. Tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến của thỏ với các khẩu phần ăn (Trang 6)
Bảng 4 cho thấy: Trong lô I, III, V chỉ dùng rau muống, rau lang tỷ lệ tiêu  hoá cao hơn so với lô kết hợp với cỏ ghine: 84.9-86% vật chất khô và 84.6-85.7% - Ảnh hưởng của phương pháp cho ăn các loại thức ăn (rau muống và dây lang) đến lượng thu nhận thức ăn, khả năng tiêu hóa và tập tính của thỏ sinh trưởng
Bảng 4 cho thấy: Trong lô I, III, V chỉ dùng rau muống, rau lang tỷ lệ tiêu hoá cao hơn so với lô kết hợp với cỏ ghine: 84.9-86% vật chất khô và 84.6-85.7% (Trang 7)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w