Vắc-xin được dùng theo đúng quy trình hướng dẫn của nơi sản xuất Gà Sasso được lấy máu 3 lần, mỗi lần lấy 5 mẫu/lô để đếm HC – BC và 15 mẫu/lô để chắt huyết thanh phát hiện kháng thể bằn
Trang 1Điều tra, đánh giá mức độ nhiễm bệnh Marek và ứng dụng
vắc-xin phòng bệnh cho đàn gà giống tại Trại thực nghiệm Liên ninh
Phan Văn Lục, Nguyễn Ngọc Hùng, Nguyễn Thành Đồng
Đặng Thị Tám, Lê Thanh Ân Tác giả liên hệ: Phan Văn Lục, Bộ môn Thú y, Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc
Tel: 04 8390525 – 034 825582 Fax: 034 825582 - E-mail: <pvluc2002@yahoo.com>
Abstract Marek disease caused by Herpes virus in chicken that was reported in 1907 In 1980s, Vietnam had broken out in some big chicken farms such as: ChauThanh, CauDien In this study, the investigative data in
2002-2005 have showed the dead chicken that had lesion like Marek infection with rate about 2,28 – 3,32% in total of dead chicken To control this disease, two kind of vaccine: MD-VAC CFL and Cryomarek RISPEN HVT have used for chicken in LienNinh experiment station The vaccined chicken were random collected for serum test for antibody titre The dead vaccined chichen were collected for histopathology test and the result showed that negative whith Marek’s disease The immure responsibility of chicken are good for protecting Marek disease after using two kind of Mareck’s vaccines that ware confirmed by AGP (Agar Gel Precipitation-Test) By economic effect, the MD-VAC CFL should use for controlling Mareck disease in LienNinh experiment station
Đặt vấn đề
Bệnh Marek được phát hiện từ năm 1907, là một trong những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của gà do vi-rút thuộc nhóm Herpes gây nên Sau đại chiến thế giới lần II, khi nhiều nước phương Tây phát triển gà công nghiệp thì bệnh đX gây những tổn thất kinh tế cực kỳ
to lớn
Vào đầu những năm 80 các Tạp chí khoa học thú y thế giới đều thông báo cho biết tỷ lệ gà chết do Marek ngày một gia tăng (6 – 14% tùy ở từng nước)
ở Việt Nam, bệnh bùng phát mạnh vào những năm 80, như Châu Thành năm 1982, Cầu Diễn năm 1984 buộc phải hủy cả đàn Tỷ lệ hao hụt cao ở các cơ sở chăn nuôi tập trung do bệnh Marek, vì vậy Liên hiệp các xí nghiệp gia cầm Việt Nam đX đưa vắc-xin Marek vào lịch tiêm phòng cho các đàn gà giống Giai đoạn từ 1993 trở đi bệnh có chiều hướng giảm
do sử dụng vắc-xin và biện pháp vệ sinh phòng bệnh Những năm gần đây, ở hầu hết các cơ sở mặc dù đX dùng vắc-xin, song bệnh vẫn còn xuất hiện khoảng 3 – 5% làm ảnh hưởng
đến chất lượng con giống
Nhiều năm qua, Trại Liên Ninh là trại gà giống thuộc Trung tâm nghiên cứu gia cầm Vạn Phúc, mặc dù đX thường xuyên sử dụng vaccine Marek đơn giá nhưng vẫn còn lác đác hiện tượng gà chết có triệu chứng của bệnh Marek Phải chăng trong môi trường vẫn còn các chủng vi rút Marek khác? mà vắc-xin Marek đơn giá chưa đủ bảo hộ? Hoặc là sự phối hợp giữa lịch tiêm phòng và biện pháp an toàn sinh học chưa được đảm bảo
Trang 2Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Điều tra, đánh giá mức độ nhiễm bệnh Marek và ứng dụng vắc-xin phòng bệnh cho đàn gà giống tại Trại thực nghiệm Liên ninh" nhằm mục đích:
• Xác định được mức độ mắc bệnh Marek ở đàn gà giống
• Đánh giá sự đáp ứng miễn dịch của đàn gà Sasso sau khi dùng thử nghiệm hai loại vắc-xin Marek đơn giá và đa giá
Nguyên liệu và phương pháp nghiên cứu
Nguyên liệu
• Gà Sasso được nuôi tại Trại thực nghiệm Liên Ninh – Thanh Trì - Hà Nội
• Vắc-xin: Cryomarek RISPEN HVT (đa giá) và MD-VAC CFL (đơn giá)
• Kháng nguyên Marek (Marek’s disease antigen) và Huyết thanh Marek dương tính chuẩn (Marek’s disease virus positive control serum)
- Hóa chất: Formon, cồn, Nitơ lỏng Dung dịch pha loXng Hayem, thuốc chống đông máu heparin, thạch (Agar), parafin và các hóa chất cần thiết cho phương pháp xét nghiệm biến
đổi vi thể tổ chức tế bào, nước cất, thuốc sát trùng
- Dụng cụ: Dao, kéo, panh, syringe, kim tiêm, ống nghiệm, chai, túi, lọ đựng bệnh phẩm; Buồng đếm Newbauer (đếm HC – BC), đĩa lồng petri và dụng cụ chuyên làm phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch (AGP), dụng cụ chuyên dùng cho phương pháp parafin
để xét nghiệm biến đổi vi thể tổ chức tế bào, tủ lạnh, tủ ấm, phòng vô khuẩn
Phương pháp nghiên cứu
• Điều tra theo sổ sách của những năm 2002, 2003, 2004 và thực tế năm 2005 về mức độ nhiễm bệnh Marek của các đàn gà giống tại Trại thực nghiệm Liên Ninh
• Quan sát triệu chứng lâm sàng và mổ khám xem bệnh tích đại thể
• Máu và bệnh phẩm:
Toàn bộ các mẫu bệnh phẩm được lấy ở những gà nghi bị bệnh Marek và máu được lấy ngẫu nhiên trên 2 lô gà Sasso được bố trí tại Trại thực nghiệm Liên Ninh
- Mẫu bệnh phẩm: được xét nghiệm bệnh lý vi thể bằng phương pháp parafin (Phương pháp làm tiêu bản và nhuộm màu):
Làm tiêu bản: - Lấy bệnh phẩm độ dày không quá 0,5 cm; - Ngâm trong formalin 10%/24giờ; - Cắt lại mẫu dày 0,2 mm, rửa vòi nước chảy/2 giờ; - Ngâm trong cồn 700/3 giờ; - Ngâm trong cồn 900/2 giờ; - Ngâm trong cồn 1000 3 lần thay đổi 2 giờ/1 lần; - Ngâm trong xylol 3 lần thay đổi 1 giờ/1 lần; - Tẩm trong nến nóng chảy 3 lần thay đổi 2 giờ/1
Trang 3lần; - Tạo khuôn trong nến; - Gọt khuôn đưa vào máy cắt; - Cắt lát dày 4 àm; - Làm phẳng trên nước ấm; - Dán vào lam kính bằng lòng trắng trứng; - Hong khô tiêu bản trong tủ ấm
370C/3 giờ
Nhuộm tiêu bản: - Tẩy nến bằng xylol 2 lần thay đổi 5 phút/lần; - Loại xylol bằng cồn
1000 2 lần thay đổi 5 phút; - Lấy nước vào lát cắt bằng cồn 900 5 phút; - Lấy nước vào lát cắt bằng cồn 700 5 phút; - Ngâm nước chảy 5 phút; - Ngâm nước cất 5 phút; - Nhuộm heamatoxylin 10 phút; - Rửa nước chảy tiêu bản chuyển màu xanh 5 phút; - Ngâm nước cất 5 phút; - Nhuộm bằng eosin 90 giây; - Rửa nước chảy 10 phút; - Rút nước với cồn 960
5 phút; - Ngâm cồn 1000 3 lần thay đổi 2 phút/1 lần; - Ngâm xylol 3 lần thay đổi 2 phút/1 lần; - Gắn lá kính bằng Baume Canada; - Đọc tiêu bản trên kính hiển vi:
+ Nhân tế bào: màu tím – xanh
+ Nguyên sinh chất: màu hồng - đỏ
- Mẫu máu:
+ Máu sau khi lấy cùng với heparin (chống đông máu) được dùng để đếm hồng cầu (HC)
và bạch cầu (BC) bằng buồng đếm Newbauer vói dung dịch pha loXng Hayem theo phương pháp của Gower (1905)
+ Máu sau khi lấy vào ống nghiệm, để sau 30 – 60 phút cho đông lại rồi ly tâm chắt lấy huyết thanh để phát hiện kháng thể bằng phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch (AGP): Nguyên lý của phản ứng AGP: Kháng nguyên và kháng thể hòa tan từ hai vị trí khác nhau khuếch tán vào môi trường thạch tạo nên vạch kết tủa khi kháng nguyên và kháng thể tương ứng tiếp xúc nhau
ứng dụng: Phát hiện kháng thể Marek trong huyết thanh của gà
Nguyên liệu và cách pha chế:
Đun cho tan thạch, chỉnh pH = 7,6, hấp vô trùng Sau lọc thạch qua nhiều lớp vải gạc, đổ thạch vào mỗi lọ 15 ml và bảo quản ở nhiệt độ 40C Khi dùng đun chảy thạch và đổ vào đĩa nhực Petri có đường kính 9 cm, độ dày của thạch 3 mm, thạch nguội đậy nắp, có thể dùng ngay sau 30 phút đến 1 giờ Đĩa thạch đổ sẵn có thể bao gói tránh để khô và bảo quản ở nhiệt độ 40C dùng dần
Trang 4Đục lỗ thạch: Mỗi cụm 7 lỗ, 6 lỗ xung quanh và 1 lỗ ở giữa Lỗ có đường kính 6 mm, các
lỗ cách đều nhau 3 mm
+ Kháng nguyên Marek dương tính chuẩn
+ Huyết thanh Marek dương tính chuẩn
+ Mẫu kiểm tra: Huyết thanh gà
Cách tiến hành phản ứng: Lỗ giữa nhỏ 25 l kháng nguyên chuẩn Các lỗ xung quanh nhỏ
25 l huyết thanh kiểm tra Mỗi đĩa phản ứng có một mẫu đối chứng huyết thanh dương tính Các đĩa phản ứng sau khi làm xong được đặt vào một hộp ẩm giữ cho thạch khỏi khô
và để ở nhiệt độ phòng
Đọc kết quả: Sau 16 – 48 giờ Phản ứng (+) xuất hiện vạch kết tủa trắng đục ở khoảng giữa
lỗ kháng nguyên và kháng thể Phản ứng (-) không có vạch kết tủa
Bố trí thí nghiệm
Gà Sasso 1 ngày tuổi được chia làm 2 lô: Lô I gồm 744 con, Lô II gồm 788 con Đều được nuôi dưỡng, chăm sóc nghiêm ngặt theo đúng quy trình chăn nuôi gà Việt nam và tiêm vắc-xin Marek cụ thể như sau:
+ Lô I: Tiêm vắc-xin Marek đa giá (Cryomarek Rispen HVT)
+ Lô II: Tiêm vắc-xin Marek đơn giá (MD-VAC CFL)
(Vắc-xin được dùng theo đúng quy trình hướng dẫn của nơi sản xuất)
Gà Sasso được lấy máu 3 lần, mỗi lần lấy 5 mẫu/lô để đếm HC – BC và 15 mẫu/lô để chắt huyết thanh phát hiện kháng thể bằng phản ứng kết tủa khuếch tán trên thạch (AGP) vào các giai đoạn sau khi tiêm vắc-xin Marek được 1 tháng, 5 tháng và 9 tháng tuổi
Bệnh phẩm của gà Sasso: Gan, lách, dây thần kinh được mổ khám lấy từ những gà nghi
bị bệnh ở các giai đoạn sau khi tiêm vắc-xin Marek được 1 tháng, 5 tháng và 9 tháng tuổi cũng như của gà chết nghi bị Marek của cả 2 lô để xét nghiệm bệnh lý bằng phương pháp nhuộm tế bào tổ chức
Xử lý số liệu
Xử lý các số liệu thu được bằng phương pháp thống kê sinh vật học
Kết quả và thảo luận
Kết quả điều tra mức độ nhiễm bệnh Marek trên các đàn gà tại Trại thực nghiệm Liên Ninh
• Kết quả theo dõi mức độ nhiễm bệnh Marek của các đàn gà (2002 - 2004)
Để thực hiện đề tài, bước đầu chúng tôi khảo sát tình hình nhiễm bệnh Marek của các đàn
gà giống (Lương Phượng, Ri và Sasso) tại Trại thực nghiệm Liên Ninh đX được tiêm
Trang 5vắc-xin Marek đơn giá lúc 1 ngày tuổi qua các năm 2002, 2003 và 2004 Kết quả được trình bày ở Bảng 1
Bảng 1: Kết quả điều tra mức độ nhiễm bệnh Marek trên các đàn gà
tại Trại Liên ninh từ 2002 – 2004
Số gà theo dõi Kết quả hao hụt và mổ khám Năm Tổng đàn gà hậu bị
và gà đẻ
(con)
Gà đẻ (con)
Hao hụt (con)
Mổ khám (con)
Do bệnh khác (con)
Bệnh tích Marek (con)
B tích Marek so với ∑ mổ khám (%)
Qua Bảng 1 chúng tôi thấy tỷ lệ gà nghi bị bệnh Marek qua các lần mổ khám, quan sát đại thể thì có chiều hướng tăng lên so với tổng số mổ khám ở từng năm cụ thể như sau:
+ Năm 2002 có 4/175 con mổ khám nghi bị Marek, chiếm 2,28% so với số gà được mổ khám
+ Năm 2003 có 6/247 con mổ khám nghi bị Marek, chiếm 2,43% so với số gà được mổ khám
+ Năm 2004 có 9/271 con mổ khám nghi bị Marek, chiếm 3,32% so với số gà được mổ khám
Với kết quả theo dõi này, tuy đàn gà giống được nuôi đủ điều kiện và quy trình tiêu chuẩn Việt Nam tại Trại Liên Ninh nhưng vẫn có hiện tượng của bệnh Marek xảy ra với tỷ lệ từ 2,28 - 3,32%
• Kết quả theo dõi mức độ nhiễm bệnh Marek của 2 đàn gà Lương Phượng và Ri trong năm 2005
Từ những kết quả điều tra mức độ nhiễm bệnh Marek của các đàn gà giống tại Trại Liên Ninh ở những năm 2002, 2003 và 2004 Năm nay (2005), chúng tôi tiếp tục theo dõi, quan sát tất cả những biểu hiện triệu chứng lâm sàng cũng như bệnh tích đại thể qua mổ khám những con chết và nghi bị nhiễm bệnh Marek trên 2 đàn gà Lương Phượng và gà Ri Kết quả được trình bày ở Bảng 2
Bảng 2: Kết quả theo dõi mổ khám của hai đàn gà Lương Phượng và gà Ri
(Năm 2005)
Kết quả hao hụt và mổ khám Lô theo
Số gà
đầu kỳ
Mổ khám (con)
Do bệnh khác (con)
Bệnh tích Marek (con)
B tích Marek
so với tổng
mổ khám (%)
Trang 6Lương
phượng
Gà trưởng thành
Ri Gà trưởng thành
Kết quả mổ khám ở Bảng 2 cho thấy tất cả những con chết và những con nghi có biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh Marek như sau:
+ Gà Lương phượng: 2/76 con mổ khám có biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh Marek và chiếm tỷ lệ là 2,63% trên tổng số mổ khám
+ Gà Ri: 1/40 con mổ khám có biểu hiện triệu chứng lâm sàng của bệnh Marek và chiếm
tỷ lệ là 2,5% trên tổng số mổ khám
Như vậy, qua thực tế theo dõi trong năm 2005 trên 2 đàn gà Lương phượng và gà Ri vẫn còn lác đác xuất hiện những biểu hiện lâm sàng của bệnh Marek với tỷ lệ 2,50 - 2,63% Kết quả theo dõi của đàn gà Sasso sau khi đã được tiêm vắc-xin Marek
• Tình hình đàn gà Sasso sau khi tiêm vắc-xin
Để hạn chế tỷ lệ hao hụt đàn gà do nhiễm Marek, việc dùng vắc-xin theo đúng quy trình,
đúng liều lượng, đúng thời gian là điều cần thiết Tại trại gà giống Liên Ninh hàng năm vẫn bảo hộ đàn gà bằng cách tiêm phòng vắc-xin Marek đơn giá, nhưng năm nay (2005) chúng tôi tiến hành dùng thêm loại vắc-xin Marek đa giá (Lê Văn Năm Số 1 - 2005) cho
gà Sasso nhập nội
Đàn gà Sasso được chia làm 2 lô và tiêm vắc-xin Marek vào lúc 1 ngày tuổi cụ thể như sau:
+ Lô I gồm 744 con và được tiêm vắc-xin đa giá (Cryomarek Rispen HVT nhập ngoại)
+ Lô II gồm 788 con và được tiêm vắc-xin đơn giá (MD-VAC CFL nhập ngoại)
Hai lô gà được nuôi trong cùng điều kiện sống với các quy trình vệ sinh, phòng bệnh thú y Kết quả theo dõi tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn của gà được trình bày ở Bảng 3
Bảng 3: Kết quả nuôi sống của đàn gà Sasso (%)
Tỷ lệ hao hụt Lô thí
Đầu con
Tỷ lệ nuôi sống (%)
Lô I
Lô II
Trang 7Qua Bảng 3, tỷ lệ hao hụt (do chết và loại bệnh) của đàn gà bình quân ở cả 2 lô của các giai đoạn gà con, gà dò và gà đẻ từ 8 - 10% Sự chênh lệch về nuôi sống và hao hụt giữa các giai đoạn nuôi dưỡng của gà ở 2 lô là không đáng kể, cụ thể là:
+ Giai đoạn gà con: ở lô I là 91,77% so với lô II là 90,99% (cao hơn 0,78%)
+ Giai đoạn gà dò: ở lô I là 93,75% so với lô II là 91,38% (cao hơn 2,37%)
+ Giai đoạn gà đẻ: ở lô I là 89,99% so với lô II là 88,65% (cao hơn 1,34%)
Tỷ lệ hao hụt (chết và loại bệnh) giữa 2 lô xấp xỉ như nhau Với kết quả theo dõi này, bước
đầu nói lên việc sử dụng vắc-xin Marek đa giá cho đàn gà Sasso đX phần nào có hiệu quả nhất định so với việc sử dụng vắc-xin Marek đơn giá ở những năm trước
• Kết quả mổ khám trên đàn gà Sasso
Số lượng gà chết và nghi bị nhiễm Marek của đàn gà Sasso, chúng tôi tiến hành mổ khám theo dõi bệnh tích đại thể (Nguyễn Vĩnh Phước 1978) Kết quả được trình bày ở Bảng 4
Bảng 4: Kết quả mổ khám trên đàn gà Sasso sau khi tiêm
vắc-xin Marek đa giá và đơn giá
Kết quả mổ khám Lô thí
nghiệm Giai đoạn gà
Đầu con theo dõi
Số gà
mổ khám (con)
B tích Marek (con)
Bệnh khác (con)
Bệnh tích Marek so với tổng mổ khám (%)
Lô I
Lô II
Kết quả mổ khám quan sát bệnh tích đại thể qua Bảng 4 cho thấy:
+ Giai đoạn gà con đều không có biểu hiện bệnh tích đại thể đối với cả 2 lô Kết quả này cũng phù hợp với quy luật chung là bệnh Marek ít xuất hiện ở giai đoạn gà con
+ Vào cuối giai đoạn gà dò ở lô I mổ 42 con đều không thấy có biểu hiện của bệnh Marek, nhưng tương ứng ở lô II, khi mổ 65 con thì có 1/65 con có hiện tượng nổi u nhỏ lác đác trên bề mặt của gan
+ ở giai đoạn gà đẻ, mọi biểu hiện bệnh tích đại thể của bệnh Marek đều không có ở cả 2 lô, cụ thể là: Lô I có 0/27 con mổ khám, Lô II có 0/31 con mổ khám
Những con gà có triệu chứng lâm sàng và bệnh tích đại thể nghi bị bệnh Marek thì đều
được chúng tôi gửi đến Trung tâm chẩn đoán thú y – Cục Thú Y để kiểm tra bệnh tích vi thể
Trang 9• Kết quả các xét nghiệm của đàn gà Sasso sau khi tiêm vắc-xin Marek đa giá và đơn giá
Cùng với việc theo dõi các chỉ tiêu về tỷ lệ nuôi sống và mổ khám quan sát bệnh tích đại thể, chúng tôi còn tiến hành lấy mẫu máu và huyết thanh ngẫu nhiên của đàn gà và các mẫu bệnh phẩm của gà chết ở các giai đoạn gà con, gà dò và gà đẻ tương ứng ở cả 2 lô rồi gửi đi Trung tâm chẩn đoán thú y – Cục Thú Y để xét nghiệm các chỉ tiêu sau:
+ Kháng thể kháng bệnh Marek
+ Những biến đổi vi thể tổ chức tế bào
+ Sự biến động về số lượng hồng cầu – bạch cầu
Các kết quả được trình bày qua các bảng sau:
Bảng 5: Kết quả theo dõi kháng thể Marek bằng phản ứng AGP
Kết quả xét nghiệm Lô thí
nghiệm Thời điểm lấy mẫu
Số mẫu
Tỷ lệ có KT Marek (%)
Lô I
Lô II
Qua Bảng 5 ta thấy hàm lượng kháng thể giữa các giai đoạn gà con, gà dò và gà đẻ ở cả 2 lô không có sự khác biệt lớn Cụ thể là:
+ Giai đoạn gà con: với 15 mẫu huyết thanh làm phản ứng AGP đều cho kết quả dương tính và đạt tỷ lệ 100% có kháng thể ở cả 2 lô
+ Giai đoạn gà dò: Trong khi ở lô 1 cho kết quả dương tính 15/15 mẫu kiểm tra và tỷ lệ có kháng thể là 100% thì ở lô 2 chỉ có 14/15 mẫu dương tính và tỷ lệ có kháng thể là 93,3% + Giai đoạn gà đẻ: ở lô 2 có 13/15 mẫu dương tính và tỷ lệ có kháng thể là 86,7% thì ở lô 1 cũng có 14/15 mẫu dương tính và tỷ lệ có kháng thể là 93,3%
Thông thường sau khi tiêm vắc-xin Marek một tháng tỷ lệ có kháng thể đạt trên 90% là đạt yêu cầu vì vi rút vắc-xin Marek đX có tác dụng với tế bào bảo vệ không cho vi rút Marek ngoài môi trường xâm nhập vào cơ thể chiếm chỗ gây ra khối u (Theo B W Calnek Bệnh gia cầm 1991)
Trang 10Trong quá trình theo dõi đàn gà Sasso, chúng tôi tiến hành lấy mẫu tổ chức của các gà bị chết và các gà có triệu chứng và bệnh tích nghi bị nhiễm bệnh Marek gửi đi Trung tâm chẩn đoán thú y – Cục thú y để kiểm tra bệnh tích vi thể Kết quả được trình bày ở Bảng 6
Bảng 6: Kết quả xét nghiệm bệnh lý vi thể bằng phương pháp Parafin
Kết quả xét nghiêm Lô thí
nghiệm Thời điểm lấy mẫu
Số mẫu bệnh
Tỷ lệ tổn thương bệnh
lý do Marek (%)
Lô I
(Vắc-xin đa giá)
Lô II
(Vắc-xin
Tất cả số mẫu gửi đi kiểm tra bệnh tích vi thể của của cả 2 lô gà đX được tiêm vắc-xin Marek đa giá và đơn giá đều cho kết quả âm tính với bệnh Marek ở các giai đoạn phát triển khác nhau
Để theo dõi biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý, cụ thể là hồng cầu và bạch cầu, chúng tôi đX lấy mẫu máu của cả 2 lô đX được tiêm vắc-xin Do kinh phí có hạn nên chúng tôi lấy mỗi lô 5 mẫu ngẫu nhiên để đánh giá Kết quả được trình bày ở bảng 7
Bảng 7: Kết quả xét nghiệm chỉ số hồng cầu, bạch cầu gà Sasso
Kết quả xét nghiêm Lô thí
nghiệm Thời điểm lấy mẫu
Số mẫu máu Chỉ số BC (BT: 30
000/mm3 máu)
Chỉ số HC (BT: 2,5 – 3,2 triệu/mm3 máu
Lô I
(Vắc-xin
Lô II
(Vắc-xin
Kết quả Bảng 7 cho thấy số lượng hồng cầu và bạch cầu bình quân của 5 mẫu máu ở cả 2 lô được kiểm tra vào tháng thứ nhất, tháng thứ năm và tháng thứ chín sau khi tiêm vắc-xin
đều xấp xỉ bằng số lượng hồng cầu, bạch cầu của gà khoẻ mạnh (Sinh lý gia súc – Cù Xuân Dần) Như vậy, cả hai lô gà tiêm hai loại vắc-xin đa giá và đơn giá đX phát triển bình thường khoẻ mạnh