Những vấn đề mới của sự nghiệp thư viện thế giới nửa cuối thế kỷ XX
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA THÔNG TIN THƯ VIỆN
-
TIỂU LUẬN MÔN: LỊCH SỬ THƯ VIỆN
ĐỀ BÀI: NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI CỦA SỰ NGHIỆP THƯ VIỆN THẾ
GIỚI NỬA CUỐI THẾ KỶ XX
Trang 2
Sự nghiệp thư viện thế giới có lịch sử phát triển lâu dài Trải qua những
năm tháng cùng với bao thăng trầm… Sự nghiệp thư viện thế giới không ngừng
phát triển với những bước tiến và những thành tựu đáng kể đã và đang phục vụ
cho sự phát triển của các quốc gia trên cơ sở các thông tin phục vụ sự phát triển
của mọi lĩnh vực trong cuộc sống Đặc biệt vai trò của thư viện trong những năm
cuối thế kỷ XX Trong giai đoạn đó sự nghiệp thư viện thế giới đã có rất nhiều
đổi mới, vấn đề mới, sự kiện mới xảy ra
Thuật ngữ thư viện xuất phát từ chữ Hy Lạp “Bibliotheca” Trong đó
“biblio” nghĩa là “sách”, “theca” có nghĩa là “bảo quản”, hiểu theo nghĩa đen
thư viện là nơi bảo quản sách, là nơi tàng trữ sách báo Người Trung Hoa cổ cho
rằng “thư” là “sách”, “viện” là “nơi tàng trữ”
Trong thời đại mới, thư viện vẫn luôn luôn được coi là toà lâu đài trí tuệ
của nhân loại, nơi lưu trữ và bảo tồn những giá trị văn hoá của loài người, là
một bộ phận của nền văn hoá và mang thêm sắc thái mới là trung tâm thông tin,
là một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống thông tin tư liệu của các
nước, là nơi thu thập và thoả mãn nhu cầu thông tin cho quảng đại quần
chúng.Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá Liên Hợp Quốc (UNESCO)
định nghĩa: thư viện, không phụ thuộc vào tên gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập
có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc các tài liệu khác kể cả đồ hoạ,
nghe nhìn và nhân viên phục vụ có trách nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các
tài liệu đó nhằm mục đích thông tin, nghiên cứu khoa học, giáo dục hoặc giải trí
Trong năm 1957 đã thành lập ủy ban thường trực mới do T.P Xevensmơ
(Hà Lan) làm chủ tịch Có 40 người tham gia vào cuộc đầu tiên của nó Đã quyết
định khôi phục lại công trình nghiên cứu trong lĩnh vực đào tạo và trao đổi quốc
tế các cán bộ thư viện Một trong những vấn đề mà ủy ban chú ý đến là uy tín
thấp của nghề thư viện ở nhiều nước và hậu quả của nó là lương thấp Hội nghị
cũng đã nhấn mạnh rằng các cán bộ thư viện có trình độ chuyên môn cap thường
xuyên phải thực hiện công tác kỹ thuật do thiếu các nhân viên thư viện và nhân
viên văn phòng E.Egger đã trình bày một báo cáo chi tiết được công bố với tư
Trang 3IFLA (Vacsava, 1959) Ông đã cố bắng xác định việc đào tạo cán bộ thư viện ở
các nước khác nhau tiến hành như thế nào và bằng cách gì nó gây được ảnh
hưởng lên việc tuyển dụng vào biên chế của thư viện Các câu hỏi mà ông đặt ra
đụng chạm đến cấu trúc thang bậc của các thư viện, khả năng và các điểm ưu
việt của việc tổ chức công tác thư viện theo 3 cấp Trong phần đề cập đến việc
đào tạo cán bộ thư viện ở nước ngoài có một bảng mà trong đó đưa ra những
thông tin về hiện trạng công việc ở 14 nước, trong đó có các nước Châu Âu và
nước Mỹ, ở đó có sinh viên nước ngoài học tập cũng như về 30 nhà chuyên môn
đã qua các khóa học ở nước ngoài Sau khi thông qua báo cáo này Hội đồng
IFLA được ủy quyền tác động tới việc trao đổi cán bộ thư viện Một ý tưởng về
đào tạo các nhà chuyên môn ở một số cấp độ đã nhận được sự ủng hộ, điều đó
cho phép phân bổ có hiệu quả hơn trách nhiệm giữa các nhân viên và cải thiện
tình hình của họ
Vào đầu những năm 1960 tại các kỳ họp của ủy ban người ta đã thảo luận
một số bài báo được công bố trong “Libri” và các tạp chi khi trong đó phân tich
các vấn đề của đào tạo thư viện ở các nước khác nhau Ủy ban cũng đã được đề
nghị tiếp tục công trình nghiên cứu UNESCO đã ủy quyền cho IFLA và F…
chuẩn bị “Tổng quan khoa học về sự hình thành quy chế nghề nghiệp của cán bộ
thư viện trong thư viện khoa học và của cán bộ tư liệu” Theo kết quả phân tích
mà một lần nữa do E.E gger tiến hành, người ta đã công bố bản tổng quan như
là phụ trương cho các tài liệu của khóa học lần thứ 27 của Hội Đồng ìLA
(Edin-buốc, 1961) Công trình nghiên cứu trước đó của cả ban đã trở thành cơ sở của
bản tổng quan này Tuy nhiên, bản tổng quan hơn rộng hơn công trình nghiên
cứu nhiều, mặc dù nó cũng có bao quát các thư viện khoa học Các bản ankét
được gửi tới Brzin, Hà Lan, Peru, Hà Lan, Liên Xô, Mhx, Uragoa, Pháp, Tây
Đức và đã nhận được câu trả lời từ tất cả các nước đó trừ Uragoay Các câu hỏi
của bản ankét đã đề cập đến các điều kiện tuyển sinh vào các trường thư viện, tổ
chức các trường thư viện, có dạng khác của đào tạo cán bộ thư viện, các chương
trình các khóa học, sách giáo khoa và các tài liệu học tập khác cũng như là địa vị
xã hội và sự tuyển chọn của cán bộ thư viện Tuy nhiên, bản tổng quan không
Trang 4cho phép đưa ra những kết luận cụ thể, và sau khi có một cố gắng bất thành nữa
trong việc thu nhận thông tin từ các nước không được đưa vào diện nghiên cứu
thì ủy ban đã đi đến kết luận rằng do có sự đa dạng trong các hệ thống quốc gia
đào tạo cán bộ thư viện nên không thể thu nhận được các thông tin cần thiết nhờ
bảng ankét Vì vậy, người ta đã đưa ra khuyến nghị là triệu tập vào năm 1946
một hội nghị các chuyên gia để xem xét những vấn đề đào tạo chuyên môn của
cán bộ thư viện thuộc các loại hình và những người trợ lý (cán bộ thư viện có
trình độ chuyên môn thấp - ND của họ)
Vào tháng 5/1965 ở Pari đã tiến hành một cuộc hội nghị về giáo dục
ngành thư viện với sự tham gia của chuyên gia từ các nước châu Âu Hội nghị
này đã cố gắng xác định những phương pháp so sánh các hệ thống và trình độ
đào tạo ở các nước khác nhau Báo cáo chi tiết về cuộc hội nghị đã được ủy ban
thảo luận tại cuộc họp trong thời gian diễn ra khóa họp 22 của Đại hội đồng
IFLA (Kheve - ningen, 1966) Một danh sách các chuyên gia trong lĩnh vực đào
tạo chuyên môn (thư viện) đã được lập dành riêng cho các ban thư ký
Trong giai đoạn đó các chuyên gia của UNESCO đã bày tỏ sự lo lắng do
thiếu những tiêu chuẩn trong lĩnh vực đào tạo thư viện mà chúng có thể đặc biệt
có ích cho các nước đang phát triển
J.Letheve (Pháp) đã nhận soạn thảo “Các tiêu chuẩn tối thiểu trong lĩnh
vực đào tạo nghề nghiệp của cán bộ thư viện và cán bộ tư liệu” Ông này đã đệ
trình đề cương của tài liệu lên khóa hop lần thứ 34 Đại hội đồng IFLa (Franfret
trên sông Main, 1968) Để cương này đã chỉ ra rằng hai khuynh hướng truyền
thống của đào tạo chuyên môn - dạy thực hành và giáo dục phổ thông mà trước
kia đối lập với nhau thì nay đã bắt đầu xích lại gần nhau KLhh này có tầm quan
trọng đặc biệt trong điều kiện xuất hiện các quốc gia độc lập mới và sự phổ biến
của máy tính điện tử Đề cương của J.Letheve bao gồm cả danh mục các đề tài
mà chúng cần được đưa vào chương trình học để đào tạo tất cả các cán bộ thư
viện và cán bộ tư liệu Sau khi thảo luận tại ủy ban và có một số sửa đổi, tài liệu
này đa được trình IFLA vào tháng 11 năm 1968
Trang 5Khóa họp lần thứ 35 Đại hội đồng IFLA (Copenhagen, 1969) đã dành
riêng bản vẽ đào tạo ngành thư viện và nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thư
viện học Nó đã minh chứng cho sự quan tâm lớn của IFLa đối với vấn đề này
Công tác khoa học như là một trong những hướng chủ yếu trong hoạt động của
các trường đào tạo nghề thư viện đa nhận được sự quan tâm của ủy ban Tại
khóa họp lần thứ 37 của Đại hội đồng IFLA (Livơpun, 1971) các báo cáo của
J.Panton (Mỹ), V.Xondec (Anh), K.Lancur (Mỹ) đã đề cập đến các đặc điểm
tiến hành các công trình nghiên cứu khoa học trong các trường thư viện
Trong báo cáo của H.Marco (Mỹ) tại khóa họp lần thứ 35 Đại hội đồng
IFLA đã xem xét đến khả năng thành lập trường thư viện quốc tế Trong quá
trình thảo luận các đại biểu nhấn mạnh đến những vấn đề và những khó khăn
trong việc thực hiện đề nghị này Tuy nhiên, ý tưởng trên còn được thảo luận
trong vòng 2 năm Tại các kỳ họp của ủy ban vào năm 1971 các đại biểu một lần
nữa đã trở lại dự án này và đã khuyến nghị với BCH IFLa xin một khoản đầu tư
của UNESCO để nghiên cứu cùng với FID vấn đề về sự cần thiết thực hiện nó
Tuy nhiên công tác nhằm tổ chức trường thư viện quốc tế đã kết thúc ở đây
Còn một vấn đề nữa đã được nêu ra tại các kỳ họp của ủy ban là tầm quan
trọng của việc thông tin thống kê chính xác về đào tạo ngành thư viện Tại khóa
họp lần thứ 36 của Đại hội đồng IFLA (Matxcơva - Lêningrat, 1970), F.Sik
(Mỹ) đã đọc một bản báo cáo về kết quả của công trình điều tra về các trường
thư viện của Mỹ do ông tiến hành Trong quyết định của ủy ban có đề nghị
UNESCO cấp ngân sách cho việc nghiên cứu tình trạng đào tạo thư viện trên thế
giới nhằm tạo ra một cơ sở dữ liệu tương ứng
Ủy ban trở thành tiểu ban
Trong quá trình tổ chức lại IFLA vào năm 1972 ủy ban giáo dục thư viện
đã được cải tổ thành tiểu ban các trường thư viện và các khía cạnh khác của đào
tạo chuyên ngàng thư viện trong thành phần các Phòng Giáo dục và các công
trình nghiên cứu khoa học Mục đích của sự thay đổi này là đáp ứng sự hợp tác
hiệu quả hơn với các Hội quốc gia các trường thư viện và với chính các trường
đó Từ khi thành lập, tiểu ban đã tiến hành các kỳ họp cảu Ban thường trực được
Trang 6triệu tập giữa các khóa họp của IFLa Biện pháp này được coi là khía cạnh quan
trọng trong hoạt động của Tiểu ban và nó vẫn còn coi là khía cạnh quan trọng
trong hoạt động của Tiểu ban và nó cũng tồn tại cho đến ngày nay Tại các kỳ
họp, các thành viên của Ban thường trực có khả năng thảo luận một cách chi tiết
những vấn đề họ quan tâm, lập kế hoạch công tác và thực hiện các dự án, soạn
các chương trình lý thú cho các hội nghị đoàn thể hàng năm
Tiểu bản tiếp tục hợp tác với FID Một dạng hoạt động quan trọng của
Tiểu ban là tạo sự hài hòa, cân đối trong đào tạo cán bộ thư viện, cán bộ lưu trữ
và cán bộ tư liệu; công tác thu thập thông tin thống kê, biên soạn các tiêu chuẩn,
nghiên cứu các vấn đề tương hợp và công nhận lẫn nhau các bằng được tiến
hành rất có kết quả Đã đưa ra các chương trình học cơ bản theo các bộ môn
khác nhau Dưới đây xin trình bày kỹ hơn về một số hoạt động nêu trên
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ tiếp tục phát triển với tốc độ cao Sự
xuất hiện của các công nghệ mới, đặc biệt Công nghệ thông tin và việc ứng dụng
ngày càng rộng rãi các công nghệ đó vào sản xuất, đời sống trong đó có công tác
thư viện đã tạo nên những khả năng mới cho con người, kể cả hoạt động thư
viện
Vào những năm 1950 Chính phủ các nước ban hành nhiều văn bản pháp
quy về công tác thư viện Ví dụ: “Nghị quyết của Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa
nhân dân Rumani về các biện pháp nhằm cải thiện hoạt động thư viện” (ngày
23/12/1951); “quyết định của Hộ đồng Bộ trưởng Cộng hòa nhân dân Bungari
“về công tác thư viện ở Cộng nhà nhân dân Bungari”(1957); “Luật về mạng lưới
thư viện thống nhất” được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc
thông qua năm 1959
Vào những năm 1960, hàng loạt nước chuyên chính đã thông qua Luật
Thư viện mới Vào năm 1968 Luật mới đã được nước Cộng hòa nhân dân Ba
Lan và nước Cộng hòa dân chủ Đức thông qua Luật năm 1968 của Cộng hòa
nhân dân Ba Lan vẫn khẳng định và phát triển tư tưởng được trình bày trong
Luật năm 1946, trong đó cho rằng tổ chức sự nghiệp thư viện hiện đại sẽ tuân
Trang 7thủ định hướng cho mạng lưới thư viện toàn quốc gồm cả thư viện khoa học, thư
viện chuyên ngành, thư viện trường học, thư viện công cộng v.v…
Ngày 20/1/1970 Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa nhân dân Bungari đã
thông qua ad “về việc thiết lập các luận điểm chủ yếu về tổ chức hệ thống thư
viện thống nhất ở Cộng hòa nhân dân Bungri” Trong quyết định này xác lập cấu
trúc của mạng lưới thư viện thống nhất với Thư viện Nhân dân mang tên Kirin
và Mefoni - Thư viện quốc gia của đất nước
Trong những năm xây dựng xã hội chủ nghĩa, nước cộng hòa Hungari
cũng như các nước khác thiết lập sự lãnh đạo tập trung sự nghiệp thư viện; tiến
hành nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thư viện; tiến hành
nhiều công trình nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thư viện; Thành lập hội
đồng quốc gia về thư viện và tư liệu - cơ quan tư vấn trực thuộc Bộ Văn hóa Hệ
thống thư viện của Hungari từ những năm 1970 cũng tiến hành tập trung hóa
Trong khối xã hội chủ nghĩa, từ rất sớm đã có những hình thức phối hợp
và hợp tác trong lĩnh vực thư viện Từ cuối những năm 1950 đã tổ chức những
hội nghị của cán bộ thư viện các nước xã hội chủ nghĩa bàn về phát triển sự
nghiệp thư viện ở các nước xã hội chủ nghĩa Năm 1957 là hội nghị đầu tiên bàn
về thư mục quốc gia hồi cố Sau đó là các hội nghị bàn về đào tạo cán bộ thư
viện vào năm 1958 (Praha), 1962 (Beclin), 1968 (Leningrat)… Nhìn chung ở
các nước xã hội chủ nghĩa, thư viện rất được quan tâm phát triển
Năm 1976 đã thông qua đạo luật mới “Luật đặc biệt của Đoàn Chủ tịch
nước Cộng hòa nhân dân Hungari về thư viện” và thông tư hướng dẫn (số 17) thi
hành luật này của hội đồng Bộ trưởng nước này Năm 1984, Xô viết tối cao Liên
Xô cũng thông qua “Quy chế sự nghiệp thư viện ở Liên Xô” mà thực chất là một
đạo luật của nước này về thư viện
Ở Bungari thành lập hệ thống thông tin khoa học kỹ thuật quốc gia Và
những hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động Thiết lập việc mượn liên
thư viện Thư viện quốc gia Đức ở Béclin đã tiến hành việc lập mục lục liên hợp
các ấn phẩn nước ngoài có trong các thư viện, trung tâm thông tin ở Đức với sự
tham gia của hơn 1.000 đơn vị Đồng thời nưc[s này cũng quan tâm hơn tới phát
Trang 8triển hệ thống thông tin Khoa học xã hội Vai trò chủ đạo thực hiện nhiệm vụ
này là Cục Thông tin và tư liệu Khoa học xã hội trực thuộc Viện Hàn lâm Khoa
học Đức Các thư viện Cộng hòa dân chủ Đức quyết định áp dụng thống nhất
một bảng phân loại BBK đồng thời cũng tiến hành tập trung hóa các thư viện
Ở Rumani trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội, các thư viện công
cộng được tập hợp vào một hệ thống và trực thuộc Bộ văn hóa Đồng thời cũng
thành lập thư viện thuộc các Bộ, ngành Thư viện nhà nước Trung ương của
Rumani thực hiện chức năng nhận lưu trữ, thống kê thư mục quốc gia…
Ở Tiệp Khắc có quyết định của Chính phủ thành lập mạng lưới thư viện
thống nhất quốc gia, khâu yếu nhất trong hệ thống này là thư viện xã Đã tiến
hành tập trung hóa các thư viện xã Vào những năm 1970, nước này đã xây dựng
được dự báo về các hướng phát triển của thư viện đến năm 2000, theo đó Tiệp
Khắc sẽ thành lập các mạng thư viện - thông tin tự động hóa cấp quốc gia liên
ngành
Ở Mông Cổ, thư viện quốc gia thực hiện luôn vai trò trung tâm thông tin
của đất nước Thư viện này còn phối hợp với các thư viện chuyên ngành ở Ulan
Bato tạo thành một mạng lưới thư viện hợp tác phục vụ cho các nhu cầu đọc của
người dân
Liên Xô có hệ thống văn bản pháp quy về thư viện rất phát triển, trong đó
đỉnh cao là “Quy chế về sự nghiệp thư viện ở Liên Xô” do Đoàn Chủ tịch Xô
viết tối cao Liên Xô thông qua năm 1984 Đây là văn bản pháp quy cao nhất của
Liên Xô trong lĩnh vực thư viện và được đánh giá như là luật thư viện của Liên
Xô quy chế xác định những nguyên tắc tổ chức, hoạt động và quản lý sự nghiệp
thư viện ở Liên Xô, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của chính quyền liên bang và
nước cộng hòa trong quản lý và cấp kinh phí cho hoạt động thư viện ở Liên Xô
Trước khi tan rã vào năm 1990, Liên Xô có 360.000 thư viện, trong đó có
128.000 thư viện đại chúng (thư viện công cộng), t0 thư viện khoa học, thư viện
chuyên ngành… với tổng vốn sách là 3.700 triệu bản Mỗi năm các thư viện này
phục vụ khoảng 180 triệu lượt người đọc
Trang 9Năm 1991, Liên Xô tan rã thành các nước cộng hòa độc lập, kinh tế bị
giảm sút, kéo theo công tác thư viện cũng sa sút theo Thư viện Quốc gia Liên
Xô mang tên V.I.Lênin trở thành thư viện Nhà nước Nga có quy chế như là thư
viện quốc gia nhưng thư viện quốc gia thực sự của Nga là Thư viện công cộng ở
Peterburg
Thư viện các nước tư bản chủ nghĩa
Việc lập pháp thư viện vẫn tiếp tục diễn ra, năm 1948 Hội thư viện Mỹ
thông qua “Dự luật về quyền của các thư viện” nhưng chưa được Quốc gia chấp
nhận
Năm 1975, Hà Lan Thông qua luật thư viện công cộng
Sau chiến tranh, các thư viện ở Tây Đức phát triển khá, còn Itali chỉ có
1.800 thư viện công cộng trong hơn 8.000 công xã
Trong những năm 1970 - 1990, thư viện công cộng ở các nước tư bản chủ
nghĩa phát triển mạnh Theo số liệu thống kê, ở Hà Lan, đến năm 1977 có 1/4
dân số sử dụng thư viện công cộng Ở Mỹ, vào năm 1965 có khoảng 30% học
sinh cơ sở không được thư viện phục vụ Hàng triệu người, đặc biệt những
người da đen không có khả năng sử dụng thư viện Như vậy, mặc dầu vẫn phát
triển nhưng hệ thống các thư viện Mỹ cũng có những điểm yếu
Ở Anh, bạn đọc của thư viện công cộng trong những năm 60 đã chiếm
27% toàn bộ dân cư nước này, ở vùng nông thôn của Anh thành lập thư viện khu
vực, các điểm đưa sách được thay bằng các chi nhánh Các ô tô lưu động Cơ
quan thư mục quốc gia Anh được thành lập năm 1967 đã có những khuyến nghị
cải tổ lại Thư viện Viện Bảo tàng Anh Sau đó thành lập ủy ban nghiên cứu về
vấn đề này Năm 1969 báo cáo của ủy ban được trình lên Quốc hội Anh Nó còn
nổi tiếng dưới tên gọi “Báo cáo Đây tơn” (Dainton Report) (Đay tơn là tiến sĩ,
Phó chủ tịch trường ĐHTH Nottingham Chủ tịch ủy ban nghiên cứu cải tổ Thư
viện Viện Bảo tàng Anh
Năm 1971 Quốc hội Anh thông qua một tài liệu và được xuất bản dưới
tên gọi “Sách trắng về Thư viện Anh” Theo tài liệu này thì 5 cơ quan thư viện -
Thư viện Viện Bảo tàng Anh, Thư viện tra cứu về khoa học tự nhiên và sáng
Trang 10chế, TVQGTƯ, TVQGTL KHKT, Cơ quan TMQG Anh cần phải hợp nhất vào
làm một dưới tên gọi Thư viện Anh (British Library) Năm 1972 Quốc hội Anh
thông qua Luật Thư viện Anh (British Library Act) Năm 1973 Thành viên Anh
chính thức mở cửa
Ở Đan Mạch, Thư viện Quốc gia áp dụng rộng rãi hình thức mượn giữa
các thư viện (mượn liên thư viện) với các thư viện công cộng Trung tâm thư
viện Đan Mạch tiến hành biên mục tập trung, biên soạn các loại thư mục, và
cung cấp các bộ sách chuẩn cho các thư viện mới thành lập
Hy Lạp năm 1977 triệu tập đại hội những người làm công tác thư viện của
Hy Lạp và phần đảo Síp nói tiếng Hy Lạp Đại hội đã đưa ra quyết định: đề nghị
quốc hội xem xét, sửa đổi Luật Thư viện, xuất bản thư mục quốc gia…
Các thư viện khoa học ở các nước tư bản có khuynh hướng phát triển mới
Chủ yếu là phối hợp bổ sung Bên cạnh kế hoạch Farmingtơn, Thư viện Quốc
gia Mỹ còn lãnh đạo chương trình vi phân hóa báo chí nước ngoài
Tháng 5, năm 1948 dưới sự giúp đỡ của cố vấn Mỹ, Thư viện Quốc hội
Nhật Bản đã được khai trương
Thư viện Quốc gia của Anh cũng có những thay đổi cơ bản Thành lập
Thư viện Anh trên cơ sở Thư viện thuộc Bảo tàng Anh và một số thư viện khác,
đồng thời từ bỏ nguyên tắc phi tập trung trong phục vụ bạn đọc
Việc mượn sách giữa các thư viện do Thư viện Khoa học kỹ thuật Quốc
gia ở Boston - Spa tiến hành Diễn đàn thường xuyên của các thư viện KH và
ĐH (được thành lập năm 1950) thực hiện tốt chức năng hướng dẫn nghiệp vụ
nhằm thống nhất hoạt động của các thư viện khoa học của nước Anh
Thư viện các trường đại học ở mỹ, Pháp , Canada, Tây Đức rất phát triển
Các thư viện này thành lập các chi nhánh hoặc thư viện nhỏ ở các khoa, bộ phận
của trường
Ở Mỹ các thư viện hợp tác với nhau thành lập các thư viện tàng trữ các
sách ít sử dụng Một trong những thư viện tàng trữ đầu tiên là thư viện tàng trữ
cho các trường đại học vùng Anh mới ở Boston Năm 1951 một thư viện tương