1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn

9 373 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 175,55 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Địa điểm Các thí nghiệm đóng bánh thử, xác định tỷ lệ phân giải dạ cỏ in sacco và tỷ lệ tiêu hoá in vivo được tiến hành tại Bộ môn nghiên cứu bò và Trạm nghiên cứu thử nghiệm thức ăn gia

Trang 1

Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ

nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn

Đinh Văn Tuyền, Vũ Chí Cương, Phạm Bảo Duy

Bộ môn Nghiên cứu Bò

Abstract Six compounds inwhich casava hay meal accounted for 65 to 70% of the dry matter, were formulated and tested for their ability of pelleting Other ingredients included cassava meal (0-15%), maize meal (10%), and molasses (10-20%) Results of the pelleting test showed that all coumpounds could be firmly pelleted by using a semi-automatic pelleting machine The water content of the 2 day sundried pellets was 8-10% a level

at which the feed can be stored for long Results of chemical analysis showed that all formula had similar content of organic matter, crude protein, and NDF Consequently, two out of the six fomula were randomly selected for determination of in sacco degradibility on ruminally fistulated steers and in vivo digestibility on sheep The in sacco experiment showed that, after 24h of incubation, at least 30% of the protein in the pellet by-passed rumen of the steer and that the rate of degradation of protein is relatively low The in vivo digestibility of dry matter (62%) and protein (61%) was also low However, the values of PDIE (intestinally digestible protein when energy is the limiting factor for the development of ruminal microorganisms; 106 and 102 for formula number 2 and 5 respectively) and PDIN (intestinally digestible protein when nitrogen is the limiting factor for the development of ruminal microorganisms; 111 and 101 for formula number 2 and 5, respectively) were similar which indicated a potentially stable supply of the intestinally digestible proteins

Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây kinh tế của nước ta ngày càng phát triển, do đó nhu cầu về thực phẩm ngày càng cao Một trong những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao và đang được người tiêu dùng quan tâm là sữa, trong đó chủ yếu là sữa bò Chính vì vậy Nhà nước đS có chủ trương đẩy mạnh phát triển ngành chăn nuôi bò sữa, thể hiện qua quyết định số 167/2001/QĐ/TT về chính sách phát triển bò sữa giai đoạn 2001- 2010 Mục tiêu của ngành chăn nuôi bò sữa là phấn đấu đến năm 2010 có 200,000 bò sữa và sản xuất được 350,000 tấn sữa, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu tiêu dùng trong nước Để đạt được mục tiêu trên ngoài việc quan tâm về giống còn cần chú ý đến việc cung cấp đủ nguồn thức ăn cho

bò sữa

Do điều kiện tự nhiên của Việt nam việc sản xuất thức ăn thô xanh cho gia súc nhai lại nói chung và bò sữa nói riêng còn nhiều hạn chế Đặc biệt là sự khan hiếm thức ăn vào thời

điểm mùa khô đS làm ảnh hưởng tới việc phát triển chăn nuôi Chính vì vậy, một trong những hướng giải quyết được quan tâm từ nhiều năm nay là nghiên cứu để tận dụng các nguồn phụ phế phẩm công, nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi, kể cả chăn nuôi bò sữa Những năm qua đS có nhiều công trình nghiên cứu sử dụng các loại phụ phẩm của ngành trồng trọt làm thức ăn cho bò sữa trong đó có các nghiên cứu sử dụng các sản phẩm của

Trang 2

cây sắn Do nhu cầu về tinh bột sắn của thị trường trong nước và các thị trường lân cận như Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan vv…đang tăng mạnh, diện tích trồng sắn đS tăng lên

đáng kể – từ 220 ngàn ha năm 1999 lên 380 ngàn ha năm 2004 Như vậy hàng năm các địa phương trồng sắn sản xuất hàng trăm tấn lá sắn sau thu hoạch

Các nghiên cứu gần đây cho thấy lá sắn là nguồn thức ăn giàu đạm, dễ tiêu hoá, có thể bổ sung trong khẩu phần cho bò sữa (Hong và cs, 2003) Hơn nữa, nguồn protein trong bột lá sắn có tỷ lệ thoát qua dạ cỏ khá cao nên có thể nói bột lá sắn là nguồn thức ăn bổ sung protein có giá trị cho bò sữa (Wanapat, 2000, 2003) Cũng cần phải lưu ý là trong lá sắn có chứa một lượng chất phi dinh dưỡng, có thể ảnh hưởng đến sức khoẻ và khả năng sản xuất của bò sữa như axit xianhidric và tannin, tuy nhiên những chất này dễ dàng bị khử trong các quá trình chế biến như ủ chua, phơi khô, chế biến thức ăn viên

Chế biến thức ăn viên ở qui mô nhỏ, phù hợp với chăn nuôi bò sữa ở qui mô nông hộ hiện còn khá mới ở nước ta Tương tự, việc nghiên cứu sử dụng bột lá sắn làm thức ăn viên cho

bò sữa cũng chưa được tiến hành Trong khi đó ở một số địa phương trồng nhiều sắn, hàng năm có một lượng lớn lá sắn không được tận dụng cho chăn nuôi mà bị bỏ phí ngoài ruộng Xuất phát từ tình hình thực tế đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Bước đầu nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ thức ăn chính là bột lá sắn và bột sắn”

Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Nội dung

Xây dựng một số công thức phối trộn và ép thử thức ăn viên từ nguồn nguyên liệu chính là bột lá sắn khô có bổ sung thêm bột sắn, rỉ mật đường và bột ngô

Xác định tỷ lệ phân giải dạ cỏ của thức ăn đS được ép viên

Xác định tỷ lệ tiêu hoá và ước tính giá trị dinh dưỡng của 2 công thức thức ăn ép viên

Địa điểm

Các thí nghiệm đóng bánh thử, xác định tỷ lệ phân giải dạ cỏ in sacco và tỷ lệ tiêu hoá in vivo được tiến hành tại Bộ môn nghiên cứu bò và Trạm nghiên cứu thử nghiệm thức ăn gia súc, Viện Chăn Nuôi Thí nghiệm ép viên được thực hiện tại Trung tâm nghiên cứu bò và

đồng cỏ Ba vì, Hà Tây

Nguyên vật liệu

Các công thức phối trộn hỗn hợp thức ăn để ép viên thử nghiệm được xây dựng từ bột lá sắn khô, bột sắn, bột ngô và rỉ mật đường Các công thức này trước hết được trộn thử, đóng khuôn bằng gỗ để kiểm tra khả năng kết dính và bảo quản Sau khi đS đóng khuôn thử, các

Trang 3

công thức đảm bảo được yêu cầu về độ kết dính tiếp tục được thử nghiệm trên máy ép viên bán tự động để kiểm tra khả năng ép viên và phơi sấy bảo quản của thức ăn viên

Thí nghiệm xác định khả năng phân giải dạ cỏ của chất khô và protein thức ăn viên được tiến hành trên 4 bò lai Sind mổ lỗ dò Thí nghiệm xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo được thực hiện trên 10 cừu nuôi trong cũi trao đổi chất tại Trung tâm nghiên cứu và thử nghiệm thức

ăn chăn nuôi

Phương pháp

Thí nghiệp đóng khuôn và ép viên

Các nguyên liệu thức ăn gồm bột lá sắn, bột sắn, bột ngô và rỉ mật đường được phối trộn theo tỷ lệ thể hiện trong 6 công thức trình bày ở Bảng 1 Trình tự phối trộn các nguyên liệu như sau : bột sắn trước hết được trộn với bột ngô, sau đó hỗn hợp này được trộn với bột lá sắn Rỉ mật đường được hoà với nước theo tỷ lệ 1 rỉ mật 2 nước rồi tưới, trộn đều với hỗn hợp bột sắn và lá sắn nói trên Sau đó hỗn hợp này được cho vào khuôn và nén chặt tạo bánh Bánh thức ăn này được phơi dưới ánh nắng mặt trời và theo dõi sự biến đổi về chất khô và khả năng bảo quản

Việc ép viên thức ăn hỗn hợp này cũng được tiến hành tương tự như quá trình đóng khuôn tạo bánh Hỗn hợp bột khô được trộn với dung dịch rỉ mật rồi đưa vào máy ép viên Kích thước chiều dài của viên được điều chỉnh bởi khoảng cách giữa các lưỡi cắt viên Viên sau khi được tạo ra bằng máy ép viên có tỷ lệ ẩm độ cao nên được phơi khô dưới ánh nắng mặt trời cho đến khi ẩm độ xuống còn khoảng 10%

Bảng 1: Tỷ lệ các loại nguyên liệu trong các công thức đóng bánh và ép viên

(% dạng sử dụng)

Nguyên liệu Công thức

1

Công thức

2

Công thức

3

Công thức

4

Công thức

5

Công thức

6

Thí nghiệm xác định tỷ lệ phân giải dạ cỏ của thức ăn viên

Tỷ lệ phân giải in sacco của thức ăn viên được xác định bằng phương pháp túi nylon trên 4

bò mổ lỗ dò Các mẫu thức ăn viên (4 g/túi) được nghiền bằng máy nghiền mẫu có mắt sàng 2mm rồi cho vào túi nylon có kích thước 10 x 15 cm và đường kính lỗ 45àm (hSng Diamond Bar) Các túi này được gắn vào các sợi dây nhựa, ủ trong dạ cỏ của bò mổ lỗ dò

và lấy ra tại các thời điểm 0, 4, 8, 16, 24, 48 và 72h sau khi ủ Mỗi mẫu thức ăn ở mỗi thời

Trang 4

điểm ủ được cho vào 3 túi hay nói cách khác mẫu được lặp lại 3 lần Ngay sau khi lấy ra khỏi dạ cỏ, phần chất chứa dạ cỏ bám xung quanh túi mẫu được rửa sạch và túi được bảo quản trong tủ lạnh sâu -200C Sau khi tất cả các túi đS được lấy khỏi dạ cỏ, các túi bảo quản trong tủ lạnh sâu sẽ được giải đông và tất cả các mẫu (kể cả mẫu 0h) sẽ được rửa sạch dưới vòi nước đang chảy cho đến khi nước sau khi rửa vẫn còn trong Sau khi rửa sạch, các túi mẫu được cho vào máy giặt và đặt ở chế độ giặt trong thời gian 6 phút Sau đó chuyển máy giặt sang chế độ vắt khô rồi sấy túi ở nhiệt độ 600C trong 48h và cân để xác định tỷ lệ phân giải của chất khô Các đặc điểm phân giải chất khô của thức ăn được xử lý bằng phần mềm NEWAY theo mô hình hàm số mũ của Orkov và McDonald (1979):

P = a + b(1 – e-ct), trong đó:

P là tỷ lệ VCK mất đi sau t giờ (%)

a là phần hoà tan ban đầu

b là phần không hoà tan nhưng có thể lên men trong dạ cỏ

c là hằng số tốc độ phân giảicủa thức ăn trong dạ cỏ (phần trăm/giờ)

e là cơ số của logarit tự nhiên

t là thời gian ủ mẫu trong dạ cỏ (giờ)

Túi mẫu sau khi cân được giữ lại để xác định tỷ lệ phân giải protein trong dạ cỏ Các túi lặp lại (3 túi/mẫu/thời điểm ủ) được trộn với nhau, nghiền lại rồi phân tích xác định hàm lượng protein Các đặc điểm phân giải protein của thức ăn cũng được xử lý bằng phần mềm NEWAY theo mô hình hàm số mũ P = a + b(1 – e-ct) của Orkov và McDonald (1979) Thí nghiệm xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo của thức ăn viên

Tỷ lệ tiêu hoá in vivo của mỗi loại thức ăn viên được xác định trên 5 con cừu nuôi trên chuồng trao đổi chất theo qui trình của Trường đại học Công giáo Louvain (Bỉ) Cừu được nuôi thích nghi 20 ngày để làm quen với thức ăn trước khi tiến hành giai đoạn thu phân tổng số trong thời gian 10 ngày Do thức ăn viên được tạo ra từ hỗn hợp các thức ăn bột nghiền nhỏ nên việc xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo của chúng được tiến hành theo phương pháp qui chiếu Với phương pháp này, cừu thí nghiệm được bố trí thành 3 lô mỗi lô 5 con

ở lô thứ nhất (lô đối chứng) cừu được cho ăn tự do cỏ voi cắt lúc 45 ngày ở các lô thí nghiệm (lô 2 và lô 3) cừu được cho ăn tự do cỏ voi 45 ngày giống lô thứ nhất nhưng được

ăn thêm (200g/con/ngày) thức ăn viên của công thức ép viên 1 và 2 tương ứng Tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn viên theo công thức 1 và 2 sau đó được ước tính từ tỷ lệ tiêu hoá của cả khẩu phần trên cừu ở lô đối chứng và các lô thí nghiệm 2 và 3

Trong thời gian thu phân, tổng lượng thức ăn cho ăn và thức ăn thừa được cân và lấy mẫu hàng ngày Sau khi kết thúc giai đoạn thu phân, các mẫu thức ăn cho ăn được trộn đều, lấy

Trang 5

2 mẫu, sấy khô để xác định tỷ lệ chất khô và nghiền nhỏ rồi phân tích xác định thành phần hoá học (chất hữu cơ, protein thô, xơ thô, NDF, ADF, Ca, P) Các mẫu thức ăn thừa của mỗi cừu cũng được trộn đều rồi lấy 3 mẫu đại diện để sấy khô xác định tỷ lệ chất khô Lượng phân thải ra hàng ngày của mỗi cừu thí nghiệm được thu lại, cân và lấy mẫu Sau khi kết thúc giai đoạn thu phân, mẫu phân của mỗi cừu được trộn đều, lấy mẫu đại diện để sấy khô (3 mẫu) xác định tỷ lệ chất khô rồi nghiền nhỏ và phân tích xác định thành phần hoá học như đối với các mẫu thức ăn cho ăn

Tỷ lệ tiêu hoá (TLTH) của các chất dinh dưỡng (chất khô, chất hữu cơ, NDF vv…) được tính theo công thức: THTH (%) = [(Lượng ăn vào từ thức ăn - Lượng thải ra trong phân)/ Lượng ăn vào từ thức ăn] x 100

Phương pháp xác định thành phần hoá học của thức ăn và phân

Hàm lượng chất khô của mẫu thức ăn và mẫu phân được xác định bằng cách cân mẫu rồi

để vào tủ sấy đặt ở 1000

C trong 24 giờ Tỷ lệ chất hữu cơ được xác định bằng cách cân khoảng 1g mẫu đS nghiền nhỏ (1mm) vào chén sứ, sấy trong tủ sấy ở 1000

C trong 12 giờ

để xác định tỷ lệ chất khô rồi cho vào buồng đốt ở 5000

C trong thời gian 4,5 giờ Để nguội chén rồi cân lại và phần chênh lệch giữa khối lượng chén và chén mẫu sau khi đốt chính là hàm lượng khoáng tổng số Hàm lượng protein thô của mẫu được xác định bằng phương pháp Kendal; xơ thô, NDF và ADF bằng phương pháp của Van Soest và cộng sự (1991) Phương pháp ước tính giá trị dinh dưỡng của thức ăn viên

Giá trị năng lượng thuần cho sản xuất, đơn vị thức ăn cho tạo sữa, hàm lượng protein tiêu hoá ở ruột (PDI) của thức ăn viên cho gia súc nhai lại được ước tính từ tỷ lệ tiêu hoá in vivo và lượng thức ăn ăn vào (g chất khô/kg W0,75) theo hệ thống INRA của Pháp từ các công thức của Jarrige (1978), Demarquilly và Andrien (1978), và Xandé và cộng sự (1989)

Xử lý số liệu

Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của tỷ lệ tiêu hoá in vivo của các khẩu phần và thức ăn viên được xác định bằng các phép toán trên phần mềm Excel (Office 2003) và MINITAB (Version 14.0) Các hằng số của phương trình mũ P= a +b(1-e-ct) được xác định bằng phần mềm NEWAY (Viện Aberdeen, Anh Quốc)

Kết quả và thảo luận

Thí nghiệm đóng bánh và ép viên thức ăn

Với mục tiêu xây dựng được 1-2 công thức phối trộn thức ăn viên từ nguồn thức ăn chính

là bột lá sắn, đáp ứng được yêu cầu của dạng thức ăn tinh (tỷ lệ protein thô khoảng 14-16%, năng lượng trao đổi 2000-2200 Kcal/kg) chúng tôi chọn 2 mức bột lá sắn là 65 và

Trang 6

70% Bột ngô được phối hợp trong khẩu phần ở mức 10% để bổ sung năng lượng và các nguyên liệu tạo độ kết dính là rỉ mật và bột sắn dao động từ 0-20% trong hỗn hợp (Bảng 1) Sau khi trộn đều các nguyên liệu rồi đóng bánh bằng khuôn gỗ Kết quả đóng bánh cho thấy tất cả các công thức phối trộn đều tạo được độ kết dính cho phép các nguyên liệu gắn kết với nhau Tuy nhiên quá trình phơi và bảo quản cho thấy thức ăn đóng bánh nhanh chóng bị nấm mốc tấn công (chỉ 1 ngày sau khi đóng bánh) và cần thời gian rất dài để phơi khô đến mức có thể bảo quản trong điều kiện bình thường Vì lí do này chúng tôi kết luận

là không nên thực hiện việc đóng bánh các hỗn hợp thức ăn phối trộn theo tỷ lệ của các công thức thí nghiệm

Sau thử nghiệm đóng bánh các công thức thí nghiệm, chúng tôi tiến hành thí nghiệm ép viên bằng máy ép tại Trung tâm nghiên cứu bò và đồng cỏ Ba vì Kết quả ép viên cho thấy tất cả các công thức thí nghiệm đều cho ra các viên thức ăn có kích thước, hình dáng và độ kết dính cơ học tương tự nhau Khi mới ra khỏi máy ép, viên thức ăn giữ nguyên được hình dáng tròn đều, không bị vỡ hoặc bẹp, dính nhau Quá trình phơi khô và bảo quản cho thấy trong điều kiện có nắng (nhiệt độ 28-320C) chỉ cần phơi thức ăn viên trong hai ngày là có thể đóng bao bảo quản lâu dài (độ ẩm còn khoảng 8-11%) Trong thời gian phơi, viên thức

ăn vẫn giữ nguyên được màu sắc và mùi vị như lúc mới được ép viên Như vậy có thể nói với các công thức phối trộn trong thí nghiệm này chúng ta hoàn toàn có thể tạo được thức

ăn viên từ nguyên liệu chính là bột lá sắn trên máy ép viên bán tự động làm thức ăn cho

Bảng 2: Thành phần hoá học của thức ăn viên sau khi ép và phơi khô (% VCK)

Để kiểm tra hàm lượng các chất dinh dưỡng của thức ăn viên sau khi phơi, chúng tôi tiến hành phân tích thành phần hoá học của chúng Kết quả (Bảng 2) cho thấy thức ăn viên tạo

ra theo 6 công thức thí nghiệm đều có hàm lượng protein tương đương nhau, khoảng 14-15% vật chất khô Hàm lượng xơ thô tương đối thấp (13-16%) và vì thế các công thức thức

ăn này có thể được xếp vào nhóm các thức ăn công nghiệp trộn sẵn dùng trong chăn nuôi

bò sữa

Trang 7

Thí nghiệm xác định tỷ lệ phân giải dạ cỏ của thức ăn viên

Vì các công thức thí nghiệm đều cho kết quả tạo viên và thành phần tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong hỗn hợp tương đương nhau, chúng tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 2 công thức (công thức 2 và công thức 5) để làm thí nghiệm xác định đặc điểm phân giải dạ cỏ của vật chất khô và protein trên bò mổ lỗ dò Kết quả xác định tỷ lệ phân giải ở các thời điểm 4, 8,

16, 24, 48, và 72h sau khi ủ trong dạ cỏ cũng như các hằng số về tốc độ phân giải và tiềm năng phân giải tối đa được trình bày ở Bảng 3 và 4

Kết quả bảng 3 và 4 cho thấy tỷ lệ phân giải dạ cỏ của vật chất khô và protein của 2 công thức thí nghiệm (công thức 2 và 5) đều khá cao Tuy nhiên ở thời điểm 24h sau khi ủ mẫu trong dạ cỏ, vẫn còn hàm lượng tương đối lớn protein chưa bị vi sinh vật lên men (khoảng 30%, Bảng 3) Tốc độ phân giải trong dạ cỏ của protein thức ăn viên thí nghiệm (0,03-0,04; Bảng 4) là tương đối thấp Điều này phù hợp với báo cáo của Wanapat và cộng sự (1997) cho rằng protein của lá sắn có tỷ lệ phân giải dạ cỏ thấp

Bảng 3: Tỷ lệ phân giải thức ăn (%) sau các thời điểm ủ trong dạ cỏ (Mean ± SD)

Bảng 4: Đặc điểm phân giải thức ăn (%) sau các thời điểm ủ trong dạ cỏ

Một điểm đáng lưu ý khác là tỷ lệ rửa trôi (Bảng 4) của các công thức thí nghiệm đều rất cao (45-59%) Lý do có thể là vì mẫu thức ăn được trộn từ các nguyên liệu đS nghiền nhỏ

từ trước nên khi nghiền qua mắt sàng tiêu chuẩn (2mm) dùng cho các thí nghiệm in sacco thì phần hạt có kích thước quá nhỏ chiếm tỷ lệ rất cao dẫn đến tỷ lệ rửa trôi của mẫu cao

Đây cũng chính là một trong những hạn chế của phương pháp in sacco

Trang 8

Thí nghiệm xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo của thức ăn viên

Bảng 5: Tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn ép viên (%)

Hai công thức (Công thức 2 và 5) dùng trong thí nghiệm xác định đặc điểm phân giải dạ cỏ

in sacco cũng được sử dụng trong thí nghiệm xác định tỷ lệ tiêu hoá in vivo trên cừu Kết quả xác định tỷ lệ tiêu hoá của một số chất dinh dưỡng được trình bày ở Bảng 5 Tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô quan sát được trong thí nghiệm này là tương đối thấp (xấp xỉ 62%) đối với thức ăn viên Tỷ lệ này cũng thấp hơn rất nhiều so với các kết quả nghiên cứu của các tác giả khác Ví dụ như thí nghiệm của Kiyothong và Wanapat (2003) trên bò sữa nuôi bằng khẩu phần có chứa thân lá sắn khô cho thấy tỷ lệ tiêu hoá vật chất khô in vivo của thân lá sắn ước tính đạt khoảng 82% Tương tự, Vongsamphanh và Wanapat (2004) trong

1 thí nghiệm trên bò thịt nuôi bằng khẩu phần cơ sở là rơm khô bổ sung thân lá sắn khô cũng cho thấy tỷ lệ tiêu hoá của vật chất khô của thân lá sắn là khoảng 81% Tuy nhiên cũng cần lưu ý là trong thí nghiệm của chúng tôi, bột lá sắn được nghiền từ phần ngọn lá sắn già sau khi thu hoạch củ còn thí nghiệm của các tác giả Thái lan là trên thân và lá sắn non Vì thế hàm lượng dinh dưỡng và do đó tỷ lệ tiêu hoá có thể rất khác nhau

Từ tỷ lệ tiêu hoá in vivo, chũng tôi sử dụng công thức của INRA (1989) để ước tính giá trị dinh dưỡng của 2 công thức thức ăn thí nghiệm Kết quả được trình bày ở Bảng 6

Bảng 6: Giá trị dinh dưỡng ước tính của thức ăn ép viên

Giá trị năng lượng (Kcal/kgDM)1 UFL2 Giá trị protein (g/kgDM)3 Loại thức ăn

1 : GE: năng lượng thô; DE: năng lượng tiêu hoá; ME: năng lượng trao đổi; NE: năng lượng thuần;

2 : UFL: đơn vị thức ăn cho sữa

3 : PDI: protein tiêu hoá ở ruột; PDIN: protein tiêu hoá ở ruột tính theo ni tơ ăn vào; PDIE: protein tiêu hoá

ở ruột tính theo năng lượng ăn vào

Qua bảng 6 chúng tôi nhận thấy không có sự khác nhau đáng kể giữa giá trị PDIN và PDIE Điều này cho thấy protein có thể tiêu hoá ở ruột của các công thức thức ăn viên này

là rất ổn định Giá trị năng lượng trao đổi ước tính khoảng 2100 Kcal/kg cũng cho thấy các

Trang 9

công thức này có hàm lượng năng lượng đáp ứng được yêu cầu của thức ăn hỗn hợp cho bò sữa

Kết luận và đề nghị

Kết luận

Có thể sử dụng máy ép viên bán tự động để sản xuất thức ăn viên từ nguồn thức ăn chính là bột lá sắn

Tỷ lệ tiêu hoá của vật chất khô và các chất dinh dưỡng khác (protein, xơ, NDF, ADF) là tương đối thấp Tuy nhiên giá trị dinh dưỡng ước tính (năng lượng và protein tiêu hoá ở ruột) cho thấy các công thức này có thể đáp ứng được yêu cầu của một thức ăn hỗn hợp cho bò sữa

Đề nghị

Tiếp tục thử nghiệm nuôi trên bò sữa để đánh giá khả năng sử dụng các công thức thức ăn này

Tài liệu tham khảo

Hong, N.T.T., Wanapat, M., Pakdee, P., Wachirapakorn, C and Rowlinson, P 2003 Effects of timing of initial cutting and subsequent cutting on yields and chemical compositions of cassava hay and its supplementation on lactating dairy cows Asian Australasian Journal of Animal Science 16: 1763-1769 INRA (Institut national de la recherche agronomique) (1989) Ruminant Nutrition.??

Kiyothong, K and Wanapat, M (2003) Cassava hay and Stylo 184 hay to replace concentrates in diets for

http://www.cipav.org.co/lrrd/lrrd15/11/krai1511.htm

Orskov ER & McDonald I (1979) The estimation of protein degradability in the rumen from incubation measurements weighted according to the rate of passage Journal of Agricultural Science, Cambridge 92, 499-503

Vongsamphanh, P and Wanapat, M (2004) Comparison of cassava hay yield and chemical composition of local and introduced varieties and effects of levels of cassava hay supplementation in native beef cattle fed

on rice straw Livestock Research for Rural Development 16 (8): http://www.cipav.org.co/lrrd -/lrrd16/8/vong16055.htm

Wanapat, M (2000) Rumen manipulation to increase the efficient use of local feed resources and productivity of ruminants in the tropics Asian Australasian Journal of Animal Science 13 (Suppl.): 59-67 Wanapat, M (2003) Manipulation of cassava cultivation and utilisation to improve protein to energy biomass for livestock feeding in the tropic Asian Australasian Journal of Animal Science 16: 463-472

Wanapat, M., Pimpa, O., Petlum, A and Boontao, U (1997) Cassava hay: A new strategic feed for ruminants during the dry season Livestock Research for Rural Development 9 (2): http://www.cipav.org.co/lrrd -/lrrd9/2/metha92.htm

Ngày đăng: 17/05/2015, 22:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tỷ lệ các loại nguyên liệu trong các công thức đóng bánh và ép viên - Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn
Bảng 1 Tỷ lệ các loại nguyên liệu trong các công thức đóng bánh và ép viên (Trang 3)
Bảng 2: Thành phần hoá học của thức ăn viên sau khi ép và phơi khô (% VCK) - Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn
Bảng 2 Thành phần hoá học của thức ăn viên sau khi ép và phơi khô (% VCK) (Trang 6)
Bảng 3: Tỷ lệ phân giải thức ăn (%) sau các thời điểm ủ trong dạ cỏ (Mean ± SD) - Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn
Bảng 3 Tỷ lệ phân giải thức ăn (%) sau các thời điểm ủ trong dạ cỏ (Mean ± SD) (Trang 7)
Bảng 4: Đặc điểm phân giải thức ăn (%) sau các thời điểm ủ trong dạ cỏ - Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn
Bảng 4 Đặc điểm phân giải thức ăn (%) sau các thời điểm ủ trong dạ cỏ (Trang 7)
Bảng 6: Giá trị dinh d−ỡng −ớc tính của thức ăn ép viên - Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn
Bảng 6 Giá trị dinh d−ỡng −ớc tính của thức ăn ép viên (Trang 8)
Bảng 5: Tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn ép viên (%) - Bước đầu Nghiên cứu sản xuất thức ăn viên cho bò sữa từ nguyên liệu chính là bột lá sắn và bột sắn
Bảng 5 Tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn ép viên (%) (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm