Nghiên cứu đa dạng kiểu hình và kiểu di truyền màu sắc lông, da của quần thể gà địa phương tỉnh Hà Giang Hoàng Thanh Hải 1 , Trần Long 1 , Đặng Vũ Bình 2 , Vũ Chí Cương 3 , J.Maillard 3
Trang 1Nghiên cứu đa dạng kiểu hình và kiểu di truyền màu sắc lông,
da của quần thể gà địa phương tỉnh Hà Giang
Hoàng Thanh Hải 1 , Trần Long 1 , Đặng Vũ Bình 2 , Vũ Chí Cương 3 , J.Maillard 3
Nhữ Văn Thụ 3 , Cécille Berthouly 3
1 Bộ môn Di truyền Giống vật nuôi - Viện Chăn Nuôi
2 Trường Đại học Nông Nghiệp I Hà nội
3 Dự án BIODIVA
Summary
2914 chicks from 352 villages in 44 communes of 11 district in Ha Giang provice since 3/2005 to 9/2006,.based on literatures of INRA (2003) “Les poules génétic diversité visible” were used for determinating some alens, loci, genes and geneotype assign feather, skin colour of local chicken population
in Ha giang province
Local chicken population in Ha giang province has diversity of feather colour: the white colour is 6,01% with mature weight 1.58 kg Colouring feather is 93.99% with mature weight 1.76 kg Colouring feather chicken has 7 different kinds of feathering colours: golden feather, silver feather; none golden feather, none silver feather; black feather; none black feather; no white – spotted feather on the top; white – spotted feather at the top Multi - colouring feather with white –spoted feather at the top
Skin has 3 main colours: 57.9% yellow colour; 37.54% white colour and 4.56% black colour Genotypes of feather colour are assigned by C, I, S and Mo loci
Genotypes of skin colour are assigned by W+, E loci with interaction of Ml allen
Infact, black skin- meat- bone race exists in Ha Giang is valuable and rare race and used as nutrient food (tonic) Three tegories of colour : the white , the black, white – spotted colour needed to be studied farther
1 Đặt vấn đề
Đa dạng sinh học và tài nguyên di truyền của các giống cây trồng và vật nuôi bản địa có vai trò quan trọng trong việc duy trì và phát triển nông nghiệp bền vững, bảo đảm an ninh lương thực và bảo vệ môi trường Việt Nam là một trong những quốc gia có tài nguyên thiên nhiên sinh vật rất đa dạng đồng thời cũng là một trong những cái nôi thuần hóa gia súc gia cầm đầu tiên của loài người Số liệu
điều tra mới đây về đa dạng sinh học theo Biodiversity Action Plan thì ở Việt Nam hiện nay ước tính tồn tại gần 275 loài động vật có vú, 826 loài chim, 260 loài bò sát, 82 loài lưỡng cư, 500 loài cá nước ngọt, 2000 loài cá biển và và hơn 12000 loài cây
Tính đa dạng sinh học đặc biệt của hệ động vật ở Việt Nam đang bị đe dọa
Trang 2do nền kinh tế thị trường phát triển và sự khai thác sử dụng của con người Ngoài việc phá hủy môi trường sinh sống tự nhiên và săn bắn trái phép thì việc phát triển các hệ thống chăn nuôi thâm canh, nhập giống ngoại có năng suất cao, được đầu tư lớn đã dẫn đến sự giảm thấp hoặc mất đi các giống nội địa có năng suất thấp hơn nhưng thích ứng với điều kiện môi trường khắc nghiệt của Việt Nam Nhiều giống vật nuôi mang những gen quý đang bị xói mòn và mất dần Trong khuôn khổ dự
án BIODIVA “Đánh giá và phát huy tiềm năng đa dạng sinh học động vật nuôi và
động vật hoang dã của Việt Nam” do Cộng hòa Pháp tài trợ cho Việt nam Viện Chăn nuôi thực hiện tại tỉnh Hà giang nhằm đánh giá sự đa dạng di truyền động vật nuôi bản địa
Hà Giang là một tỉnh miền núi phía Bắc có 11 huyện thị với 24 dân tộc Người dân chăn nuôi theo phương thức quảng canh cổ truyền, tự cung tự cấp Mỗi dân tộc có một phương thức chăn nuôi khác nhau phụ thuộc vào tập quán, điều kiện tự nhiên Các giống vật nuôi ở Hà Giang nhìn chung còn tương đối thuần nhất, khả năng thích nghi chống chịu tốt với điều kiện khí hậu của địa phương Vấn đề duy trì và phát huy đa dạng sinh học các giống vật nuôi nhằm giảm nguy cơ diệt vong của một số loài và bảo tồn các nguồn gene quí là điều hết sức cần thiết và cấp bách
Nghiên cứu đa dạng sinh học giúp chúng ta tìm hiểu tiềm năng di truyền của các giống vật nuôi bản địa nhằm phát hiện ra các đặc điểm quý, bảo tồn
và phát triển các đặc điểm đó Đã có những công trình nghiên cứu về các đặc điểm sinh học, khả năng thích nghi, nghiên cứu khả năng sản xuất, chế độ dinh dưỡng thích hợp trong khẩu phần ăn của các giống gia cầm và con lai Nghiên cứu đa dạng sinh học màu sắc lông và da của các giống gà là những vấn đề ở Việt Nam chưa được quan tâm nghiên cứu Xuất phát từ tình hình trên, chúng tôi tiến hành
triển khai đề tài”Nghiên cứu đa dạng kiểu hình và kiểu di truyền màu sắc lông,
da của quần thể gà địa phương tỉnh Hà Giang” với mục đích: Nghiên cứu đa
dạng kiểu hình màu sắc lông, da và xác định một số alen, lô cút gen và kiểu di truyền quy định màu sắc lông và da của quần thể gà địa phương Hà Giang
2 Đối tượng, phương pháp và nội dung nghiên cưú
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 3Quần thể gà địa phương của tỉnh Hà Giang
2.2 Địa điểm nghiên cứu
11 huyện thị của tỉnh Hà Giang
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2005 đến 9/2006
2.4 Nội dung nghiên cứu
Điều tra đa dạng kiểu hình về màu sắc lông và da của gà địa phương tỉnh Hà
Giang
Xác định một số alen, một số lô cút và các kiểu di truyền quy định màu sắc
lông và da của các giống gà địa phương tỉnh Hà Giang
2.5 Phương pháp nghiên cứu
Điều tra quan sát những cá thể gà đã thành thục về tính của các nhóm gà
địa phương dựa theo phương pháp điều tra theo mẫu định sẵn về các chỉ tiêu cần theo dõi Mỗi huyện thị điều tra từ 2- 5 xã (tổng số 44 xã), mỗi xã 8 thôn bản (tổng số 352 thôn bản), mỗi thôn bản 8 hộ gia đình, mỗi hộ gia đìng từ 2-4 con gà
tổng số 2914 con
Dựa theo tài liệu của Viện INRA năm 2003” Đa dạng di truyền ngoại hình của gà” xác định các alen, các lô cút và kiểu di truyền qui định các tính trạng màu sắc lông và da
2.6 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê sinh vật học (Nguyễn Văn Thiện, 1995; Nguyễn Ân, 1983; Đặng Hữu Lanh và CTV, 1999 trên chương trình Exel, Minitab Số liệu được xử lý tại Bộ môn Di truyền giống vật nuôi Viện Chăn nuôi
3 Kết quả và thảo luận
3.1 Màu sắc lông của gà địa phương tỉnh Hà Giang
3.1.1 Các lọai màu sắc lông của gà địa phương tỉnh Hà Giang
Bảng1 Màu lông và khối lượng cơ thể của quần thể gà địa phương Hà Giang
Trang 4Gà lông trắng Gà lông màu có
lông nâu, đen, đỏ,
ánh vàng
Vùng sinh
thái Huyện
Số lượng
gà theo dõi(con) Màu
lông(%)
KL cơ
thể (kg)
Màu lông(%)
KL cơ
thể (kg)
Khối lượng TB (kg)
TX Hà Giang
121 0,00 100,00 1,555 1,555
Vị Xuyên 213 2,82 1,620 97,18 1,840 1,831 Quang Bình 243 3,29 1,371 96,71 1,482 1,478 Bắc Quang 196 1,02 1,550 98,98 1,639 1,640
Vùng thấp
núi đất
Bắc Mê 350 8,00 1,459 92,00 1,773 1,733 Xín Mần 323 9,91 1,650 90,09 1,934 1,907 Vùng cao núi
đất Hoàng S.Phì 334 8,98 1,698 91,02 1,800 1,778
Yên Minh 272 9,56 1,458 90,44 1,628 1,616
Đồng Văn 293 11,26 1,760 88,74 1,800 1,790 Quản Bạ 281 6,05 1,700 93,95 1,720 1,720
Vùng cao núi
đá
Mèo Vạc 288 5,21 1,530 94,79 1,940 1,920
Quần thể gà địa phương tỉnh Hà Giang có khối lượng cơ thể trung bình đạt 1,724 kg, gà lông trắng 1,580 kg thấp hơn so với gà lông màu(1,737 kg) là 0,157
kg Khối lượng cơ thể của gà ở các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, Quản Bạ, Su Phì
và Xín Mần là cao hơn so với gà của các huyện Bắc Quang, Quang Bình và Thị xã
Hà Giang
Quần thể gà rất đa dạng về màu sắc lông, trong số những cá thể được nghiên cứu thì tỷ lệ gà lông màu có lông màu nâu, đen, đỏ trung bình của toàn tỉnh chiếm: 93,99%, thị xã Hà Giang có số lượng gà lông màu cao nhất 100% thấp nhất là huyện Đồng Văn 88,47%
Gà lông trắng chiếm tỉ lệ 6,01%, huyện Đồng Văn có số lượng gà lông trắng cao 11,26% tiếp theo là huyện Yên Minh 9,56% Huyện Bắc Quang, Vị Xuyên có tỉ lệ gà lông trắng thấp tương ứng là: 1,02- 2,82%
Trang 53.1.2 Kiểu di truyền màu sắc lông của gà địa phương tỉnh Hà Giang
Bảng 3 Đa dạng màu sắc lông của quần thể gà lông màu địa phương tỉnh Hà
Giang
Có hoặc không
có lông đen(%)
Có hoặc không có lông ánh vàng, ánh bạc (%)
Có hoặc không có chấm trắng đầu lông hoặc nhiều màu có chấm trắng
đầu lông (%) Huyện
Có Không
có Có Không có
Không có chấm trắng
đầu lông
Có chấm trắng đầu lông
Nhiều màu
có chấm trắng TX.HGiang 96.69 3,31 7,44 92,56 84,30 7,43 8,26
Vị Xuyên 94.84 5,16 9,39 90,61 86,38 2,81 10,79 Quang Bình 96.30 3,70 7,41 92,59 87,24 3,29 9,46 Bắc Quang 96.43 3,57 8,67 91,33 88,26 7,14 4,59 Bắc Mê 90.57 9,43 16,86 83,14 84,28 7,71 8,01 Xín Mần 90.71 9,29 17,65 82,35 90,71 5,57 3,71 Hoàng SuPhì 91.62 8,38 12,99 87,01 86,22 8,08 5,68 Yên Minh 91.54 8,46 20,96 79,04 89,33 8,45 2,20
Đồng Văn 77.82 22,18 34,13 65,87 83,27 11,26 5,46 Quản Bạ 93.59 6,41 14,23 85,77 86,12 5,69 8,18 Mèo Vạc 93.40 6,60 17,36 82,64 74,65 18,75 6,59
- Gà lông màu có lông nâu, đen, đỏ,ánh vàng chiếm 93,39% không có lông
nâu, đen, đỏ,ánh vàng là 6,01%, theo tài liệu của Viện INRA năm 2003 ”Đa dạng
di truyền ngoại hình của gà” Locus C có 2 alen nằm trên nhiễm sắc thể thường Alen C+ trội so với alen c Khi có mặt alen C+ thì quy định tính trạng màu lông nâu, ủ , ủỏ Alen c quy ủịnh tính trạng lặn (Bateson và Punnet, 1906) lông màu tr3ng 93,99% gà có lông màu đen, nâu, đỏ là sự có mặt của kiểu di truyền C+C+
hoặc C+c 6,01% gà không có lông nâu, đen, đỏ do kiểu di truyền cc
- Gà lông màu có màu lông đen chiếm tỷ lệ 92,14% gà lông màu không có lông đen là 7,86% Gà có lông màu trắng do gen I nằm ở lô cút I do nhiễm sắc thể thường nó thuộc nhóm liên kết II Alen I (Bateson,1902) là trội không hoàn toàn quy định lông không có màu 4en, có ngh5a là gà có th6 có lông màu tr3ng, vàng cam nh7ng không có lông 8en hoặc chấm đen nào Alen i+ quy định lông có màu
Trang 69en Như vậy 92,14% gà có lông đen là do kiểu di truyền i+i+, 7.861% gà có lông màu trắng có kiểu di truyền I I và I i+
- Gà lông màu có lông ánh vàng, đỏ chiếm tỷ lệ 84,81% và không có lông ánh vàng, đỏ là 15,19% Do tác động của alen S nằm ở lô cút S trên nhiễm sắc thể Z quy đinh thuộc nhóm liên kết V(Sturtevant và Davenport,1912) Alen s+ lặn so với alen S quy định màu ánh vàng, đỏ và alen S quy định lông màu bạc kiểu hoang dã Alen S ở dạng đồng hợp tử hoặc dị hợp tử vẫn còn một ít sắc tố vàng đỏ thể hiện trội không hoàn toàn của alen này 84,81% gà có màu ánh vàng, đỏ có kiểu di truyền s+s+ 15,19% gà có màu lông ánh bạc có kiểu di truyền SS hoặc Ss+
Tỷ lệ gà địa phương tỉnh Hà Giang không có chấm trắng đầu lông là 85,52%,
có chấm trắng đầu lông là 7,83%, nhiều màu có chấm trắng đầu lông là 6,63%
Theo tài liệu của Viện INRA năm 2003 ”Đa dạng di truyền ngoại hình của gà” thì
màu sắc lông do lô cút Mo có 3 alen quy định
- Alen Mo quy ủị những tớnh trạng khụng cú chấm tr ng ủầu lụng
- Alen mo quy ủịnh tớnh trạng cú chấm tr ng ủầu lụng
- Alen mopi quy ủịnh tính trạng nhiều màu cú những chấm tr ng đầu lông Như vậy, màu sắc lông của gà lông màu địa phương của tỉnh Hà Giang không có chấm trắng đầu lông có kiểu di truyền MoMo hoặc Momo quy định chiếm 85,52% Lông có chấm trắng đầu lông có kiểu di truyền momo quy định chiếm 7,83% Khi có sự liên kết của alen mo với alen pi thì kiểu di truyền sẽ quy
định lông gà có nhiều màu và điểm chấm trắng đầu lông chiếm 6,63%
Tóm lại:
- Gà lông trắng địa phương tỉnh Hà Giang có thể do các kểu di truyền I I hoặc
Ii+ ở lô cút I nằm trên nhiễm sắc thể thường Gà lông trắng có ánh bạc có kiểu di truyền SS hoặc Ss+ quy định nằm trên nhiễm sắc tể giới tính Z đây là gen liên kết với giới tính người ta dùng để chọn các cặp giao phối với gà có lông màu nâu có kiểu di truyền s+s+ để phân biệt gà trống, gà mái lúc 1 ngày tuổi
- Gà lông màu địa phương của tỉnh Hà Giang rất đa dạng có thể chia thành
8 loại hình với ự có mặt của các gen đã được phân tích như: gen C, I, S và Mo nằm trên các lô cút và các nhiễm sắc thể khác nhau Khi tổ hợp tạo thành các kiểu di truyền quy định các kiểu hình lông màu của gà địa phương tỉnh Hà Giang rất khác
nhau
Trang 73.2 Màu sắc da của gà địa phương tỉnh Hà Giang
.2.1 Các loại hình màu da
Màu sắc da của gà địa phương tỉnh Hà Giang có 3 màu chủ yếu đó là màu Trắng, Vàng và Đen
Gà địa phương tỉnh Hà Giang có tỷ lệ da màu vàng cao nhất 57,9% tiếp đến
da màu trắng 37,54% thấp nhất là gà có da màu đen 4,56% So sánh giữa các huyện trong tỉnh thì huyện Đồng Văn có tỷ lệ gà da đen cao nhất 16,04% và tiếp
đến là huyện Xín Mần 12,38%
Nếu phân tích theo vùng sinh thái thì gà đen tập trung chủ yếu ở vùng cao núi đá và vùng cao núi đất Các huyện vùng thấp núi đất tỷ lệ gà da đen là rất ít, chủ yếu là gà có da màu trắng và vàng
Trang 8Bảng 4 Màu da của gà địa phương tỉnh Hà Giang
Vùng sinh thái Huyện Xã Số lượng (con) Đen(%) Trắng(%) Vàng(%)
Vùng thấp núi đất
Vùng cao núi đất
Vùng cao núi đá
3.2.2 Kiểu di truyền qui định màu da của gà địa phương tỉnh Hà giang
Màu da có thể khác nhau như vàng, trắng hoặc đen tùy thuộc vào sự có mặt
ở các mức độ khác nhau của các sắc tố xantofin hoặc sắc tố đen melanin trong lớp biểu bì da
Sự có mặt hoặc thiếu sắc tố xantofin trên lớp biểu bì da phụ thuộc vào 2 lô cút W+ và Y
- Gà địa phương tỉnh Hà Giang có da màu trắng là 37,54% có thể do 2 loại gen quy định : alen W+ nằm ở lô cút W+ trên nhiễm sắc thể thường alen W+ trôi so với alen w Màu trắng của da gà do kiểu di truyền W+W+, W+w qui định Alen Id ở lô cút Id trên nhiễm sắc Z có 13 đơn vị tái tổ hợp trội không hoàn toàn so với alen
id+(Punnet,1923;Mc Gibbon,1974;Smyth, 1990) Alen Id trội không có màu đen trong biểu bì vì nó làm cản trở quá trình hình thành sắc tố đen melanin trong biểu bì với sự có mặt của alen W+ qui định da màu trắng ở các kiểu di truyền IdW+
- Màu da vàng chiếm tỉ lệ 57,9% do alen lặn w trên nhiễm sắc thể thường(Bateson, 1902)kiểu di truyền đồng hợp tử lặn (ww) qui định thông qua quá trình hấp thu những sắc tố xantofin Để quy định màu da vàng của gà còn có
Trang 9alen Y Alen Y nằm trên nhiễm sắc thể giới tính Z thuộc nhóm liên kết V Cùng với sự có mặt của kiểu di truyền ww alen Y+ sẽ quy định màu da vàng với kiểu di truyền wwY+Y+ hoặc wwY+Yy
- Màu da đen có tỉ lệ là 4,56%, nó phụ thuộc vào sự có mặt của sắc tố đen melanin trong lớp biểu bì da Màu đen của lớp biểu bì da cần sự có mặt đồng thời của alen E (hoặc ER)(Mooore và Smyth, 1972) và alen Ml để có da đe với kiểu di truyền EEMlMl, EeMlMl, EEMlml, EeMlml
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
- Quần thể gà địa phương của tỉnh Hà Giang rất đa dạng phong phú về màu sắc lông: Gà lông trắng chiếm 6,01% với khối lượng cơ thể trưởng thành 1,58 kg;
gà lông màu các loại chiếm 93,99%, với khối lượng cơ thể trưởng thành 1,737 kg
và có 7 loại hình màu sắc lông khác nhau: lông đen chiếm 30,34%, không có lông
đen chiếm 2,86%, có lông ánh vàng ánh bạc chiếm 5,45%, không có lông màu
ánh vàng ánh bạc chiếm 27,81%, không có chấm trắng đầu lông chiếm 28,31%, có chấm trắng đầu lông chiếm 2,79%, lông có nhiều màu và có chấm trắng đầu lông chiếm 2,35% Quần thể gà địa phương của tỉnh Hà Giang có 3 loại màu sắc da: 4,56% đen, 37,54% trắng và57,90% vàng
- Các kiểu di truyền quy định màu sắc lông của gà gồm các alen nằm trên lô cút C, I, S và Mo
Gà lông trắng có thể do các kiểu di truyền I I hoặc Ii+ ở lô cút I
Gà lông trắng có ánh bạc có kiểu di truyền SS hoặc Ss+ quy định
Gà lông màu có thể chia thành 8 loại hình với sự có mặt của các gen đã
được phân tích như: gen C, I, S và Mo nằm trên các lô cút và các nhiễm sắc thể khác nhau:
Kiểu gen C+C+; C+c quy định màu nâu, đen đỏ; cc quy định không có lông nâu, đen, đỏ
Kiểu gen s+s+ quy định màu lông ánh vàng, đỏ; SS hoặc Ss+ quy định màu ánh bạc
Kiểu gen MoMo, Momo quy ủịnh những tớnh trạng khụng cú chấm
tr ng ủầu lụng
Trang 10Kiểu gen momo quy ủịnh tớnh trạng cú chấm tr ng ủầu lụng
Kiểu gen mopi quy ủịnh tính trạng nhiều màu cú những chấm tr ng đầu lông
- Các kiểu di truyền quy định màu sắc da do có mặt các lô cút Id, E,W+
Kiểu gen W+W+, W+w quy ủịnh màu da tr ng
Kiểu gen ww, wwY+Y+, wwY+y quy ủịnh màu da vàng
Kiểu gen EEMlMl, EeMlMl, EEMlml, EeMlml quy ủịnh màu da đen 4.2 Đề nghị
- Bảo tồn giống gà da đen địa phương của tỉnh Hà Giang
- Tiếp tục nghiên cứu các gen qui định tính trạng ngoại hình của gà địa phương Hà Giang
Tài liệu tham khảo
1 Bateson and punnet (1906). Breeding of the blue variety with enphasis on the the laced blue variety
2 Gérard Coquérelle (2000) Les Poules – diversité Génétique visible, Indra Editions
3 Mc Gibbon (1974) Behaviour genetic in chickens ( Areview Ookawa 1997)
4 Moore and Smith.(1972) Lathyrus Improvement for resistance against biotic and biotic stress( journal
Euphytica)