Hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa Tuổi đẻ lần đầu, sản lượng sữa và tỷ lệ mỡ sữa của bò lai hướng sữa việt nam Phạm Văn Giới và Nguyễn Văn Đức Bộ môn Di truyền Giống Vật nu
Trang 1Hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa Tuổi đẻ lần đầu, sản lượng sữa và tỷ lệ mỡ sữa của bò lai hướng sữa
việt nam
Phạm Văn Giới và Nguyễn Văn Đức
Bộ môn Di truyền Giống Vật nuôi
Summary
Data from 4,788 F1(HFxLS), F23/4(HFxLS) and ≥F37/8(HFxLS) cows, born from 1995 to 2005 were collected for studying heritabilities and genetic correlations amongst age at first calving, lactation milk yield and fat percentage traits Heritabilities for age at first calving, lactation milk yield and fat percentage were 0.30±0.11, 0.32±0.12 and 0.34±0.09 The genetic correlations between age at first calving and lactation milk yield and fat percentage were 0.09±0.09 and 0.06±0.03, indicating that cows which were early first calving not influencing milk yield and fat presented Milk yield and fat presented strongly negative correlations –0.93±0.09, therefore, these two traits could be improved by using independent selection method To improve these traits, selection methods should be considered
Key words: Heritabilities, Genetic correlations, Age at first calving, Lactation milk yield and Fat
percentage
1 Đặt vấn đề
Nhu cầu tiêu dùng các sản phẩm về sữa ngày càng cao trong cộng đồng đòi hỏi phải phát triển ngành chăn nuôi bò sữa Như vậy, phát triển ngành chăn nuôi
bò sữa là yêu cầu cấp bách, đồng thời là mục tiêu trọng tâm lâu dài của ngành chăn nuôI nước ta Giống bò nội nước ta chịu đựng kham khổ và chống chịu bệnh tốt, song tầm vóc nhỏ, năng suất sữa quá thấp, dẫn đến nuôi chúng không thể có hiệu quả kinh tế cao Để giải quyết những khiếm khuyết của bò nội, nhập giống bò sữa cao sản Holstein Friesian (HF) là một giải pháp Song, do khí hậu nóng ẩm, kỹ thuật và điều kiện nuôi dưỡng chưa tốt nên giải pháp nhập nội cũng chưa thu được hiệu quả cao Vì vậy, lai tạo giữa bò nội với bò sữa cao sản tạo nên đàn bò lai hướng sữa có thể là giải pháp tốt nhất ở nước ta
Lai tạo giữa bò nội đã cải tiến với bò sữa cao sản nhập nội HF đã được nghiên cứu trong nhiều năm qua và đã mang lại những thành công lớn (Nguyễn Văn Thưởng và cs., 1990, 2006; Trần Trọng Thêm và cs., 2005) Một số tổ hợp lai giữa chúng như F11/2HF, F23/4HF và F37/8HF có năng suất sữa thích hợp và chất
Trang 2lượng sữa tốt Nhờ vậy, bò lai hướng sữa đã được người chăn nuôi chấp thuận vì mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi bò Chính vì vậy, công trình khoa học tạo bò lai hướng sữa Việt nam đã được Chính phủ tặng Giải thưởng Khoa học Công Nghệ Nhà Nước (2000)
Bò lai hướng sữa đóng góp phần quan trọng vào sự phát triển ngành chăn nuôi bò sữa ở nước ta, chiếm khoảng 85% Thế nhưng, những năm qua, bò lai hướng sữa chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất sữa và đặc biệt chưa mang lại lợi ích kinh tế cao cho người chăn nuôi Để phát triển đàn bò lai hướng sữa ở nước ta, các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu bản chất di truyền và ưu thế lai của các tính trạng sinh trưởng, phát triển và sản xuất sữa nhằm xác định phương pháp chọn lọc và tổ hợp lai thích hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao
Để được góp phần vào công việc nâng cao hiệu quả kinh tế của ngành chăn nuôi bò lai hướng sữa, xác định hệ số di truyền và tương quan di truyền giữa các tính trạng tuổi đẻ lần đầu (TĐLĐ), sản lượng sữa (SLS) và tỷ lệ mỡ sữa (TLMS) giúp cho việc xác định phương thức chọn lọc hữu hiệu nhất là quan trọng và cấp
thiết Với lý do đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Xác định hệ số di
truyền và tương quan di truyền giữa tuổi đẻ lần đầu, sản lượng sữa và tỷ lệ mỡ sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam" với mục tiêu: Xác định được hệ số di truyền
và tương quan di truyền của các tính trạng TĐLĐ, SLS và TLMS của bò lai hướng sữa Việt Nam để phục vụ mục tiêu lâu dài là góp phần áp dụng phương pháp chọn lọc hữu hiệu bò lai hướng sữa phù hợp với điều kiện sinh thái nước ta, tiến tới cố
định thành giống bò sữa Việt Nam dễ nuôi, sinh sản tốt, sản lượng thích hợp và chất lượng sữa tốt nhằm sản xuất khối lượng sữa hàng hoá chất lượng tốt với quy mô lớn, hiệu quả kinh tế cao
2 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Bò lai hướng sữa F11/2, F23/4 và ≥F37/8HF, sinh ra từ 1995 đến 2005, lý lịch phả hệ được sử dụng cho nghiên cứu này
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Hà Tây, Hà Nội-vùng ven, Tp Hồ Chí Minh, Bình Dương-Long An-Đồng Nai
Trang 32.3 Chỉ tiêu nghiên cứu
SLS305 ngày (kg) và TLMS (%) 4 chu kỳ đầu Sản lượng sữa quy chuẩn 4%
mỡ sữa (SLS4%mỡ)
2.4 Phương pháp thu thập, sửa soạn và xử lý số liệu
41 Thu thập số liệu
Số liệu trên sổ, trong máy tính của 4.788 bò cái lai, sau khi kiểm tra đã loại bớt còn lại 3.278 bò lai hướng sữa F11/2, F23/4 và ≥ F37/8HF nuôi ở 4 cơ sở về TĐLĐ, SLS và TLMS được thu thập đủ điều kiện cho nghiên cứu này Quy đổi SLS thành SLS4% mỡ theo công thức: SLS4% mỡ = 0,4 x SLS + 15 x Sản lượng mỡ sữa Sản lượng mỡ sữa = tỷ lệ % mỡ sữa x SLS/100
2.4.2 Chuẩn bị số liệu trước khi phân tích
Dùng chương trình EXCELL và MINITAB
Trang 4Xử lý số liệu
Giá trị kiểu hình và sai số chuẩn các tính trạng được xác định theo chương trình GML (SAS, 1999) Hệ số di truyền và tương quan di truyền được xử lý theo chương trình MTDFREML (Meyer, 1993)
Kết quả và thảo luận
Giá trị kiểu hình của các tính trạng
3.1.1 Tuổi đẻ lần đầu
Tuổi đẻ lần đầu (TĐLĐ) là một trong những tính trạng quan trọng nhất đối với bò sữa vì bò sữa đẻ muộn, đời hữu ích ngắn, dẫn tới thời gian khai thác sữa ngắn và tổng sản lượng sữa thấp, hiệu quả kinh tế không cao Bò sữa nhiệt đới nói chung có TĐLĐ cao, biến động trong phạm vi 30,2-40,1 tháng tuổi Sở dĩ, TĐLĐ
của bò lai vùng nhiệt đới lớn vì chúng đều xuất phát từ Bos indicus Ngoài ra, yếu
tố môi trường và điều kiện chăn nuôi không tốt cũng là nguyên nhân gây ảnh hưởng lớn đến sự đẻ muộn của bò lai ở vùng nhiệt đới (Rao, 1984)
Kết quả về TĐLĐ của bò lai hướng sữa Việt Nam trong nghiên cứu này trung bình là 33,04 tháng (32,05-35,11 tháng) Kết quả này thấp hơn so với giá trị 41,0 tháng (Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức, 1991) trên đàn bê lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì, nhưng cao hơn giá trị 26,88 tháng đối với bê lai hướng sữa nuôi tại thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Quốc Đạt và cs., 1999); 28,41 tháng trên đàn
bò lai hướng sữa cố định (Vũ Văn Nội và cs, 2007) và 29,97 tháng (899,3 ngày) của Phạm Văn Giới và cs (2006)
3.1.2 Sản lượng sữa
Sản lượng sữa (SLS) 4 lứa đầu của các tổ hợp bò lai phụ thuộc vào sự đóng góp của nguồn gen HF và LS vào mỗi cá thể lai và môi trường sống của chúng Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy, trung bình toàn đàn là 3.776 kg, cao nhất ở nhóm 75%HF là 3.823 kg/chu kỳ, sau đó đến nhóm 87,5%HF là 3.788 kg/chu kỳ; tiếp theo là nhóm >87,5%HF là 3.761 kg/chu kỳ và thấp nhất ở nhóm 50%, chỉ đạt 3.359 kg/chu kỳ (Bảng 1) Sự sai khác về SLS của các nhóm bò lai có ý nghĩa thống kê rõ rệt Kết quả này thấp hơn so với giá trị tìm được của Phạm Văn Giới và
cs (2006) là 4.125kg/ck và (2007) trên đàn bò hạt nhân và cấp I là 5.069,77 kg/ck
và kết quả 3.997-4.485kg trên đàn bò lai hướng sữa cố định (Vũ Văn Nội và cs.,,
Trang 52007), song, cao hơn so với kết quả thu được của Nguyễn Văn Thưởng và cs (2006) là 3.368,04 kg/ck đối với các tổ hợp lai có tỷ lệ nguồn gen là 50%HF, 75%HF và 87.5%HF ở Hà Tây, Hà Nội và vùng phụ cận So với kết quả nghiên cứu ngoài nước thì giá trị này cao hơn kết quả nghiên cứu của Singh và Gurnani (2004) trên bò Karan Fries (62,5%HF) của ấn Độ là 3.173 kg/ck đầu Nếu xét theo SLS quy chuẩn 4% mỡ thì cho thấy năng suất thấp nhất ở nhóm bò 50%HF (3345,2 kg), sau đó đến nhóm >87,5%HF (3587,9 kg), cao nhất là hai nhóm bò 75%HF (3709,1 kg) và 87% HF (3672,3 kg) và năng suất sữa hai nhóm này khác nhau không rõ rệt (p>0,05) SLS của bò lai hướng sữa Việt Nam được trình bày tại Bảng 1
Bảng 1 Sản lượng sữa và tỷ lệ mỡ sữa của đàn bò lai hướng sữa Việt Nam
Sản lượng sữa thực tế SLS4%mỡ Tỷ lệ mỡ sữa Nhóm
Giống n (số
lứa)
Mean (kg)
SE Mean
(kg)
SE n (Số
lứa)
Mean (%)
SE
50%HF 827 3.359,18a 25,12 3345,2a 29,12 621 4,00a 0,01 75%HF 3.589 3.823,35b 28,07 3709,1b 31,1 2.543 3,80ab 0,01 87,5%HF 2.058 3.788,44c 26,12 3672,3b 28,21 1.855 3,72b 0,01
>87,5%HF 204 3.761,54c 48,75 3587,9c 54,56 109 3,71b 0,03
TB toàn đàn 6.678 3.776,67 12,55 36672,9 15,51 5.128 3,81 0,01
3.1.3 Tỷ lệ mỡ sữa
Tỷ lệ mỡ sữa 4 lứa đầu (TLMS) trung bình của các nhóm bò lai hướng sữa Việt Nam trong nghiên cứu này là 3,81%, song giữa các nhóm F1, 3/4 và 7/8HF có
sự khác nhau, tuy không lớn, đó là 4,00; 3,80 và 3,72% Sự sai khác về tỷ lệ mỡ sữa giữa các nhóm bò lai được trình bày ở Bảng 2 Kết quả này thấp hơn so với giá trị 4,05-4,14% tìm được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991) trên
đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Ba Vì và Phù Đổng, thấp hơn so với kết quả thu được của Nguyễn Văn Thưởng và cs (2006) là 3,87% đối với các tổ hợp lai F1, F23/4HF
và F37/8HF ở Hà Tây, Hà Nội và vùng phụ cận TLMS của bò lai hướng sữa Việt Nam được trình bày tại Bảng 1
3.2 Hệ số di truyền
Trang 6Trong cơ thể gia súc, hầu hết các tính trạng sinh trưởng phát triển, sinh sản, sản xuất đều thuộc nhóm tính trạng số lượng Các tính trạng này được điều khiển bởi nhiều gen và mỗi gen chỉ gây một áp lực nhất định đối với mỗi tính trạng Vì vậy, việc xác định hệ số di truyền giúp hiểu rõ bản chất của từng tính trạng và mức
độ ảnh hưởng của yếu tố di truyền và môi trường là rất quan trọng Hệ số di truyền của các tính trạng TĐLĐ, SLS và TLMS của bò lai hướng sữa Việt Nam được trình bày tại Bảng 2
Hệ số di truyền về tuổi đẻ lần đầu
Hệ số di truyền về TĐLĐ của đàn bò lai hướng sữa nuôi tại các vùng sinh thái của nước ta là 0,30±0,11 Kết quả này thấp hơn giá trị 0,38 của bò Lang trắng
đen ở tỉnh Hắc Long Giang (Heilongjiang) – Trung Quốc (Ding và Takeo, 2001); giá trị này nằm trong phạm vi 0,27-0,31 tìm được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991) trên đàn bò lai hướng sữa cùng nuôi tại Ba Vì và Phù
Đổng Kết quả này cho thấy, đối với tính trạng TĐLĐ, do có mức độ biến động lớn của độ lệch chuẩn, chọn lọc có thể mang lại hiệu quả
3.2.2 Hệ số di truyền về sản lượng sữa
Hệ số di truyền về SLS của bò lai hướng sữa nuôi tại các vùng sinh thái của nước ta là 0,32±0,12 Kết quả này cao hơn giá trị 0,27-0,31 của đàn bò lai hướng sữa cùng nuôi tại Ba Vì và Phù Đổng (Nguyễn Văn Thưởng và cs., 2000), tương
đương với kết quả 0,32 của Nguyễn Văn Đức và cs (2006) được nghiên cứu trên
đàn bò HF Giá trị này thấp hơn so với kết quả tìm được của Singh và Gurnani (2004) trên bò Karan Fries (62,5%HF) tại ấn Độ là 0,41±0,13 chu kỳ sữa đầu, nhưng cao hơn so với giá trị (0,14) tìm được của Ding và Takeo (2001) trên đàn bò Lang trắng đen ở Hắc Long Giang - Trung Quốc Kết quả này cho thấy, đối với tính trạng SLS, do mức độ biến động lớn của độ lệch chuẩn của hệ số di truyền và
hệ số di truyền tương đối cao, chọn lọc có thể mang lại hiệu quả cao
Bảng 2 Hệ số di truyền của tính trạng tuổi đẻ lần đầu, sản lượng sữa và tỷ lệ mỡ
sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam
±SE h2
Trang 7SLS (kg) 3.278 con 0,32±0,12
Hệ số di truyền về tỷ lệ mỡ sữa
Hệ số di truyền về tỷ lệ mỡ sữa của bò lai hướng sữa nuôi tại Việt Nam là 0,34±0,09 Kết quả này cao hơn giá trị tìm được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991) trên đàn bò lai hướng sữa cùng nuôi tại Ba Vì và Phù
Đổng, thấp hơn so với kết quả 0,35 của Nguyễn Văn Đức và cs (2006) được nghiên cứu trên đàn bò HF, chứng tỏ chọn lọc có thể đạt hiệu quả cao
Hệ số tương quan di truyền
Tính trạng TĐLĐ, SLS và TLMS có thể có liên quan với nhau, song mối tương quan đó ở mức độ nào? và bieeur thị theo hướng thuận hay nghịch? đòi hỏi các nhà di truyền học phải xác định và làm rõ nhằm giứp cho các nhà chọn giống
có cơ sở khoa học để công tác chọn lọc giống thu được hiệu quả cao khi chọn đúng tính trạng chọn lọc sẽ cải thiện được các tính trạng khác mà không phải chọn lọc riêng lẻ
3.3.1 Hệ số tương quan di truyền giữa tuổi đẻ lần đầu với sản lượng sữa và tỷ lệ
mỡ sữa
Mối tương quan di truyền giữa TĐLĐ và SLS không chặt chẽ (0,09±0,09), chứng tỏ bò đẻ sớm hay muộn sẽ không ảnh hưởng đến SLS Song, đối với bò sữa, khi TĐLĐ thấp, đời hữu ích sẽ kéo dài, tổng SLS của cả đời hữu ích cao dẫn đến hiệu quả kinh tế cao Vì vậy, đối với bò sữa cần chọn những cá thể có TĐLĐ sớm
Hệ số tương quan di truyền giữa TĐLĐ và TLMS của bò lai hướng sữa Việt Nam không chặt chẽ (0,06±0,03), như vậy, giống như đối với tính trạng SLS, bò đẻ lần đầu sớm hay muộn cũng không ảnh hưởng đến TLMS
3.3.2 Hệ số tương quan di truyền giữa sản lượng sữa và tỷ lệ mỡ sữa
Các kết luận của nhiều nhà khoa học trên thế giới và tại Việt Nam đều cho thấy, SLS của bò sữa biểu thị mối tương quan rất chặt chẽ, theo hướng ngược chiều nhau với TLMS Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trên bò lai hướng sữa Việt nam cho thấy, rg=-0,93±0,09, thấp hơn so với kết quả (-0,91) của Nguyễn Văn Đức và
cs (2006) được nghiên cứu trên đàn bò HF Do mối tương quan âm giữa 2 tính
Trang 8trạng này nên chúng cần được chọn theo phương pháp độc lập với nhau mới mang lại hiệu quả cao Kết quả này tương đương với kết quả tìm được của Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức (1991) trên đàn bò lai hướng sữa nuôi tại Trung tâm sữa và giống bò Hà Nội và Trung tâm nghiên cứu Bò và Đồng cỏ Ba Vì
Hệ số tương quan di truyền giữa các tính trạng TĐLĐ, SLS và TLMS 4 lứa
đầu của bò lai hướng sữa Việt Nam được trình bày chi tiết tại Bảng 3
Bảng 3 Hệ số tương quan di truyền giữa tính trạng tuổi đẻ lần đầu, sản lượng sữa
và tỷ lệ mỡ sữa 4 lứa đầu của bò lai hướng sữa Việt Nam
Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
TĐLĐ, SLS và TLMS 4 lứa đầu của bò lai hướng sữa Việt Nam tương đối tốt
Hệ số di truyền về các tính trạng TĐLĐ, SLS và TLMS 4 lứa đầu của bò lai hướng sữa Việt Nam ở mức trung bình cao với hệ số biến di lớn, vì vậy, chọn lọc chúng có thể đạt hiệu quả ở mức trung bình và trung bình cao
Mối tương quan di truyền giữa các tính trạng TĐLĐ, SLS và TLMS 4 lứa
đầu của bò lai hướng sữa Việt Nam đều thấp với hệ số biến dị lớn Tương quan di truyền giữa các tính trạng SLS và TLMS rất chặt chẽ, nhưng ngược chiều nhau
Với các hệ số di truyền và tương quan di truyền đã được xác định, có thể chọn áp dụng phương pháp chọn lọc hữu hiệu nhất cho mỗi tính trạng của bò lai hướng sữa Việt Nam
4.2 Đề nghị
Từ những kết quả bước đầu về hệ số di truyền và tương quan di truyền đã xác định, cần áp dụng phương pháp chọn lọc thích hợp để mang lại hiệu quả cao nhất cho mỗi tính trạng của bò lai hướng sữa Việt Nam góp phần quan trọng trong
Trang 9công tác xây dựng hệ thống giống bò lai hướng sữa Việt Nam đạt được mục tiêu:
dễ nuôi, sinh sản tốt, sản lượng sữa phù hợp và chất lưọng sữa cao, chống chịu bệnh tốt nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người chăn nuôi bò sữa và đáp ứng nhu cầu về sữa của người tiêu dùng
Tài liệu tham khảo
1 Nguyễn Quốc Đạt, Vũ Văn Nội, Bùi Thế Đức và Nguyễn Thanh Bình, 1999 “Khả năng sản xuất của
đàn bò cái lai (HFxLS) hướng sữa trong điều kiện chăn nuôi trang trại ở TP Hồ Chí Minh” BCKH
Chăn nuôi Thú y (Huế 28-30/6/1999), Phần Chăn nuôi gia súc Trang: 82-98
2 Nguyễn Văn Đức, Trần Trọng Thêm và Phạm Văn Giới, 2006 "Hệ số di truyền và tương quan di truyền
giữa SLS và TLMS của bò HF ở Việt Nam" Tạp Chí Chăn Nuôi, Số 3: 15-17
3 Ding Ke-wei, Takeo Kayaba, 2001 “Genetic parameters for milk, fat yield and age at first calving of Chinese holsteins in Heilongjiang” Journal of Northeast agricultural university Vol.8 No.2 P
105-110
4 Phạm Văn Giới, Nguyễn Văn Đức và Trần Trọng Thêm, 2006 "Khả năng sản xuất sữa của bò lai hướng sữa Việt Nam" Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi Số 1: 34-39
5 Phạm Văn Giới, Nguyễn Văn Đức và Trần Trọng Thêm, 2007 “Nghiên cứu ảnh hưởng của một số cố
định đến sản lượng sữa đàn bò HF lai hạt nhân và cấp 1 Việt Nam” Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn
nuôi Số 4: 21-27
6 Meyer, K (1993) DFREML User notes, Version 2.1
7 Vũ Văn Nội, Trần Trọng Thêm, Nguyễn Hữu Lương, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Hùng Sơn, Trần Sơn
Hà, Ngô Đình Tân và Lê Thu Hà, 2007 “Xác định khả năng sinh trưởng, sinh sản, sản xuất sữa của bò
lai hướng sữa 75%HF cố định ở thế hệ thứ nhất” Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi Số 4: 28-35
8 Rao, M.C., 1984 Đặc điểm sinh học bò lai hướng sữa nhiệt đới BCKH tại NDRI, India
9 SAS, 1993 User's Guide, Version 6, fourth edition, SAS Institute Inc.,Cary, NC
10 Singh, M.K and M Gurnani, 2004 “Performance evaluation of Karan Fries and Karan Swiss cattle
under closed breeding system” Asian-Aust.J.Anim.Sci.2004.Vol 17, No1: 1-6
11 Trần Trọng Thêm, Vũ Chí Cương, Nguyễn Văn Đức, Vũ Văn Nội, Nguyễn Hữu Lương, Phạm Kim
Cương, Phạm Văn Giới, Nguyễn Quốc Đạt, Lê Văn Ngọc, Đinh Văn Cải, Lê Văn Thông, Lê Bá Quế, Ngô Đình Tân và CTV, 2005 "Kết quả chọn tạo bò lai hớng sữa Việt Nam" Trong Những kinh nghiệm
trong phát triển ngành sữa tại một số nước Đông Nam á. Hội thảo Quốc tế, Tổ chức tại Hà Nội, ngày 14-15 tháng 9 năm 2005 Tr: 99-106
12 Nguyễn Văn Thưởng và Nguyễn Văn Đức, 1991 Đặc điểm di truyền một số tính trạng bò lai hướng sữa
Việt Nam Hội nghị KHKT Chăn nuôi- Thú Y, Bộ NN&CNTP, Hà Nội, 11-12/4/91 Trang: 12-13
Nguyễn Văn Thưởng, Nguyễn Văn Đức, Hoàng Thiên Hương, Lê Văn Ngọc và Nguyễn Hữu Lương, 2006
“Kết quả xếp cấp và khả năng cho sữa của bò lai hớng sữa (F1, F23/4, F37/8HF nuôi ở Ba Vì, Hà Nội và vùng phụ cận” Tạp Chí Chăn Nuôi, Số 1: 4-8.
... lai hướng sữa Việt Nam trình bày chi tiết BảngBảng Hệ số tương quan di truyền tính trạng tuổi đẻ lần đầu, sản lượng sữa
và tỷ lệ mỡ sữa lứa đầu bò lai hướng sữa. ..
Hệ số di truyền tỷ lệ mỡ sữa
Hệ số di truyền tỷ lệ mỡ sữa bò lai hướng sữa nuôi Việt Nam 0,34±0,09 Kết cao giá trị tìm Nguyễn Văn Thưởng Nguyễn Văn Đức (1991) đàn bò lai hướng. .. động lớn độ lệch chuẩn hệ số di truyền
hệ số di truyền tương đối cao, chọn lọc mang lại hiệu cao
Bảng Hệ số di truyền tính trạng tuổi đẻ lần đầu, sản lượng sữa tỷ lệ mỡ