ảnh hưởng của cai sữa tại chỗ đến sinh trưởng lợn con đến 60 ngày tuổi Nguyễn Ngọc Phục, Trịnh Hồng Sơn Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thuỵ Phương Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Phục, Trung tâm
Trang 1ảnh hưởng của cai sữa tại chỗ đến sinh trưởng lợn con
đến 60 ngày tuổi
Nguyễn Ngọc Phục, Trịnh Hồng Sơn Trung tâm Nghiên cứu Lợn Thuỵ Phương Tác giả liên hệ: Nguyễn Ngọc Phục, Trung tâm nghiên cứu lợn Thuỵ Phương
Tel : (84) 4 8389774; Fax: (84) 48389966; E-mail: phuc_vcn@yahoo.com
Abstract
Weaning is a stressful factor to early weaned piglets Current study was designed to examine effects of leaving in farrowing rooms for one week of newly weaned piglets on their growth, heath status and feed conversion rates (FRC) Two randomised block designed experiments were conducted with 233 piglets from weaning at 21 days to 60 days of age It was shown that remaining the newly weaned piglets in farrowing rooms for a week after moving their sows have improved their tolerance to weaning stress resulting in an increase in growth rates of about 3-10,3%, reduction in numbers of “post-weaning lag” piglets and decreased FCR up to 8,7% for the post weaning period from 21 to 60 days of age
Đặt vấn đề
ở nước ta hiện nay cai sữa lợn con lúc 21 ngày tuổi được xem là cai sữa sớm nhưng đang trở thành phổ biến trong các trại chăn nuôi lợn ngoại do ưu điểm giảm khoảng cách lứa đẻ
và số lứa đẻ/nái/năm, do đó tăng số lợn con cai sữa/nái/năm Tuy nhiên sự phát triển của lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi rất khác nhau, tuỳ theo các phương pháp cai sữa, chất lượng thức ăn cũng như điều kiện môi trường ở mỗi trại
Các nghiên cứu khác nhau đ\ khẳng định cai sữa gây ra nhiều yếu tố stress bất lợi cho khả năng sinh trưởng và sức kháng bệnh của lợn (Blecha et al 1983; Funderburke & Seerley 1990; Pluske & Williams 1996) Các yếu tố stress đó bao gồm việc thay đổi đột ngột thức
ăn, chuyển sang chuồng mới, xáo trộn khi ghép đàn với các cá thể lạ Trong sản xuất người
ta sử dụng nhiều biện pháp nhằm làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố bất lợi đó để tăng năng suất lợn con ở 60 ngày tuổi, trong đó có phương pháp chuyển lợn nái mẹ đi và để lợn con cai sữa lại tại chỗ một tuần sau đó mới chuyển sang chuồng sau cai sữa
Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của phương pháp này đến sự sinh trưởng, mức tiêu tốn thức
ăn và sức sống của lợn con giai đoạn sau cai sữa từ 21-60 ngày tuổi chúng tôi đ\ tiến hành
đề tài nghiên cứu "ảnh hưởng của cai sữa tại chỗ đến sinh trưởng lợn con đến 60 ngày tuổi"
Nội dung và phương pháp nghiên cứu
Thí nghiệm được tiến hành lặp lại lần trên tổng số 233 lợn con lai 3 giống (Landrace x Yorkshire x Duroc) trong đó mỗi thí nghiệm gồm 2 lô thí nghiêm (TN) và đối chứng (ĐC) Lợn con thí nghiệm ở các lô của mỗi thí nghiệm có ngày tuổi, tính biệt và khối lượng tương đương nhau Lợn con được tập ăn từ 7 ngày tuổi và cai sữa lúc 21 ngày tuổi
Trang 2Vào ngày cai sữa lợn con thuộc lô TN được để lại nguyên theo từng ổ tại ô lợn nái đẻ và lợn nái mẹ được chuyển đi nơi khác Một tuần sau đó (4 tuần tuổi) tất cả lợn con lô TN
được chuyển sang khu chuồng nuôi lợn con sau cai sữa Ngược lại, lợn con của lô ĐC được chuyển ngay trong ngày cai sữa sang chuồng nuôi lợn con sau cai sữa ở chuồng nuôi sau cai sữa, lợn con thuộc mỗi lô được chia nuôi tập trung từ 18-20 con trong một ô chuồng có máng ăn và vòi uống nước tự động Lợn được nuôi bằng thức ăn hỗn hợp viên hoàn chỉnh theo chế độ ăn tự do trong cả giai đoạn thí nghiệm từ bắt đầu cai sữa đến kết thúc thí nghiệm (60 ngày tuổi)
Khối lượng cá thể lợn con được cân vào lúc 21, 28, 35 và 60 ngày tuổi và lượng thức ăn tiêu thụ của mỗi lô được cân vào lúc 28, 35 và 60 ngày tuổi, đồng thời lợn con được theo dõi tình hình bệnh tật và số lợn con chết trong giai đoạn thí nghiệm Các chỉ tiêu theo dõi gồm: khối lượng cá thể và tăng trọng bình quân/ngày (ADG) lợn con và khối lượng thức ăn tiêu thụ của từng lô tại các thời điểm nói trên, số lợn con tiêu chảy
Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý thống kê theo phương pháp GLM trên phần mềm MINITAB 13.- 2000 Giá trị trung bình bình phương tối thiểu và sai số chuẩn (Mean ± SE)
được sử dụng để so sánh các chỉ tiêu khối lượng lợn con và ADG qua các giai đoạn tuổi khác nhau của 2 nhóm TN và ĐC
Thời gian và địa điểm: Thí nghiệm được tiến hành từ tháng 4 đến tháng 12 năm 2005 tại Trại lợn giống hạt nhân Tam Điệp
Kết quả và thảo luận
Sinh trưởng của lợn con
Thí nghiệm 1
Bảng 1a Khối lượng lợn con (kg) tại các giai đoạn tuổi khác nhau của Thí nghiệm I
Ghi chú: * : P<0,05; ns P>0,05
Khối lượng lợn con tại các thời điểm khác nhau tại Bảng 1a cho thấy lợn con bắt đầu vào thí nghiệm tương đối đồng đều (5,86 kg và 5,73 kg, P>0,05) Tại thời điểm 28 ngày tuổi
và kết thúc thí nghiệm, lợn con Lô TN I cân nặng hơn lô ĐC I tương ứng 0,91 kg/con và 1,82 kg/con Tại Bảng 1b, kết quả ADG của lợn con ở các tuần tuổi có biến động lớn Trong tuần đầu sau tách mẹ, ADG của lợn con Lô TN I đạt cao gấp đôi so với Lô ĐC I (222,71 g/ngày so với 110,53 g/ngày, P<0,05) Tuy nhiên trong tuần tiếp theo, lợn con Lô
ĐC lại lớn nhanh hơn so với lô TN I (335,71 g/ngày so với 228,94 g/ngày, P<0,05) Thời gian còn lại của thí nghiệm, lợn con Lô TN I có mức ADG cao hơn Lô ĐC I khoảng 12%
Trang 3(536,92 g/ngày so với 470,42 g/ngày) Tính chung toàn kỳ từ ngày cai sữa đến lúc kết thúc thí nghiệm lợn con Lô TN I đạt mức ADG cao hơn Lô ĐC I 10,3% (276,41 g/ngày so với
248 g/ngày, P<0,05)
Bảng 1b Tăng trọng bình quân (g/ngày) tại các giai đoạn tuổi khác nhau
của Thí nghiệm I Lô TN I (n=39) Lô ĐC I (n=38)
Ghi chú: * P<0,05
Thí nghiệm 2
Bảng 2a Khối lượng lợn con (kg/con) tại các giai đoạn tuổi khác nhau của Thí nghiệm II
Ghi chú: * : P<0,05; ns P>0,05
ở thí nghiệm II, khối lượng lợn con bắt đầu thí nghiệm (5,73 kg/con và 5,69 kg/con), tại
35 ngày tuổi (8,53 kg/con và 8,10 kg/con) và kết thúc thí nghiệm (18,85 kg/con và 18,45 kg/con) đều tương đương nhau (P>0,05 (Bảng 2a) Tuy vậy, khối lượng sau cai sữa 1 tuần (28 ngày tuổi) có sự chênh lệch đáng kể (P<0,05), trong đó Lô TN II đạt 7,15 kg/con trong khi Lô ĐC II chỉ đạt 6,25 kg/con) Kết quả về ADG của các lô Thí nghiệm II (Bảng 2b) trong 2 tuần đầu sau khi tách mẹ cũng giống như trong Thí nghiệm I Trong tuần đầu tiên sau cai sữa, lợn con Lô TN II có ADG (202,17 g/ngày) cao hơn Lô ĐC II (79,96 g/ngày) tới 122,21 g/ngày (60,45%) Ngược lại sang tuần tiếp theo Lô ĐC II lại đạt mức ADG (263,45 g/ngày) cao hơn lô TN II (197,11 g/ngày) là 25,18% Tuy nhiên, trong giai
đoạn còn lại của thí nghiệm lợn của 2 lô đều có mức ADG tương đương nhau (413,11 g/ngày và 414,23 g/ngày, P>0,05) Tính chung toàn kỳ, ADG của Lô TN II cao hơn Lô
ĐC II khoảng 3% nhưng chưa đủ độ tin cậy có ý nghĩa (P>0,05)
Như vậy, việc chuyển chuồng và ghép đàn ngay sau cai sữa đ\ ảnh hưởng rất nhiều đến sự sinh trưởng và phát triển của lợn con giai đoạn đầu tiên sau cai sữa Trong cả 2 thí nghiệm trên, lợn con ngay trong tuần đầu sau khi chuyển sang chuồng sau cai sữa và ghép đàn đều tăng trọng chậm hơn Kết quả nghiên cứu của Funderburke & Seerley, R.W (1990) cho thấy khi ghép đàn sau cai sữa đ\ làm giảm tốc độ sinh trưởng của lợn do các yếu tố stress gây ra
Trang 4Bảng 2b Tăng trọng bình quân (g/ngày) tại các giai đoạn tuổi khác nhau
của Thí nghiệm II
Ghi chú: * P<0,05; ns P>0,05
ở thời điểm 28 ngày tuổi, nhóm ĐC đ\ qua tuần đầu tiên sau cai sữa phải chịu ngay tác
động của các yếu tố stress gây ra do ghép đàn và thay đối chỗ ở, trong khi đó nhóm TN phải bị ảnh hưởng của các tác động này ở thời điểm sau 28 ngày tuổi, muộn hơn một tuần
so với các nhóm ĐC Mặc dù các yếu tố stress đều tác động không tốt đến sự phát triển và tăng trọng của cả 2 nhóm nhưng nhóm TN bị ảnh hưởng ít hơn có thể vì bị tác động muộn
và hơn vào lúc có khối lượng lớn hơn ảnh hưởng của sự tác động này có thể kéo dài đến tận 60 ngày tuổi vì khả năng phát triển và tăng trọng của nhóm TN luôn cao hơn nhóm ĐC trong cả thời gian thí nghiệm cũng như toàn kỳ Tuy nhiên điều này chưa có đủ độ tin cậy
về thống kê trong thí nghiêm II
Tỉ lệ lợn con mắc bệnh tiêu chảy và không tăng trọng sau cai sữa
Tại Bảng 3, kết quả cho thấy lợn con trong các lô TN I và TN II có tỉ lệ tiêu chảy đều thấp hơn so với Lô ĐC I và ĐC II từ 2,7% đến 5% Tương tự, khả năng tăng trọng cũng giảm đi nhiều ở lợn con lô ĐC Kết quả Bảng 3 cho thấy rằng không có ( ở Lô TN I) hoặc rất ít (1,3% ở Lô TN II) lợn con được cai sữa tại chỗ không tăng hoặc giảm khối lượng sau tuần
đầu tách mẹ, trong khi đó đở Lô ĐC, tỉ lệ này luôn cao ở mức 10,5% đến 25,3% Điều này cho thấy rằng lợn con ở lô ĐC chịu tác động do cai sữa mạnh hơn so với lợn con Lô TN Bảng 3 Tỉ lệ lợn con tiêu chảy và không tăng trọng trong tuần đầu sau cai sữa
Không tăng trọng 0/39 (0%) 4/38 (10,5%) 1/77 (1,3%) 20/79 (25,3%) Theo Blecha et al (1983) hoạt động của hệ thống miễn dịch của lợn con bị suy giảm khi lợn con cai sữa sớm ở 3 tuần tuổi, nhất là tuần đầu và tuần thứ 2 sau cai sữa Đồng thời theo Pluske & Williams (1996) khi ghép lợn con thuộc các đàn khác nhau cũng làm tăng các tổn thương do cắn nhau nhưng lại không thấy có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của lợn con Có thể thấy rằng ngay từ ngày đầu cai sữa, lợn con của các lô ĐC phải chịu đồng thời stress gây ra do cai sữa, ghép đàn và thay đổi chỗ ở trong khi các lô TN chỉ chịu tác
động của một yếu tố stress đầu tiên
Như vậy, lợn con khi cai sữa để lại tại chỗ và chuyển chỗ ở và ghép đàn muộn ít nhất một tuần sau đó có thể có sức sống tốt hơn và phát triển nhanh hơn do có khả năng chịu đựng cao hơn đối với tác động của stress
Trang 5Tiêu tốn thức ăn
Bảng 4 Tiêu tốn thức ăn (kg/kg) của lợn con sau cai sữa đến 60 ngày tuổi
Kết quả về tiêu tốn thức ăn tại Bảng 4 cho thấy tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng trọng của lô
TN I và TN II đều thấp hơn so với lô ĐC I và ĐC II tương ứng từ 9 - 42% và 1,3 – 16,5%, trừ tuần thứ 2 sau cai sữa ở TN I Giai đoạn này tiêu tốn thức ăn của lô TN cao hơn lô ĐC 0,41kg (36%) Tính chung toàn, kỳ tiêu tốn thức ăn cho mỗi kg tăng trọng của các lô TN thấp hơn các lô ĐC là 4,2-8,7%)
Như đ\ trình bày ở trên, các yếu tố stress do ghép đàn và chuyển chuồng đ\ ảnh hưởng đến chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng Theo O’connell et al (2004) hiệu quả sử dụng thức
ăn tốt hơn ở đàn lợn con ghép ít cá thể so với ở đàn ghép nhiều cá thể Trong thí nghiệm trên, cả 2 lô của mỗi thí nghiệm đều xảy ra hiện tượng lợn con chậm lớn hơn và tiêu tốn thức ăn cũng tăng lên trong tuần đầu sau khi chuyển chuồng và ghép đàn Tuy nhiên, nếu chuyển chuồng và ghép đàn muộn hơn (lô TN I và TN II) thì lợn con có thể chịu đựng
được tốt hơn các yếu tố stress nói trên và do đó các lô TN có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả hơn
Kết luận và đề nghị
Kết luận
Cai sữa tại chỗ lợn con lúc 3 tuần tuổi bằng cách để lại lợn sau cai sữa 1 tuần tại chuồng lợn nái đẻ và chuyển lợn mẹ đi có tác dụng làm giảm ảnh hưởng của stress đến lợn con và dẫn đến khả năng tăng trọng cao hơn từ 3-10,3%, hạn chế tỉ lệ lợn con tiêu chảy, đồng thời giảm chi phí thức ăn của lợn từ cai sữa đến 60 ngày tuổi đến 8,7% so với lợn con chuyển đi
và ghép đàn ngay sau tách khi mẹ để cai sữa
Đề nghị
Những kết quả nghiên cứu trên đây có thể áp dụng rộng r\i trong sản xuất chăn nuôi lợn
Tài liệu tham khảo Blecha, F., Pollman, D.S & Nichols, D.A (1983) Weaning pigs at an early age decreases cellular immunity Journal of Animal Science, 56: 396-400
Funderburke, D.W & Seerley, R.W (1990) The effects of postweaning stressors on pig weight change, blood, liver and digestive tract characteristics Journal of Animal Science 68: 155-162
O’Connell, N.E., Beattie, V E & Weatherup, R.N (2004) Influence of group size during the post-weaning period on the performance and behaviour of pigs Livestock Production Science, 86: 225-232
Pluske, J.R & Williams, I.H (1996) Reducing stress in piglets as a means of increasing production after weaning: administration of amperozide or co-mingling of piglets during lactation? Animal Science, 62: 121-130