Tác dụng của chế phẩm EM tới môi trường và chất thải chăn nuôi vịt EM gốc 0,1% bổ sung vào nước uống, EM thứ cấp phun vào chất độn chuồng, cụ thể là hiệu quả thể hiện trên đàn vịt thí ng
Trang 1Đánh giá một số chỉ tiêu vệ sinh chuồng nuôi và sử dụng chế
phẩm EM trong chăn nuôi vịt tại Trung tâm
nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Đồng Thị Quyên, Nguyễn Thị Thúy Nghĩa, Nguyễn Thị Ngọc Liên
Tác giả liên hệ: Đồng Thị Quyên, Trung tâm Nghiên cứu vịt Đại Xuyên, Phú Xuyên, Hà Tây
Tel: 034.854391
abstract The use of EM manufacture for duck rearing can reduce NH3 and H2S; bad smell and also injurious microorganism in waste and air The results showed that ducks are improved survival rate, weight gain and offered resistance to diseases; layer ducks are improved egg quality and quatity; reduced chemical input and environmental protection and also for safety products in duck rearing
Đặt vấn đề
Để đạt được lợi nhuận kinh tế tối đa trong sản xuất nông nghiệp, hiện nay con người đ5 và
đang lạm dụng quá nhiều các chất hoá học, chất kích thích, cùng với sự quản lý lỏng lẻo trong việc bảo vệ môi trường đ5 làm mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới đời sống, sức khoẻ con người Vì vậy trong sản xuất nông nghiệp hiện nay cần
đảm bảo hai nhiệm vụ là an toàn lương thực, thực phẩm và bảo vệ môi trường, để tiến tới một nền nông nghiệp an toàn sinh học và phát triển bền vững Với quan điểm chung của toàn thế giới hiện nay là hạn chế tối đa việc sử dụng các chất hoá học có tính độc hại trong sản xuất nông nghiệp để bảo vệ sức khoẻ cho người sản xuất và tiêu dùng
Hiện nay trong sản xuất nông nghiệp đ5 áp dụng nhiều biện pháp sinh học như: gây đột biến gen, sử dụng ong mắt đỏ để tiêu diệt côn trùng Và gần đây có xu hướng chuyển sang
sử dụng hỗn hợp các vi sinh vật hữu ích trong chế phẩm EM Qua những nghiên cứu và ứng dụng bước đầu về chế phẩm này cho ta thấy việc sử dụng chế phẩm EM trong sản xuất nông nghiệp đ5 thu được những kết quả đáng kể làm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm
đồng thời giảm ô nhiễm môi trường Đặc biệt là trong chăn nuôi gia cầm khi sử dụng chế phẩm này có tác dụng hạn chế mùi hôi thối, côn trùng, ruồi, ve, giảm stress, đảm bảo vệ sinh trong chăn nuôi, giúp gia cầm sinh trưởng, phát triển tốt và tăng khả năng chống chịu bệnh tật
Với những ý nghĩa thực tiễn trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá một số chỉ tiêu vệ sinh chuồng nuôi và sử dụng chế phẩm EM (Effective Microorganisms) trong chăn nuôi vịt tại Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên”, với mục đích:
Trang 2Đánh giá thực trạng một số chỉ tiêu vệ sinh chuồng nuôi vịt ở Trung tâm nghiên cứu vịt
Đại Xuyên
Đánh giá hiệu quả của việc sử dụmg chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt
Thời gian: Từ tháng 1/2004 –12/ 2005
Địa điềm: Trung tâm nghiên cứu vịt Đại Xuyên
Nội dung, nguyên liệu và phương pháp thí Nghiệm
Nội dung nghiên cứu
Đánh giá một số chỉ tiêu vệ sinh như nhiệt độ, ẩm độ, các khí thải độc hại, lượng vi sinh vật… trong chuồng nuôi vịt
Tác dụng của chế phẩm EM tới môi trường và chất thải chăn nuôi vịt (EM gốc 0,1% bổ sung vào nước uống, EM thứ cấp phun vào chất độn chuồng), cụ thể là hiệu quả thể hiện trên đàn vịt thí nghiệm về sức sống, sức kháng bệnh, khả năng tăng trọng, tỷ lệ đẻ…
Đánh giá hiệu quả kinh tế thu được sau khi sử dụng chế phảm EM trong chăn nuôi vịt Nguyên liệu nghiên cứu
Động vật thí nghiệm: thí nghiệm tiến hành trên giống vịt CV Super M với đàn vịt con sơ sinh nuôi đến 8 tuần tuổi, vịt đẻ từ 8 - 10 tháng tuổi
Nguyên liệu: Chế phẩm EM gốc, EM thứ cấp cùng môi trường, hoá chất và các dụng cụ phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp kiểm tra một số yếu tố tiểu khí hậu chuồng nuôi
Xác định nhiệt độ, ẩm độ: Xác định bằng nhiệt kế cầm tay
xác định tốc độ gió: Xác định tốc độ gió bằng máy Model 4070112 (Thermo - Anenometter Model - 4070112) cầm tay
Xác định nồng độ các khí thải chuồng nuôi
Xác định nồng độ khí NH3: bằng máy đo nồng độ NH3 Safe Log 100 của h5ng Quest (Mỹ) Xác định nồng độ khí H2S: Lấy các mẫu khí H2S bằng máy EC.2000 Gelmal (Mỹ) rồi phân tích theo tiêu chuẩn ngành Đo màu quang phổ hấp phụ vùng trông thấy bằng máy đo mật
độ Spectronic 20 - D biểu thị bằng mg/l
Phương pháp kiểm tra vi sinh vật trong phân
Trang 3Xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí bằng phương pháp xét nghiệm trên thạch Plate count Agar (PCA) Theo phương pháp đếm số khuẩn lạc trong môi trường thạch của Nguyễn Vĩnh Phước (1994) kết quả được tính theo công thức:
2 , 0 1
/
2
n
d c b a g CFU F
∑ CFU / g: Tổng CFU trên gam mẫu phân tích
a, b, c, d: Số khuẩn lạc có trong hai đĩa thạch
n1 : Số đĩa thạch ở nồng độ pha lo5ng thấp
n2 : Số đĩa thạch ở nồng độ pha lo5ng cao hơn
F : Hệ số pha lo5ng khi bắt đầu
Phương pháp xác định tổng số Coliform: Sử dụng môi trường thạch MacConkey để nuôi cấy và kiểm tra Coliform Tính số CFU/gam mẫu phân tích như ở VKHK(vi khuẩn hiếu khí)
Giám định: E.coli là những khuẩn lạc màu hồng cánh sen, tròn trơn, hơi lồi Salmonella là những khuẩn lạc màu tro nhạt đường kính nhỏ hơn khuẩn lạc E.coli
Bằng cách cấy chuyển những khuẩn lạc nghi ngờ là Salmonellla và E.coli này sang môi trường thạch TSI (thạch đổ ống nghiệm nửa thạch đứng, nửa thạch nghiêng) Sau đó kiểm tra đặc tính lên men đường và d5y phản ứng IMVC
Phương pháp xác định tổng số vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi
Phương pháp xác định tổng số vi sinh vật hiếu khí trong không khí chuồng nuôi: sử dụng phương pháp láng bụi của Kock (Đỗ Ngọc Hoè, 1990), sử dụng các đĩa thạch thường số lượng các vi khuẩn hiếu khí được tính toán theo công thức sau:
Số vi khuẩn =
k S
A
1000
A: Số khuẩn lạc trên đĩa thạch
S: Diện tích hộp lồng (với φ = 9 và φ = 7,5)
k: Hệ số thời gian lấy mẫu: k = 1 thời gian lấy mẫu 5 phút
k = 2 thời gian lấy mẫu 10 phút
k = 3 thời gian lấy mẫu 15 phút
Phương pháp xác định tổng số Coliform trong không khí chuồng nuôi: sử dụng phương pháp lắng bụi của Kock Sử dụng các đĩa thạch MacConKey, tính số lượng Coliform như tính số lượng vi khuẩn hiếu khí ở thạch thường
Trang 4Xác định Salmonella và Ecoli như trên
Phương pháp xác định số vi sinh vật trong nước uống
Xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí trong nước uống: sử dụng môi trường thạch đĩa PCA để nuôi cấy
Xác định tổng số Coliform trong nước uống: sử dụng môi trường thạch MacConkey Phương pháp tiến hành tương tự như xác định tổng vi khuẩn hiếu khí (như trên)
Phương pháp bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm trên vịt nuôi thịt
Thí nghiệm 40 Bổ sung chế phẩm EM gốc 0,1% vào nước uống, thức ăn bình thường
Đôí chứng 40 Không sử dụng chế phẩm EM, thức ăn, nước uống bình thường
Thí nghiệm trên đàn vịt giống (giai đoan vịt con)
ăn bình thường
bình thường
*Thí nghiệm trên đàn vịt đẻ
Thí nghiệm 54 Sử dụng chế phẩm EM thứ cấp phun vào chất độn chuồng, ăn uống bình thường
Đôí chứng 54 Không sử dụng chế phẩm EM phun vào chất độn chuồng, ăn uống bình thường Thời gian nuôi là 8 tuần cho cả hai lô Cả hai lô đều được tiêm phòng vacxin, phòng bệnh theo đúng qui trình vệ sinh thú y trong chăn nuôi vịt Theo dõi theo chế độ chăn nuôi để thí nghiệm
Phương pháp xử lý số liệu: Các số liệu thu thập trong quá trình làm thí nghiệm được xử lý bằng toán thống kê sinh vật học trên máy tính, bằng chương trình Excel 5.0 và phần mềm Minitab
Kết quả và thảo luận
Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu vệ sinh chuồng nuôi vịt khi sử dụng chế phẩm EM Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi vịt khi sử dụng chế phẩm EM Tiểu khí hậu trong chuồng nuôi bao gồm những yếu tố sau: nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng, tốc
độ gió, độ bụi, tiếng ồn, vi sinh vật, các khí thải độc hại (NH3, H2S…) Các yếu tố này
Trang 5chịu ảnh hưởng của các yếu tố của nền đại khí hậu và yếu tố trong chuồng nuôi Trong đó các yếu tố trong chuồng nuôi có tác động không nhỏ tới các chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi Để có căn cứ cho điều này, chúng tôi tiến hành khảo sát một số yếu tố tiểu khí hậu trong chuồng nuôi ở cả lô thí nghiệm và đối chứng, kết quả thể hiện ở bảng 1
Bảng 1 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu tiểu khí hậu chuồng nuôi vịt khi sử dụng chế
phẩm EM
Chỉ tiêu
Qua kết quả ở bảng 1 ta có nhận xét: Sự chênh lệch về nhiệt độ và độ ẩm, tốc độ gió ở hai lô thí nghiệm và đối chứng là không đáng kể Do kiểu thiết kế chuồng nuôi, các yếu tố này phụ thuộc vào nhiệt độ và ẩm độ, tốc độ gió của nền đại khí hậu, vì vậy mà khi ta can thiệp vào các yếu tố trong chuồng nuôi các yếu tố này không có thay đổi đáng kể gì Mặc dù ở lô thí nghiệm vịt đẻ trong ngày tiến hành phun chế phẩm EM ẩm độ có thay đổi chút ít nhưng tới ngày hôm sau là bình thường, ẩm độ không thay đổi đáng kể gì
Về các khí thải độc hại, lượng vi sinh vật trong không khí chuồng nuôi có thay đổi đáng
kể, ở cả vịt đẻ và vịt con Lượng khí NH3, H2S, VKHK, Coliform, nấm đều giảm xuống ở lô thí nghiệm (Nguyễn Ngọc Quyên, 2004) Lượng nấm trong chuồng nuôi vịt con lô thí nghiệm giảm rõ rệt so với lô đối chứng
Vậy khi phun chế phẩm EM vào chất độn chuồng nuôi vịt đẻ có tác dụng làm giảm nguy cơ lây nhiễm, gây bệnh của các vi sinh vật có hại trong không khí chuồng nuôi Bằng cách
đ5 làm giảm số lượng của chúng đ5 làm mất đi một trong những yếu tố làm chúng có khả năng lây truyền và gây bệnh dịch Mặt khác còn làm giảm lượng khí thải độc hại, làm cho môi trường chuồng nuôi giảm ô nhiễm, góp phần giảm ô nhiễm môi trường đưa các chỉ tiêu trong không khí chuồng nuôi về đạt tiêu chuẩn vệ sinh cho phép
Để làm sáng tỏ hơn tác dụng của chế phẩm EM đối với chất thải chúng tôi tiến hành khảo sát một số chỉ tiêu vi sinh vật trong chất thải chăn nuôi vịt
Trang 6Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu vi sinh vật trong chất thải chăn nuôi vịt khi sử dụng chế phẩm EM
Các chỉ tiêu vi sinh vật trong chất thải chuồng nuôi vịt, được chúng tôi tiến hành phân tích trên cơ sở phân tích mẫu chất thải chuồng nuôi Qua quá trình phân tích chúng tôi thu được kết quả bảng 2
Bảng 2 Kết quả đánh giá một số chỉ tiêu vi sinh vật trong chất thải chuồng nuôi vịt khi sử
dụng chế phẩm EM
Chỉ tiêu
Qua kết quả bảng 2 cho ta thấy: tổng số vi khuẩn hiếu khí ở lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng, ở cả chuồng nuôi vịt đẻ và vịt con kết quả này hoàn toàn phù hợp vì khi ta bổ sung chế phẩm EM vào trong chất độn chuồng, vào nước uống cũng là bổ sung một lượng vi sinh vật vào, trong các vi sinh vật đó có cả vi khuẩn hiếu khí Điều này giải thích vì sao tổng số vi khuẩn hiếu khí trong lô thí nghiệm cao hơn lô đối chứng
Còn các chỉ tiêu vi sinh vật còn lại ở lô thí nghiệm đều giảm so với lô đối chứng Điều này khẳng định một lần nữa tác dụng hữu ích của chế phẩm EM trong cải tạo môi trường chuồng nuôi Kết quả này phù hợp với thông báo của Nguyễn Ngọc Quyên, 2004
Vậy qua đây chúng tôi thấy khi sử dụng chế phẩm EM phun vào chất độn chuồng đ5 có tác dụng làm giảm lượng vi sinh vật gây hại (gây bệnh) Coliform, Salmonella, E.coli trong chất độn chuồng Lượng vi sinh vật này là nguyên nhân trực tiếp tác động tới sức khỏe của vịt nuôi trong chuồng, tới khả năng kháng bệnh, đặc biệt là bệnh ỉa chảy Từ đó tác động tới năng suất, chất lượng sản phẩm trong chăn nuôi vịt
Đánh giá một số chỉ tiêu vi sinh vật trong nước uống của vịt
Trước khi tiến hành thí nghiệm bổ sung chế phẩm EM gốc 0,1% vào nước uống và phun vào chất độn chuồng chế phẩm EM thứ cấp chúng tôi tiến hành phân tích mẫu nước uống cho vịt và thu được kết quả bảng 3
Bảng 3 Một số chỉ tiêu vệ sinh trong mẫu nước uống
Tính chất vật lý(cảm
nhận)
trong, không màu - mùi -vị
trong, không màu - mùi -vị
trong, không màu
- mùi -vị
Trang 7Sallmonella(CFU/ml) 0 0 0
Qua bảng 3 cho ta thấy các chỉ tiêu vi sinh vật nước uống cung cấp cho vịt, với các mẫu nước lấy ở các vị trí khác nhau: mẫu 1 lấy trực tiếp ở vòi bơm nước tổng (đầu nguồn nước), mẫu 2 nước lấy ở đường ống dẫn nước, mẫu 3 lấy ở bể chứa (nơi dự chữ nước) Qua đó ta thấy nguồn nước ở trung tâm đạt yêu cầu vệ sinh về tính chất vật lý của nước Nước ở cuối nguồn đặc biệt là ở bể chứa lượng vi sinh vật trong đó cao hơn lấy trực tiếp từ vòi bơm
Điều này cho ta thấy trong quá trình chảy và theo thời gian, nguồn nước bị nhiễm khuẩn,
cụ thể như mẫu nước ở bể chứa lượng Coliform cao nhất và xác định thấy có vi khuẩn E.coli ở đó
Như vậy nguồn nước ở đó đ5 bị nhiễm khuẩn Từ những kết quả trên ta phải có những biện pháp đảm bảo vệ sinh nước cung cấp cho vịt như thường xuyên thau rửa, vệ sinh bể chứa cũng như đường ống dẫn nước cung cấp cho vịt
Kết quả ứng dụng chế phẩm EM thứ cấp trên đàn vịt đẻ
Trong chăn nuôi gia cầm sinh sản, tỷ lệ đẻ là một trong những chỉ tiêu được các nhà chăn nuôi quan tâm hàng đầu Vì tỷ lệ đẻ là yếu tố tác động trực tiếp tới hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt sinh sản Tỷ lệ này có cao thì hiệu quả kinh tế thu lại mới cao Tỷ lệ đẻ của
đàn vịt sinh sản ngoài chịu chi phối của yếu tố di truyền còn chịu ảnh hưởng của yếu tố ngoại cảnh Trong đó sự chăm sóc nuôi dưỡng, cùng tiểu khí hậu chuồng nuôi vịt có những tác động không nhỏ Yếu tố ngoại cảnh này quyết định sự thể hiện ra của các tính trạng trong giống qui định Để xác định được sự ảnh hưởng này chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên đàn vịt đẻ trong thời gian 8 tuần và thu được kết quả trình bày ở bảng 4
Bảng 4 Kết quả ứng dụng chế phẩm EM trên đàn vịt đẻ
Qua kết quả bảng 4 cho ta thấy: ở lô thí nghiệm được bổ sung chế phẩm EM thứ cấp vào chất độn chuồng, đ5 có tác dụng cải thiện đáng kể tiểu khí hậu chuồng nuôi Điều này
được minh chứng qua kết quả thí nghiệm thu được là: ở lô thí nghiệm có tỷ lệ đẻ cao hơn lô đối chứng, cụ thể là lô thí nghiệm có tỷ lệ đẻ là: 76,80% trong khi lô đối chứng là: 75,49% Hơn thế nữa chất lượng trứng thu được cũng tốt hơn được thể hiện ở tỷ lệ trứng dị
Trang 8hình ở lô đối chứng là 2,24% (54 quả trên tổng số 2405 quả thu được trong thời gian thí nghiệm), cao hơn lô thí nghiệm là 1,06% (26 quả trên tổng số 2447 quả)
Như vậy, là chế phẩm EM thứ cấp có tác dụng không những ở số lượng và cả ở chất lượng trứng Do đ5 cải tạo tốt được tiểu khí hậu chuồng nuôi, giảm bớt các khí thải độc hại, giảm mùi hôi, ít bụi hơn đặc biệt chất độn chuồng đ5 được cải tạo đáng kể, do vậy đ5 làm giảm
tỷ lệ mắc bệnh ở lô sử dụng chế phẩm EM Cụ thể là ở lô đối chứng tỷ lệ mắc bệnh ỉa chảy
là 9,26% (5 con mắc trong tổng số 54 con), còn lô thí nghiệm là 3,70% (2 con mắc trong tổng số 54 con) Qua kết quả trên cho ta thấy chế phẩm EM có tác động tích cực tới tiểu khí hậu chuồng nuôi, có tác dụng cải tạo môi trường đáng kể Nâng cao sức khoẻ, sức đề kháng với bệnh, làm tăng tỷ lệ đẻ, giảm tỷ lệ trứng dị hình
Kết quả trên đàn vịt con khi bổ sung chế phẩm EM gốc 0,1% vào nước uống
Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm có vai trò rất quan trọng góp phần làm tăng hiệu quả trong chăn nuôi Sức sống và khả năng kháng bệnh của đàn vịt chịu ảnh hưởng của cả yếu tố di truyền và ngoại cảnh Vì vậy mà các giống khác nhau, các cá thể khác nhau thì sức sống và khả năng chống bệnh cũng khác nhau Bên cạnh đó sức sống còn chịu
ảnh hưởng rất lớn của điều kiện môi trường như chế độ nuôi dưỡng, chăm sóc và tiểu khí hậu chuồng nuôi vịt
Vậy sức sống của gia cầm nói chung và vịt nói riêng phụ thuộc vào giống, dinh dưỡng và môi trường chăn nuôi Trong các điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng khác nhau tỷ lệ nuôi sống khả năng kháng bệnh cũng khác nhau Khi đươc nuôi dưỡng tốt, chăm sóc tốt, vật có sức đề kháng với bệnh tốt hơn Đặc biệt điều kiện chuồng trại, vệ sinh tốt càng có tác dụng tốt trong phòng bệnh cho gia cầm(Vũ Đức Cảnh, 2003) Để làm rõ nhận định trên chúng tôi tiến hành thí nghiệm trên đàn vịt nuôi thịt, qua theo dõi chúng tôi thu được kết quả sau
ở bảng 5
Bảng 5 Sức sống và khả năng kháng bệnh của đàn vịt con khi bổ sung chế phẩm EM gốc
0,1% vào nước uống
Chỉ tiêu
Đối chứng Thí nghiệm Đối chứng Thí nghiệm
T/l mắc bệnh do
Tốc độ mọc lông
(quan sát)
Lông mọc chậm hơn, kém bóng
Lông mọc nhanh hơn, bóng hơn
Lông mọc chậm hơn, kém bóng
Lông mọc nhanh hơn, bóng hơn Chất độn chuồng
(cảm nhận)
Mùi hôi nồng, cay, hắc
ít mùi hôi hơn, không cay
Mùi hôi nồng, cay, hắc
ít mùi hôi hơn, không cay
Trang 9Qua bảng 5 ta thấy: ngoại hình vịt ở lô thí nghiệm đẹp hơn lô đối chứng và chất độn chuồng cũng được cải thiện hơn chất độn chuồng ít mùi hôi hơn lô đối chứng chất độn chuồng hôi nồng, cay hắc Tỷ lệ mắc bệnh ở lô thí nghiệm cũng ít hơn ở cả vịt con nuôi thịt là 4,29% so với 11,43% và ở vịt con giống là 3% so với 11% Tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn lô đối chứng, cùng với không có con nào chết do mắc bệnh đây cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nuôi sống ở lô thí nghiệm ở vịt nuôi vỗ béo trong lô thí nghiệm tỷ lệ nuôi sống là 97,14% còn trong lô đối chứng tỷ lệ nuôi sống là 94,29% ở vịt giống là 98% so với 95% ở lô đối chứng Đây cũng là một chỉ tiêu các nhà chăn nuôi gia cầm luôn quan tâm, đặc biệt trong chăn nuôi vịt thịt Tỷ lệ nuôi sống cao cũng là một tiêu chí làm tăng sản lượng thịt trong chăn nuôi gia cầm thịt Vậy sử dụng chế phẩm EM gốc 0,1% vào chăn nuôi vịt con góp phần tăng tỷ lệ nuôi sống, giảm tỷ lệ nhiễm bệnh, cải tạo
đáng kể môi trường chuồng nuôi vịt, làm giảm ô nhiễm môi trường, tăng hiêu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt
Đánh giá khả năng tăng trọng của đàn vịt con khi bổ sung chế phẩm EM gốc 0,1% vào nước uống
Khả năng tăng trọng của vịt chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố: yếu tố di truyền và yếu
tố ngoại cảnh Trong đó yếu tố ngoại cảnh có tác động không nhỏ: như bệnh tật, tiểu khí hậu chuồng nuôi: nhiệt độ, ẩm độ chuồng nuôi, độ thoáng gió chế độ chăm sóc nuôi dưỡng Chế độ chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng tăng trọng của vịt Thức ăn, nước uống là nguồn cung cấp dinh dưỡng cùng các khoáng chất, vitamin và năng lượng cho mọi hoạt động sống và tăng trọng của vịt
Theo một số tài liệu trong nước và ngoài nước cho thấy: khi bổ sung chế phẩm EM vào thức ăn, nước uống cho gia cầm không những hạn chế được một số bệnh đường tiêu hoá
mà còn làm tăng số lượng vi sinh vật hữu ích trong hệ vi sinh vật đường ruột Làm tăng khả năng tiêu hoá, hấp thu chất dinh dưỡng của gia cầm, vì thế khả năng tăng trọng của gia cầm cũng cao hơn Để xác định ảnh hưởng của chế phẩm EM tới khả năng tăng trọng của vịt, chúng tôi đ5 tiến hành thí nghiệm và cân khối lượng cơ thể vịt ở các tuần tuổi Kết quả
được trình bày ở bảng 6
Bảng 6 Đánh giá khả năng tăng trọng của đàn vịt con khi bổ sung chế phẩm EM gốc 0,1%
vào nước uống Khối lượng cơ thể vịt (g/con)
Tuần
tuổi
Trang 10Qua kết quả ở bảng 6 cho ta thấy: khối lượng cơ thể vịt ở cả hai lô đối chứng và thí nghiệm
đều tăng qua các tuần tuổi từ sơ sinh tới 8 tuần tuổi
Cũng qua bảng 6 cho ta thấy ở các tuần tuổi khối lượng cơ thể vịt ở lô thí nghiệm (có sử dụng chế phẩm EM gốc 0,1% vào nước uống) luôn cao hơn lô đối chứng Đặc biệt là ở các tuần tuổi 6 và 8 tuần tuổi: ở tuần tuổi thứ 6 ở vịt vỗ béo lô thí nghiệm đạt 2397,56g/con trong khi đó lô đối chứng đạt 2293,03g/con ở tuần tuổi thứ 8 lô thí nghiệm đạt 3027,45g/con còn lô đối chứng đạt 2884,34g/con với vịt vỗ béo, còn vịt nuôi giống là 1922,5g/con ở lô thí nghiệm và 1874,7g/con ở lô đối chứng Vậy sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt con có tác dụng tăng khối lượng cơ thể vịt con nuôi vỗ béo làm tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi vịt thịt chế phẩm EM có ảnh hưởng tốt tới cơ thể vịt, cụ thể là làm tăng khối lượng cơ thể vịt so với đối chứng qua các tuần tuổi Đó cũng là mục tiêu quan tâm hàng đầu của các nhà chăn nuôi đặc biệt trong chăn nuôi vịt vỗ béo thương phẩm Trong chăn nuôi vịt vỗ béo, khả năng tăng trọng quyết định giá thành sản phẩm chăn nuôi, hiệu quả kinh tế thu được trong chăn nuôi vịt Bởi vậy để tăng lợi nhuận trong chăn nuôi, các nhà chăn nuôi đ5 áp dụng nhiều thành tựu khoa học sinh học vào sản xuất
để tăng năng xuất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi Đồng thời hạ giá thành sản phẩm, tăng hiệu quả lao động, kinh tế trong chăn nuôi và bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khoẻ con người
Đồng thời trong nuôi vịt con giống làm tăng khối lượng vịt giống đưa khối lượng về đạt chuẩn giống, tạo tiền đề tốt cho vịt sinh sản sau này
Hiệu quả kinh tế khi sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt
Hiệu quả kinh tế là đích cuối cùng mà các nhà chăn nuôi đều tính đến, là thành quả thu
được sau một quá trình công việc Mọi nghiên cứu phục vụ cho ngành đều hướng tới đích cuối cùng này, và không ngoài mục đích đó chúng tôi tiến hành đánh giá chỉ tiêu kinh tế thu được khi sử dụng chế phẩm EM và thu được kết quả ở bảng 7
Bảng7 Hiệu quả kinh tế thu được khi sử dụng chế phẩm EM trong chăn nuôi vịt
(vịt nuôi tới 8 tuần tuổi)
Số tiền
Đối chứng Thí nghiệm Đối chứng Thí nghiệm