Nghiên cứu khả năng sản xuất thịt gà đen 3/4 H’M của các tổ hợp lai giữa gà H’Mông và gà Ai cập Lương Thị Hồng 1 , Phạm Công Thiếu 1 , Trần Quốc Hùng 1 , Hoàng Văn Tiệu 2 và Nguyễn Viết
Trang 1Nghiên cứu khả năng sản xuất thịt gà đen 3/4 H’M của các tổ
hợp lai giữa gà H’Mông và gà Ai cập Lương Thị Hồng 1 , Phạm Công Thiếu 1 , Trần Quốc Hùng 1 ,
Hoàng Văn Tiệu 2 và Nguyễn Viết Thái 3
1 Trạm Nghiên cứu và Thử nghiệm TACN 2 ;Viện Chăn Nuôi; 3 Đoàn Quy hoạch Thanh Hoá
Summary
Hmong (HM) is a local bird with black skin-meat populated in the high lands of VietNam Egypt (AC) bird with fecund-white meat was imported fromt Egypt The objective of the study is to create bred-combination with backed skin, backed meat to supply for markete
HA is crossed between ♂Hmong x ♀Egypt and AH is crossed between ♂ Egypt x ♀ Hmong HAH is bred-combination between ♂ Hmong x ♀AH and HHA is bred-combination between
♂Hmong x ♀HA
The results show that average laying rate, eeg production, fertility rate, hatcherbility, feed consumption /10 eggs of AH and HA was improved in compare with pure HM Bred-combination with high performance has increased number black skin-meat chicks higher1.4 time in compare with pure HM
Egg production was 110-116.7 eggs per hen for 40 weeks laying with the feed consumption /10 eggs of 2.34 – 2.49 kg Number of black skin-meat chicks per hen is 73.2- 76 chicks
HAH and HHA broiler has appearance liked HM Economic- technical norms and quality of meat
as similar to HM and was accepted by consumer
Key word: Black meat type chichen
1 Đặt vấn đề
Gà H’Mông thuộc nhóm gà thuốc, da đen, thịt đen, xương đen Xương, thịt của nó có thể làm vị thuốc chữa bệnh, bồi dưỡng sức khoẻ, đặc biệt lượng mỡ rất ít, thịt dai chắc, thơm, ngọt phù hợp với sở thích ẩm thực của người Việt Nam
Từ năm 2000 giống gà này được bảo tồn và nuôi thử nghiệm tại Trạm Nghiên cứu và thử nghiệm thức ăn gia súc - Viện Chăn nuôi Năm 2005 đã phát triển thành dự án sản xuất thử tại Hà nội và các tỉnh lân cận, đến nay đã trở thành sản phẩm đặc sản không thể thiếu của người Hà Nội và một số thành phố lớn Nhược điểm của giống gà này là khả năng sinh sản thấp, kết quả ấp nở không cao
Gà Ai cập, là giống gà hướng trứng thả vườn Hình dáng thanh nhẹ, da, thịt trắng, chân cao màu chì, lông màu hoa mơ đen trắng, được nhập vào nước ta từ năm 1997 và đã nuôi thích nghi qua nhiều năm Gà có sức chống bệnh tốt, chất lượng thịt, trứng thơm ngon, khả năng sinh sản tốt
Trang 2Để phát huy ưu điểm của hai giống gà trên, tạo ra sản phẩm hàng hoá gà da
đen, thịt đen, xương đen có năng suất và chất lượng, chúng tôi tiến hành đề tài:
“Nghiên cứu khả năng sản xuất thịt gà đen 3/4 H’M của các tổ hợp lai giữa gà
H’Mông và gà Ai cập”
2 Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá khả năng sinh sản của gà mái H’Mông, gà mái lai F1 ( trống H’M x mái Ai cập) và F1 ( trống Ai cập x mái H’M)
- Đánh giá khả năng sinh trưởng và sản xuất thịt của gà thương phẩm 3/4 máu
gà H’Mông có kiểu hình da đen, thịt đen, xương đen
- Xác định tổ hợp lai có giá trị sản xuất hàng hoá và có hiệu quả kinh tế
3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành trên các đàn gà H’Mông thuần, các tổ hợp lai giữa
♂HM x ♀AC và ♂ AC x ♀ HM tạo gà mái lai F1 có 1/2 máu H’Mông và ♂ HM x
♀ F1 tạo gà lai thương phẩm có 3/4 máu H’Mông
Địa điểm: Tại Trạm Nghiên cứu và thử nghiệm thức ăn gia súc – Viện Chăn nuôi
Thời gian từ tháng 7/2004 đến tháng 10/2006
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm bố trí theo phương pháp phân lô so sánh, gồm 3 công thức
Công thức đối chứng (CTĐC): Trống H’Mông x Mái H’Mông
(thịt đen) (thịt đen)
HM
(thịt đen)
100% máu H’mông Công thức 1 (CT1): Trống H’Mông(HM) x Mái Ai cập (AC)
( thịt đen) (thịt trắng)
Mái HA x Trống HM
Trang 3(thịt đen) (thịt đen)
HHA
( 3/4 máu H’Mông)
Công thức 2 (CT2): ): Trống AC x Mái HM
(thịt trắng) ( Thịt đen)
Mái AH x Trống HM
(thịt đen) (thịt đen)
HAH
( 3/4 máu H’Mông)
Sơ đồ bố trí thí nghiệm thể hiện ở bảng 1 và bảng 2:
Bảng 1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đàn gà bố mẹ sinh sản
Bảng 2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm đàn gà thương phẩm
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1 Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng
Gà được nuôi trong chuồng nền đệm lót bằng trấu, có sân chơi, điều kiện chuồng trại thông thoáng tự nhiên Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng và quy trình vệ
Trang 4sinh thú y phòng bệnh theo quy trình chung cho gà thả vườn áp dụng cho tất cả các lô
3.2.2.2 Các chỉ tiêu theo dõi
ỉ Trên đàn gà sinh sản:
Khối lượng cơ thể gà lúc 20 tuần tuổi và 38 tuần tuổi, tuổi thành thục, tỷ lệ đẻ, năng suất trứng/mái, khối lượng trứng, chất lượng trứng, TTTĂ cho 10 trứng, Tỷ lệ hao hụt đàn và các chỉ tiêu ấp nở
ỉ Trên đàn gà thương phẩm:
Khối lượng cơ thể tích luỹ, tăng khối lượng cơ thể tuyệt đối, tăng khối lượng cơ thể tương đối, tỷ lệ nuôi sống, tiêu thụ thức ăn, tiêu tốn thức ăn / kg tăng khối lượng, chỉ số sản xuất, các chỉ tiêu khảo sát và các chỉ tiêu chất lượng thịt
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu được sử lý, tính toán trên máy vi tính bằng chương trình Microsoft excel 2000, và Minitab 13
Trang 54 Kết quả và thảo luận
4.1 Năng suất sinh sản của gà bố mẹ
Qua bảng 3 cho thấy tuổi đẻ trứng đầu của cả 3 giống gà trên cũng tương tự các giống gà khác (135 – 140 ngày tuổi) Tuổi đẻ đạt 5% ở gà H’Mông thuần muộn hơn (23 tuần tuổi) và gà lai AH và HA đều có tuổi đẻ đạt 5% lúc 22 tuần tuổi Tuổi đẻ đạt 30% ở gà HM là 28 tuần tuổi, gà lai A H và HA là 24 – 25 tuần tuổi Tuổi đẻ đạt đỉnh cao của gà lai HA (35 tuần tuổi) muộn hơn 4 tuần so với gà
HM và gà lai AH (31 tuần tuổi)
Tỷ lệ đẻ trung bình cả giai đoạn từ 21 đến 60 tuần tuổi của gà H’Mông (CTĐC) là thấp nhất 30,11% tiếp đến là gà lai HA (CT1) 39,40% và cao nhất là gà lai AH (CT2) 41,68% Do đó năng suất trứng cũng có sự chênh lệch tương tự đạt cao nhất ở gà lai AH (116,71 quả/mái) tiếp đén là gà lai HA (110,34 quả/mái) và thấp nhất ở gà H’Mông (84,31 quả/mái) (P<0,01)
Bảng 3 Một số chỉ tiêu về năng suất sinh sản của gà mái bố mẹ
KL gà mái tuần 20 gam 1194,0a± 24,0 1215,2a ± 21,7 1290,2a ±22,5
KL trứng trứng bói gam 28,53a ± 0,67 26,20a ± 0,44 32,97b ± 0,80
Trang 6- Về tỷ lệ đẻ
- Về TTTĂ/10trứng
+ 30,85
- 28,00
+ 38,42
- 32,37
Tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng ở công thức 2 là thấp nhất (2,34 kg) tiếp đến là công thức 1 (2,49 kg) và cao nhất là công thức đối chứng( 3,46kg)
−u thế lai so với gà HM về tỷ lệ đẻ là 30,85% – 38,42% , về TTTĂ/10 trứng là -32,37 đến -28%
Khối l−ợng trứng bói có sự khác nhau (P<0,01) gà lai AH có khối l−ợng trứng cao nhất (32,97g), gà lai HA và gà HM có khối l−ợng trứng bói thấp hơn (26,2g – 28,5g), nh−ng đến tuần 29 và 38 khối l−ợng trứng không có sự khác nhau đáng kể
đạt từ 36,86g – 37,77g ở tuần 29 và từ 43,33g – 45,43g ở tuần 38
Khối l−ợng gà mái lúc 20 tuần không có sự khác nhau ở cả 3 lô đạt từ 1194,0g – 1290,2g Đến 38 tuần tuổi khối l−ợng gà giữa các lô có sự chênh lệch,
gà H’Mông thấp hơn so với gà lai HA và AH (1463,3g so với 1840,1g – 1804,7g) P< 0,01
Tỷ lệ chọn trứng giống ở công thức đối chứng gà H’Mông thuần là thấp nhất (91,08%) Gà lai HA và AH ở CT1 và CT2 có tỷ lệ chọn trứng giống từ 93,15 – 93,85% và cao hơn so với đối chứng 2,07% – 2,77%
Tỷ lệ hao hụt đàn sau 40 tuần đẻ (từ 21- 60 tuần tuổi) của đàn gà mái sinh sản
đạt cao nhất là gà AH (CT2) 11,3% Gà HM thuần (CTĐC) và gà lai HA (CT1) có
tỷ lệ hao hụt đàn gần nh− nhau từ 19,1 – 19,5%
4.2 Một số chỉ tiêu về chất l−ợng trứng
Bảng 4 Kết quả khảo sát chất l−ợng trứng tuần 38 (n=30)
Trang 7Độ chịu lực kg/cm2
3,48 ± 0,13 3,70 ± 0,16 3,62 ± 0,14
Để đánh giá các chỉ tiêu về chất lượng trứng chúng tôi tiến hành khảo sát trứng giống tuần 38 mỗi công thức 30 quả Kết quả thu được ở bảng 4 cho thấy các chỉ tiêu về chất lượng trứng của gà lai HA và AH đều đạt tương đương gà HM
Đơn vị haugh của gà lai HA và AH từ 76,43 – 78,01 đạt tiêu chuẩn trứng chất lượng tốt nhưng thấp hơn so với gà HM (83,56)
Trang 84.3 Tỷ lệ phôi và kết quả ấp nở
Kết quả ở bảng 5 cho thấy tỷ lệ trứng có phôi ở cả 3 lô gà là khá cao và đạt
từ 94,91% – 95,84% Tỷ lệ nở/ tổng trứng ấp thấp nhất là lô gà HM (CT đối chứng) 74,67% Gà lai HA và AH ở CT1 và CT2 có tỷ lệ nở/ tổng trứng ấp tương đương nhau (81,1% – 81,2%) ưu thế lai so với gà HM về tỷ lệ phôi là 0,316% – 0,98% về tỷ lệ nở là 8,62% – 8,74%
Bảng 5 Kết quả ấp nở của trứng gà ở các công thức lai
Tỷ lệ gà thịt đen trên tổng số gà loại 1 nở ra ở công thức ĐC (Gà HM) là 91,54%; công thức1(Gà HA) là 87,12% và công thức2 (Gà AH) là 86,27%
Số gà đen thương phẩm/1mái đạt cao nhất ở công thức 2 (76,06 con) và tiếp
đến là công thức1 (73,28 con) thấp nhất là công thức đối chứng (52,49 con)
Như vậy sử dụng gà mái F1 HA hoặc AH vào lai tiếp với trống H’Mông đã cải thiện được năng xuất trứng/ mái, tỷ lệ phôi, tỷ lệ nở/ phôi và do đó nâng cao năng xuất gà con giống thịt đen thương phẩm/ 1 mái gấp 1,4 lần so với gà H’mông thuần
So sánh với kết quả nghiên cứu giống gà xương đen Thái Hoà Trung Quốc nuôi tại Trung tâm nghiên cứu gia cầm Thuỵ Phương của tác giả Vũ Quang Ninh (2002) tỷ lệ phôi đạt 94,1 – 94,77%; tỷ lệ nở là 77,58– 83,25% thì gà lai HA và AH có kết quả tương tự
Trang 94.4 Đặc điểm ngoại hình và khả năng sinh trưởng của gà thương phẩm da
đen, thịt đen, xương đen 3/4 máu H’mông
.1 Đặc điểm về ngoại hình
Lúc mới nở, gà H’Mông có nhiều màu lông: vàng, nâu sọc dưa, tro xám, đen tuyền chủ yếu là màu nâu sọc dưa Gà lai HHA và HAH 3/4 máu H’Mông có màu lông nâu đen đồng nhất, không có sọc dưa ở lưng, nhanh nhẹn, đều con Màu
da đen chiếm từ 80% đến 89% còn lại là màu da trắng Chân cũng có 2 màu đen và xám, chân đen có ở những con da đen, thịt đen, chân xám có ở những con da trắng, thịt trắng, vì vậy nên chúng ta có thể chọn được gà có tính trạng da đen, thịt đen, xương đen từ 1 ngày tuổi dựa vào màu da chân, còn những tính trạng da trắng không được thị trường ưa chuộng thì phân loại ngay từ một ngày tuổi
Gà trưởng thành có tầm vóc cao, to hơn gà Ri và các giống gà nội khác Gà lai 3/4 máu H’Mông có các đặc điểm ngoại hình rất giống gà H’Mông Đặc điểm ngoại hình đặc trưng nhất của gà H’Mông là chân đen, da đen, thịt đen và xương
đen, mào đơn màu đen, tích đen có ánh xanh,.màu lông rất đa dạng: con mái có các màu: đen tuyền, mơ đen nâu, vàng nâu, tro xám; Con trống có hai màu chính là trắng đen và vàng đỏ
4.4.2 Khối lượng cơ thể gà thương phẩm nuôi thịt
Bảng 6 Khối lượng cơ thể tích luỹ của gà thịt đen thương phẩm 3/4 HM
(n =200 con/1 công thức lai)
Đơn vị tính: gam
Tuần
CV
CV (%)
Trang 107 528,06± 15,65 20,75 523,71 ± 10,49 16,76 537,67± 12,25 17,35
Qua bảng 6 cho thấy khối lượng cơ thể tính chung cả trống mái tăng dần qua các tuần tuổi từ tuần 10 đến tuần 12 khối lượng cơ thể của gà lai HAH (CT2) có su hướng cao hơn gà HM thuần và gà lai HHA ở CT1 và CTĐC song sự khác nhau không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Điều đó cho thấy tính trạng khối lượng cơ thể của gà lai chưa được cải thiện vì bản thân con gà Ai Cập là gà hướng trứng, khối lượng cơ thể không cao hơn gà H’Mông Mục đích của việc lai tạo này là sử dụng gà mái Ai Cập có năng suất trứng cao hơn gà H’Mông để tạo ra sản phẩm gà con giống thịt đen 1 ngày tuổi được nhiều từ đó nâng cao năng suất cho thịt của 1 mái bố mẹ đáp ứng nhu cầu sản xuất hàng hoá
So sánh với các giống gà nội khác như gà Ri: khối lượng cơ thể lúc 12 tuần: con trống 1140,7 và con mái là 968,5 (Nguyễn Huy Đạt và cs, 2005); gà Mía: 1503 (Hoàng Phanh,1999); gà Đông Tảo:1404,7 (Nguyễn Huy Đạt và cs, 2005) gà H’Mông và gà lai 3/4 máu HM có khối lượng cơ thể cao hơn gà Ri và thấp hơn gà Mía và Đông Tảo So với các giống gà thịt đen như gà ác 9 tuần tuổi có khối lượng cơ thể là: 466,9 và 378,6; gà xương đen Thái Hoà: 567,0 và 480,5 thì kết quả gà H’Mông và gà lai 3/4 máu H’M có khối lượng lớn hơn
3 Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của gà thương phẩm nuôi thịt
Bảng 7 Một số chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của gà thương phẩm 0-12 tuần tuổi
Trang 11Kết quả bảng 7 cho thấy: mức tiêu thụ thức ăn đến 12 tuần tuổi của gà HM và
gà HAH tương tự nhau từ 3613,7g - 3624,5g, gà HHA có mức tiêu thụ thấp hơn (3458,7g) Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể thì gà HM có mức tiêu tốn cao nhất (3,42kg) Gà lai HHA và HAH có mức tiêu tốn thấp hơn (3,20 - 3,25kg) Tỷ lệ nuôi sống ở các nhóm gà thí nghiệm đều cao (93,68 – 94.87%), phản ánh được tính thích nghi của giống đối với điều kiện sống, bao gồm cả sức chống chịu bệnh tật và khả năng vượt qua các ảnh hưởng bất lợi trong quá trình sinh trưởng và phát triển của chúng
Chỉ số sản xuất PN là chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu quả nuôi gà lấy thịt, chỉ số này càng cao, hiệu quả chăn nuôi càng lớn Chỉ số sản xuất của nhóm gà thí nghiệm ở bảng 7 cho thấy gà lai HHA và HAH 3/4 máu H’Mông
đạt 36,85 – 39,82 cao hơn so với H’Mông (34,49) và đạt chỉ tiêu tương đương các giống gà Ri, gà Mía (38-40)
Trang 12Khả năng sản xuất thịt hơi gà đen thương phẩm của một mái mẹ
Để đánh giá sử dụng công thức nào đưa ra sản suất gà thịt đen thương phẩm
có hiệu quả nhất, chúng tôi đánh giá khả năng sản xuất thịt hơi gà đen thương phẩm của một gà mái mẹ ở các công thức lai Kết quả được trình bày ở Bảng 8
Bảng 8 Kết quả sản xuất thịt hơi của một gà mái mẹ
Chênh lệch so với gà
H’M
Kết quả bảng 8 cho thấy gà mái lai HA và AH ở công thức 1 và 2 cho kết quả sản xuất thịt gà hơi/ một mái mẹ cao hơn hẳn gà H’Mông thuần (73,74kg và 81,42kg so với 52,02kg) Gà lai AH ở công thức 2 cho sản lượng thịt gà hơi/mái cao nhất (81,42kg) Với giá bán hiện tại là 37.000 đồng/kg thịt gà hơi thì chênh lệch thu của gà lai HA và AH so với gà HM từ 803.640đ - 1.087.800đ /1 mái sinh sản
4.5 Năng suất và chất lượng thịt của gà thương phẩm da đen, thịt đen, xương
đen 3/4 máu H’Mông
4.5.1 Năng suất thịt của gà thương phẩm
Để đánh giá được khả năng cho thịt của các tổ hợp lai 3/4 máu H’Mông so với gà H’Mông thuần, chúng tôi tiến hành mổ khảo sát gà thí nghiệm tại thời điểm giết mổ 12 tuần tuổi Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 9
Kết quả mổ khảo sát cho thấy, toàn bộ da, thịt, xương gà thí nghiệm đều có màu đen, không phân biệt được giữa con thuần và con lai Tỷ lệ thân thịt và các phần thịt đùi giữa các giống là tương tự nhau Tỷ lệ thân thịt: 72,6 – 73,6%, tỷ lệ thịt đùi đạt từ 20,9 - 21,9%; tỷ lệ thịt lườn gà lai HHA và HAH cao hơn gà HM