Nhu cầu dinh dưỡng của gia súc phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất của con vật, điều kiện môi trường cũng như chất lượng của thức ăn trong khẩu phần.
Trang 1Xác định tiêu chuẩn ăn phù hợp cho nuôi dưỡng dê Boer,
Alpine, Saneen thuần ở giai đoạn tiết sữa
Nguyễn Thị Mùi 1, Đỗ Thị Thanh Vân 2, Doãn Thị Gắng 2
Nguyễn Văn Sao2 và Đinh Văn Bình 2 1
Bộ môn Nghiên cứu Đồng cỏ và Cây TAGS - Viện Chăn Nuôi
2 Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn tây, Tel: 034 838 341, Email: nguyenthimui@yahoo.com
Abstract The objective of this study was to find out the appropriate nutrient requirements for milking Boer, Alpine and Saneen goats during the first 3 months of lactation period under Vietnamese raising condition In this study,
546 goats with different body weight levels, at lactating period used, 84-96 heads of each Boer, Alpine, Saneen breed were allocated into the same 4 treatments (42-48 goats/treatment) according to different feeding levels of 90% of recommendation of NRC (1982), 100% of NRC, 110% of NRC and 100% of Devendra and McLeroy (1982) The diets consisted of forage and concentrate mixed with proportion 50:50
weight (BW) change of the does after 10 days of kidding, live weight of the kids at the kidding, at 1, 2 and 3 months after kidding and does‘s health status were used as indicaters for giving alternative feeding standards for experimental goat breeds in term of gram dry matter (DM), gram digestable protein (DP) and MJ metabolisable energy (ME)
Concentration of DP was 8.36 và ME was 10.55 MJ/kg DM intake considered as alternative feeding standards
DP was 9.18 và ME was 9.76 MJ/kg DM intake considered as alternative feeding standards
Concentration of DP was 8.46 và ME was 8.38 MJ/kg DM intake considered as alternative feeding standards
It was recommended that these findings should be introduced in Vietnam for goat production
Đặt vấn đề
Mặc dù ngành chăn nuôi hiện nay trên thế giới phần lớn dựa trên cơ sở sản xuất nông hộ,
cỡ đàn còn nhỏ, nhưng nhiều nghiên cứu trên lĩnh vực dinh dưỡng đW được đánh giá và
được coi như những mũi nhọn thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất này Việc xây dựng được tiêu chuẩn ăn cho từng đối tượng gia súc, tại các giai đoạn sản xuất khác nhau không những có ý nghĩa trong việc xây dựng khẩu phần ăn hợp lý mà nó còn có ý nghĩa trong việc lên kế hoạch thức ăn hàng năm, có kế hoạch sản xuất, thu mua, dự trữ thức ăn tại các thời điểm hợp lý làm giảm giá thành sản phẩm
Nhu cầu dinh dưỡng của gia súc phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, khả năng sinh trưởng, khả năng sản xuất của con vật, điều kiện môi trường cũng như chất lượng của thức ăn trong khẩu phần Những yếu tố như nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng có thể làm tăng hoặc giảm nhu cầu dinh dưỡng của con vật, nhưng điều này lại phụ thuộc vào vùng sinh thái (NRC, 1981) Theo McDonald và CS (1995) thì nhu cầu dinh dưỡng của gia súc tuy có thay đổi theo vùng sinh thái, khí hậu nhưng tương đối ổn định, còn khẩu phần ăn thì thay đổi rất
Trang 2nhiều Việc chọn lựa loại thức ăn để xây dựng khẩu phần ăn cần thoả mWn cân bằng về các tiêu chuẩn như năng lượng, protein, khoáng và vitamin Nếu như trong khẩu phần ăn thiếu hụt một thành phần dinh dưỡng nào đó đều có thể dẫn đến sự hạn chế về lượng thức ăn thu nhận của gia súc, khả năng tiêu hoá, hấp thu dưỡng chất và như vậy sẽ không thoả mWn
được nhu cầu dinh dưỡng và không thể đạt tới tiềm năng di truyền của giống Khả năng sản xuất cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn tối ưu của một loại giống đặc biệt nào đó có thể đạt được thông qua việc đánh giá chính xác nhu cầu dinh dưỡng của chúng
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều hệ thống đánh giá tiêu chuẩn ăn cho dê khác nhau Tuy nhiên, đối với các nước nhiệt đới, đặc biệt là các nước đang phát triển thì hệ thống đánh giá của NRC (1981) và Devendra (1982) được áp dụng phổ biến nhất do chỉ dựa trên một
số chỉ tiêu dễ áp dụng như protein thô, protein tiêu hoá (PrTH) hay năng lượng trao đổi (ME) trong khi những hệ thống khác dựa trên những chỉ tiêu khó áp dụng như PrTH ở ruột hay năng lượng thuần Tại Việt nam, chưa có công trình nghiên cứu nào về tiêu chuẩn ăn cho dê được công bố Vì vậy mục tiêu của nghiên cứu này là dựa trên cơ sở thành phần hoá học, giá trị dinh dưỡng của một số loại thức ăn ở Việt nam và tham khảo những kết quả nghiên cứu đW thu được về tiêu chuẩn ăn của NRC (1981) và Devendra (1982) để đưa ra
được tiêu chuẩn ăn thích hợp cho dê Boer, Alpine, Saneen giai đoạn tiết sữa nuôi tại Việt nam
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm và đối tượng nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành tại Trung tâm Nghiên cứu Dê và Thỏ Sơn tây và tại các nông
hộ khu vực Ba vì từ năm 2003 đến năm 2005 Đối tượng nghiên cứu là 3 giống dê cao sản nhập nội từ Mỹ (Dê Boer, Alpine, Saneen) giai đoạn tiết sữa và nuôi con, được nuôi dưỡng bằng các tiêu chuẩn ăn khác nhau theo khuyến cáo của NRC (1981) và Devendra (1982) Quản lý và cách thu thập số liệu
Dê được đeo số tai và nuôi nhốt cá thể Nhu cầu dinh dưỡng của từng gia súc được tính theo khối lượng cơ thể và năng suất sữa, được hiệu chỉnh sau 2 tuần thí nghiệm Khẩu phần
ăn bao gồm thức ăn thô xanh và thức ăn tinh, được phối chế theo tỉ lệ vật chất khô (VCK) 50:50 Do dê có tính chọn lọc cao với thức ăn thô xanh nên lượng thức ăn thô xanh thực tế
đưa vào là 120% so với lượng thức ăn tính trong khẩu phần Nước uống tự do bằng van tự
động, tảng đá liếm được treo bổ sung tại chuồng trong suốt thời gian thí nghiệm
Gia súc được cho ăn 4 bữa/ngày, sau khi sinh 1 tuần được thả vận động 2 giờ/ngày Sau đẻ
7 ngày, dê mẹ được vắt sữa 2 lần/ngày và theo dõi sản lượng sữa hàng ngày Dê con sinh ra
được ở cùng chuồng với mẹ trong suốt tuần đầu tiên, sau đó tách riêng và được bú mẹ 3 lần/ngày vào tháng đầu và 2 lần/ngày vào tháng thứ 2 và thứ 3, dê con được bú bổ sung và
ăn thức ăn tinh, thô xanh tự do bắt đầu từ tuần thứ 4
Trang 3Dê được cân khối lượng vào buổi sáng trước khi cho ăn tại thời điểm bắt đầu thí nghiêm, lặp lại sau 2 tuần thí nghiệm Dê con được cân khối lượng tại thời điểm sơ sinh; 1; 2 và 3 tháng tuổi
Thức ăn đưa vào và thức ăn thừa được theo dõi hàng ngày Mẫu thức ăn đưa vào và mẫu thức ăn thừa được lấy hàng tuần để phân tích hàm lượng các chất dinh dưỡng và sử dụng phương pháp ”invivo” để xác định tỷ lệ tiêu hoá biểu kiến và ứng dụng kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Mùi và CS (2003) để tính tỉ lệ tiêu hoá của một số loại thức ăn tinh bột và
ME
Năng suất (NS) sữa được tính bằng tổng lượng sữa vắt được hàng ngày và tổng lượng sữa
dê con bú được (cân dê con trước và sau khi bú) Mẫu sữa được lấy ở từng dê thí nghiệm vào 2 lần cố định là tuần thứ 4 tháng thứ nhất và tháng thứ 3 gửi đi phân tích chất lượng sữa
Nội dung theo dõi
Thành phần hoá học của thức ăn ăn vào, thức ăn thừa, dinh dưỡng thu nhận, NS sữa, thay
đổi khối lượng dê mẹ, dê con, chất lượng sữa
Bố trí thí nghiệm
Thí nghiệm được thiết kế theo kiểu ngẫu nhiên 2 yếu tố có lặp lại (Completed Randomize Factorial Design)
- Yếu tố thí nghiệm thứ nhất là yếu tố giống, bao gồm 3 giống dê cao sản nhập nội từ Mỹ (Dê Boer, Alpine, Saneen)
- Yếu tố thí nghiệm thứ 2 là yêú tố tiêu chuẩn ăn (khẩu phần ăn), bao gồm 4 tiêu chuẩn ăn khác nhau: công thức I (CT-I); II (CT-II); III (CT-III) và IV (CT-IV) tương ứng với 90%; 100%; 110% theo tiêu chuẩn ăn của NRC và 100% theo tiêu chuẩn ăn của Devendra (1982)
So sánh nhu cầu về ME và PrTH cho dê tiết sữa tính theo 100% nhu cầu của NRC (1981)
và Devendra (1982) thấy rằng nhu cầu về VCK cho dê đang tiết sữa có khối lượng từ
50-80 kg theo khuyến cáo của Devendra (1982) là cao hơn so với khuyến cáo của NRC (1981), nhưng đối với dê có khối lượng 40 kg điều này lại ngược lại NRC (1981) đưa ra nhu cầu ME và PrTH cao hơn so với Devendra (1982), ví dụ với dê có khối lượng 60 kg và sản xuất 1 lít sữa/ngày thì nhu cầu ăn ME và PrTH theo NRC (1981) cao hơn tương ứng là 22% và 28% so với nhu cầu ăn theo Devendra (1982)
Số lượng gia súc trong nghiên cứu là 42-48 con/công thức/giống Theo khuyến cáo của NRC (1981) và Devendra (1982) thì nhu cầu dinh dưỡng hàng ngày cho dê đang tiết sữa bao gồm nhu cầu cho duy trì và nhu cầu cho tiết sữa Nhu cầu cho tiết sữa được tính cho từng kg sữa sản xuất ra với các mức mỡ sữa khác nhau, NRC (1981) đưa ra nhu cầu cho 6 mức mỡ sữa (2,5; 3,0; 3,5; 4.0; 4,5 và 5,0%) và Devendra (1982) đưa ra nhu cầu cho 5 mức
mỡ sữa (3,5; 4.0; 4,5; 5,0 và 5,5%) Trong nghiên cứu này chúng tôi lấy nhu cầu dinh
Trang 4dưỡng cho 1 kg sữa sản xuất ra với 1 mức mỡ sữa chung là 4.0% để tính chung cho 3 giống
dê
Phương pháp sử lý số liệu
Số liệu được sử lý theo phương pháp phân tích ANOVA của phần mềm MINITAB 14.0 (Minitab, 2003) Sai khác giữa các nghiệm thức được so sánh bằng phương pháp so sánh cặp của Tukey ở mức ý nghĩa P<0.05
Mô hình thống kê sử dụng trong phân tích số liệu: Yijk=à+Ti+Bj+(TB)ij+ Pijk +eijk (1) Trong đó Yijk: các chỉ tiêu theo dõi; à: giá trị trung bình của chỉ tiêu theo dõi; Ti: ảnh
thí nghiệm
Cơ sở đưa ra kết luận
Dựa trên các chỉ tiêu NS sữa hàng ngày, sự thay đổi khối lượng cơ thể mẹ, khối lượng con sơ sinh , sau 1, 2, 3 tháng tuổi và tình trạng sức khoẻ của dê mẹ Dựa vào mức độ tập trung của các giá trị quan sát từng khẩu phần mà tại khẩu phần đó các chỉ tiêu theo dõi có xu hướng tác động tốt nhất đến năng suất sữa, khối lượng dê con thì các mức thu nhận dinh dưỡng tại khẩu phần đó được xem xét là phù hợp cho việc nuôi dưỡng dê trong giai đoạn này
Kết quả và thảo luận
Khi tính toán số liệu theo mô hình thống kê (1) chúng tôi nhận thấy có sự tương tác có ý nghĩa về mặt thống kê giữa yếu tố giống và tiêu chuẩn ăn ở hầu hết các chỉ tiêu theo dõi
Điều này có nghĩa rằng đối với các giống dê khác nhau thì tiêu chuẩn ăn tối ưu cũng khác nhau Do vậy kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày riêng theo từng giống gia súc
Tiêu chuẩn ăn cho dê Boer
giảm dần khi tăng khối lượng cơ thể từ 45-105kg (Bảng 1)
Mặc dù khi nuôi dưỡng dê lượng VCK tham khảo các tiêu chuẩn đang được đưa vào với các mức rất khác nhau khi, kết quả cho thấy không có sự khác nhau ở cả 4 công thức cho
dê có khối lượng từ 45 - 85 kg Ngoại trừ có sự sai khác nhau (ở mức P<0,05) ở CT-I so với CT-II; CT-III và CT-IV của dê có khối lượng trên 85 Kg Mức thu nhận VCK của dê giao động ở giá trị 91 - 99g và 87.5% giá trị quan sát tập trung ở mức thu nhận này mặc dù tăng hoặc giảm lượng VCK theo bố trí thí nghiệm, theo khối lượng cơ thể mẹ
Mức độ thu nhận PrTH và ME lượng VCK đưa vào thấp hơn ở CT-I và CT-II do vậy thu nhận PrTH và ME thấp hơn so với CT-III và CT-IV khi lượng VCK đưa vào cao hơn (tăng 110% và 100% Devendra) Như vậy đối với thức ăn thí nghiệm, khi giảm 10% hoặc đưa vào 100% theo NRC (1981) khuyến cao thì dê vẫn chưa chọn lọc đủ được lượng dinh dưỡng cần thiết so với tiêu chuẩn lý thuyết: lượng VCK thu nhận của dê ở các khối lượng
Trang 5cơ thể đều chỉ đạt 83 - 91% (cho dê có khối lượng 40 - 60kg và trên 65 kg) Dê nuôi dưỡng theo tiêu chuẩn 110% của NRC và 100% theo Devendra mức độ thu nhận PrTH đạt 91 - 100%; năng lượng trao đổi thu nhận đạt 92 - 100% so với mức độ đưa vào theo lý thuyết
Bảng 1: Khả năng thu nhận VCK, PrTH, ME hàng ngày của dê Boer
Công thức thí nghiệm
Thu nhận VCK, % khối lượng cơ thể
0.03
Tỷ lệ ME/ VCK thu
a,b,c, Theo hàng ngang chỉ mức độ sai khác của các số trung bình ở mức P<0.05 SE: Sai số của số trung bình
Chỉ tiêu năng suất sữa, giảm trọng dê mẹ sau 3 tháng tiết sữa và khối lượng dê con tại thời
điểm cai sữa (3 tháng tuổi) được đánh giá là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh chất lượng của khẩu phần ăn trong suốt giai đoạn tiết sữa Nhiều kết quả nghiên cứu đW chỉ ra rằng có sự tương quan thuận giữa lượng dinh dưỡng thu nhận và năng suất sữa của con vật
Trang 6cũng như chất lượng sữa của chúng Kết quả bảng 2 thấy rằng, năng suất sữa của dê Boer tương đối cao, đạt từ 1.5-2.0 lít/ngày
Dê ăn khẩu phần ăn CT-III và CT-IV đạt năng suất sữa, chất lượng sữa cao hơn và giảm trọng thấp nhất Khối lượng dê con cai sữa tại CT-IV là cao nhất (18 kg/con), cao hơn rõ rệt so với CT-I; CT-II và CT-III (15.6; 17.2 và 16.5 kg/con) Như vậy có thể thấy rằng tiêu chuẩn ăn tối ưu cho dê Boer tiết sữa tương đương nhau ở CT-III và CT-IV (Bảng 2)
Bảng 2: Năng suất sữa, thay đổi khối lượng cơ thể mẹ, khối lượng dê con qua các
tháng tuổi Công thức thí nghiệm Khối lượng cơ thể
89
68
89
2.1
Chất lượng sữa, %
Giảm khối lượng cơ thể mẹ sau 3 tháng
0.004
0.006
Khối lượng dê con qua các tháng tuổi (kg)
a,b,c,d Theo hàng ngang chỉ mức độ sai khác của các số trung bình ở mức P<0.05 SE: Sai số của số trung bình
Tiêu chuẩn ăn cho dê Alpine
có xu hướng tăng ổn định khi tăng khối lượng cơ thể từ 45-105kg (Bảng 3)
Trang 7Lượng VCK ăn vào tập trung ở mức 92 - 100g cho CT-II, CT-III, và CT-IV tuỳ theo khối lượng cơ thể và không có sự sai khác thống kê ở cả 3 công thức nuôi dưỡng trên Tương tự như dê Boer, mức thu nhận VCK của dê giao động ở giá trị 92-100g và 84.6% giá trị quan sát tập trung ở mức thu nhận này mặc dù tăng hoặc giảm lượng VCK theo bố trí thí nghiệm, theo khối lượng cơ thể mẹ Lượng PrTH và ME thu nhận hàng ngày tính theo
NS sữa tổng số cao hơn khi dê có khối lượng lớn Nhưng tính theo khối lượng cơ thể trao
đổi thì NS sữa có xu hướng ngược lại Năng suất sữa, chất lượng sữa cao hơn khi nuôi dưỡng dê ở CT-III và CT-IV so với CT-II và thấp nhất ở CT-I Tại CT-III và CT-IV khối lượng cơ thể con mẹ giảm trọng ít hơn và Dê con sau 3 tháng tuổi tăng trọng cao hơn Như vậy có thể nhận thấy rằng các mức thu nhận dinh dưỡng tối ưu của Alpine giai đoạn tiết sữa là CT-IV
Bảng 3: Thu nhận dinh dưỡng, NS sữa, thay đổi khối lượng cơ thể mẹ và khối lượng dê con
Công thức thí nghiệm Khối lượng cơ thể
Thu nhận VCK, % theo khối lượng cơ thể
0.003
Tỷ lệ ME /VCK
Tỷ lệ
Trang 8Năng suất sữa, g/ngày
85
Chất lượng sữa, %
0.19
Thay đổi khối lượng cơ thể mẹ sau 3 tháng
Khối lượng dê con qua các tháng tuổi (kg)
0.07
a,b,c, Theo hàng ngang chỉ mức độ sai khác của các số trung bình ở mức P<0.05 SE: Sai số của số trung bình
Tiêu chuẩn ăn cho dê Saneen
Lượng VCK ăn vào của dê Saneen đạt từ 3.0 đến 3.4% khối lượng cơ thể (Bảng 4) PrTH
7.4 g/kg W0.75)
ME ăn vào, mật độ ME và mật độ PrTH/1kg VCK ăn vào thấp nhất ở CT-I; không tìm thấy
sự sai khác về các chỉ tiêu này giữa CT-II; CT-III và CT-IV
CT-III và CT-IV Dê mẹ ăn khẩu phần ăn CT-III và CT-IV giảm trọng ít hơn (0.58 kg/con)
so với CT-I và CT-II (1.87 và 1.19 kg/con) và dê con tại CT-III; CT-IV có khối lượng cai sữa tương tự nhau (17.5; 16.5 kg/con) và đều cao hơn so với CT-I và CT-II (15.9 và 15.5 kg/con)
Từ kết quả trên cho thấy rằng: 2 tiêu chuẩn ăn CT-III và CT-IV đều thích hợp cho nuôi dưỡng dê Saneen đang tiết sữa Những số lượng mẫu quan sát có giá trị 95 - 98
Trang 9gVCK/kgW0.75 (3.3 - 3.4% khối l−ợng cơ thể); 8.1 - 8.3 g PrTH/kgW0.75 và 0.98 - 0.99
mức thu nhận dinh d−ỡng ở CT-III và CT-IV đ−ợc xem xét là các mức dinh d−ỡng tối −u khi mà dê Saneen trong giai đoạn tiết sữa
Bảng 4: Thu nhận dinh d−ỡng, NS sữa, thay đổi khối l−ợng cơ thể mẹ và khối l−ợng
của dê con
Công thức thí nghiệm
3.20
4.10
0.15
2.4
Trang 1045-55 78a 82a 94b 97b
0.5
0.5
Chất lượng sữa, %
0.01
0.02
Khối lượng dê con qua các tháng
a,b,c,d Theo hàng ngang chỉ mức độ sai khác của các số trung bình ở mức P<0.05 SE: Sai số của số trung bình
Trong nghiên cứu này thấy rằng khả năng thu nhận VCK của dê Boer là thấp nhất (3.1-3.2% khối lượng cơ thể), theo đó là dê Saneen (3.0-3.4% khối lượng cơ thể) và cao nhất ở
dê Alpine (3.3-3.6% khối lượng cơ thể), điều này phù hợp với tổng kết của Devendra (1982) rằng khả năng thu nhận VCK của dê hướng sữa luôn luôn cao hơn so với dê hướng thịt và dê hướng sữa tại các nước nhiệt đới có thể thu nhận lượng VCK tương đương với 4-5% khối lượng cơ thể, trong khi dê hướng thịt hiếm khi thu nhận được lượng VCK trên 3% khối lượng cơ thể Kết quả thu được trong nghiên cứu này cho thấy khả năng thu nhận của
dê Boer nuôi dưỡng các loại thức ăn trong điều kiện Việt Nam đW đạt được 3.1% so với khối lượng cơ thể
Kết luận và đề nghị
Từ những kết quả nghiên cứu trên chúng tôi có một số kết luận và đề nghị như sau:
Đối với dê đang tiết sữa và nuôi con, tiêu chuẩn ăn phù hợp hàng ngày cho dê Boer, Apline
và Saneen thuần có khối lượng cơ thể từ 35-45, 45-55, 55-65, 65-75, 75-85, 95-105 kg lần lượt là: