ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic vào khẩu phần đến khả năng tiêu hóa thức ăn, tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Lương phượng nuôi thịt Trần Quốc Việt, Bùi Thị T
Trang 1ảnh hưởng của việc bổ sung probiotic vào khẩu phần đến khả năng tiêu hóa thức ăn, tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử
dụng thức ăn của gà Lương phượng nuôi thịt
Trần Quốc Việt, Bùi Thị Thu Huyền, Ninh Thị Len, Nguyễn Thị Phụng,
Đào Thị Phương, Lê Văn Huyên; Đào Đức Kiên
Bộ môn Dinh dưỡng và Thức ăn Chăn nuôi - Viện Chăn nuôi
1 Đặt vấn đề
Hiện nay, mặc dù đang tồn tại những quan điểm khác nhau về việc sử dụng kháng sinh liều thấp như chất kích thich sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi, nhưng giảm tối đa và tiến tới hoàn toàn không sử dụng kháng sinh đang là một xu thế chung của thế giới Theo báo cáo của Uỷ ban sử dụng dược phẩm trong thức ăn chăn nuôi trực thuộc Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia (NRC - Mỹ), thiệt hại do lệnh cấm sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi có thể lên tới 2,5 tỷ USD mỗi năm (Donna U Vogt 1999) Bởi vậy, việc nghiên cứu tìm ra các chất thay thế
đang thực sự trở thành một nhu cầu cấp bách Trong số các chất thay thế, probiotic hiện được quan tâm nghiên cứu nhiều do có những đặc điểm ưu việt: (i) an toàn đối với vật nuôi và con người; (ii) cải thiện được các chức năng tiêu hoá; (iii) ức chế
được vi khuẩn gây bênh và tăng cường khả năng miễn dịch ở gia súc; (iv) không để lại tồn dư và đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm (Jans, 2005) Nghiên cứu này
được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử một số chế phẩm probiotic (do Viện Chăn nuôi phối hợp với trung tâm công nghệ sinh học-Đại học Quốc gia Hà nội nghiên cứu sản xuất) trên gà
2 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm tiêu hóa
Thí nghiệm được tiến hành trên gà Lương phượng 4 tuần tuổi (khối lượng trung bình 800g/con), bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 lô, 4 lần lặp lại (2 con, 1 trống, 1 mái/lần lặp lại) với tổng số (5 x 4 x 2) 40 con Gà thí nghiệm
được nuôi trong 20 ô chuông lồng (35x35x35 cm) (mỗi ô là một lần lặp lại) Gà ở các lô I, II, III được ăn khẩu phần cơ sở (phụ lục) có bổ sung chế phẩm Probiotic 1
Trang 2gồm 3 chủng vi khuẩn (Enterococcus faecium- 6H2; Lactobacillus acidophilus-C3
và Bacillus subtilis-H4), chế phẩm probiotic 2 gồm 3 chủng (Pediococcus pentosaceus -Đ7; Lactobacillus plantarum-1K8 và Bacillus subtilis- H4) và chế phẩm Probiotic 3 gồm 3 chủng (Lactobacillus plantarum-3K2; Lactobacillus rhamnosus-5M2; Bacillus licheniformis-H3) tương ứng Mật độ vi sinh vật trong
mỗi chế phẩm đạt 108 cfu/g Liều bổ sung: 2 kg/tấn Gà ở lô IV- Lô đối chứng tích cực (positive coltrrol) được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung chlotetracyclin 10% dạng viên bọc với liều 0.8 kg/tấn, tương ứng với 80 ppm Chlotetracycline hoạt tính) Gà ở lô V- Lô đối chứng tiêu cực (negative coltrol) được ăn khẩu phần cơ sở không bổ sung Probiotic và kháng sinh
Thức ăn được chế biến ở dạng bột Trong thời gian nuôi thích nghi 10 ngày,
gà ở các lô được tự do Trong thời gian thí nghiệm (10 ngày tiếp theo) gà ở các lô
được ăn đồng đều một lượng thức ăn: 75 gam/con/ngày Việc thu phân được thực hiện trong 10 ngày liên tục, mỗi ngày 2 lần (8 giờ sáng và 5 giờ chiều) Toàn bộ phân sau mỗi lần thu được cân và đựng vào túi ni lông, buộc kín, đánh dấu và bảo quản lạnh (4-6oC) Sau 10 ngày thí nghiệm, toàn bộ số phân thu được hàng ngày từ mỗi ô được trộn đều và lấy mẫu đại diện (300g/mẫu) để phân tích xác định hàm lượng vật chất khô, chất hữu cơ, nitơ tổng số, xơ thô, mỡ thô và NDF
Sau khi kết thúc thí nghiệm, toàn bộ gà ở các lô được giết mổ, các chất chứa trong các phân đoạn khác nhau của đường tiêu hóa (diều, hồi tràng và manh tràng)
được lấy mẫu đại diện để khảo sát cơ cấu quần thể vi sinh vật thể hiện trên mật độ (cfu/g) các vi khuẩn hiếu khí (VKHK), vi khuẩn kị khí (VKKK), vi khuẩn Lactic, Bacillus, nấm men và E Coli Việc định loại và đếm các vi sinh vật đường ruột
được thực hiện theo các phương pháp nghiên cứu vi sinh vật thông thường
Phân tích hoá học
Mẫu phân và mẫu thức ăn được phân tích các chỉ tiêu: Vât chất khô (VCK) (TCVN 4326-86), protein tổng số (Nx 6,25) (TCVN 4328-86), xơ thô (CF) (TCVN.4329-86), mỡ thô (EE) (TCVN-4327-86), xơ hoà tan trong môi trường trung tính (NDF) (Goering và Van Soest, 1970) Việc phân tích các chỉ tiêu được tiến hành tại phòng phân tích viện Chăn nuôi
2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm nuôi dưỡng
Trang 3Thí nghiệm được thực hiện tại Trạm Nghiên cứu và Thực nghiệm Thức ăn gia súc - Viện Chăn nuôi trên gà Lương phượng nuôi thịt từ 1 ngày tuổi Thí nghiệm được bố trí theo kiểu ngẫu nhiên hoàn toàn với 5 lô, 7 lần lặp lại/lô, 10 con (đồng đều trống mái)/lần lặp lại, tổng số (5 x 7 x 10) 350 con Gà ở các lô I, II, III
được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung chế phẩm Probiotic 1, 2 và 3 tương ứng Cơ cấu, mật độ vi sinh vật trong các chế phẩm Probiotic và liều bổ sung tương tự như thí nghiệm tiêu hóa Gà ở lô IV- Lô đối chứng tích cực (positive coltrrol) được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung chlotetracyclin 10% dạng viên bọc với liều 0.8 kg/tấn, tương ứng với 80 ppm Chlotetracycline hoạt tính) Gà ở lô V- Lô đối chứng tiêu cực (negative coltrol) được ăn khẩu phần cơ sở không bổ sung chế phẩm Probiotic
và kháng sinh Gà ở mỗi lần lặp lại được nuôi trên chuồng lồng, thức ăn và nước uống sạch được cung cấp theo chế độ ăn tự do Gà được nuôi trong 12 tuần, chia làm 3 giai đoạn (1-4; 5-8 và 9-12 tuần tuổi) Mỗi khi chuyển giai đoạn, gà được cân khối lượng, xác định tốc độ sinh trưởng và thay đổi khẩu phần (phụ lục) Thức
ăn cho vào và thức ăn thừa được ghi chép hàng ngày để tính toán lượng thức ăn ăn vào và tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
2.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được được xử lý thống kê ANOVA- GLM bằng phần mềm Minitab 13.0 trên máy tính
3 Kết quả và thảo luận
3.1 ả nh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào khẩu phần đến khả năng tiêu hóa thức ăn của gà Lương phượng
Tỷ lệ tiêu hóa một số chất dinh dưỡng cơ bản của khẩu phần trên gà được trình bày ở bảng 2
Bảng 2 ả nh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến khả năng tiêu
hóa thức ăn của gà (%)
Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
Lô I (CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
Trang 4Chất hữu cơ 76.7a 79.2b 77.1ab 78.2ab 76.9a 0.5 0.015
Các giá trị trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau (P<0.05)
Tỷ lệ tiêu hóa chất khô ở gà giai đoạn sau 4 tuần tuổi dao động từ 74 đến 76,9%, trong đó tỷ lệ tiêu hóa chất khô cao nhất quan sát thấy ở lô II (76,9%) và lô
IV (76,7%) và cao hơn rõ rệt so với lô I và lô III (P<0,05) Tỷ lệ tiêu hóa chất hữu cơ và protein thô cao nhất thấy ở lô II (79,2% và 75,5% tương ứng) Không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ tiêu hoá mỡ thô trong khẩu phần giữa các lô (P>0,05) Tỷ lệ tiêu hóa xơ thô và NDF cao nhất quan sát thấy ở lô II và IV, thấp nhất ở lô III và sự khác nhau này có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Các kết quả trên cho thấy gà ở các lô được ăn khẩu phần có bổ sung kháng sinh và chế phẩm probiotic II đã nâng cao được khả năng tiêu hóa thức ăn của gà và phù hợp với kết quả nghiên cứu của Kwon và ctv (2002) trên gà broiler, các tác giả thông báo khi cho ăn khẩu phần có bổ sung probiotic (PBO5) đã cải thiện được tỷ lệ tiêu hoá chất khô và nitơ ở gà so với đối chứng Tuy nhiên, một nghiên cứu khác của Correa và ctv (2002) trên gà broiler với sản phẩm probiotic Calsporin đã không thấy có đáp ứng tích cực về tỷ lệ tiêu hoá chất khô, nitơ và năng lượng thô
3.1 ả nh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào khẩu phần đến sinh trưởng
và hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Lương phượng nuôi thịt
Tốc độ sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn của gà Lương phượng nuôi thịt được ăn khẩu phần có và không bổ sung chế phẩm probiotic được trình bày ở các bảng 3 và 4 Các số liệu ở bảng 3 cho thấy, khối lượng cơ thể của gà vào các thời điểm 28; 56 và 84 ngày tuổi ở lô được ăn khẩu phần có bổ sung chế phẩm probiotic II luôn cao hơn so với các lô khác từ 4-6% Tương ứng tốc độ tăng trọng tính theo g/con/ngày của gà ở lô II cũng cao hơn các lô khác và sự sai khác này có
ý nghĩa thống kê (P < 0,05) Điều đó cho thấy, cùng được bổ sung vào khẩu phần,
được nuôi trong cùng một điều kiện, nhưng hiệu quả của các chế phẩm probiotic rất khác nhau
Trang 5Bảng 3 ảnh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến tốc độ sinh
trưởng của gà Lương phượng nuôi thịt
Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
Lô I (CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
Khối lượng cơ thể (g/con)
Tăng trọng (g/con/ngày)
Trang 6Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau ở mức P<0.05
Sự khác nhau này theo Damgaard và Mclaren (2006) là do rất nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chủ yếu là do khả năng thích ứng của các chủng vi khuẩn probiotic với khẩu phần và môi trường đường tiêu hóa của từng đối tượng vật nuôi Cũng theo các tác giả này, cùng một sản phẩm probiotic với các chủng vi khuẩn lactic và Bacillus xác định đã rất có hiệu quả trên gà broiler ở điều kiện nuôi dưỡng này, nhưng lại không có hiệu quả cũng trên gà broiler nhưng ở điều kiện nuôi dưỡng khác Các số liệu ở bảng 4 cũng cho thấy, đáp ứng về sinh trưởng của
gà Lượng phượng nuôi thịt đối với bổ sung chlotetracyclin (liều 80 ppm) trong khẩu phần không rõ rệt, sinh trưởng của gà ở lô IV được phản ánh ở tốc độ tăng trọng (g/ngày) và khối lượng cơ thể qua các giai đoạn không sai khác nhiều so với các lô đối chứng
Tỷ lệ nuôi sống của gà broiler bị chi phối bởi nhiều yếu tố Trong thí nghiệm này, tỷ lệ nuôi sống thấp nhất thấy ở lô V (92,2%) và cao nhất ở lô III và
IV Tuy nhiên, sự sai khác giữa các lô không có ý nghĩa thống kê Qua quá trình theo dõi, nguyên nhân chủ yếu gây chết ở gà trong các lô I, II và V là do nhiễm bệnh CRD và cầu trùng Đối với những bệnh này việc bổ sung chlotetracyclin và probiotic không có nhiều tác dụng
Không thấy có sự sai khác có ý nghĩa thống kê về khả năng tiêu thụ thức ăn của gà giữa các lô (bảng 4)
Bảng 4 ả nh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến hiệu quả sử
dụng thức ăn của gà Lương phượng nuôi thịt
Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
Lô I (CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
Tiêu tốn thức ăn (kg TĂ/kg TT)
Trang 7Từ 1-28 ngày 2.44 2.16 2.35 2.39 2.36 0.1 0.173
Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau ở mức P<0.05
Hiệu suất chuyển hóa thức ăn của gà ở lô II trong các giai đoạn nuôi từ 1
đến 84 ngày luôn cao hơn so với lô đối chứng tiêu cực (lô V), mức tiêu tốn thức ăn tính chung cho cả giai đoạn thí nghiệm ở lô này là 2,8 kg, thấp hơn so với 2 lô đối chứng từ 6,04% đến 7,6%
Hiện nay, có rất nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các chủng vi khuẩn hữu ích như nguồn probiotic trong chăn nuôi gia cầm và kết quả cũng rất khác nhau Theo báo cáo của Phạm Thị Ngọc Lan và ctv (2003), khi bổ sung chế phẩm
probiotic gồm 2 chủng vi khuẩn lactic (Lactobacillus agillis JCM 1048 và L salivarius JCM 1230) trong khẩu phần cho gà broiler đã cải thiện tốc độ sinh
trưởng 10,7% Các công trình nghiên cứu của: Battungbacal và ctv (2002); Shoeib
và ctv (2002); Ahmad Khaksefidi và ctv (2006) cũng cho thấy có đáp ứng tích cực của gà broiler về sinh trưởng đối với việc bổ sung probiotic trong khẩu phần Tuy nhiên, một số tác giả khác như: Gadban và ctv (2001); Lima và ctv (2002) đã không quan sát thấy có đáp ứng tích cực của gà broiler đối với việc bổ sung probiotic trong khẩu phần
3.3 ả nh hưởng của việc bổ sung các chế phẩm probiotic trong khẩu phần đến thành phần quần thể vi sinh vật ở diều, hồi tràng và manh tràng của gà
Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng hệ vi sinh vật đường tiêu hóa của gia cầm khác rất nhiều so với động vật có vú về cơ cấu quần thể (Smith, 1965; Perez de Rozas và ctv, 2004) Trong nghiên cứu này, chỉ một số chỉ tiêu (tổng số vi khuẩn hiếu khí, vi khuẩn kị khí, vi khuẩn lactic, Bacillus, nấm men và E.coli) được quan tâm nghiên cứu nhằm đánh giá quan hệ cân bằng giữa các nhóm vi sinh vật có lợi
và có hại dưới ảnh hưởng của các yếu tố khẩu phần, các kết quả được trình bày ở bảng 5
Bảng 5 ả nh hưởng của việc bổ sung chế phẩm probiotic vào thức ăn đến tỷ lệ nuôi sống
và cơ cấu quần thể vi sinh vật đường tiêu hóa
Trang 8Lô thí nghiệm Chỉ tiêu
Lô I (CP1)
Lô II (CP2)
Lô III (CP3)
Lô IV (ĐC+)
Lô V (ĐC-)
Mật độ vi sinh vật (cfu/g chất chứa) Diều
- Tổng VKHK
- Tổng VKKK
- Vi khuẩn Lactic
- Bacllus
- Nấm men
- E Coli
6,52 5,72 4,95ab 4,90 2,53 1,63a
5,51 5,85 4,56a 5,23 1,15 0,62b
5,39 6,72 5,40ab 5,02 2,23 1,32ab
5,88 6,79 6,22b 5,02 2,98 1,14ab
6,00 6,24 5,04ab 5,68 3,65 1,60a
0,332 0,292 0,337 0,408 0,877 0,164
0,182 0,065 0,033 0,068 0,385 0,004 Ruột non**
- Tổng VKHK
- Tổng VKKK
- Vi khuẩn Lactic
- Bacllus
- Nấm men
- E Coli
8,77 7,89 6,94 7,93a 5,55b 1,94a
8,50 8,02 7,28 7,71a 2,45a 1,34a
8,15 8,34 7,19 7,21a 1,57a 2,32ab
8,71 7,92 7,41 6,45b 1,90a 1,43a
8,31 7,58 6,87 7,75a 3,09a 2,43ab
0,397 0,326 0,365 0,323 0,457 0,158
0,779 0,607 0,815 0,036 0,000 0,000 Manh tràng
- Tổng VKHK
- Tổng VKKK
- Vi khuẩn Lactic
- Bacllus
- Nấm men
- E Coli
8,26 8,30 6,77 6,66 2,92 2,52
8,27 8,42 7,01 7,14 1,40 2,27
8,66 8,82 6,84 7,39 2,79 2,56
8,22 9,10 7,26 6,86 2,07 2,49
8,43 7,92 7,08 6,91 3,15 2,42
0,366 0,297 0.224 0,320 0,494 0,110
0,910 0,070 0,564 0,559 0,130 0,418
- Giá trị trung bình của mật độ các vi sinh vật (cfu/g) trong bảng được biểu thị dưới dạng log10;
- Các giá trị trung bình trong cùng một hàng mang các chữ cái khác nhau thì khác nhau ở mức P<0.05
Mật độ vi sinh vật thay đổi từ diều đến manh tràng theo chiều hướng tăng dần, điều này thể hiện rõ ở mật độ các vi khuẩn hiếu và kị khí Số lượng vi khuẩn Lactic ở diều thấp hơn so với ruột non từ 10 đến 15 lần và mật độ này thấp nhất quan sát thấy ỏ lô II Đồng thời mật độ E.coli cũng thấp nhất ở lô này Tại ruột non
và manh tràng, không thấy có sự khác biệt đáng kể về mật độ các vi khuẩn hiếu
Trang 9khí, vi khuẩn kị kí, lactic và Bacillus, nhưng mật độ của E.coli thấp hơn rất đáng kể
ở lô gà được ăn khẩu phần có bổ sung chế phẩm probiotic II Nhìn chung, tương quan giữa vi khuẩn Lactic, bacillus (đại diện cho nhóm vi khuẩn có lợi) so với E.coli là tương quan có lợi cho vật chủ, trong đó nhóm các vi khuẩn lactic và bacillus chiếm ưu thế Theo Gabriel và ctv (2006) căn cứ vào mật độ vi khuẩn trong đường tiêu hoá của gia cầm mà phân ra: nhóm chiếm ưu thế (>106 cfu/g); nhóm bán ưu thế (từ 103 đến 106 cfu/g) và nhóm còn lại (< 103 cfu/g) Căn cứ vào cách phân loại này thì nhìn chung nhóm các vi khuẩn Lactic và Bacillus trong
đường tiêu hóa ở gà ở tất cả các lô đều chiếm ưu thế (mật độ đều > 106 cfu/g) Trong hồi tràng của gà lô I và lô II mật độ vi khuẩn E.Coli thấp hơn đáng kể so với lô đối chứng tiêu cực Tuy nhiên, tương quan mật độ các loài vi khuẩn trong đường tiêu hóa của gia cầm cũng như các động vật dạ dày đơn khác phụ thuộc vào nhiều yếu tố, ngoài các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp như thức ăn, nước uống, điều kiện vệ sinh …vv, sự thay đổi đột ngột của thời tiết, khí hậu, các stress mạnh, thậm chí những yếu tố cá thể cũng gây nên những thay đổi của môi trường đường tiêu hóa,
do đó dẫn đến những thay đổi trong hệ sinh thái vi sinh vật ruột Gabriel và ctv (2006) Điều đó giải thích tại sao cùng một điều kiện nuôi dưỡng mà cơ cấu quần thể vi sinh vật ruột ở vật nuôi rất khác nhau Cũng theo Gabriel và ctv (2006) hiện những hiểu biết của con người về những hoạt động của các loài vi sinh vật đường ruột còn quá ít ỏi
4 Kết luận và đề nghị
4.1 Kết luận
Từ các kết quả nghiên cứu, một số kết luận được rút ra như sau:
Trong 3 chế phẩm probiotic được sử dụng, chế phẩm II được sản xuất từ 2
chủng vi khuẩn Lactic (Pediococcus pentosaceus -Đ7; Lactobacillus plantarum-1K8) và 1 chủng Bacillus (Bacillus subtilis-H4) có hiệu quả rõ rệt đối với gà
Lương phượng cả về khả năng tiêu hoá thức ăn (tỷ lệ tiêu hóa tăng từ 3,0- 7,0%); tốc độ sinh trưởng (tăng 4,7%), hiệu quả chuyển hóa thức ăn (giảm tiêu tốn thức ăn 7,6%)
4.2 Đề nghị
Đề nghị được sản xuất thử
Trang 10Tµi liÖu tham kh¶o
1 Ahmad Khaksefidi and Taghi Ghoorchi 2006 Effect of Probiotic on Performace and
Immunocompetence in Broiler chicks The Journal of Poultry Science 43 296-300
2 Battungbacal M.R., Luis E.S., and J.R Centeno 2002 Performance of broilers fed corn-soibean
based diets with diffrent levels of enzyme-probiotic supplement Philippine Journal of Veterinary Medicine 2002 39.2.58-66 26 ref
3 Correa G-da-SS., Gomes-AV-da-C; Correa-AB., Salles-A-S., Curvello-FA., and A Salles 2002
Digestibility of broiler chickens diet supplemented with probiotics and antibiotics Ciencia-Rural 2002
32 4 687-691 18 ref
4 Damgaard and Mclaren 2006 Probiotics for pigs www.pigsite
5 Donna U Vogt 1999 Food Biotechnology in the United States : Science, Regulation and Issues
www Aphis.usda.gov/biotech/OECD/usregs/htm
6 Gabriel I, Lessire M; S Mallet and J.F Huillot 2006 Microflora of the digestive tract: Critical
factors and consequences for poultry Worrld’ s Poultry Science Journal 62 3 499-511
7 Gadban G., and M Grasshorn 2001 A comparision of diffrent growth promoters added to concentrates for broilers Zhivotnov dni-Nauki 38 6 33-36 12 ref
8 Kwon O.S., Kim I.H., Hong J.W., Han Y.K., Lee S.H., and J.M Lee 2002 Effects of
probiotics supplementation on growth performance, blood composition and fecal noxiuos gas of broiler chickens Korean Journal of Poultry Science 29 1, 1-6; 28 ref
9 Lima –ACF de., Harnich-FAR; Nacari-M; Pizauro-Junior-JM and de-Lima-ACF 2002
Evaluation of the performance of broiler chickens fed with ezymatic or probiotic supplementation Ars-Veterinaria 18 2 153-157 18 ref
10 Pham Thi Ngoc Lan, Le Thanh Binh and Yoshimi Benno 2003 Impact of two probiotic
Lactobacillus strains feeding on fecal lactobacilli and weight gain in chicken J Gen Appl Microbiol
49 29-36
11 Shoeib.H.K., and A.H Madian 2002 A study on the effect of feeding diets containing probiotics
(pronifer and biogen) on growth performance, intestine flora and haematologycal picture of broiler chicks Assiut-Veterinary Medical Journal 2002 47 94 112-125
Phô lôc KhÈu phÇn c¬ së cho gµ thÝ nghiÖm (%)