Nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng khoáng vi lượng hữu cơ amino axit chelate trong nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn nuôi con và lợn con giai đoạn sau cai sữa Trần Quốc Việt và Lê Văn Huyên
Trang 1Nghiên cứu hiệu quả của việc sử dụng khoáng vi lượng hữu cơ (amino axit chelate) trong nuôi dưỡng lợn nái giai đoạn
nuôi con và lợn con giai đoạn sau cai sữa
Trần Quốc Việt và Lê Văn Huyên
Bộ môn Nghiên cứu Dinh dưỡng và TACN
Đặt vấn đề
Các nguyên tố khoáng vi lượng có vai trò rất quan trọng trong dinh dưỡng động vật (là thành phần của các mô mềm và tế bào, tham gia điều khiển các quá trình sinh học trong cơ thể) Chúng có trong hầu hết các loại thức ăn nguồn gốc động, thực vật, nhưng số lượng và
đặc biệt là độ hữu dụng sinh học của các nguyên tố khoáng rất khác nhau tuỳ theo loại thức ăn Phần lớn các nguyên tố khoáng vi lượng trong thức ăn tồn tại ở dạng liên kết, trong đó có những liên kết rất bền vững (liên kết của Fe, Cu, Zn vv với axit phytic) và ở dạng này, giá trị sinh học của các nguyên tố khoáng rất thấp (Revy và ctv, 2004) Bởi vậy,
để đáp ứng nhu cầu các chất khoáng của vật nuôi, người ta thường bổ sung vào thức ăn các nguyên tố khoáng vi lượng dưới dạng các premix Trong phần lớn các loại premix khoáng
được sử dụng phổ thông hiện nay, các nguyên tố vi lượng được bổ sung dưới dạng các muối vô cơ (muối sulfat, clorua, carbonat) hoặc dưới dạng các oxyt kim loại Tuy nhiên,
độ hữu dụng sinh học của các nguyên tố khoáng dưới dạng các hợp chất vô cơ dao động rất lớn phụ thuộc vào dạng hợp chất của chúng Hơn nữa, trong đường tiêu hoá của vật nuôi, các nguyên tố khoáng vi lượng ở dạng các hợp chất vô cơ thường bị phân ly và kết hợp với các thành phần khác của thức ăn tạo thành các phức không tan và khó hấp thu và
do đó hiệu quả sử dụng của chúng cũng rất khác nhau (Ashmead, 1993) Một số nghiên cứu đW cho thấy, độ hữu dụng sinh học của các nguyên tố vi lượng tăng rõ rệt khi chúng tồn tại trong một ligand hữu cơ (Acda và ctv, 2002) Bởi vậy, đề tài này được tiến hành nhằm đánh giá hiệu quả của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ (amino axit chelate) trong nuôi dưỡng lợn nái sinh sản giai đoạn tiết sữa và lợn con sau cai sữa và xác định mức
bổ sung thích hợp của một số nguyên tố quan trọng trong khẩu phần cho lợn nái nuôi con
và lợn con giai đoạn sau cai sữa
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu
1 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung một số nguyên tố khoáng vi lượng hữu cơ (dạng amino axit chelate) ở các mức khác nhau trong khẩu phần đến một số chỉ tiêu năng suất
Trang 2sinh sản của lợn nái giai đoạn tiết sữa và mức dự trữ một số nguyên tố khoáng trong gan của lợn con
2 Nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung một số nguyên tố khoáng vi lượng hữu cơ ở các mức khác nhau trong khẩu phần đến sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai đoạn sau cai sữa
Phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm trên lợn nái nuôi con
a) Gia súc thí nghiệm
Thí nghiệm được tiến hành trên 40 lợn nái giống Landrace và Yorkshire đẻ từ lứa 2 đến lứa
5, có năng suất sinh sản tương đối đồng đều ở các lứa đẻ trước Các lợn nái được nuôi riêng từng con, chuồng cũi, sàn nhựa, thông thoáng tự nhiên, có hệ thống điều chỉnh nhiệt
độ cho lợn con và độ thông thoáng thích hợp tuỳ thuộc từng mùa 40 lợn nái được chia làm
4 lô, mỗi lô 10 con, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên
b) Thức ăn và khẩu phần
Trong giai đoạn mang thai, lợn nái ở các lô được nuôi dưỡng như nhau, bằng khẩu phần có cùng hàm lượng năng lượng, protein, axit amin và các nguyên tố khoáng đa, vi lượng Khoáng vi lượng bổ sung trong giai đoạn này ở dạng các muối vô cơ
Trước khi đẻ 7 ngày, lợn ở các lô thí nghiệm được chuyển lên chuồng đẻ và được ăn thức
ăn thí nghiệm cho đến khi cai sữa Khẩu phần cơ sở cho lợn nái được xây dựng trên cơ sở
áp dụng tiêu chuẩn ăn của NRC (1998) Sự khác biệt về thành phần của khẩu phần giữa các lô là mức bổ sung nguyên tố khoáng vi lượng dạng vô cơ và hữu cơ
- Lô I (lô ĐC) : Lợn nái được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố Fe, Cu, Mn,
Zn, Co, I ở dạng các muối vô cơ (FeSO4.7H2O; CuSO4.5H2O; MnSO4.5H2O; ZnSO4.7H2O; CoCl2.5H2O, IK) Mức bổ sung được áp dụng theo khuyến cáo của INRA 1987* (Fe: 80 mg/kg; Cu: 10 mg/kg; Mn: 40 mg/kg; Zn: 100 mg/kg; Co: 0,10 mg/kg và I : 0,6 mg/kg)
- Lô II : Lợn nái được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố vi lượng ở dạng methionine chelate Mức bổ sung tương tự như ở lô I
- Lô III : Lợn nái được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố vi lượng dạng methionine chelate Mức bổ sung bằng 75% so với khuyến cáo của INRA (1987) (Cu: 7,5 mg/kg; Mn: 30 mg/kg; Zn: 75 mg/kg; Co: 0,075 mg/kg và I : 0,45 mg/kg) Riêng hàm lượng của nguyên tố Fe tăng lên 2,5 lần so với lô I và lô II (200 mg/kg)
- Lô IV : Lợn nái được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố vi lượng dạng methionine chelate Mức bổ sung áp dụng chỉ bằng một nửa so với khuyến cáo của INRA
Trang 3(1988) (Fe: 40 mg/kg; Cu: 5 mg/kg; Mn: 20 mg/kg; Zn: 50 mg/kg; Co: 0.05 mg/kg và I : 0,30 mg/kg)
Phương thức nuôi dưỡng lợn nái trước và sau khi đẻ được áp dụng như nhau ở tất cả các lô
Kể từ ngày thứ 4 sau khi đẻ, lợn nái ở các lô được ăn tự do, nước uống sạch được cung cấp
tự do bằng hệ thống núm uống tự động
Các nguyên liệu thức ăn được sử dụng trong thí nghiệm gồm ngô, sắn khô, khô dầu đậu tương, DCP, bột đá, các axit amin tổng hợp vv Thức ăn được sản xuất dưới dạng viên (khẩu phần cho lợn nái chửa và nuôi con được trình bày ở bảng 1)
Sau khi đẻ 10 ngày, mỗi lô chọn ra 3 con lợn con tiêu biểu (cùng giống bố mẹ, cùng số lứa
đẻ, mạnh khỏe, có khối lượng trung bình toàn đàn để giết mổ, lấy mẫu gan để phân tích,
đánh giá hàm lượng của một số khoáng vi lượng trong gan Việc phân tích hàm lượng của một số khoáng vi lượng trong mẫu gan được tiến hành trên máy quang phổ hấp phụ thuộc Viện Hoá học-Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia
Thí nghiệm trên lợn con sau cai sữa
Thí nghiệm được tiến hành trên 72 lợn con giai đoạn sau cai sữa (21 ngày) đến 60 ngày tuổi chia làm 4 lô, bố trí theo kiểu khối ngẫu nhiên, mỗi lô 18 con, 3 lần lặp lại (6 con/lần lặp lại)
- Lô I (lô ĐC) : Lợn con được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố Fe, Cu, Mn,
Zn, Co, I ở dạng các muối vô cơ (tương tự như ở thí nghiệm trên lợn nái) Mức bổ sung
được áp dụng theo khuyến cáo của INRA 1987 (Fe: 100 mg/kg; Cu: 10 mg/kg; Mn: 40 mg/kg; Zn: 100 mg/kg; Co: 0,5 mg/kg và I : 0,6 mg/kg)
- Lô II : Lợn con được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố vi lượng ở dạng methionine chelate Mức bổ sung tương tự như ở lô I
- Lô III : Lợn con được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố vi lượng dạng methionine chelate Mức bổ sung bằng 75% so với khuyến cáo của INRA 1987 (Cu: 7,5 mg/kg; Mn: 30 mg/kg; Co: 0,375 mg/kg và I: 0,45 mg/kg), Riêng hàm lượng của nguyên
tố Fe và Zn tăng lên 2 lần (200 mg/kg cho mỗi nguyên tố)
- Lô IV : Lợn con được ăn khẩu phần cơ sở có bổ sung các nguyên tố vi lượng dạng methionine chelate Mức bổ sung áp dụng chỉ bằng một nửa so với khuyến cáo của INRA (1988) (Fe: 50 mg/kg; Cu: 5 mg/kg; Mn: 20 mg/kg; Zn: 50 mg/kg; Co: 0.25 mg/kg và I : 0,30 mg/kg)
Lợn con ở các lô được nuôi trên chuồng lồng, sàn nhựa, máng ăn và máng uống tự động
Trang 4Các nguyên liệu thức ăn được sử dụng gồm ngô ép đùn, khô dầu đậu tương, bột cá, bột sữa gầy (whey) DCP, bột đá, các axit amin tổng hợp vv Thức ăn được sản xuất dưới dạng viên (khẩu phần cho lợn con thí nghiệm được trình bày ở bảng 1)
Các chỉ tiêu theo dõi
Thí nghiệm trên lợn nái
1 Số lượng lợn con sơ sinh, để nuôi và lúc cai sữa 21 ngày
2 Khối lượng lợn con lúc sơ sinh và lúc cai sữa 21 ngày
3 Khối lượng lợn mẹ trước và sau khi đẻ 5 ngày và mức độ giảm khối lượng cơ thể lợn nái trong giai đoạn tiết sữa
4 Tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy trong giai đoạn theo mẹ
5 Hàm lượng một số nguyên tố vi lượng (Fe, Cu và Mn, Co, Zn) trong gan của lợn con sau khi đẻ 10 ngày
6 Lượng thức ăn ăn vào của lợn nái trong giai đoạn tiết sữa và tiêu tốn thức ăn cho 1 kg lợn con cai sữa lúc 21 ngày tuổi
Thí nghiệm trên lợn con
1 Lượng thức ăn ăn vào hàng ngày
2 Tốc độ tăng trọng của lợn con giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
3 Tỷ lệ lợn con bị tiêu chảy
4 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng
Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
Thí nghiệm sẽ được tiến hành tại trại lợn giống Thanh Hưng thuộc Trung tâm Giống vật nuôi tỉnh Hà tây trong thời gian từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 12 năm 2005
Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Các số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học bằng chương trình Minitab trên máy tính
Kết quả và thảo luận
ảnh hưởng của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng amino axit chelate đến một
số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng amino axit chelate đến một số chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái được trình bày ở các bảng 2 và
3
Trang 5Bảng 2 ảnh hưởng của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng amino axit chelate
đến một số chỉ tiêu năng suất của lợn nái
Hao hụt khối lượng lợn nái trong
giai đoạn nuôi con (kg/con)
Lượng thức ăn ăn vào hàng ngày
của lợn nái (kg/con/ng)
Ghi chú: KL = Khối lượng
Các số liệu ở bảng 2 cho thấy, sau khi đẻ 5 ngày, lợn nái ở các lô có khối lượng cơ thể trung bình từ 192,5 đến 202,2 kg và không khác nhau giữa các lô (P > 0,05) Sau thời gian nuôi con 21 ngày, thấy có sự thay đổi khá rõ rệt về khối lượng cơ thể của lợn nái ở các lô, trong đó lợn nái ở lô đối chứng có khối lượng thấp nhất (175,6 kg), lợn nái ở các lô được
ăn khẩu phần có bổ sung khoáng vi lượng dạng methionine chelate có khối lượng cơ thể cao hơn từ 4.9 đến 8.5% và sự sai khác này có ý nghĩa thống kê (P<0,05) Kết quả này thể hiện rõ ràng hơn ở chỉ tiêu hao khối lượng cơ thể sau thời gian nuôi con 21 ngày, mức hao mòn cao nhất thấy ở lợn nái ở lô đối chứng (16,9 kg) cao hơn so với các lô khác từ 29,0
đến 46,9% và sự sai khác này rất rõ rệt (P<0.01) Một trong những nguyên nhân dẫn đến
có sự khác biệt về mức hao mòn cơ thể lợn nái là sự khác biệt về lượng thức ăn ăn vào hàng ngày Trong chăn nuôi lợn nái sinh sản, mức ăn vào hàng ngày của lợn nái có ý nghĩa quyết định đến khả năng tiết sữa, nuôi con và mức độ hao mòn cơ thể trong giai đoạn tiết sữa Kết quả thí nghiệm này cho thấy, lượng thức ăn ăn vào hàng ngày của lợn nái ở các lô
được ăn khẩu phần có bổ sung khoáng vi lượng dạng methionine chelate cao hơn hẳn so với lô đối chứng (P > 0,05), đặc biệt là lợn nái ở lô được ăn mức ăn có bổ sung khoáng hữu cơ ở mức như khuyến cáo của INRA (1987) và chính sự khác biệt về khả năng ăn vào này
đW làm cho mức độ hao mòn cơ thể của lợn nái ở các lô rất khác nhau Các kết quả ở bảng
2 cũng cho thấy, lợn nái ở các lô động dục trở lại sau từ 5-6 ngày sau khi cai sữa và số ngày động dục trở lại không khác nhau giữa các lô (P> 0,05)
Bảng 3 ảnh hưởng của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng amino axit chelate đến
một số chỉ tiêu năng suất của lợn con theo mẹ
Trang 6Số lợn con sơ sinh/ổ (con) 10.72 10.70 11.10 10.50 0.58
Tỷ lệ mắc bệnh TC (%)
* Cai sữa 21 ngày
Các chỉ tiêu năng suất sinh sản của lợn nái thí nghiệm được đánh giá thông qua các chỉ tiêu trên lợn con (bảng 3) cho thấy, không có sự khác biệt về số lợn con sơ sinh, khối lượng lợn con lúc sơ sinh Điều này rất dễ hiểu, vì việc bổ sung khoáng hữu cơ chỉ được bắt đầu trước khi lợn nái vào đẻ 7 ngày và như các báo cáo trước đây của Timothy và ctv (1998) cho thấy, bổ sung khoáng các nguồn khác nhau trong khẩu phần ở giai đoạn mang thai không cải thiện được năng suất sinh sản của lợn nái Tuy nhiên, trong nghiên cứu này thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về khối lượng lợn con lúc cai sữa giữa các lô Khối lượng cai sữa lúc 21 ngày tuổi của lợn con của những nái được ăn khẩu phần có bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ cao hơn so với đối chứng và mức cao nhất ở lô lô lợn nái
được ăn khẩu phần có mức bổ sung bằng 75% so với khuyến cáo của INRA và có tăng thêm hàm lượng nguyên tố sắt (200 ppm) (lô III) Khối lượng lợn con lúc 21 ngày tuổi phản ánh khả năng tiết sữa của lợn nái, các kết quả trên cho thấy khả năng tiết sữa của lợn nái đW được cải thiện khi sử dụng khoáng hữu cơ dạng methionine chelate mà nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự cải thiện này là do lượng thức ăn ăn vào của lợn nái đW tăng lên rõ rệt
so với đối chứng Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng của lợn con lúc cai sữa ở lô III cũng thấp nhất
Tiêu chảy là chứng bệnh thường gặp của lợn con trong giai đoạn bú sữa, nguyên nhân của bệnh này rất nhiều, nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là năng suất và chất lượng sữa của lợn nái Các số liệu ở bảng 3 cho thấy, tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con do các lợn nái được ăn khẩu phần có bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ thấp hơn rõ rệt so với
đối chứng Tỷ lệ này thấp nhất ở lợn con của lợn nái được ăn thức ăn có bổ sung khoáng hưữ cơ bằng 75% so với mức khuyến cáo của INRA với hàm lượng Fe 200 ppm Các kết quả của nghiên cứu này khẳng định thêm các kết quả quả nghiên cứu đW được thông báo bởi Close (1999) khi bổ sung sắt hữu cơ vào khẩu phần bình thường cho lợn nái 7 ngày
Trang 7trước khi đẻ và trong suốt giai đoạn nuôi con 28 ngày đW cải thiện được lượng thức ăn ăn vào của lợn nái cũng như khối lượng lợn con lúc cai sữa và nghiên cứu của Dirk Fremuat (2005) trên 102 lợn nái giai đoạn tiết sữa cũng cho thấy bổ sung Zn-methionine mức 200 ppm trong khẩu phần đW làm tăng tốc độ sinh trưởng của lợn con 3% và giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con so với đối chứng
Để đánh giá thêm về hiệu quả của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ trong khẩu phần trong nuôi dưỡng lợn nái sinh sản, hàm lượng một số nguyên tố khoáng vi lượng trong gan của lợn con lúc 10 ngày tuổi được khảo sát, kết quả được trình bày ở bảng 4
Bảng 4 ảnh hưởng của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng amino axit chelate đến hàm lượng của một số nguyên tố khoáng vi lượng trong gan của lợn con lúc 10 ngày tuổi
(mg/kg VCK)
Các số liệu ở bảng 4 cho thấy, hàm lượng sắt và kẽm trong gan của lợn con từ những lợn nái được ăn khẩu phần có bổ sung khoáng hữu cơ ở mức cao (100 và 75% so với khuyến cáo của INRA, 1987) cao hơn so với đối chứng, nhưng sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P > 0,05) Cũng không thấy có sự khác biệt đáng kể về hàm lượng đồng trong gan của lợn con giữa các lô
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới rất khác nhau về hiệu quả của việc bổ sung khoáng vô cơ và hữu cơ trong nuôi dưỡng lợn nái sinh sản Theo Hooks (1964) việc cải thiện tình trạng dinh dưỡng khoáng của lợn con thông qua bú sữa mẹ là rất khó Ngược lại, theo thông báo của Carmichael và ctv (1977), bổ sung sắt hữu cơ dạng proteinate trong khẩu phần cho lơn nái đW làm tăng lượng sắt trong huyết thanh của cả lợn nái và lợn con Trong nghiên cứu này, mặc dù không thấy có sự khác biệt rõ rệt về mức dự trữ các nguyên tố Fe,
Zn và Cu trong gan của lợn con, nhưng về cảm quan lợn con ở lô mà lợn nái được ăn thức
ăn có bổ sung khoáng hữu cơ ở mức cao với Fe ở mức 200 ppm thì lông của lợn con bóng mượt hơn, da hồng hào hơn
Từ các kết quả nghiên cứu trên có thể thấy rằng, bổ sung khoáng vi lượng dạng methionine chelate với mức 100% hoặc 75% so với khuyến cáo của INRA (1987) và riêng sắt nên ở mức 200 ppm đW làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn nái giai đoạn nuôi con, cải thiện được tốc độ tăng trọng, giảm tỷ lệ tiêu chảy ở lợn con trong giai đoạn bú mẹ
Trang 8Hiệu quả của việc sử dụng khoáng vi lượng hữu cơ dạng amino axit chelate trong nuôi dưỡng lợn con giai đoạn sau cai sữa
Lợn con thường bị khủng hoảng sinh lý do cai sữa, biểu hiện rõ rệt nhất là giảm khả năng tiêu hoá, hấp thu các chất dinh dưỡng trong thức ăn và tăng tỷ lệ tiêu chảy Bởi vậy, mọi nỗ lực nuôi dưỡng lợn con trong giai đoạn này đều nhằm cải thiện năng lực hoạt động của hệ thống tiêu hóa bằng cách cung cấp cho chúng các loại thức ăn dễ tiêu, các chất dinh dưỡng
có độ hữu dụng sinh học cao Bổ sung vào khẩu phần lợn con khoáng vi lượng dạng chelate càng ngày càng được nhiều người quan tâm Các kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của việc bổ sung khoáng vi lượng dạng methionine chelate trong khẩu phần đến sinh trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy ở lợn con được trình bày ở bảng 5
Bảng 5 ảnh hưởng của việc bổ sung khoáng vi lượng hữu cơ dạng amino axit chelate đến
một số chỉ tiêu năng suất của lợn con giai đoạn sau cai sữa
Tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy (%)
Các số liệu ở bảng 5 cho thấy, lượng thức ăn ăn vào hàng ngày và tốc độ sinh trưởng của lợn con được ăn khẩu phần có bổ sung các nguyên tố khoáng vi dạng methionine chelate với mức bằng 100% và 75% so với khuyến cáo của INRA (1987) có bổ sung thêm hàm lượng sắt và kẽm) (lô II và III) cao hơn rõ rệt so với đối chứng (P < 0,05) Lượng thức ăn
ăn vào hàng ngày của lợn con ở lô II và lô III cao hơn so với đối chứng 3,3% và 10,1% Tốc độ tăng trọng của lợn con ở lô II và lô III cao hơn so với đối chứng tương ứng 13.5 và 20.2% Bổ sung khoáng vi lượng dạng methionine chelate ở mức 50% so với khuyến cáo của INRA (1987) tuy có làm tăng lượng thức ăn ăn vào và tốc độ sinh trưởng so với đối chứng nhưng ở mức chưa rõ rệt (P > 0,05) Hiệu quả chuyển hoá thức ăn thể hiện ở mức tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng tốt nhất ở lô II và lô III Qua đó cho thấy khoáng vi lượng dạng methionine chelate với mức như hoặc bằng 75% khuyến cáo của INRA (1987) có hiệu quả trong việc cải thiện tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn ở lợn con giai
đoạn sau cai sữa Có lẽ nhờ tác dụng cải thiện đó mà tỷ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy của
Trang 9lợn con ở các lô này thấp hơn đáng kể so với đối chứng (P < 0,05) Một trong những nguyên nhân khác nữa làm giảm tỷ lệ tiêu chảy của lợn con ở các lô II và đặc biệt là ở lô III có thể là ở dạng hữu cơ các nguyên tố vi lượng, đặc biệt là Zn với liều từ 100- 250 ppm
có tác dụng làm ổn định hệ vi sinh vật ruột của lợn con như thông báo của một số tác giả Ward và ctv (1996); Dirk Fremuat (2000) Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trên thế giới
về hiệu quả của việc sử dụng khoáng vi lượng hữu cơ trong nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa cũng rất khác nhau Lewis và ctv (1995) cho rằng Fe-methionine có độ hữu dụng sinh học thấp hơn so với sắt ở dạng muối sulfat Các kết quả nghiên cứu của Bi Yu và ctv (2000) cho thấy hiệu quả không rõ rệt của việc bổ sung sắt hữu cơ dạng amino axit chelate trong việc cải thiện tốc độ sinh trưởng của heo con giai đoạn sau cai sữa nhưng cải thiện được độ bóng và màu sắc của da và lông Các kết quả nghiên cứu của Zhou và ctv (1994) và Coffey
và ctv (1994) cho thấy, bổ sung đồng ở dạng Cu-lysine làm tăng tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con cai sữa so với đồng ở dạng muối sulfat Ngược lại Close (1999) đW công bố rằng tốc độ sinh trưởng của lợn con được ăn khẩu phần có bổ sung đồng hữu cơ không cao hơn so với bổ sung đồng ở dạng muối vô cơ
Kết luận và đề nghị
Kết luận
Từ các kết quả nghiên cứu như đW trình bày trên, một số kết luận được rút ra như sau:
1 Sử dụng khoáng vi lượng dạng methionine chelate như nguồn bổ sung khoáng trong khẩu phần của lợn nái giai đoạn tiết sữa đW làm tăng khả năng tiết sữa, tăng khối lượng lợn con lúc cai sữa và giảm tỷ lệ mắc bệnh tiêu chảy của lợn con giai đoạn bú mẹ so với sử dụng khoáng vi lượng dạng vô cơ Mức bổ sung thích hợp là (ppm) : Fe : 200; Cu: 7,5; Mn: 30; Zn: 75; Co: 0,075 và I : 0,45
2 Bổ sung khoáng vi lượng dạng methionine chelate trong khẩu phần đW làm tăng tốc độ sinh trưởng và hiệu quả sử dụng thức ăn của lợn con giai đoạn sau cai sữa mức bổ sung thích hợp là (ppm): Fe : 200; Cu: 7,5; Mn: 30; Zn: 200; Co: 0,375 và I : 0,45
Đề nghị
Đề nghị cho được tiến hành sản xuất thử để tiến tới sản xuất đại trà phục vụ nhu cầu sản xuất
Tài liệu tham khảo Acda S.P and B J Chae 2002 A review on the Applications of Organic Trace Mineral in Pig Nutrition Pakistan Journal of Nutrition 1 (1) 25-30
Trang 10Ashmead H.D 1993 Coparative intestinal absorption and subsequent metabolism of metal amino acid chelate and inorganic metal salt in: The role of amino acid chelate in animal nutrition Noyes Publisher New jersey 306-319 p
Bi Yu, Wei-Jan Huang, Peter Wen-Shyg Chiou 2000 Bioavailability of iron from amino acid complex in weaning pigs Animal Feed Science and Technology 86 (2000) 39-52 p
Carmicheal vµ ctv 1977 TrÝch theo Timothy M Fakler and A Bruce Johnson 1998 Iron in sow and piglet nutrition Zimpro corporation, Eden Prairie MN USA
Close W H 1999 Organic mineral for pigs: an update In Biotechnology in the feed industry Nottingham University Press Nottingham UK Pp 51-60
Coffey, R.D, G.L Cromwell and H.J Moneque 1994 Efficacy of a copper-lyssine complex as a growth promotant for weaning pigs J Anim Sci 72 2880-2886 p
Dirk Fremuat 2005 Trace mineral proteinates in mordern pig production : Reducing mineral excretion
Hooks K J 1964 TrÝch theo Timothy M Fakler and A Bruce Johnson 1998 Iron in sow and piglet nutrition Zimpro corporation, Eden Prairie MN USA
INRA 1987
Lewis, A.J, P.S Miller and C K Wolverton 1995 Bioavailability of iron in iron methionine for pigs J Anim Sci 73 (Suppl.1) 172 (Abstr)
NRC 1998
Revy, P.S, C Jondreville, J.Y Dourmad and Y Nys 2004 Effect of zinc supplemented as either an organic
or an inorganic source and of microbial phytase on zinc and other minerals utilisation by weaning pigs Animal Feed Science and Technology 116 (2004) 93-112 p
Timothy M Fakler and A Bruce Johnson 1998 Iron in sow and piglet nutrition Zimpro corporation, Eden Prairie MN USA
Zhou, W, E.T Kornegay, H van Laar, J.W.G.M Swinkels, E.A Wong and MD Lindemann 1994 The role
of feed consumption and feed efficiency in copper stimulated growth J Anim Sci 72 2385-2394 p Ward, T.L., G.L Asche, G.F Luois and D S Dollmann 1996 Zn-methionine improves growth performance
of starter pigs J Anim Sci 74 182 (Abstr)