Đánh giá vai trò, vị thế và năng lực của phụ nữ nông thôn trong hoạt động kinh tế hộ tại huyện Đồng Hỷ- Thái Nguyên Dự án phát triển Nông thôn bền vững VS-RDE-01 Phùng Thị Vân, Hoàng Th
Trang 1Đánh giá vai trò, vị thế và năng lực của phụ nữ nông thôn trong hoạt động kinh tế hộ tại huyện Đồng Hỷ- Thái Nguyên
Dự án phát triển Nông thôn bền vững (VS-RDE-01)
Phùng Thị Vân, Hoàng Thị Hương Trà và Vũ Chí Cương
Viện Chăn Nuôi
Abstract
120 households were selected randomly for the study including: 60 households belong to 2 hamlets in Hoa Thuong village, the wives in the households are Kinh minority; 60 households belong to 2 hamlets in Khe
Mo village, the wives in the households are San Chay minorities The specific objectives of the study are: to assess the role of farming and non-farming activities in household economy in rural areas; to determine and compare role and status of women in rural areas in socio-economic life, especially in livestock production, and to assess the needs and constraints of women for increasing efficiency in livestock production, enhancing up family income and poverty alleviation Secondary data sources were used to crosscheck the information gained through interviews Questioning and interviewing people by using structured questionnaire Data analysis: description analysis (using means, and ranges) and analysis of qualitative data will be used to calculation, discussion and for interpretation of results
The findings: crop and livestock production accounted for 69.82-81.80% of total household income, of which livestock enterprises accounted for 24.15-34.05% Rural women take part around 76.00-78.40% of agricultural household labor The percentage of Kinh women group had the voice in decision-making process
on technical matters in crop and livestock production was higher than that of men In contrast, the proportion
of Ethnic women group involved in decision-making on technical matters in crop and livestock production was lower than that of men Rural women play an important role in household economic activities and are also responsible for daily homework However, they have lowered the voice in decision-making in the family and in society compared to men Low productive livestock breeds, lack of knowledge and skills on livestock production and lack of credit to investment in production are constraints of Dong Hy women to enhancing livestock production
Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp với trên 76% dân số sống ở nông thôn Lao động nữ trong ngành Nông nghiệp cao hơn so với nam giới (khoảng 52 % lao động nữ so với 42% lao động nam) và có chiều hướng gia tăng (Lê Thi, 1999) Thúc đẩy phát triển nông thôn không chỉ tập trung vào giảm nghèo mà cần đề cập tới vai trò lớn lao của phụ nữ trong kinh tế hộ gia đình Những vấn đề về giới đY được đề cập trong rất nhiều nghiên cứu ở trên thế giới Tuy nhiên vai trò và vị thế của phụ nữ trong ngành nông nghiệp nói chung và đặc biệt trong chăn nuôi cũng như các nghiên cứu xây dựng năng lực cho phụ nữ nông thôn về phát triển chăn nuôi, xoá đói giảm nghèo ở các gia đình nông thôn đến nay vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ
ở Việt Nam chăn nuôi đóng vai trò rất quan trọng trong ngành nông nghiệp, đóng góp của ngành chăn nuôi trong GDP ngành nông nghiệp đang gia tăng vào những năm gần đây (18,9% năm 1995; 19,6% năm 2001 và tăng lên 21,6% năm 2004) (GSO, 2000; 2005) Vì
Trang 2triển nông nghiệp nông thôn Chăn nuôi hầu hết có ở các gia đình làm nông nghiệp mà tỉ lệ này chiếm tới khoảng 70% dân số của Việt Nam Phụ nữ nông thôn đảm nhiệm phần lớn các công việc chính về trồng trọt và chăn nuôi của hộ ( GS0, 1994; Luân, 1998).Vì vậy nghiên cứu vai trò, vị thế của phụ nữ nông thôn trong hoạt động kinh tế hộ cũng như những trở ngại và những nhu cầu về tăng năng suất và hiệu quả lao động nói chung và chăn nuôi nói riêng cho phụ nữ nông thôn, góp phần cải thiện sinh kế ở các vùng nông thôn là rất cần thiết
Thái Nguyên là một tỉnh Trung du miền núi phía bắc Việt nam, 76,8% dân số sống ở Nông thôn Số lao động là 635.000 người, trong đó 59,27% là lao động nông nghiệp Lao động nữ chiếm 50,8% (GSO, 2002) Đồng Hỷ là huyện thuộc vùng núi và nrung du của tỉnh Thái Nguyên, với 86% dân số sống ở nông thôn, trong đó 71,6% là sống bằng nghề nông nghiệp (số liệu thống kê của huyện Đồng Hỷ, năm 2003).Vai trò và vị thế của phụ nữ trong đời sống kinh tế- xY hội, trong ngành nông nghiệp nói chung và đặc biệt trong chăn nuôi nói riêng ở tỉnh Thái Nguyên cho đến nay chưa có nghiên cứu điều tra chi tiết nào Vì vậy Đồng Hỷ được chọn làm một nghiên cứu điểm
Trang 3Mục tiêu:
+ Đánh giá vai trò của các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp trong kinh tế hộ ở vùng nông thôn
+ Xác định và so sánh vai trò và vị thế của phụ nữ ở các vùng nông thôn trong đời sống kinh tế- xY hội, đặc biệt trong chăn nuôi
+ Đánh giá những nhu cầu và những trở ngại đối với phụ nữ nông thôn trong phát triển chăn nuôi để cải thiện sinh kế và xoá đói nghèo
Tổng quan tài liệu
Hiện nay, Việt Nam đạt được kết quả rõ nét về giảm nghèo, nhưng vẫn còn tỉ lệ 32% (Theo tiêu chuẩn Quốc tế) hay 17% (theo tiêu chuẩn Quốc gia) số hộ sống ở mức nghèo đói vào năm 2000 và 90,5% hộ nghèo là sống ở nông thôn (2,8 triệu hộ) (Chiến lược tổng thể về giảm nghèo và phát triển ở Việt Nam, 2002)
Tỉ lệ phụ nữ ở độ tuổi 15 59 sống ở nông thôn cao hơn khoảng 3 lần so với phụ nữ ở thành phố ở ngành nông nghiệp, lao động nữ chiếm 52% năm 1996, hơn 81,96% số nữ ở tuổi ≥
15 lao động trong nghành nông nghiệp (Thực trạng việc làm ở Việt Nam, GSO, 1997) Những công việc như gieo trồng, cấy, chăn nuôi 100% phụ nữ tham gia Chăm sóc mùa vụ, thu hoạch và chuẩn bị đất phụ nữ tham gia với tỉ lệ tương ứng là 80% ; 60% và 30% (Nguyễn Thiện Luân, 1998)
Phụ nữ ít có cơ hội tiếp cận với giáo dục, tập huấn, dịch vụ nông nghiệp và các dịch vụ công cộng Số liệu điều tra năm 1997 cho biết 90% nam giới và 10% nữ giới tham gia các khoá tập huấn về gieo trồng và chuyển giao nhưng 80% là về trồng trọt Tỉ lệ 72% nữ và 52% nam tham gia hoạt động chăn nuôi, thì có 75% nam giới tham gia tập huấn trong khi
đó tỉ lệ nữ giới chỉ có 25% tham gia (điều tra mức sống của hộ, GSO, 1998) Nhìn chung phụ nữ đóng góp khoảng 71% trong chăn nuôi Tỉ lệ phụ nữ làm chủ nhiệm hợp tác xY Nông nghiệp chỉ chiếm 2,3% so với tỉ lệ này là 97,7% ở nam giới Phụ nữ tham gia Ban quản lý HTX là 3,2% trong khi đó nam giới là 96,8% Phụ nữ là kế toán trưởng của HTX Nông nghiệp là 20,4% so với nam giới là 79,6% (điều tra về giới trong nông nghiệp nông thôn, GSO, 2001)
Về nhân lực lao động, nam giới trong gia đình chịu trách nhiệm về những việc được coi là lao động nặng nhọc Phụ nữ ngoài công việc đồng áng họ phải chịu gánh vác công việc nhà, chăm sóc con cái và gia súc nhưng 76% trong số hộ thì chủ hộ là nam giới
Trang 4Trong gia đình người nam quyết định những vấn đề quan trọng như sử dụng đất, tín dụng, mua sắm các thiết bị, người vợ chỉ được quyết định những chi tiêu hàng ngày, nấu nướng
và chăm sóc con cái (Điều tra tình hình cơ bản của hộ, GSO, 1994)
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá các hoạt động kinh tế hộ tại 2 cơ sở nghiên cứu
- Đánh giá vai trò,vị thế của phụ nữ trong trồng trọt, chăn nuôi, trong gia đình và xY hội
- Xác định những vấn đề mà phụ nữ nông thôn đang phải đối mặt trong phát triển chăn nuôi
Điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên Hai xY được chọn để tiến hành nghiên cứu bao gồm: XY Hoá Thượng là xY thuộc vùng Trung du, nằm ở trung tâm huyện và xY Khe Mo là xY vùng núi, nằm ở phía nam của huyện Đồng Hỷ
Chọn mẫu : 120 hộ đY được chọn ngẫu nhiên để điều tra bao gồm:
60 hộ thuộc 2 thôn (thôn Luông và thôn Tân Thái) ở xY Hóa Thượng , người vợ trong gia
đình là người dân tộc Kinh
60 hộ thuộc 2 thôn (thôn La Nưa và thôn La DYy) ở xY Khe Mo, người vợ trong gia đình là người dân tộc Nùng và dân tộc Sán Chay
Thu thập và xử lý số liệu
Số liệu thứ cấp: Được sử dụng để kiểm tra chéo thông tin thu được từ phỏng vấn
Phỏng vấn được thực hiện theo bộ câu hỏi đY chuẩn bị sẵn
Phỏng vấn người chủ chốt: Một số người là chuyên gia hiểu biết sâu về kiến thức giới, bình
đẳng giới, vai trò phụ nữ trong gia đình, xY hội được chọn là người chủ chốt để phỏng vấn Phân tích số liệu: Thống kê mô tả (số trung bình, độ lệch) và phân tích định lượng được sử dụng để tính, để bình luận và nhận định kết quả
Đặc điểm chung của các điểm nghiên cứu
X& Hoá thượng: XY nằm ở vùng Trung du phía Bắc của tỉnh Thái Nguyên, địa hình phân chia thành khu vực đồi, núi thấp và dải đồng bằng Tổng diện tích đất tự nhiên của xY là 1354,3 ha trong đó 846,23 ha là đất nông nghiệp Toàn xY có 2249 hộ, được phân chia thành 15 thôn, tổng số dân là 10172 người Toàn xY có 1436 hộ (63,85% số hộ )làm nông nghiệp Có 8 dân tộc cùng sinh sống trong xY, bao gồm: dân tộc Kinh, Tày, Nùng, San Chí, Trai Hoa, Sán Dìu và Cao Lan Lương thực bình quân/ đầu người là 230 kg năm 2003, tổng
Trang 5đàn lợn là 5774 con trong đó có 598 lợn nái, tổng đàn trâu là 724 con , đàn bò là 180 con,
đàn gia cầm là 58.000 con ( báo cáo năm 2004 của UBND xY Hoá thượng)
X& Khe Mo: Là xY vùng núi, nằm ở phía nam của tỉnh Thái Nguyên Diện tích đất tự nhiên
là 3078 ha, trong đó 776,4 ha là đất nông nghiệp, toàn xY có 1530 hộ với tổng dân số là
6426 người và phân bố thành 15 thôn Tỉ lệ hộ nghèo và tái nghèo năm 2003 là 4,3% Lương thực bình quân/ đầu người năm 2003 là 313,7 kg, sản lượng chè xanh đạt 1640,19 tấn/ năm, tổng đàn lợn là 8615 con trong đó có 344 lợn nái , đàn trâu là 704 con, bò 210 con, đàn gia cầm là 15300 con (Số 19/ BC-ĐU năm 2004 của xY Khe mo)
Kết quả nghiên cứu
Đặc điểm của các hộ điều tra
Số nhân khẩu của hộ
Số khẩu trung bình của hộ ở Khe Mo là 4,8 người, dao động từ 2- 8 người, ở Hóa Thượng
là 4,3 và dao động từ 2- 9 người
Tỉ lệ số người trong độ tuổi lao động ở 2 xY tương đối cao, tương ứng là 68,75% và 69,76% cho xY Khe Mo và xY Hóa Thượng (3,3 và 3,0 người/ hộ)
Trình độ văn hoá của nam và nữ trong độ tuổi từ 16 trở lên
Trình độ văn hóa của nhóm người Kinh ≥ 16 tuổi ở Hóa Thượng cao hơn so với nhóm người dân tộc Sán Dìu ở XY Khe Mo Nam và nữ ở Hóa Thượng chiếm tỉ lệ cao ở trình độ văn hóa cấp II và cấp III, trong khi đó ở Khe Mo, nam và nữ chiếm tỉ lệ cao ở trình độ văn hóa cấp I và cấp II
Không có sự khác nhau về trình độ văn hóa giữa nhóm nam và nhóm nữ thuộc dân tộc Nùng và Sán chay ở xY Khe Mo
ở Hóa Thượng nam giới có trình độ văn hóa cao hơn so với nữ giới
Lao động trong các hộ điều tra
Bảng 1: Cơ cấu lao động trong các hộ điều tra
Hoa Thuong ( n= 60) Khe Mo( n= 59)
Loaị hình lao động
-Nông nghiệp và phi nông
nghiệp
Trang 6Tỉ lệ lao động nữ thuần túy làm nông nghiệp ở cả 2 xY điều tra đều cao hơn so với nam giới (87,5% phụ nữ dân tộc Kinh so với 70,0% nam giới ở Hóa Thượng) và 58,1% phụ nữ dân tộc Nùng và dân tộc sán Chay so với 41,2% nam giới ở XY Khe Mo)
Tỉ lệ phụ nữ thuần túy tham gia lao động phi nông nghiệp tại cả 2 cơ sở đều thấp hơn so với nam giới và xu hướng tương tự đối với loại lao động làm nông nghiệp kết hợp với phi nông nghiệp khi nhàn rỗi
Đất đai: Tổng diện tích đất bình quân/ hộ ở Hóa Thượng là 0,5 ha, trong đó đất nông nghiệp là 0,27 ha, ở Khe Mo tổng diện tích đất/hộ bình quân là 1,36 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp là 0,56 ha XY Khe Mo có tiềm năng về đất đai hơn so với xY Hóa Thượng
Các hoạt động kinh tế hộ, vai trò, vị thế của phụ nữ trong hoạt động kinh tế hộ
Hiện trạng về trồng trọt và chăn nuôi
ở Hoá thượng trồng trọt chủ yếu là trồng lúa (100% số hộ điều tra), trồng ngô và sắn ở Khe Mo trồng trọt chủ yêú là trồng lúa ( 100%) và trồng chè ( 93% số hộ)
Hầu hết lương thực sản xuất được: (92.1- 99.7% lúa),(95.8-99.0% ngô) và 100% sắn tại Hoá thượng được sử dụng cho tiêu dùng gia đình, trong lúc đó một lượng không đáng kể sản phẩm sản xuất ra ở Khe Mo được bán ra ngoài ( 0,3-7,9%)
Số liệu điều tra cho biết ở Hóa Thượng tỉ lệ số hộ nuôi lợn, trâu bò và gia cầm tương ứng là 93,3; 58,3 và 88,3%, ở Khe Mo tương ứng là 91,5; 74,6 và 100%
Lợn giống sản xuất ra từ 30,02-40,04% được sử dụng cho gia đình, 60,0-70,0% được bán
ra thị trường
Từ 27,3- 54,2% số trứng sản xuất và từ 51,3-59,7% thịt gia cầm được sử dụng cho tiêu dùng gia đình ở cả 2 xY điều tra
100% số hộ điều tra có lợn thịt, trâu, bò đều không sử dụng cho gia đình và đều mang bán
ở chợ để lấy tiền
Bảng 2: Thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi / hộ điều tra (2003)
ĐVT: 1tr đồng
TT Hoạt động
Thu nhập từ trồng trọt và chăn nuôi của nhóm hộ nữ dân tộc Kinh cao hơn so với nhóm
hộ nữ dân tộc Nùng và dân tộc Sán chay Giữa các hộ điều tra mức thu nhập từ trồng trọt
Trang 7và chăn nuôi biến động khá lớn, những hộ chăn nuôi bị lỗ phần chính là do gặp rủi ro vì dịch bệnh
Thu nhập và cơ cấu thu nhập của hộ 2003 ( Biểu đồ 1)
Mức chi phí cho tiền ăn uống bình quân/ đầu người/ 1 ngày là 6.600 đồng và 5.500 đồng tương ứng cho xY Hoá thượng và xY Khe Mo vào thời điểm điều tra
.Vai trò và vị thế của phụ nữ trong hoạt động kinh tế hộ
Bảng 3: Vai trò của phụ nữ trong trồng trọt (% số hộ)
3 Chăm sóc, vun xới,
phun thuốc
5 Vận chuyển từ
ruộng về nhà
Số liệu bảng 2 chỉ ra rằng công việc chính mà người nam giới phải làm ở hầu hết các hộ là khâu làm đất Những công việc chính mà phụ nữ phải đảm nhận trong ở hầu hết các hộ
điều tra là: cấy, gieo trồng, làm cỏ, phơi (họ làm một mình hoặc cùng làm với nam giới) Phụ nữ Hóa Thượng đóng góp khoảng 61,9 % và phụ nữ Khe Mo đóng góp khoảng 56,5% trong hoạt động trồng trọt
* Quyền quyết định của phụ nữ đối với các hoạt động kỹ thuật về trồng trọt
ở Hóa Thượng tỉ lệ phụ nữ có thể quyết định các công việc liên quan tới kỹ thuật trồng
34,15%
34,05%
26,71%
5,09%
o
56,13% 24,15%
Trang 8(42.4% ở phụ nữ so với 18.6% ở nam giới), trong khi đó ở Khe Mo tỉ lệ phụ nữ có quyền quyết định lại thấp hơn so với nam giới 28,6% so với 44.6% ở nam giới)
Bảng 4 : Vai trò của phụ nữ trong chăn nuôi (% số hộ)
TT Công việc
Nam Nữ Nam và nữ Nam Nữ Nam và nữ
4 Chăm sóc, vệ sinh
chuồng trại
Từ 75,9 – 88,5 % số các công việc liên quan đến chăn nuôi ở Hóa Thuong là do phụ nữ
đảm nhiệm Tỉ lệ nam giới ở các hộ tham gia vào các hoạt động chăn nuôi chỉ chiếm từ 15,4 – 42,3% và các công việc họ tham gia như phối giống, cắt cỏ, trông nom gia súc
ở Khe Mo tỉ lệ phụ nữ tham gia vào các công việc liên quan tới chăn nuôi rất cao (70,4 – 79,7%) trong số hộ điều tra Tỉ lệ nam giới tham gia các công việc như phối giống và cắt
cỏ chiếm từ 21,3 – 50,0% trong số hộ điều tra
Những số liệu ở bảng 4 nói lên rằng công việc chăn nuôi ở hầu hết trong gia đình tại 2 xY
điều tra chủ yếu là do phụ nữ đảm nhiệm, phụ nữ ở Hóa Thượng đóng góp khoảng 78,4%
và phụ nữ Khe Mo đóng góp khoảng 76% trong chăn nuôi nông hộ
* Quyền quyết định của phụ nữ với các các hoạt động kỹ thuật trong chăn nuôi nông hộ
ở Hoá Thượng 41.4% số hộ, phụ nữ có quyền quyết định các hoạt động kỹ thuật như chọn giống vật nuôi, kỹ thuật chăn nuôi, thử nghiệm kỹ thuật mới….tại các nông hộ, 13,8% số
hộ điều tra, nam giới toàn quyền quyết định
ở Khe Mo có 37,5% số hộ điều tra, người nam giới quyết định các vấn đề kỹ thuật liên quan đến chăn nuôi và 35,7% số hộ phụ nữ có quyền quyết định về việc đó
Kết quả trên cho thấy rằng về hoạt động chăn nuôi, tuy phụ nữ chịu trách nhiệm về nhiều công việc liên quan đến chăn nuôi, tuy nhiên quyền quyết định về các hoạt động kỹ thuật chính, phụ nữ có quyền quyết định mới chỉ ở mức 35,7-41,4%
Vai trò của phụ nữ trong gia đình
Người phụ nữ hầu như phải đảm nhiệm tất cả các công việc như: Đi chợ, nấu nướng, lau chùi nhà cửa (72,4 - 96,2% ở Hóa Thượng và 75,0 – 86,0% ở Khe Mo) Chăm sóc con
Trang 9cái, giúp con học hành, phụ nữ đảm nhiện từ 54,5- 81,5% trong số hộ tại xY Hóa Thượng
và 47,8 – 70,4% số hộ tại Khe Mo
56-70% số hộ tại 2 xY là phụ nữ tham gia bán sản phẩm chăn nuôi Những số liệu trên nói lên rằng phụ nữ nông thôn đảm nhiệm hầu hết các công việc trong gia đình
Vị thế của người phụ nữ trong gia đình
Quyền quyết định về mua, bán và vay mượn
Các mua bán nhỏ và chi phí hàng ngày trong gia đình phần lớn do phụ nữ (62,5% - 69,1%
ở Hoa thuong và 54,7 – 69,1% ở Khe mo)
Các công việc khác trong gia đình chủ yếu vợ và chồng cùng quyết định (46,2-79,5%) ở Hóa Thượng và (23,6 – 60,1%) ở Khe Mo
Nam giới ở Khe Mo ( nhóm người dân tộc thiểu số) nắm quyền quyết định nhiều hơn so với phụ nữ ( nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số) trong những việc quan trọng trong gia đình họ (mua bán tài sản như trâu, bò, xe máy, đài, vô tuyến/ chuyển nhượng đất)
Quyền quyết định về những công việc khác trong gia đình
Với những công việc khác trong gia đình như: Việc học hành của con cái, định hướng nghề nghiệp cho con, dựng vợ gả chồng cho con cái, tham gia hoạt động xY hội, quyết
định cùng vợ chồng trong gia đình (46,8 – 80,0%)
Vị thế của người phụ nữ ngoài xY hội
Kết quả điều tra cho thấy phụ nữ dân tộc Kinh cũng như phụ nữ dân tộc thiểu số chiếm tỉ
lệ thấp trong cương vị lYnh đạo chính trị cũng như cấp lYnh đạo chính quyền
ở xY Hóa Thượng chỉ có 17,3% phụ nữ trong cấp ủy thôn so với 82,7% ở nam giới 23% phụ nữ tham gia trong cấp Đảng ủy xY so với 77% ở nam giới, chỉ có 18,75% phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân xY so với 81,25% ở nam giới
ở Khe Mo có 27,27% nữ trong cấp ủy xY so với 72,73% nam giới, 17,85% nữ giới trong Hội đồng nhân dân xY so với 82,15% ở nam giới
Những trở ngại mà phụ nữ nông thôn đang phải đối mặt trong phát triển chăn nuôi
Cơ cấu giống vật nuôi
Các giống lợn, trâu, bò và gia cầm chủ yếu là giống nội, năng suất thấp (91,7- 92,7% số lợn nái , 97,7-100% số trâu bò , 83,0-96,6% số gia cầm điều tra là giống nội, trong đó tỉ lệ giống vật nuôi là giống nội ở Khe Mo luôn cao hơn so với ở Hoá Thượng
Trang 10Chuồng trại, phòng bệnh cho gia súc, gia cầm
ở Hóa Thượng có từ 60,0%-70.2% số hộ xây dựng chuồng nuôi lợn, trâu/ bò dạng bán kiên cố, ngược lại ở Khe Mo tỉ lệ số hộ có chuồng đang tạm bợ chiếm tỉ lệ cao từ 43,6%
đến 84,7%
Có 68,4- 77.1% số hộ chăn nuôi ở Hóa Thượng đY sử dụng thuốc tiêm phòng cho gia súc, gia cầm, trong khi đó ở Khe Mo tỉ lệ này chỉ 21,8% - 34.1% Tỉ lệ tiêm phòng thấp nên rủi ro về dịch bệnh thường xẩy ra làm cho chăn nuôi kém hiệu quả, thậm chí còn bị lỗ
Phương thức cho ăn
Trâu và bò nuôi chủ yếu dựa vào nguồn thức ăn tự nhiên ( chăn thả 80,00- 100%) 69,1 % gia cầm ở Hóa Thượng và 98,3% gia cầm tại Khe Mo là nuôi chăn thả ĐY có hộ ở Hoá thượng và Khe Mo đY sử dụng thức ăn đậm đặc để chăn nuôi lợn Tuy nhiên với cách phối trộn của các hộ, khẩu phần chưa đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng phù hợp cho từng giai
đoạn sinh lý phát triển của lợn nên năng suất chưa cao
Năng suất chăn nuôi của các hộ điều tra
Năng suất chăn nuôi lợn thịt còn thấp: lợn thịt xuất chuồng ở 174-204 ngày chỉ đạt 59,8 kg- 64,8 kg.Năng suất chăn nuôi lợn nái biến động lớn (211,3 -311,6 kg lợn con giống/ nái/ năm) Năng suất chăn nuôi lợn nái ở Khe Mo thấp do tỉ lệ hao hụt lợn con lớn (18,5%) Tăng trọng của gà nuôi thịt còn rất thấp: chỉ đạt 1,32-1,47 kg/ con ở 169-180 ngày tuổi, do giống nội chậm lớn và điều kiện nuôi dưỡng còn hạn chế
Qua các số liệu ở trên cho thấy nhóm phụ nữ dân tộc thiểu số ở Khe Mo đang gặp nhiều trở ngại hơn trong chăn nuôi so với nhóm phụ nữ người Kinh ở xY Hóa Thượng
Tín dụng và nhu cầu về tín dụng
Điều tra về nguồn tiền mặt , kết quả cho thấy khả năng tiền mặt của các hộ rất thấp , chỉ có 988.700 đồng/ hộ tại Hóa Thượng và 250.800 đồng/ hộ tại Khe Mo Thông thường trong quá trình sản xuất các hộ ký nợ với các hộ dịch vụ vật tư, phân bón, thuốc trừ sâu, cám, lợn giống , đến khi thu hoặch họ bán và giả nợ vì vậy năng lực tiền mặt rất hạn chế
Có tới 75,0% và 88,1% số hộ được phỏng vấn tương ứng ở Hoa thuong và Khe Mo là thiếu vốn Số hộ tiếp cận với tín dụng là 48.33% ở xY Hóa Thượng và 59,32% ở xY Khe
Mo Một số hộ quá nghèo khi được hỏi lý do vì sao họ chưa tiếp cận được với tín dụng, họ cho biết rằng họ không có khả năng sử dụng vốn vay cho có hiệu quả
Theo ý kiến của phần lớn số hộ điều tra họ nói rằng thời hạn cho vay 1-2 năm là quá ngắn
và lượng tiền cho vay từ 500.000 đến 2000.000đồng / hộ là rất khó để có thể phát triển chăn nuôi
... yếu phụ nữ đảm nhiệm, phụ nữ Hóa Thượng đóng góp khoảng 78,4%và phụ nữ Khe Mo đóng góp khoảng 76% chăn ni nơng hộ
* Quyền định phụ nữ với các hoạt động kỹ thuật chăn ni nơng hộ. .. con, dựng vợ gả chồng cho cái, tham gia hoạt động xY hội,
định vợ chồng gia đình (46,8 – 80,0%)
Vị người phụ nữ xY hội
Kết điều tra cho thấy phụ nữ dân tộc Kinh phụ nữ dân... học hành, phụ nữ đảm nhiện từ 54,5- 81,5% số hộ xY Hóa Thượng
và 47,8 – 70,4% số hộ Khe Mo
56-70% số hộ xY phụ nữ tham gia bán sản phẩm chăn nuôi Những số liệu nói lên phụ nữ nơng