Kết quả nuôi giữ, bảo tồn quỹ gen vịt đốm Pất Lài và vịt Bầu bến tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên Nguyễn Đức Trọng, Hồ Khắc Oánh, Nguyễn Thị Minh, Lê Xuân Thọ, Ngô Văn Vĩnh Tác giả
Trang 1Kết quả nuôi giữ, bảo tồn quỹ gen vịt đốm (Pất Lài) và vịt Bầu
bến tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Nguyễn Đức Trọng, Hồ Khắc Oánh, Nguyễn Thị Minh, Lê Xuân Thọ, Ngô Văn Vĩnh Tác giả liên hệ: Nguyễn Đức Trọng, Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên, Phú Xuyên- Hà Tây
Tel: 034.854391 E-Mail: nguyenductrongttncv@yahoo.com.vn
abstract Two breeds of local duck: Pat Lai (Dom) and Bau Ben have many distinguish characteristics They should be conservated for breeding afterwards It was shown high survival ability; high egg quality with yolk rate 34.7% and 35.3%; body weight 1860.6g and 175.29g; accumulated fat 16.1% and 15.3% in Pat Lai (Dom) and Bau Ben resp
Their meat is good food for traditional meals
Đặt vấn đề
Nuôi giữ bảo tồn quỹ gen độngvật được coi như giữ gìn bản sắc văn hoá của một dân tộc Hai giống vịt Đốm (Pất Lài) và Bầu Bến là hai giống vịt nội có nguồn gốc ở Lạng Sơn và Hoà Bình, có các đặc điểm quý khả năng chống chịu bệnh tật tốt, thịt thơm ngon
Mặt khác, hai giống vịt này đang đứng trước nguy cơ giảm và mất dần nguồn gen quý do hình thức chăn nuôi và sự lai tạp giống Xuất phát từ những yêu cầu trên chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu, nuôi giữ bảo tồn quỹ gen của vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên”
Mục đích:
- Nuôi giữ và tiếp tục chọn lọc các tính trạng quý của vịt Pất Lài và vịt Bầu Bến
- Xác định các đặc điểm và tính năng sản xuất của hai giống vịt này
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Thời gian: Từ tháng 9/2003 đến 2006
Địa điểm: Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Vật liệu
Vịt được chọn từ vùng tồn tại một cách tự nhiên (được gọi là vùng bản địa của giống) Cụ thể:
Vịt Đốm (Pất Lài) được chọn từ huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn
Vịt Bầu Bến được chọn lọc từ huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình
Trang 2Phương pháp nghiên cứu
Vịt được chọn lọc trên cơ sở thể hiện những đặc điểm điển hình của giống (căn cứ vào kết quả điều tra về giống từ những năm 1998-2000)
Vịt được nuôi nhốt theo từng quần thể nhỏ từ 30-40 con trong một ô chuồng với tỷ lệ trống mái là 1:6 Theo phương thức nuôi khô có máng ăn máng uống tại chuồng
Chế độ nuôi dưỡng: Từ 1-28 ngày tuổi cho ăn tăng dần theo cấp số cộng, mức xuất phát là 4g thức ăn hỗn hợp vịt con và sau đó cố định lượng thức ăn bằng thức ăn hậu bị
Thành phần dinh dưỡng thức ăn:
Giai đoạn vịt con (1-56 ngày tuổi) 20%protein, năng lượng 2800-2900 Kcal/kg TA
Giai đoạn hậu bị (9 tuần-trước đẻ 2 tuần): 15%protein, năng lượng 2800-2900 Kcal/kgTA Giai đoạn vịt đẻ (2 tuần trước đẻ-52 tuần đẻ): 17%protein, năng lượng 2700 Kcal/kgTA
Định kỳ cho uống thuốc phòng và tiêm các loại vaccin theo quy trình phòng bệnh chung của các giống vịt
Từ ngày 151 trở đi bắt đầu dùng thức ăn vịt đẻ và với mức ăn tự do để dừng đẻ cho đến hết thời gian đẻ (52 tuần đẻ)
Trong quá trình từ một ngày tuổi đến hết thời kỳ đẻ vịt được theo dõi các chỉ tiêu thông thường theo quy trình chăm sóc nuôi dưỡng đàn giống của Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Kết quả và thảo luận
Kết quả về tỷ lệ nuôi sống
Chúng tôi tiến hành theo dõi tỷ lệ nuôi sống của hai giống vịt từ sơ sinh đến khi kết thúc ở
540 ngày tuổi Kết quả tỷ lệ nuôi sống được trình bày tại bảng 1
Bảng 1 Tỷ lệ nuôi sống (%)
Ngày tuổi
Qua bảng 1 ta thấy rằng trong điều kiện nuôi nhốt vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến đều
đạt được tỷ lệ nuôi sống cao, trung bình từ sơ sinh đến hết giai đoạn hậu bị (0-175 ngày tuổi) đạt 84,09% và 80,0%, tỷ lệ hao hụt trong quá trình sinh sản là 8,11% và 11,25% thấp hơn một số giống vịt khác Điều này chứng tỏ khả năng chống chịu bệnh tật và các yếu tố
Trang 3thay đổi khác của hai giống vịt trên là một trong những đặc điểm sinh học cần phải được quan tâm hơn nữa trong quá trình lai tạo với các giống khác có năng suất cao sản
Khối lượng cơ thể của hai giống vịt qua các giai đoạn
Chúng tôi tiến hành cân vịt ở sơ sinh, 4, 8 và 25 tuần tuổi Kết quả thể hiện ở bảng 2 Bảng 2 Khối lượng cơ thể vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến từ một ngày tuổi đến lúc đẻ
quả trứng đầu (g/con)
Qua bảng 2 ta thấy khối lượng 1 ngày tuổi của vịt Đốm và vịt Bầu Bến đều nhỏ tương ứng
là 41,0g/con và 39,0g/con Khi được 25 tuần tuổi khối lượng cơ thể của vịt Đốm đạt 2125,0g/con; khối lượng vịt Bầu Bến đạt 2008,0g/con
Qua kết quả này cho thấy cả hai giống vịt trên đều có khối lượng cơ thể lớn hơn các giống vịt hướng trứng và gần bằng khối lượng của vịt hướng thịt Kết quả nghiên cứu trên vịt Khaki Campbell (Lê Thị Phiên, 2005) cho thấy khối lượng cơ thể vịt khi 20 tuần tuổi là 1405g ở con đực và 1261g ở con mái; Down Văn Xuân (2005) cho biết khối lượng cơ thể khi vào đẻ vịt CV 2000 Layer từ 1684,17-1834,32g ở con mái và từ 1786,11-1918,46g ở con đực
Khả năng sinh sản
Qua theo dõi năng suất sinh sản và cân khối lượng trứng từ tuần đẻ 1 đến tuần đẻ 52, chúng tôi tính tỷ lệ đẻ, nắng suất trứng và khối lượng trứng của hai giống vịt Đốm (Pất Lài) và Bầu Bến Kết quả được trình bày tại bảng 3
Bảng 3 Tỷ lệ đẻ, năng suất trứng và khối lượng trứng của vịt Pất Lài và vịt Bầu Bến
Vịt Pất Lài (n=185)
Vịt Bầu Bến (n=80) Tuần đẻ
Tỷ lệ đẻ (%)
Cộng dồn (quả/mái)
Khối lượng trứng (g)
Tỷ lệ đẻ (%)
Cộng dồn (quả/mái)
Khối lượng trứng (g)
Trang 436 38,50 126,92 72 35,2 139,15 70
Qua bảng 3 ta thấy nếu nuôi vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến cho sinh sản trong suốt 12 tháng (52 tuần đẻ) khả năng cho trứng 164,63 quả đối với vịt Pất Lài và 168,33 quả đối với vịt Bầu Bến Sản lượng trứng này tương đương với nuôi chăn thả tự do trong điều kiện chăn nuôi tự nhiên Điều này chứng minh rằng sản lượng trứng của vịt Pất Lài và vịt Bầu Bến là
ổn định về mặt sinh học
Khối lượng trứng tương đương với điều kiện chăn thả ngoài tự nhiên ở cơ sở của giống Một số chỉ tiêu chất lượng trứng và kết quả ấp nở của vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến
Chất lượng trứng là một trong các chỉ tiêu để đánh giá tầm quan trọng và lợi ích kinh tế của giống, nó có ảnh hưởng đến kết quả ấp nở của trứng vịt Kết quả khảo sát trứng và tỷ lệ
ấp nở được nêu ở bảng 4
Bảng 4 Một số chỉ tiêu chất lượng trứng và kết quả ấp nở của vịt Đốm (Pất Lài)
và vịt Bầu Bến
(n=85)
Trứng vịt Bầu Bến (n=55)
Qua kết quả ở bảng 4 cho thấy các chỉ tiêu về chất lượng trứng của cả hai giống là tương
đương thể hiện đặc điểm của giống, đó là tỷ lệ lòng đỏ cao chiếm tỷ lệ 35,3% và 34,7%;
đơn vị Haugh của trứng rất cao 84,6 và 83,9 và khi đưa vào ấp nở các tỷ lệ đều đạt các chỉ tiêu của giống vịt nói chung tỷ lệ phôi ở vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến tương ứng là 95,2% và 96,1%; tỷ lệ nở/phôi tương ứng là 86,7% và 87,2%
Các chỉ tiêu về ngoại hình và khả năng cho thịt của vịt Đốm (Pất Lài) và vịt Bầu Bến Chúng tôi tiến hành nuôi vỗ béo vịt Đốm và vịt Bầu Bến đến 8 tuần tuổi, tiến hành đo một
số chiều đo của cơ thể, cân khối lượng và mổ khảo sát Kết quả được trình bày tại bảng 5
Trang 5Bảng 5 Một số chỉ tiêu về ngoại hình và khả năng cho thịt của vịt Đốm (Pất Lài) và vịt
Bầu Bến lúc 8 tuần tuổi
Qua kết quả ở bảng 5 chúng ta thấy vịt Đốm và vịt Bầu Bến có các chỉ tiêu về ngoại hình
và khả năng cho thịt tương đương nhau Nếu so sánh với các giống vịt khác thì tỷ lệ trên thấp hơn vịt siêu thịt nhưng lại cao hơn hẳn vịt cỏ Vịt có chỉ số vòng ngực/dài thân gần bằng 1, nghĩa là vịt nhìn cân đối có hình hộp chữ nhật gần với hình vuông hơn
Nuôi đến 8 tuần tuổi khối lượng cơ thể vịt Đốm và vịt Bầu Bến đạt 1860,6g/con và 1795,2g/con Đặc biệt tỷ lệ mỡ bụng và da mỡ nói chung thấp, da mỏng mỡ dưới da thấp hơn hẳn so với vịt CV Super M Điều này gây gợi cảm cho người sử dụng sản phẩm, họ
được thưởng thức món vịt quay hoặc luộc một cách hấp dẫn của giống vịt địa phương chưa lai tạp
Do điều kiện chưa cho phép nên chúng tôi chưa đi sâu vào phân tích được thành phần hoá học của trứng vịt và thịt vịt
Kết luận và đề nghị
Kết luận
Cả hai giống vịt Đốm (Pất Lài), vịt Bầu Bến đều có khả năng chống chịu bệnh tật tốt, tỷ lệ nuôi sống đến 175 ngày đạt 80,09% và 80,0% Hao hụt trong giai đoạn đẻ trứng thấp 8,11% và 11,25%
Khả năng sản xuất trứng tương đương với chăn nuôi trong điều kiện tự nhiên Tỷ lệ đẻ của vịt Đốm và vịt Bầu Bến đạt 45,16% và 46,79% với năng suất trứng tương ứng là 164,63 quả/mái/52 tuần đẻ và 168,33 quả/mái/52 tuần đẻ Các chỉ tiêu về chất lượng trứng đạt tiêu chuẩn của trứng giống, đặc biệt là tỷ lệ lòng đỏ cao chiếm 35,3% và 34,7%; khi ấp nở tỷ lệ phôi của hai giống vịt cao 95,2% và 96,1%
Trang 6Khi nuôi vỗ béo đến 8 tuần tuổi vịt Đốm và vịt Bầu bến có khối lượng cơ thể là 1860,6g/con và 1795,2g/con; tỷ lệ thịt xẻ tương ứng là 67,2% và 66,3%
Đề nghị
Cần tiếp tục cho mở rộng nghiên cứu để có điều kiện phát triển trong sản xuất