tiện đến chất lượng thức ăn hỗn hợp cho lợn choai trong quá trình bảo quản.. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu Thức ăn hỗn hợp cho lợn choai được kiểm tra không nhiễm E.coli, Salmonella
Trang 1ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện
đến một số giá trị dinh dưỡng trong thức ăn
hỗn hợp cho lợn choai
Hoàng Thị Phi Phượng1, Trần Thị Hạnh2 , Đậu Ngọc Hào3 và ctv
1 Viện Chăn nuôi 2, Viện Thú y 3, Cục Thú y
Tác giả để liên hệ: Hoàng Thị Phi Phượng, Trung tâm nnghiên cứu lợn Thuỵ Phương; Tel: 8448383840
E-mail: phiphuong1610@yahoo.com
Tóm tắt
3 lô thức ăn hỗn hợp cho lợn choai có tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện là 10 5 CFU/g, 10 6 CFU/g
và 10 7 CFU/g được tiến hành phân tích một số giá trị dinh dưỡng vào các thời điểm 1 tuần - 5 tuần và 9 tuần sau khi thức ăn được hỗn hợp hoàn chỉnh
Kết quả cho thấy tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện trong thức ăn đL làm giảm hàm lượng lipit và năng lượng trao đổi như sau: Hai lô thức ăn có tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện 10 6 CFU/g và
10 7 CFU/g, sau 9 tuần bảo quản, hàm lượng lipit giảm 0,71% và 0,85% (mùa đông - xuân); 0,79% và 1,00% (mùa hè - thu), năng lượng trao đổi giảm 322 và 363 kcal/kg (mùa đông - xuân); 365 và 430 kcal/kg (mùa hè -thu)
Đặt vấn đề
Công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam trong những năm qua đL có những bước tiến đáng kể Chất lượng thức ăn chăn nuôi hiện tại đL được cải thiện đáng kể song vẫn còn hiện tượng thức ăn kém chất lượng lưu thông trên thị trường Theo Gedek (1983), thức ăn chăn nuôi còn tốt hay đL bị hư hỏng đều chứa một hệ vi khuẩn đặc trưng bao gồm các họ Achromobacteriaceae, Pseudomonadaceae, Enterobacteriaceae, Micrococcaceae
và Bacillaceae Thức ăn chất lượng tốt có số lượng vi khuẩn <106CFU/g, mức cho phép tổng số vi khuẩn trong thức ăn là <4.106CFU/g và thức ăn không đảm bảo tiêu chuẩn khi tổng số vi khuẩn >5.106CFU/g (Schuh và Flascher, 1983) Trần Thị Hạnh và cs (1993) cho biết mức độ nhiễm tổng số vi khuẩn trong thức ăn hỗn hợp cho lợn là 1,384.107CFU/g thức
ăn Theo kết quả kiểm tra gần đây của Hoàng Thị Phi Phượng thì mức độ nhiễm tổng số vi khuẩn trong thức ăn hỗn hợp cho lợn choai đL giảm hơn rất nhiều (2,015.106CFU/g thức
ăn) so với những nghiên cứu trước Song, trong quá trình bảo quản, dưới tác dụng của men
do vi khuẩn tiết ra thì các chất dinh dưỡng trong thức ăn bị chuyển hoá thành các chất phục vụ cho sự tồn tại và phát triển của vi sinh vật dẫn tới mất chất dinh dưỡng trong thức
ăn Vì vậy vi sinh vật trong thức ăn vẫn là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng thức ăn cũng như sức khoẻ gia súc gia cầm Đề tài này được thực hiện nhằm mục tiêu xác định ảnh hưởng của các mức nhiễm tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ
Trang 2tiện đến chất lượng thức ăn hỗn hợp cho lợn choai trong quá trình bảo quản Từ đó làm cơ
sở cho việc xây dựng chỉ tiêu ngành về vi sinh trong thức ăn chăn nuôi
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Thức ăn hỗn hợp cho lợn choai được kiểm tra không nhiễm E.coli, Salmonella và nấm mốc; có độ ẩm trung bình là 11,24%; được chứa trong bao 2 lớp và bảo quản ở điều kiện kho tự nhiên thuộc Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương Trên cơ sở chủ động tạo các mức nhiễm số lượng vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện khác nhau, thức ăn được chia thành 3 lô và tạo mô hình lưu giữ mẫu trong 9 tuần
Lô 1: Thức ăn có mức độ nhiễm là 105CFU/g
Lô 2: Thức ăn có mức độ nhiễm là 106CFU /g
Lô 3: Thức ăn có mức độ nhiễm là 107CFU/g
Các chỉ tiêu theo dõi là hàm lượng protein, lipit và năng lượng trao đổi Thời điểm phân tích thức ăn là 1 tuần - 5 tuần và 9 tuần sau khi thức ăn được hỗn hợp hoàn chỉnh Thí nghiệm được thực hiện vào 2 mùa: mùa đông - xuân (tháng 2 đến tháng 4) và mùa hè – thu (tháng 7 đến tháng 9) Tất cả các số liệu được xử lý bằng phần mềm Minitab 13 – 2000
Kết quả và thảo luận
Biến động về tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai
Kết quả theo dõi sự biến động về tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện ở 6 cơ sở sản xuất thức ăn khác nhau (bảng 1, biểu đồ 1) cho thấy: Thức ăn của 6 cơ sở sản xuất khác nhau nhưng đều có chung một xu hướng biến động như nhau Tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện tăng dần từ tuần thứ nhất đến tuần thứ tư và sau đó lại giảm dần
đến tuần thứ 9 sau khi bảo quản Kết quả kiểm tra số lượng vi khuẩn trung bình ở tuần thứ nhất là 2,03.106CFU/g, ở tuần thứ tư tăng lên 2,84.106CFU/g và ở tuần thứ 9 lại giảm xuống 2,03.106CFU/g Sự sai khác giữa tuần thứ nhất và tuần thứ tư là rõ rệt (P<0,001) Bảng 1: Kết quả xác định tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện ở thức ăn hỗn hợp
cho lợn choai trong thời gian bảo quản
Số lượng vi khuẩn trung bình (x106CFU/g) Thời gian
Trang 39 tuần 15 2,15 a 2,16 a 1,92 a 2,11 a 1,91 a 1,92 a 2,03 a
Ghi chú: Những tham số có ký hiệu bằng những chữ cái khác nhau là sai khác có ý nghĩa P<0,05 Những tham số có ký hiệu bằng những chữ cái giống nhau là không sai khác P>0,05 D, Đ, T, Ca, P, CP là viết tắt tên các cơ sở sản xuất thức
ăn (D là Dabaco; Đ là Đại uy; T là Thanh bình; Ca là Cargill; P là Proconco; CP là CP group)
Biểu đồ 1: Biến động về tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện
ở thức ăn hỗn hợp cho lợn choai trong thời gian bảo quản
2.03 2.26
2.60 2.84
2.03
2.63
0 0.5 1 1.5 2 2.5 3
Thời gian bảo quản (tuần)
Trong thức ăn chăn nuôi, một số tác giả Schmidt (1981); Schuh at al (1983) đL đưa ra chỉ tiêu đánh giá thức ăn có chất lượng đảm bảo thì tổng số vi khuẩn nằm trong khoảng 2.106CFU/g đến 4.106CFU/g và thức ăn có chất lượng tốt thì tổng số vi khuẩn thấp hơn 2.106CFU/g Như vậy trong nghiên cứu này, sau 4 tuần bảo quản tuy tổng số vi khuẩn có tăng nhưng theo một số tác giả châu Âu thì chúng vẫn nằm trong tiêu chuẩn cho phép Tuy nhiên với khí hậu nhiệt đới nóng ẩm của nước ta, với các mức nhiễm số lượng vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện khác nhau sẽ ảnh hưởng tới chất lượng thức ăn như thế nào vẫn là một điều đáng quan tâm
ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến đến hàm lượng Protein trong quá trình bảo quản thức ăn
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến hàm lượng protein (bảng 2) cho thấy: Thức ăn bảo quản trong mùa đông - xuân, với 3 mức nhiễm là 105CFU/g - 106CFU/g và 107CFU/g, sau 1 tuần bảo quản hàm lượng protein lần lượt là 15,45% - 15,51% và 15,46%, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng protein tương ứng là 15,23% - 15,26% và 14,96% Tương tự thức ăn bảo quản trong mùa hè - thu, sau 1 tuần bảo quản hàm lượng protein lần lượt là 15,51% - 15,27% và 15,12%, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng protein tương ứng là 15,25% - 14,92% và 14,35%
Theo nghiên cứu của Nguyễn Chí Hanh, 1996 cho biết: trong quá trình bảo quản, sự biến
đổi hàm lượng protein ở ngô hạt và khô lạc tăng giảm không đáng kể Hàm lượng protein trong đậu tương hạt tăng lên ngược lại trong bột cá lại giảm đi khi bảo quản
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy với mức độ nhiễm tổng số vi khuẩn hiếu khí là
105CFU/g và 106CFU/g, ở cả hai mùa đông - xuân và hè - thu, sau 9 tuần bảo quản hàm
Trang 4lượng protein có giảm từ 0,22% - 0,35% so với thời điểm 1 tuần sau khi bảo quản, song sự sai khác này không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) Khi mức độ nhiễm tổng số vi khuẩn hiếu khí là 107CFU/g, thức ăn bảo quản trong mùa đông - xuân và hè - thu, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng protein giảm lần lượt là 0,50% và 0,77% (P<0,05)
Bảng 2: ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến hàm lượng
protein trong thức ăn hỗn hợp cho lợn choai Hàm lượng Protein (%)
Lô thí nghiệm
Ghi chú: * P<0,05
ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến đến hàm lượng lipit trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai
Kết quả xác định ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến hàm lượng lipit trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai được trình bày ở bảng
3, biểu đồ 2
Thức ăn bảo quản trong mùa đông - xuân, với 3 mức độ nhiễm tổng số vi khuẩn hiếu khí là
105CFU/g - 106CFU/g và 107CFU/g, sau 1 tuần bảo quản hàm lượng lipit lần lượt là 5,02%-5,09% và 5,03%, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng lipit tương ứng là 4,47% - 4,38%
và 4,18% Tương tự thức ăn bảo quản trong mùa hè - thu, sau 1 tuần bảo quản hàm lượng lipit lần lượt là 5,05% - 5,06% và 5,07%, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng lipit tương ứng là 4,33% - 4,27% và 4,07%
Thức ăn thực vật và bột cá có hàm lượng các axit béo không no cao vì vậy dễ xảy ra hiện tượng oxy hoá các axit béo không no và sự thuỷ phân lipit do tác dụng của men lipaza và lipoxydaza của vi sinh vật và bản thân thức ăn Phân tích kết quả kiểm tra hàm lượng lipit trong thí nghiệm này chúng tôi thấy: Thức ăn có tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện là 105CFU/g được bảo quản trong hai mùa đông - xuân và hè - thu, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng lipit giảm 0,55% và 0,72% (P<0,05) Tương tự, thức ăn có tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện là 106CFU/g, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng lipit giảm 0,71% và 0,79% (P<0,01) Thức ăn có tổng số vi khuẩn 107CFU/g, sau 9 tuần bảo quản hàm lượng lipit giảm 0,85% và 1,00% (P<0,001)
Bảng 3: ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến hàm lượng lipit
trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai
Hàm lượng lipit (%)
Trang 5Mùa đông – xuân Mùa hè - thu Lô thí nghiệm
Ghi chú: * P<0,05; * * P<0,01; *** P<0,001;
Biểu đồ 2: ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn đến hàm lượng lipit
trong thức ăn hỗn hợp cho lợn choai
0 1 2 3 4 5 6
10^5 CFU/g 10^6 CFU/g 10^7 CFU/g10^5CFU/g10^6 CFU/g 10^7 CFU/g
Thời gian bảo quản và số lượng vi sinh vật có trong thức
ăn
1 tuần
5 tuần
9 tuần
ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến đến mức năng lượng trao đổi trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai
Kết quả xác định ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến mức năng lượng trao đổi trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai được trình bày
ở bảng 4 và biểu đồ 3
Thức ăn bảo quản trong mùa đông – xuân, với 3 mức độ nhiễm tổng số vi khuẩn hiếu khí
và yếm khí tuỳ tiện là 105CFU/g - 106CFU/g và 107CFU/g, sau 1 tuần bảo quản mức năng lượng trao đổi lần lượt là 3103 - 3076 và 3052 kcal/kg, sau 9 tuần bảo quản mức năng lượng trao đổi tương ứng là 2841 - 2754 và 2689 kcal/kg Tương tự thức ăn bảo quản trong mùa hè - thu, sau 1 tuần bảo quản mức năng lượng trao đổi lần lượt là 3016 - 3062 và 3075 kcal/kg, sau 9 tuần bảo quản mức năng lượng trao đổi tương ứng là 2738 - 2697 và 2645 kcal/kg
Hiện tượng hô hấp làm cho chất bột trong thức ăn giảm dần, độ ẩm và nhiệt độ tăng lên, men oxydaza hoạt động mạnh, vi sinh vật phát triển, men thuỷ phân của vi sinh vật và bản thân thức ăn sẽ phân giải các chất dinh dưỡng làm cho thức ăn bị hư hỏng Kết quả kiểm tra mức năng lượng trao đổi cho thấy, thức ăn có tổng số vi khuẩn hiếu khí 105CFU/g được bảo quản trong hai mùa đông – xuân và hè – thu, sau 9 tuần bảo quản mức năng lượng trao
đổi giảm 262 kcal/kg và 278 kcal/kg (P<0,05) Tương tự, thức ăn có tổng số vi khuẩn hiếu khí 106CFU/g, sau 9 tuần bảo quản mức năng lượng trao đổi giảm 322 kcal/kg và 365 kcal/kg(P<0,01) Thức ăn có tổng số vi khuẩn hiếu khí 107CFU/g, sau 9 tuần bảo quản mức năng lượng trao đổi giảm 363 kcal/kg và 430 kcal/kg (P<0,001)
Trang 6Bảng 4: ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến mức năng lượng
trao đổi trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai
Mức năng lượng trao đổi (Kcal/kg)
Lô thí nghiệm
Ghi chú: * P<0,05; * * P<0,01; *** P<0,001
Biểu đồ 3: ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn đến mức năng lượng trao đổi trong thức ăn hỗn hợp cho lợn choai
2400 2500 2600 2700 2800 2900 3000 3100 3200
10^5 CFU/g 10^6 CFU/g 10^7 CFU/g 10^5 CFU/g 10^6 CFU/g 10^7 CFU/g
Thời gian bảo quản và số lượng vi sinh vật có trong
thức ăn
5 tuần
9 tuần
Kết luận và đề nghị
Kết luận
Trong quá trình bảo quản thức ăn hỗn hợp cho lợn choai, vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đL làm giảm hàm lượng lipit và năng lượng trao đổi Đặc biệt là thức ăn có số lượng vi khuẩn là 106CFU/g, sau 9 tuần bảo quản, hàm lượng lipit giảm 0,71% (mùa đông – xuân)
và 0,79% (mùa hè – thu), mức năng lượng trao đổi giảm 322 kcal/kg (mùa đông – xuân) và
365 kcal/kg (mùa hè – thu) Thức ăn có số lượng vi khuẩn là 107CFU/g, sau 9 tuần bảo quản, hàm lượng lipit giảm 0,85% (mùa đông – xuân) và 1,00% (mùa hè – thu), mức năng lượng trao đổi giảm 363 kcal/kg (mùa đông – xuân) và 430 kcal/kg (mùa hè – thu)
Đề nghị
Nghiên cứu tiếp ảnh hưởng của tổng số vi khuẩn hiếu khí và yếm khí tuỳ tiện đến sự biến chất của protein và lipit trong quá trình bảo quản thức ăn chăn nuôi
Tài liệu tham khảo
Lê DoPn Diên (1989) Nâng cao chất lượng nông sản, tập II, NXB Nông nghiệp, Hà Nội
Trần Thị Hạnh, Kiều Thị Dung (1993) Vi sinh vật trong thức ăn hỗn hợp của lợn và nguyên liệu sản xuất thức ăn Tạp chí Khoa học – Công nghệ và Quản lý kinh tế Tr 331 – 333
Nguyễn Chí Hanh (1996) Nghiên cứu, đánh giá chất lượng thành phần nguyên liệu thức ăn gia cầm, Luận án phó tiến sĩ Khoa học Nông nghiệp
Trang 7§Ëu Ngäc Hµo vµ TrÇn ThÞ H¹nh (1995) Nghiªn cøu sù « nhiÔm vi sinh vËt trong thøc ¨n tæng hîp dïng cho ch¨n nu«i B¸o c¸o khoa häc ViÖn thó y 1995
Ph¹m V¨n Sæ, Bïi ThÞ Nh− ThuËn (1975) KiÓm nghiÖm l−¬ng thùc thùc phÈm, NXB Khoa häc Kü thuËt, Hµ Néi
Anjali V , Vaidya A vµ Dharam V (1989) Changes in the oil in stored groundnut due to aspergilus niger and A.flavus, Indian Phytopathology, 42:4, 525-529
Bakker F W, Arkema (1991) Basic principles of grain drying, Mycotoxin prevention and control in food grain, AGPP Publication, Dec - 1991, Bangkok, p 235-236