Tuổi thành thục về giới tính là 1 năm tuổi, khối lượng 10kg là có thể cho sinh sản, 1 đực ghép 2 cái nhưng chú ý nhím không giao phối đồng huyết.. Phối giống – cai sữa và Sinh sản Số nhí
Trang 1sinh sản, sinh trưởng và hiệu quả chăn nuôi nhím
với phương thức nuôi nhốt
Võ Văn Sự, Nguyễn Hữu Khôi, Phùng Quang Trường, Hà Văn Muồn,
Nguyễn Tuấn Thành , Phạm Ngọc Tuân, Nguyễn Sức Mạnh, Vương Tuấn Thực,
Mai Văn Y, Bùi Cư, Nguyễn Gia Tôn
Bộ môn Đa dạng Sinh học và Động vật quý hiếm
Lời mở đầu Bên cạnh việc săn bắt, một số người đ tìm cách nuôi nhím Người đầu tiên có lẽ là ông Nguyễn Văn Tuân (Trại nhím Tuân-Hoà, Củ Chi) nuôi nhím từ năm 1988 Tiếp đó là người dân Sơn La, nuôi nhím từ năm 1992 Còn bây giờ thì việc nuôi nhím đ lan ra rất nhiều nơi: Đắc Lắc, Hà Tây, Hà Nội, Bắc Giang, Hưng Yên…Hộ nuôi nhiều có đến 170 con, hộ nuôi ít cũng đến 4 con
Về kỹ thuật nuôi, khá đa dạng, mỗi nơi một cách Một số điều tra sơ bộ mà chúng tôi thực hiện được trước khi tiến hành đề tài này cho thấy: nhím dễ nuôi, ít bệnh tật Đa số đàn đẻ khá tốt, nhưng cũng có đàn đẻ kém Hai ba năm vừa qua giá nhím giống tăng lên đột ngột,
từ 2-3 triệu đồng lên (5-10 triệu / cặp 8 tháng tuổi) mà cung vẫn không đủ cầu Và đ có hiện tượng những con nhím săn bắn được đánh tráo lẫn với nhím nuôi và có nguy cơ gây nên việc săn bắn trái phép tăng ồ ạt
Tuy vậy, về mặt khoa học, cho đến nay chúng tôi cũng chưa thu thập được một tài liệu nào thể hiện có công trình nghiên tương đối “bài bản” ở nước ta và cả ở nước ngoài
Tiểu đề tài “Sinh sản, sinh trưởng, bệnh tật và hiệu quả chăn nuôi nhím với phương thức nuôi nhốt” nhằm tìm hiểu sâu hơn về các vấn đề: trong môi trường nhân tạo, nhím được nuôi thế nào, sinh trưởng, sinh sản và bệnh tật có gì đặc biệt
Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước Tình hình nghiên cứu nhím ở ngoài nước
Theo “Quỹ Động vật hoang d Nam Phi” – tại vùng này nhím bờm (Crested porcupine) khá phổ biến Đó là loài gặm nhấm to (thân dài 30 inch, ~ 75 cm) và nặng nhất Châu Phi (44 bảng, ~ 20 kg) Tại vùng này người ta cũng săn bắt để lấy thịt Nhím Nam Phi thường sống ở vùng đồi núi, núi đá, nhưng cũng rất dễ thích nghi ở các địa hình khác Người ta còn phát hiện nhím này có ở vùng núi Mt Kilimanjaro, cao 11,480 feet (khoảng 3 km) Tuy nhiên không thấy một tư liệu nói về nuôi nhím ở vùng này
Trang 2Tại Bắc mỹ, có một loại nhím nhỏ con hơn (7,8 kg) (theo Desert USA (2003) Tại phòng thí nghiệm người ta nuôi nhím con trong vài tháng
Nhím được xem như động vật vô ích, tuy nhiên đâu đó vẫn được dùng làm thực phẩm Lông nhím được người Mỹ bản xứ làm hộp, đồ trang sức và các sản phẩm nghệ thuật khác Nghiên cứu nuôi nhím ở Việt Nam
Hàng loạt bài báo được đăng trên các báo chí thông thường hoặc trên báo điện tử Những bài báo này phần lớn là các phóng sự hoặc nói lại tình hình, kỹ thuật nuôi nhím ở Việt Nam Các bài báo này chủ yếu đăng từ năm 2003 trở lại đây Bản thân chúng tôi cũng đ công bố một số kinh nghiệm trên TV2 cùng với Hội các ngành sinh học Việt Nam Một số thông tin được công bố như sau:
(http://www.vista.gov.vn/tindientu/Nongthondoimoi/2004/s21/bt.htm) có đưa ra các thông tin:
“Khối lượng trung bình 15-25kg; Tuổi thọ của nhím 15-20 năm Tuổi thành thục về giới tính là 1 năm tuổi, khối lượng 10kg là có thể cho sinh sản, 1 đực ghép 2 cái nhưng chú ý nhím không giao phối đồng huyết Nhím cái 1 năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa đẻ 1-3 con Nhím con sau 1 năm khối lượng đạt 10kg, sau 2 năm 15-16kg, năm thứ 3 con đực 20kg, con cái 17-18kg Nhím tuy sống hoang d trong rừng, nhưng thuần hóa dễ dàng Nhím rất ít bệnh tật Một số nơi đ nuôi nhím 10 năm nay, nhưng chưa gặp bệnh nào ở nhím, ngoại trừ một số
ký sinh trùng như ve, mạt, mò
Thịt nhím thơm, ngon, là món ăn đặc sản Mật, dạ dày, lông dùng để làm thuốc chữa bệnh dạ dày, viêm tai giữa, làm thuốc xoa bóp
Một con nhím mỗi tháng bình quân yêu cầu 15kg rau xanh, 9kg thức ăn tinh, 5kg củ quả như bí đỏ, khoai, sắn
Nuôi nhím sau 1 năm đ có thể hoặc bán giống hoặc làm thịt Hiện tại giá bán nhím giống
là 150.000-250.000 đ /kg Giá bán nhím thịt là 100.000-140.000 đ /kg
Ông Nguyễn Lân Hùng (VNECONOMY: 26/04/2004), Thông tin Bộ Khoa học Công nghệ, cho biết các thông tin như sau:
Nhím ăn tạp, "tiêu thụ" từ các loại lá, rễ cây, củ, quả (kể cả những loại chát đắng như ổi xanh, rễ cau, rễ dừa) đến cả côn trùng, ốc, giun đất Tuổi trưởng thành sinh dục của nhím
là 16-17 tháng tuổi Chúng thường sống đơn lẻ, chỉ tới mùa sinh sản con đực mới đi tìm bạn tình
Mùa sinh sản của nhím thường vào khoảng tháng 5, 6 và những tháng cuối năm Thời gian mang thai của nhím cái rất ngắn, chỉ vẻn vẹn có 5 tuần Mỗi lứa nhím đẻ từ 1-2 con, cũng
có trường hợp được 3 con, 2 lứa một năm Nhím con cứng cáp rất nhanh, lúc mới đẻ chúng
Trang 3đỏ hỏn, mũm mĩm, nhưng chỉ vài giờ sau da chúng đ co lại, để lộ rõ những lông trắng bám trên mình Qua thời gian, những lông trắng này dần đạt đến độ dài 20-25cm, hoá sừng
và trở thành bộ giáp đặc trưng của loài gặm nhấm này
Nhím lớn khá nhanh; chỉ 2 tháng tuổi chúng đ nặng tới 2,5-3kg, sau một năm đạt tới 9-10kg Chúng có khả năng đề kháng tốt, rất ít bị bệnh dịch Bệnh ghẻ lở do ve, trùng đốt với các loài khác là đại họa thì nhím có thể tự liếm khỏi
Nguyễn Hải Lý (2004) đưa các thông tin sau:
“Nền chuồng có độ dốc vừa phải, cần phải lát bằng gạch hoặc đổ bê -tông dày khoảng 5-7
cm để không cho nhím đào nền chui ra ngoài Hệ thống cống rnh được thiết kế phía sau chuồng nuôi
* Tại Hoành Bồ, (Quảng Ninh) trong phạm vi dự án trồng rừng đầu nguồn, người dân ở
đây đ tiến hành nuôi nhím Sau đây là những thông tin về chăn nuôi nhím vùng này: Khối lượng trung bình 15-25kg; Tuổi thọ của nhím 15-20 năm Tuổi thành thục về giới tính là 1 năm tuổi, khối lượng 10kg là có thể cho sinh sản, 1 đực ghép 2 cái nhưng chú ý nhím không giao phối đồng huyết Nhím cái 1 năm đẻ 2 lứa, mỗi lứa đẻ 1-3 con Nhím con sau 1 năm khối lượng đạt 10kg, sau 2 năm 15-16kg, năm thứ 3 con đực 20kg, con cái 17-18kg Nhím tuy sống hoang d trong rừng, nhưng thuần hóa dễ dàng Nhím rất ít bệnh tật Một số nơi đ nuôi nhím 10 năm nay, nhưng chưa gặp bệnh nào ở nhím, ngoại trừ một số
ký sinh trùng như ve, mạt, mò
Thịt nhím thơm, ngon, là món ăn đặc sản Mật, dạ dày, lông dùng để làm thuốc chữa bệnh dạ dày, viêm tai giữa, làm thuốc xoa bóp
nội dung và phương pháp
Địa điểm và thời gian
HTX thương mại dịch vụ Phương liệt, X Cao Dương, Kim
Các nghiên cứu chi tiết được tiến hành tại 4 trại đầu tiên, nơi có nhiều nhím (50-200 con)
và có điều kiện theo dõi
Tuỳ theo tình hình cụ thể như khả năng theo dõi, cân đo, cách thức nuôi nhốt… mà chúng tôi đưa ra các nội dung theo dõi
Trang 4Nhím của các trại được nuôi theo phương pháp riêng của chủ, chúng tôi không can thiệp vào các khâu kỹ thuật của họ nhằm mục đích có được “bức tranh” tự nhiên nhất
Nội dung
Các nội dung được nghiên cứu như sau:
• Khả năng sinh truởng, phát triển (Khối lượng qua các tháng tuổi)
• Sinh sản: Phối giống, Cai sữa, Tuổi đẻ lần đầu, Khoảng cách đẻ
• Thức ăn và dinh dưỡng: Các khẩu phần ăn, Tiêu tốn thức ăn/ kg tăng trọng
• Đánh giá sơ bộ về hiệu quả kinh tế và thị trường
Phương pháp
Nhím được biết là con vật khá nhát và không dễ dàng tiếp xúc, khi bị bắt, đa số chúng trở nên hũng dữ, chạy lao thẳng vào tường và nhiều con đ sảy thai hoặc chết Con giống khá
đắt, chủ nhân không muốn người khác tiếp xúc, bắt bớ nó Chính vì thế, nên cách nghiên cứu được chúng tôi lựa chọn chủ yếu là quan sát, ghi chép các tính trạng như tập tính, đẻ, thức ăn Việc cân đo chỉ tiến hành ở những trại mà người chăn nuôi có kinh nghiệm và nhiệt tình Mỗi năm chúng tôi lại bổ sung thêm một số vấn đề mới cũng như địa bàn mới tuỳ theo nguồn kinh phí và các điều kiện khác
1 Các đặc điểm về sinh trưởng như khối lượng cơ thể được cân đo theo tháng tuổi
2 Thức ăn tiêu thụ được cân đo đầu vào, đầu ra
3 Số liệu được xử lý theo các phuơng pháp phân tích thống kê
4 Theo dõi cá thể: Nhím được nuôi tách từng ô Mỗi ô đều có thẻ theo dõi cá thể Khi cá thể đó được chuyển đi ô khác, thẻ cũng được mang theo Nói chung phương pháp theo dõi vật nuôi như lợn, bò đều được ứng dụng vào việc nuôi nhím
Một số phương pháp nghiên cứu được trình bày chi tiết hơn trong báo cáo kết quả
kết quả và thảo luận Khẩu phần và ước tính giá trị dinh dưỡng
Khẩu phần ăn phân theo khối lượng cơ thể tại Trại thú Ba vì
Trang 5Khẩu phần ăn này có giá trị dinh dưỡng như sau:
khối
lượng
(kg)
Vật chất
khô
Protein thô
Lipid thô
Xơ
thô
Dẫn xuất không
đạm
Khoáng
pho 2-4 186.5 17.9 4.79 3.50 157.4 2.91 0.20 0.13 4-6 212.8 20.9 5.55 3.92 179.1 3.34 0.22 0.15 6-8 239.5 22.9 6.12 4.52 202.3 3.73 0.25 0.17
>8 246.5 23.3 6.25 4.68 208.4 3.83 0.26 0.18 Tbình 227.7 21.9 5.85 4.26 192.1 3.55 0.24 0.16
Tại Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây bắc
Một số khẩu phần ăn (kg/con/ngày) cho đàn nhím sinh sản tại Tại Trung tâm KH và SX
Tây bắc (Sơn la) năm 2004 và năm 2005 (đơn vị : kg)
Loại
thức
ăn
Nhím con tách mẹ
Nhím cai sữa – trưởng thành (2006)
Nhím trưởng thành (2004)
Nhím chửa (2006)
Nhím chửa (2006)
Nhím cho con bú (2006)
Củ quả
*Cho ăn ở dạng ngâm nước
Bảng trên cho ta thấy 6 khẩu phần ăn khác nhau đ được áp dụng tuỳ theo mùa vụ, đối tượng Trong một số trường hợp trong khẩu phần cho nhím chửa và cho bú còn có lạc hạt,
đậu tương trong 2-3 ngày
Có điều thú vị là hiện tại, trừ nhím có chửa và cho con bú, thì nhím cai sữa đến trưởng thành đều cho ăn một khẩu phần đồng nhất (khẩu phần 3) Cán bộ kỹ thuật ở đây cho rằng nhím bé ăn khoẻ hơn nhím lớn và nhím lớn (sinh sản) không nên cho ăn quá nhiều bởi nếu béo thì sinh sản kém
Tại Trại nhím Tuân hoà
Khẩu phần điển hình như sau:
Một khẩu phần ăn cho đàn nhím tại Trại nhím Tuân hoà (Củ chi) (năm 2005)
Tuổi (tháng) Khối lượng cơ thể (kg) Củ khoai lang tươi (kg) Rau muống tươi (kg)
Trang 6Nhóm 3 14 trở lên 15.6 0.800 0.200
Giá trị hoá học và dinh dưỡng của khẩu phần này được ước tính trong Bảng sau:
Nhìn chung ta thấy một điều, là các khẩu phần khá đa dạng, có nơi cho ăn các loại thức ăn khá cao cấp, như “ngô hạt”, “lạc củ” (như Trung tâm NC Sơn La, Trại thú Ba Vì) Ngoài
ra, khẩu phần cho ăn khá tự do không tính đến nhu cầu sinh trưởng, duy trì, nuôi con của từng lọai nhím
Về giá trị dinh dưỡng và thành phần hoá học của thức ăn ta thấy mức độ dinh dưỡng tương
đương nhau giữa các loại nhím nuôi ở Trại thú Ba Vì, Trung tâm Tây Bắc và Trại nhím Tuân Hoà
Phối giống – cai sữa và Sinh sản
Số nhím đực ghép với nhím cái và thời gian nhốt chung
Hai hình thức ghép đực với cái: Một đực- một cái và một đực-nhiều cái
Do việc phát hiện động dục khó, vả lại việc giao phối xảy ra nhiều vào ban đêm, nên để
đảm bảo cho việc phối giống, trước năm 2004, phần lớn các đàn nhím tại Sơn La, Trại thú
Ba Vì đều sắp từng cặp đực/cái một (Hiện tại Trại thú Ba Vì) cũng vậy Tuy nhiên sau khi công bố kết quả nghiên cứu giữa kỳ (cuối năm 2003) và sau khi phổ biến kỹ thuật trên TV2 (2003), quan điểm này đ thay đổi
Hiện nay phần lớn các trại nhím đều áp dụng kỹ thuật cho đàn nhím cái phối với một số
đực giống nhất định nào đó Thí dụ tại Vườn cây giống x Yên Nghĩa, 4 đực giống được phối luân phiên cho 16 cái giống (1/4) Đực giống được nhốt với con cái có biểu hiện động dục Thời gian từ 20 đến 60 ngày và sau đó chuyển đi
Tuy nhiên một số hộ như tại Trại nhím Tuân Hoà do việc bắt chuyến đực khó khăn (thiếu lao động) nên vẫn bố trí “một đực / một cái) (Trại này có 2 nhân lực đó để nuôi đàn nhím
170 con)
Trang 7Thời gian nhốt đực với cái ở những cơ sở nhân giống một đực - nhiều cái – Khả năng tách đực sau khi giao phối
ở những trại nhím ghép đôi 1 đực với nhiều cái, nhím đực và cái được nhốt chung với nhau
từ khi phát hiện động dục hoặc sau khi đẻ đến khi phát hiện nhím chửa Thời gian này trung bình từ 63 ngày ở đàn nhím Vườn cây giống Yên nghĩa và 78 ngày ở Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây Bắc Xem bảng sau:
Số ngày ghép đôi đực/ cái
Trung bình
± sai số (ngày)
Độ lệch chuẩn (SD) (ngày)
Hệ số biến
động CV%
Thấp nhất (ngày)
Cao nhất (ngày) Vườn cây giống
Tại Trung tâm Khoa
học và Sản xuất Tây
Tại Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây Bắc, chúng tôi cũng đ thí nghiệm kiểu ghép đôi trong thời gian 5-10 ngày Sau đó tách nhím đực ra Đợi một thời gian không thấy chửa lại ghép đực tiếp (có thể là đực cũ hoặc đực mới) Tuy nhiên sau một thời gian nhận thấy rằng không hiệu quả nên lại thôi
Việc tách đực khỏi nhím cái chỉ xảy ra khi người chăn nuôi biết chắc rằng nhím cái đ chửa và chuẩn bị đẻ Tuy nhiên không phải ai cũng có thể làm được việc này vì không dám chắc nhím đ chửa thậm chí đ giao phối Hiện nay do giá con giống đang lên “cơn sốt” nên người ta sẵn sàng nuôi nhím thành đôi
Ngày nhập đực trở lại sau khi đẻ ở những cơ sở nhân giống một đực - nhiều cái
Tại Vườn cây giống Yên nghĩa, sau khi tách con, lập tức nhím cái được ghép đôi luôn với nhím đực Điều này cũng xẩy ra với một số chủ hộ nuôi nhím ở Trung tâm Khoa học và sản xuất Tây Bắc
Nhưng một số hộ khác ở Trung tâm này lại chỉ ghép đực quay trở lại sau khi tách con được
5 ngày
Số ngày cho bú
Số ngày cho bú được ghi trong bảng sau Giá trị trung bình là 72,5 và 62,5 ngày ở hai trại nhím
Trang 8Số ngày cho bú
Trung bình
± sai số (ngày)
Độ lệch chuẩn (SD) (Ngày)
Hệ số biến
động CV%
Thấp nhất (Ngày)
Cao nhât (Ngày) Vườn cây giống
Trại Nhím Tuân hoà
Tuổi đẻ lần đầu
Số liệu quan sát về nội dung này không được nhiều lắm bởi các chủ trại thường bán ngay nhím “tơ lõ” cho người khác để kiếm tiền Trên đàn nhím của Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây bắc, số liệu sinh sản lần đầu của 18 cá thể:
Trung bình là: 13,03 tháng, với độ lệch chuẩn là 2,12 tháng, sơm nhất là 10,57
Bồ có tuổi thành dục là 1 năm khi đạt được 10 kg, tức là đẻ vào lúc 13 tháng tuổi Ông Tuân chủ trại nhím Tuân Hoà (Củ chi) cũng cho biết là nhím của ông thành dục trung bình 8-10 tháng khi đạt trọng lượng 8-10kg/con
Theo Nguyễn Hải Lý (2004), nhím của gia đình ông Phòng (Bắc Giang) được đưa vào phối giống khi nhím đặt 8-10 tháng tuổi
Nhím châu Mỹ có tuổi phối lần đầu muộn hơn nhiều là 16 - 24 tháng
Khoảng cách hai lứa đẻ
Tại Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây Bắc Sơn La
Trên 25 lứa đẻ lên tục, khoảng cách hai lứa đẻ trung bình được tính là 6,36 tháng với độ lệch chuẩn là 1.488 tháng (hệ số biến dị CV% = 23.4), thấp nhất là 4,1 tháng và cao nhất
là 9,87 tháng Như vậy trung bình 1 năm nhím có thể đẻ 2 lứa
Tại đàn nhím Vườn cây Yên nghĩa (Hà Tây)
Trên 11 lứa đẻ liên tục, khoảng cách hai lứa đẻ trung bình được tính là 5,718 tháng với độ lệch chuẩn là 0,944 tháng (hệ số biến dị CV% = 16.5%), thấp nhất là 4,033 tháng và cao nhất là 7,067 tháng Như vậy trung bình 1 năm nhím có thể đẻ 2 lứa tương đương với đàn nhím Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây bắc
Đàn nhím của Trại Nhím Tuân Hoà (Củ Chi)
Từ tháng 9/2004 đến 12/2005 (16 tháng), trại nhím này có 67 con nhím cái trong độ tuổi sinh sản Trong số đó có 59 con đẻ (tỉ lệ 88%) và đẻ 96 lượt
Khoảng cách hai lứa đẻ được tính qua 36 con nhím có 76 lứa đẻ liên tục
Khoảng cách đẻ trung bình là 9.199 ± 0.23 tháng, với độ lệch chuẩn là 1.455 tháng và hệ
số biến dị là 14.7%, ngắn nhất là 5.1 tháng và dài nhất là 11.5 tháng
Trang 9So với đàn nhím của Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây Bắc, khoảng cách này quá xa: 9.19 – 6.32 = 2.87 tháng
Vì sao có hiện tượng khác nhau như thế ? Vì việc ghép đôi phối giống, hay cận huyết, hay chế độ thức ăn, uống hay đàn nhím Trại nhím Tuân Hoà đ già? Đó là những vấn đề đáng phải xem xét trong các nghiên cứu tới
Khoảng cách hai lứa đẻ của nhím
Số mẫu Trung bình ±
sai số
Độ lệch chuẩn biến dị Hệ số
Trung tâm Khoa học & Sản
Sinh trưởng
* Tại Trại thú Ba vì
Sinh trưởng của nhím tại trại này được ghi ở Bảng 30 và thể hiện ở Đồ thị 5
Khối lượng của nhím ở Trại thú Ba vì
Tháng
tuổi
Số
lượng
(n) Trung bình (X) (kg)
Sai số của
số trung bình (SE) (kg)
Độ lệch chuẩn (SD) (kg) Thấp nhất (kg)
Cao nhât (kg)
Hệ số biến dị CV%
Hệ số biến dị cho ta thấy có sự biến động khá lớn về sinh trưởng, từ 4,21 đến 32,76% Hệ
số biến dị tháng 12 là 4,21 nhỏ có thể do số mẫu còn ít
Từ sơ sinh đến 12 tháng tuổi khối lượng tăng theo một đường thẳng, với phương trình:
Y = 0.6468 X + 0.4698 và hệ số tương quan là 0.98; trong đó Y là khối lượng cơ thể (kg)
và X là tuổi (tháng) Hệ số hồi quy là 0.6468 (P<0.001) thể hiện mức độ tăng trọng hàng tháng là 0.6468 kg
* Đàn nhím Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây Bắc
11 cá thể được theo dõi khối lượng từ sơ sinh đến 12,2 tháng tuổi
Từ sơ sinh đến 8 tháng tuổi khối lượng tăng theo một đường thẳng, với phương trình:
Y = 0.9265 X + 0.3897 và hệ số tương quan là 0.97; trong đó Y là khối lượng cơ thể (kg)
và X là tuổi (tháng) Hệ số hồi quy là 0.9265 (P<0.001) thể hiện mức độ tăng trọng hàng tháng là 0.9265 kg
Trang 10Nhưng 9 từ đến 12 tháng tuổi, sinh trưởng đ chậm lại, với tốc độ 0,4748 kg / tháng: Y = 0.4748x + 3.6253
Trong đó Y là khối lượng cơ thể (kg) và X là tuổi (tháng) Hệ số tương quan giữa tuổi và khối lượng là: r = 0,9149 (p<0.001)
So sánh hai kết quả về sinh trưởng của hai cơ sở này ta thấy có sự khác nhau cơ bản: nếu như tại Trung tâm Khoa học và Sản xuất Tây bắc, nhím được nuôi với tốc độ sinh trưởng khá nhanh: 0.92 kg / tháng còn ở Trại Thú Ba vì là 0,63 kg Sự khác nhau này xuất phát từ quan điểm: sinh trưởng nhanh, động dục sớm, nhưng đẻ sớm quá có thể gây nên khó đẻ, con đẻ ra yếu Hiện tại, một đôi hộ chăn nuôi cho nhím ăn với khẩu phần cao hơn, đạt tăng trọng thậm chí đến 2,5 kg tháng để rút ngắn tuổi động dục lần đầu
Sinh trưởng từ 12 tháng trở đi
Tại đàn nhím Trại nhím Tuân Hoà (Củ chi) chúng tôi đ tiến hành xác định khối lượng cơ thể của nhím từ 12 tháng trở đi Việc theo dõi cá thể mới được tiến hành từ năm 2004 (tức
là khi chúng tôi mới tiến hành nghiên cứu trên đàn nhím này) Vì thế tuổi của từng con nhím dựa vào trí nhớ của ông chủ Khối lượng 12 con nhím có tuổi được xem là nhớ
“chính xác hơn” nhờ các đặc điểm riêng của chúng Sự biến đổi của khối lượng theo tuổi
được xác định bằng đường cong logarit:
Y = 1.9082x Ln(X) + 7.166, trong đó
Y = Khối lượng cơ thể (kg), X = Tuổi (tháng), hệ số tương quan là r = 0.94
Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng ở nhím hậu bị nuôi sinh sản
Nhu cầu dinh dưỡng cho 1 kg tăng trọng ở nhím cái nuôi hậu bị (với mục đích tạo nhím nái sinh sản) được xác định ở bảng sau:
Trại thú Ba vì Trung tâm KH & SX Tây bắc Chỉ tiêu
Hàng ngày (năm 2006)
Cho 1 kg tăng trọng
Hàng ngày (năm 2006)
Cho 1 kg tăng trọng
Thức ăn