1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam

227 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 227
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Danh mục các chữ viết tắt ASXH: An sinh xã hội AOK Tổ chức bảo hiểm cho người lao động BHXH: Bảo hiểm xã hội BKK: Tổ chức bảo hiểm của chủ doanh nghiệp và thành viên hội đồng quản trị d

Trang 1

Bộ Giáo dục và đào tạo Trường đại học Kinh tế quốc dân

của cộng hoà liên bang đức

và vận dụng cho Việt nam

Chủ nhiệm : GS TS Mai Ngọc Cường

Trường Đại học Kinh tế quốc dân

6554

21/9/2007

Hà Nội, năm 2006

Trang 2

Danh sách thành viên chính và cộng tác viên tham gia đề tài

Thành viên chính tham gia đề tài

2 GS.TS Nguyễn Văn Thường Trường Đại học KTQD Thành viên

3 GS.TS Nguyễn Văn Nam Trường Đại học KTQD Thành viên

4 GS.TSKH Lê Đình Thắng Trường Đại học KTQD Thành viên

5 PGS.TS Hoàng Văn Hoa Trường Đại học KTQD Thành viên

6 PGS.TS Nguyễn Ngọc Huyền Trường Đại học KTQD Thành viên

7 PGS.TS Nguyễn Quốc tế Trường ĐH Kinh tế TP HCM Thành viên

8 PGS.TS.Nguyễn Thị Như Liêm Trường ĐH Kinh tế Đà Nẵng Thành viên

10 Ths.NCS Hồ Thị Hải Yến Trường Đại học KTQD Thành viên

12 Ths.NCS Nguyễn Hải Đạt Trường Đại học KTQD Thành viên

13 Ths.NCS Nguyễn Phúc Hiền Trường Đại học KTQD Thành viên

16 CN Nguyễn Đình Hưng Trường Đại học KTQD Thành viên

C.ộng tác viên trong nước

1 PGS.TS Kim Văn Chính Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

2 PGS TS Nguyễn Văn Định Trường Đại học KTQD

3 PGS.TS Đỗ Đức Bình Trường Đại học KTQD

4 PGS.TS Đào Thị Phương Liên Trường Đại học KTQD

7 TS Chu Tiến Quang Viện Quản lý Kinh tế TW, Bộ KH&ĐT

10 Ths Lưu Thị Thu Thuỷ Trung tâm NCKH, BHXH Việt Nam

11 Ths Nguyễn Thị Hiên Viện Quản lý Kinh tế TW, Bộ KH&ĐT

Cộng tác viên nước ngoài

1 GS.TSKH Uwe Jens Nagel Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức

2 GS.TS Matthias Dennhhardt Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức

3 GS.TS Karl Jaster Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức

4 TS Astrid Haegar Đại học tổng hợp Humboldt, CHLB Đức

Trang 3

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt 5

Mở đầu 6

Chương I:những vấn đề chung về phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm cộng hoà liên bang đức và nhận thức của việt nam hiện nay 11

1.1 Phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn ở Cộng hoà Liên bang Đức 11

1.1.1 Nhận thức về thực chất, vị trí vai trò của chính sách xã hội nông thôn ở Cộng hoà liên bang Đức 11

1.1.2 Bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội cho nông dân - Nội dung chủ yếu của chính sách xã hội nông thôn ở CHLB Đức 18

1.2 Một số kinh nghiệm từ nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn ở Cộng hoà Liên bang Đức 38

1.3 Phương pháp luận xây dựng Chính sách xã hội nông thôn ở Việt Nam hiện nay 58

1.3.1 Khái quát tranh luận về chính sách xã hội nông thôn ở nước ta hiện nay 59

1.3.2 Thực chất, vị trí và tầm quan trọng của hệ thống chính sách xã hội nông thôn 61

1.3.3 Những luận cứ khoa học xác định nội dung chính sách xã hội nông thôn ở nước ta 69

1.3.4 Nội dung cơ bản về chính sách xã hội nông thôn ở nước ta 75

Chương II: Thực trạng chính sách xã hội trong nông thôn việt nam hiện nay 89

2.1 Chính sách xã hội nông thôn ở nước ta từ khi đổi mới đến nay 89

2.1.1 Chính sách việc làm, thu nhập cho lao động nông thôn 89

2.1.2 Chính sách xoá đói giảm nghèo cho khu vực nông thôn nước ta 102

2.1.3 Chính sách an sinh xã hội cho khu vực nông thôn 115

2.1.4 Chính sách cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản đối với nông thôn 131

2.2 Đánh giá chung về tác động của chính sách xã hội nông thôn ở nước ta những năm qua 145

2.2.1 Những tác động tích cực và nguyên nhân 145

2.2.2 Những hạn chế của hệ thống chính sách xã hội nông thôn và nguyên nhân 152

Trang 4

Chương III: Một số Khuyến nghị nhằm hoàn thiện phương pháp luận xây dựng hệ thống chính sách xã hội nông thôn ở nước ta những

năm tới trên cơ sở vận dụng kinh nghiệm của CHLB Đức 165

3.1 Khuyến nghị vận dụng kinh nghiệm về phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của CHLB Đức vào điều kiện của Việt Nam 165

3.1.1 Nhận thức rõ những điểm tương đồng và khác biệt chủ yếu giữa CHLB Đức và Việt Nam để vận dung kinh nghiệm về phương pháp luận xây dựng CSXH nông thôn vào thực tiễn nước ta 165

3.1.2 Bước đi vận dụng phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của CHLB Đức có thể vận dụng vào điều kiện Việt Nam 166

3.2 Khuyến nghị phương hướng hoàn thiện nội dung hệ thống chính sách xã hội nông thôn ở nước ta những năm tới 169

3.2.1 Phương hướng hoàn thiện nội dung chính sách việc làm cho nông dân những năm sắp tới 169

3.2.2 Phương hướng hoàn thiện nội dung chính sách xoá đói giảm nghèo trong nông thôn thời gian tới 176

3.2.3 Phương hướng xây dựng và hoàn thiện nội dung hệ thống chính sách an sinh xã hội cho nông dân 183

3.2.4 Hoàn thiện chính sách cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho nông dân 191

3.3 Khuyến nghị về những điều kiện chủ yếu để xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội nông thôn ở nước ta những năm tới 194

3.3.1 Tiếp tục tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong khu vực nông thôn 194

3.3.2 Phối hợp và sử dụng có hiệu quả các nguồn đầu tư từ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện chính sách xã hội nông thôn 202

3.3.3 Tăng cường vai trò nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế 206

3.3.4 Tăng cường luật hoá các chính sách xã hội nông thôn 207

3.3.5 Tăng cường năng lực quản lý trong thực hiện chính sách xã hội nông thôn 209

3.3.6 Đa dạng hoá hình thức thực hiện CSXH nông thôn trên cơ sở tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội và của người dân 211

Kết luận 214

Phụ lục 216

Tài liệu tham khảo 221

Trang 5

Danh mục các chữ viết tắt

ASXH: An sinh xã hội AOK Tổ chức bảo hiểm cho người lao động BHXH: Bảo hiểm xã hội

BKK: Tổ chức bảo hiểm của chủ doanh nghiệp

và thành viên hội đồng quản trị doanh nghiệp BHYT: Bảo hiểm y tế

CĐKTCÂ: Cộng đồng kinh tế châu Âu CHLB : Cộng hoà liên bang

CNH, HĐH : Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CSHT Cơ sở hạ tầng CSXH: Chính sách xã hội CTMTQG: Chương trình mục tiêu quốc gia DNNN: Doanh nghiệp nhà nước

GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

EU : Liên minh Châu Âu KCB: Khám chữa bệnh KCN: Khu công nghiệp KH&ĐT: Kế hoạchvà Đầu tư

LĐ,TB&XH : Lao động, Thương binh và Xã hội LKK: Tổ chức bảo hiểm cho nông dân

MTQGNS: Mục tiêu quốc gia về nước sạch

NLN: Nông, lâm, ngư nghiệp NN&PTNT: Nông nghiệp và phát triển nông thôn NSNN: Ngân sách nhà nước

RVO: Hình thức pháp lý sơ khai của BHXH TNLĐ: Tai nạn lao động

THPT: Trung học phổ thông UBND: Uỷ ban nhân dân XĐGN: Xoá đói giảm nghèo XHCN: Xã hội chủ nghĩa

Trang 6

Mở đầu

1 Tính cấp bách của nhiệm vụ

Việt Nam đang chuyển nền kinh tế thị trường Sau gần 20 năm thực hiện

đường lối đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng về kinh tế xã hội: tốc độ tăng trưởng kinh tế khá và ổn định, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, xu hướng đô thị hoá diễn ra mạnh mẽ, đời sống nhân dân được cải thiện và từng bước

được nâng lên

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, Việt Nam đang phải đối mặt với những khó khăn Là một nước nông nghiệp, với gần 80% dân cư sống trong nông nghiệp nông thôn, tình trạng thất nghiệp, thiếu công ăn việc làm của người lao động còn khá nặng nề, khoảng cách thu nhập giữa người lao động, giữa các vùng vẫn chưa được thu hẹp, vấn đề bảo đảm xã hội cho người lao động và dân cư trong nông thôn còn nhiều khó khăn Những năm đổi mới vừa qua, Đảng và Nhà nước ta có nhiều chủ trương, chính sách giải quyết những khó khăn trên Tuy nhiên, đây vẫn đang là vấn đề bức xúc

Cho đến nay, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu đề cập tới vấn đề có liên quan tới chính sách xã hội nói chung, chính sách thu nhập nói riêng Có thể nêu lên một số công trình đã và đang được thực hiện như sau

Trong hệ thống chương trình khoa học xã hội 1991-1995, nhà nước có

chương trình KX 04 “Những luận cứ khoa học cho việc đổi mới các chính sách

xã hội và quản lý thực hiện chính sách xã hội”, trong đó có nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề đảm bảo xã hội ở Việt Nam Trong hệ thống này có đề tài KHXH

03.06: Quản lý sự phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng XHCN- lý luận, chính sách và giải pháp do GS.TS.Phạm Xuân Nam chủ trì đã nghiên cứu nhiều vấn đề có liên quan đến chính sách xã hội như công bằng và tiến bộ xã hội, lao động và việc làm, đói nghèo, giới và hoà nhập xã hội đối với đồng bào dân tộc ít người

Trang 7

Trực tiếp hơn là trong cuốn sách “Nghiên cứu chính sách xã hội nông thôn Việt Nam” do NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996, các tác giả Bùi Ngọc Thanh, Nguyễn Hữu Dũng, Phạm Đỗ Nhật Tân đã nghiên cứu và khuyến nghị nhiều vấn đề liên quan tới CSXH nông thôn nước ta

Trong cuốn sách “Kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam” của PGS.TS.Mai Ngọc Cường do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm

2001, tại chương VIII, “Đổi mới về phân phối thu nhập và đảm bảo bình đẳng xã hội trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, tác giả đã phân tích vấn đề bản chất của CSXH, vấn đề đói nghèo, vấn đề phân phối thu nhập, tiền công, tiền lương nói chung ở Việt Nam hiện nay nói chung và trong nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa nói riêng; đồng thời

đã khuyến nghị một số vấn đề về đảm bảo CSXH ở nước ta những năm tới

Nhiều đề tài hợp tác của Trường Đại học Kinh tế quốc dân với Uỷ ban Dân tộc và Miền núi trong những năm 1996-2000, các đề tài cấp Bộ và cấp cơ sở có liên quan tới lĩnh vực CSXH khác cũng đã được các nhà khoa học nghiên cứu, đề xuất nhằm góp phần từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống CSXH nói chung, trong khu vực nông thôn nói riêng ở Việt Nam

Với những khía cạnh khác nhau, các nghiên cứu của Việt Nam đã đề cập tới những vấn đề về bản chất, mô hình tổ chức, hệ thống quản lý và khuyến nghị cơ chế chính sách giải quyết những vấn đề xã hội nông thôn nước ta Tuy nhiên, CSXH nông thôn còn nhiều vấn đề bức xúc Trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập kinh tế diễn ra mạnh mẽ, việc làm, thu nhập, đói nghèo, phân hoá bất bình đẳng, y tế, giáo dục, văn hoá, an sinh xã hội, đang là những vấn đề nổi cộm

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trong CSXH nông thôn, trong

đó vấn đề phương pháp luận xây dựng chính sách còn thiếu những luận cứ thật sự khoa học, đòi hỏi phải được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện

Là nước đi đầu trong việc xây dựng và thực hiện CSXH trong nền kinh tế thị trường, CHLB Đức có nhiều kinh nghiệm trong xây dựng CSXH nông thôn Vì

vậy, Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách x∙ hội nông thôn của CHLB Đức và vận dụng cho Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa thiết thực cả về lý luận

và thực tiễn

Trang 8

2 Mục tiêu của Nhiệm vụ

2.1 Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phương pháp luận xây dựng CSXH nông thôn trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của CHLB Đức

2.2 Từ thực trạng Việt Nam kết hợp với kinh nghiệm CHLB Đức, khuyến nghị một số vấn đề về phương pháp luận xây dựng chính sách về việc làm, xoá

đói giảm nghèo, ASXH, các chính sách cung cấp dịch vụ xã hội cơ bản trong nông thôn ở Việt Nam những năm tới

3 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu

Chính sách xã hội nông thôn là vấn đề lớn, có phạm vi rộng Có thể phân loại CSXH nông thôn thành các lĩnh vực có liên quan đến kinh tế, chính trị, văn hoá Thêm nữa, nông thôn là khu vực có nhiều đối tượng sinh sống, như nông dân, giáo viên, bác sỹ, thợ thủ công, những người buôn bán nhỏ, cán bộ, công chức về hưu, trong đó, nông dân chiếm tỷ trọng lớn

Vì phạm vi và đối tượng nghiên cứu rộng lớn và đa dạng, nên trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu theo Nghị định thư này, đề tài chủ yếu đề cập đến những CSXH nông thôn có liên quan đến lĩnh vực kinh tế, chủ yếu là chính sách việc làm, chính sách XĐGN, chính sách ASXH và chính sách cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân nông thôn, trước hết là nông dân Việc thu thập những tài liệu, số liệu các công trình đã có giữa hai nước CHLB Đức và Việt Nam có liên quan và đề xuất việc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống CSXH nông thôn ở nước ta chủ yếu ở bốn loại chính sách trong lĩnh vực kinh tế này

Trang 9

4 Cách tiếp cận, phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sẽ sử dụng

- Phối hợp với các nhà khoa học của CHLB Đức, mà trực tiếp là với

Humboldt Universitat zu Berlin để cùng trao đổi kinh nghiệm, tổ chức khảo sát

và nghiên cứu đề tài

- Sử dụng các tài liệu đã công bố trong và ngoài nước Dự án thu thập, biên dịch tổng hợp các các tài liệu có liên quan về lý luận và thực tiễn CSXH nói chung và trong lĩnh vực nông nghiệp Việt Nam, CHLB Đức nói riêng làm khung khổ lý thuyết cho toàn bộ đề tài

- Để làm rõ phương pháp luận xây dựng CSXH trong lĩnh vực nông thôn,

đề tài tổ chức các đoàn khảo sát nghiên cứu những kinh nghiệm về phương pháp xây dựng CSXH nông thôn ở CHLB Đức Đồng thời đã tổ chức các đoàn khảo sát, phỏng vấn, thu thập tài liệu tại một số địa phương ở Việt Nam như Nghệ An, Thanh Hoá, Hà Tây, Phú Thọ và Kon và một số cơ quan tổng hợp như Bộ Tài chính, Bộ KH&ĐT, Bộ NN&PTNT, Bộ LĐTB&XH để trao đổi với các nhà lãnh

đạo các cấp và nghiên cứu tình huống về vấn đề chính sách xã hội nông thôn ở Việt Nam hiện nay

Từ đó, đã rút ra những kinh nghiệm thành công và chưa thành công về phương pháp xây dựng CSXH nông thôn ở Việt Nam những năm qua; làm rõ những cải cách tiếp tục về CSXH nông thôn thời gian tới

- Đề tài đã tổ chức 1 Hội thảo tại Việt Nam vào tháng 4 năm 2006 Ngoài

ra còn tổ chức nhiều cuộc hội nghị xin ý kiến chuyên gia ở 2 nước Việt Nam và

CH LB Đức

- Trong quá trình thực hiện, đề tài đã kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính

và định lượng để xây dựng hệ phương pháp luận xây dựng CSXH nông thôn ở Việt Nam trên cơ sở kinh nghiệm CHLB Đức Về định tính, đề tài đã sử dụng phương pháp truyền thống, thông qua phân tích lý luận và thực tiễn CSXH nông thôn hiện nay để khuyến nghị CSXH nông thôn trong những năm tới Về định lượng, đã sử dụng các tài liệu điều tra khảo sát của đề tài và của các công trình nghiên cứu khác để xây dựng các mô hình, biểu đồ làm rõ các tình huống về xây dựng CSXH

- Đề tài đã công bố 4 bài báo trên các tạp chí chuyên ngành và sẽ xuất bản cuốn sách dựa trên kết quả nghiên cứu trung gian làm tài liệu tham khảo

Trang 10

Ch −¬ng 2: Thùc tr¹ng chÝnh s¸ch x· héi trong n«ng th«n ViÖt Nam hiÖn nay

Ch−¬ng 3: Mét sè khuyÕn nghÞ nh»m hoµn thiÖn ph−¬ng ph¸p luËn x©y dùng hÖ thèng chÝnh s¸ch x· héi n«ng th«n ë n−íc ta nh÷ng n¨m tíi trªn c¬ së vËn dông kinh nghiÖm cña CHLB §øc

Trang 11

Chương I những vấn đề chung về phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn: kinh nghiệm chlb đức và

nhận thức của việt nam hiện nay

ổn định, cũng như một sự tăng trưỏng phù hợp, không ảnh hưởng tới môi trường, tạo ra được các điều kiện cho phép con người không chỉ thoả mãn được nhu cầu tiêu dùng hiện tại của mình, trên cơ sở thu nhập theo năng suất, mà còn dự phòng cho tuổi già và những rủi ro trong cuộc sống

Những người vì bất cứ lý do nào đó không thể có được mức thu nhập cần thiết thì phải cần đến sự giúp đỡ và trợ cấp xã hội, hoặc là bằng hàng hoá và các dịch vụ cần thiết cho cuộc sống, hoặc là bằng các phương tiện để có được các hàng hoá và dịch vụ đó

Một xã hội mang tính xã hội còn bao hàm cả việc bảo vệ kẻ yếu trước khả năng kẻ khác lợi dụng tình cảnh của họ Điều này có thể được thực hiện thông qua sự hợp tác cộng đồng (quyền tự do và khả năng liên minh) hoặc qua các quy

định pháp lý

Trang 12

Các nhà kinh tế học cũng cho rằng, có nhiều phương diện tiếp cận vấn đề xã hội Trên phương diện kinh tế, hai khía cạnh phải quan tâm là các biện pháp thuộc CSXH và những chi phí cho chúng là những tiêu thức phải được quan tâm Những biện pháp thuộc CSXH được áp dụng, phải thích hợp để đạt mục tiêu đề

ra Với mục tiêu đã cho, các biện pháp này so với các phương án khác phải ít tốn kém và không được đối lập với các nguyên tắc của hệ thống kinh tế đang thống trị Điều này cũng có nghĩa là CSXH phải chú ý tới mối tương quan của chế độ kinh tế mà nước đó đã lựa chọn

Các nhà kinh tế học CHLB Đức cho rằng, có hai yêu cầu đặc biệt trong xây dựng chính sách xã hội

Một là, CSXH phải dược đặt trong khuôn khổ của kinh tế thị trường như là

những nhân tố xã hội Nhà nước xã hội không chỉ bị giới hạn khi khả năng phục

vụ vật chất của xã hội đã`đạt được mà còn cả khi sáng kiến của từng thành viên

bị tê liệt và do đó, vùi dập mất cơ sở hoạt động vật chất Vì vậy, cần hết sức thận trọng khi sử dụng các biện pháp CSXH nhất định để can thiệp Nếu CSXH vượt quá giới hạn mà chế độ kinh tế thị trường cho phép thì sẽ xuất hiện nguy cơ chính sách xã hội ấy tự nó tạo ra những bất công xã hội mà nó có nhiệm vụ phải xoá bỏ Và ngược lại, nếu như nó chưa đủ tầm, sẽ có tác động tiêu cực tới sự phát triển kinh tế, xã hội

Hai là, CSXH phải xuất phát từ quyết định có tính nguyên tắc của kinh tế thị trường, là nhà nước đảm nhận càng ít càng tốt việc sản xuất hàng hoá và dịch

vụ, kể cả đối với việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ phục vụ xã hội

Từ những luận cứ khoa học của việc nghiên cứu CSXH, CHLB Đức đã xây dựng lên một hệ thống về CSXH, trong đó những vấn đề nguyên lý chung và những lĩnh vực cụ thể về lao động việc làm, tiền lương thu nhập, vấn đề về giới,

về tệ nạn xã hội, vấn đề CSXH trong các lĩnh vực giáo dục, nông nghiệp nông thôn Sự vận hành của các hệ thống này đã giúp cho nền kinh tế thị trường xã hội ở CHLB Đức nói chung, trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn nói riêng phát triển mạnh mẽ Tuy nhiên, sự vận động phát triển của nền kinh tế, xu hướng hội nhập kinh tế thế giới mạnh mẽ đang đặt ra những vấn đề mới, đòi hỏi chính sách xã hội ở CHLB Đức phải tiếp tục hoàn thiện

Trang 13

Trong lĩnh vực khoa học ở CHLB Đức, vấn đề CSXH nông thôn được tranh luận khá sôi nổi và vẫn còn chưa thật sự thống nhất cho đến ngày nay Sự chưa thống nhất này có liên quan tới vấn đề khái niệm, đặc trưng, vị trí, phạm vi CSXH nông thôn và mối quan hệ giữa CSXH nông thôn với chính sách nông nghiệp Nghiên cứu phương pháp xây dựng CSXH nông thôn của CHLB Đức, ta

có thể rút ra một số vấn đề sau đây:

1.1.1.1.Về khái niệm, bản chất chính sách x∙ hội nông nghiệp và chính sách x∙ hội nông thôn

Khi nói tới CSXH nông nghiệp, hay CSXH cho nông dân là nói chính sách xã hội đối với những nông dân thuần tuý, còn nói CSXH nông thôn là nói tới CSXH cho cả nông dân và dân cư phi nông nghiệp trong nông thôn

Rõ ràng người dân sản xuất trong lĩnh vực nông nghiệp chỉ là một bộ phận những người dân sống ở nông thôn Ngoài những dân cư làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, trong nông thôn còn một bộ phận dân cư phi nông nghiệp Đặc biệt trong quá trình đô thị hoá, hiện đại hoá, ở các nước phát triển hiện nay có xu hướng gia tăng số dân nông thôn không phải là nông dân Những người này, hoặc

là trước đây làm việc, sinh sống ở các thành phố, các khu công nghiệp, nay đến tuổi nghỉ hưu, về sinh sống ở nông thôn; Hoặc do quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sự phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp có xu hướng gia tăng, làm cho dân cư các ngành làm việc trong các lĩnh vực kinh tế khác nhau tại các vùng nông thôn tăng lên Tất cả điều đó làm thay đổi tỷ trọng nông dân và người phi nông nghiệp tại các vùng nông thôn Khách thể của CSXH nông thôn là những cư dân sống ở nông thôn Nhưng vì các tầng lớp cư dân sống ở nông thôn là phức tạp, đa dạng, không đồng nhất trong cái nhìn chính trị xã hội, vì thế, khi xây dựng CSXH nông thôn, ở CHLB Đức phải xây dựng cho các đối tượng dân cư khác nhau Hiện nay, ở CHLB Đức, ngoài chính sách xã hội cho nông dân, còn

có CSXH cho bác sỹ, CSXH cho thợ thủ công

Theo các nhà khoa học CHLB Đức, CSXH nông nghiệp là những biện pháp và quản lý đặc biệt, công khai và theo pháp luật của nhà nước hay của các hiệp hội khác nhằm đảm bảo xã hội cho quần chúng nhân dân Theo đó, CSXH nông nghiệp là những biện pháp ASXH cho nông dân Nó đưa ra sự đối xử và

Trang 14

những biện pháp hình thành riêng biệt cho nông dân Nó là một bộ phận của CSXH nông thôn

Các nhà khoa học CHLB Đức phân biệt rất rõ CSXH nông nghiệp với chính sách nông nghiệp xã hội Theo họ, chính sách nông nghiệp xã hội là chính sách theo đuổi các tác động xã hội, các mục đích có cân nhắc, chủ yếu, trên phạm vi rộng Các mục đích của chính sách nông nghiệp xã hội theo đuổi là những vấn đề có tầm quan trọng thiết yếu như luật đất đai, tình hình tài chính của ngành nông nghiệp, đào tạo nguồn lực cho nông nghiệp, thực hiện các liên kết trong lĩnh vực nông nghiệp, di cư từ khu vực này sang khu vực khác, hoặc chuyển dịch lao động từ ngành này sang ngành khác Tất cả những chính sách với nội hàm như thế được gọi là chính sách nông nghiệp xã hội Nhiều nhà nghiên cứu CHLB Đức ủng hộ tư tưởng này Chẳng hạn, theo Priebe, nhiệm vụ của chính sách nông nghiệp xã hội là “đào tạo nghiệp vụ trong nông nghiệp, hỗ trợ liên kết xã hội, di cư từ vùng nông thôn này đến vùng khác, từ ngành nghề này sang ngành nghề khác, xây dựng chính sách ruộng đất xã hội, định hướng cho xí nghiệp gia đình, cải thiện cấu trúc nông nghiệp, những cải cách về quyền lao động nông nghiệp, cũng như khuyến khích định vị công nghiệp những khu vực nông thôn”

Mặc dù có những điều chỉnh xã hội thông qua các chính sách như trên, thì một “CSXH nông nghiệp xã hội” như thế cũng không thể được gọi là “CSXH nông nghiệp” Các nhà khoa học đã chỉ ra rằng, những đặc trưng xã hội của một thể chế chính trị không chứng minh được tính pháp luật của CSXH đó Theo học, cần phải phân biệt rõ ràng một mặt là “CSXH nông nghiệp” và mặt kia là “chính sách nông nghiệp về mặt xã hội”

1.1.1.2 Vị trí của chính sách x∙ hội nông nghiệp

Để làm rõ vị trí của CSXH nông nghiệp, chúng ta cần phân tích mối quan

hệ giữa CSXH nông nghiệp và chính sách nông nghiệp (hay chính sách nông thôn) Về vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau Tựu trung lại có ba quan điểm:

1/ CSXH nông nghiệp là một bộ phận của chính sách nông nghiệp, hay là một bộ phận của chính sách nông thôn

2/ CSXH nông nghiệp là một phân hệ thuộc hệ thống của CSXH

Trang 15

3/ CSXH nông nghiệp vừa là bộ phân của chính sách nông nghiệp, vừa là

bộ phân của CSXH

- Về quan điểm coi CSXH nông nghiệp là một bộ phận của chính sách nông nghiệp hoặc một bộ phận của chính sách nông thôn Có thể nêu lên một

số ví dụ sau đây:

Hiệp ước thành lập Cộng đồng kinh tế châu Âu (CĐKTCÂ) cho rằng, chính sách xã hội về nông nghiệp là một bộ phận của chính sách nông nghiệp Ngay từ năm 1960 Uỷ ban kinh tế xã hội của CĐKTCÂ đã ủng hộ việc đưa chính sách xã hội vào chính sách nông nghiệp chung; khi bày tỏ ý kiến đối với những

đề nghị do uỷ ban của CĐKTCÂ đưa ra về việc thiết lập và áp dụng chính sách nông nghiệp chung, Hội đồng đã coi rằng chính sách nông nghiệp chung phải chứa đựng các biện pháp phối hợp tổ chức thuộc bốn lĩnh vực sau: 1 Chính sách cơ cấu, 2 Chính sách thị trường và giá cả, 3 Chính sách thương mại, 4 Chính sách xã hội”

Vredeling cũng ủng hộ luận thuyết về một ”CSXH về nông nghiệp như là một phần của chính sách nông nghiệp chung” Theo quan điểm của ông thì “nội dung điều luật về nông nghiệp của hiệp định CĐKTCÂ bao hàm ý nghĩa có một CSXH về nông nghiệp thống nhất trong chính sách nông nghiệp Tuy nhiên, những bộ trưởng về các vấn đề xã hội còn nghi ngờ việc hình thành một chính sách xã hội về nông nghiệp nằm trong chính sách nông nghiệp thống nhất Họ muốn tách phần CSXH nói chung ra khỏi chính sách nông nghiệp”

Mặc dù vậy, quan điểm của CĐKTCÂ cũng không thật sự chắc chắn và nhất quán, các nhà khoa học Đức thời bấy giờ đã phê phán quan điểm này của CĐKTCÂ Trong cuốn Landwirchaftliche sozialpolitik und soziale sicherheit in der Landwirtschaft, Dr Walter Wanggler viết: “Thái độ của Uỷ ban CĐKTCÂ về vấn đề này không rõ ràng Dù họ hầu như không nhắc tới CSXH về nông nghiệp trong những đề nghị đầu tiên của mình về chính sách nông nghiệp chung vào năm 1959, thì cuối cùng trong các đề nghị đưa ra ở văn bản chính thức công bố vào năm sau đó lại được chú ý tới Theo công bố này, chính sách chung về nông nghiệp phải ”bao gồm những lĩnh vực quan trọng nhất của chính sách nông nghiệp đương thời”, và chính sách nông nghiệp phải bao gồm chính sách cấu

Trang 16

trúc, chính sách thị trường nông nghiệp, chính sách thương mại và CSXH trong nông nghiệp, những chính sách cần phải theo đuổi của cộng đồng Chính sách cuối cùng trong số đó được định nghĩa là ”thành phần của chính sách xã hội chung”, với các nguyên tắc và nỗ lực có giá trị cho tất cả các nhóm ngành nghề,

“CSXH về nông nghiệp” phải “hoà nhập vào CSXH nói chung của cộng đồng”

Ngày nay, các nhà khoa học ở các nước phát triển cũng cho rằng, CSXH nông

nghiệp là bộ phận của chính sách nông thôn Tại Hội thảo “T ương lai của chính sách nông thôn” được tổ chức tại Siena, Italy từ 11-12 tháng 7/2002, các nhà khoa học các nước OECD cho rằng, chính sách nông thôn có phạm vi rộng lớn, bao gồm

ba bộ phận là chính sách thu nhập, chính sách cơ cấu và CSXH nông nghiệp

- Quan điểm coi CSXH nông nghiệp là một phân hệ thuộc hệ thống chính sách x∙ hội

Một trong những người đầu tiên đưa ra quan niệm này là nhà kinh tế học người Đức là Von der Goltz Trong cuốn sách “Nông nghiệp và các chính sách nông nghiệp” của trung tâm nghiên cứu nông nghiệp Bonn, Von der Goltz đã sử dụng khái niệm “CSXH thuộc về nông nghiệp” Theo tư tưởng của ông, CSXH nông nghiệp đưa

ra những quy tắc chuẩn mực về chính sách quan trọng nhất nhằm thực hiện những quan hệ xã hội lành mạnh hơn ở nông thôn Ông đã phân biệt ba bộ phận chính sách,

đó là: “chính sách nông nghiệp giải quyết những tranh chấp trong sở hữu gọi là chính sách sở hữu, chính sách giải quyết các vần đề xã hội được gọi là CSXH và chính sách khuyến khích việc phát triển nông nghiệp”

- Quan điểm coi chính sách x∙ hội nông nghiệp vừa bộ phận của chính sách nông nghiệp, vừa là bộ phận của chính sách x∙ hội Theo quan điểm này,

CSXH nông nghiệp vừa có mối quan hệ với chính sách nông nghiệp, vừa có mối

quan hệ với CSXH Trong cuốn sách: Chính sách xã hội và sự đảm bảo xã hội trong lĩnh vực nông nghiệp (Landwirchaftliche sozialpolitik und soziale sicherheit in der Landwirtschaft), Dr.Walter Wanggler viết: “CSXH nông nghiệp phải được nhìn nhận một cách có hệ thống như là một phần của CSXH chứ không chỉ là của chính sách nông nghiệp”

Như thế, thông qua thực hiện CSXH nông nghiệp, một mặt đảm bảo thực hiện những nội dung của chính sách kinh tế, mặt khác, nó thực hiện những vấn

đề đảm bảo xã hội cho người nông dân

Trang 17

1.1.1.3 Nội dung chính sách x∙ hội nông nghiệp

Dù theo quan điểm CSXH nông nghiệp là bộ phận của chính sách phát triển nông nghiệp, là một bộ phận của CSXH, hay vừa là bộ phận của chính sách nông nghiệp, vừa là bộ phận của CSXH, các nhà khoa học Đức cũng thống nhất với nhau về nội hàm của CSXH nông nghiệp Vấn đề này đã được các nhà khoa học thảo luận từ những năm 60 của thế kỷ XX N m 1956, nhà kinh tế CHLB

Đức là Abel, trong khi tiếp tục tư tưởng của Von der Goltz để gi i thích về CSXH nông nghiệp, đã đưa ra khái niệm “CSXH thuộc về nông nghiệp” và với nội hàm của khái niệm này, ông gọi đó là chính sách bảo đảm (an sinh) xã hội thuộc về nông nghiệp

Từ đó đến nay, khi bàn tới CSXH nông nghiệp, các nhà khoa học CHLB

Đức chủ yếu đề cập đến những vấn đề thuộc về các chính sách thu nhập, bảo hiểm và trợ cấp cho nông dân Hay nói cách khác đó là các chính sách thuộc về lĩnh vực an sinh xã hội cho nông dân

Cũng trong cuốn sách trên, khi phân tích những vấn đề CSXH nông nghiệp, Dr Walter Wanggler đề cập đến ba chính sách cơ bản là: Chính sách bảo hiểm tuổi già, chính sách BHYT và chính sách bảo hiểm tai nạn cho nông dân

Trong góp ý của Bộ nông nghệp và dinh dưỡng CHLB Đức cho việc hoàn thiện CSXH nông nghiệp, cũng đề cập tới ba vấn đề là bảo hiểm tuổi già, BHYT và chăm sóc sức khoẻ cho nông dân và bảo hiểm tai nạn cho nông dân

Trong bài viết trình bày tại Hội thảo khoa học giữa các nhà khoa học CHLB Đức và các nhà nghiên cứu của Việt Nam tại CHLB Đức ngày 30/11/2005, tại Beclin, Dr.Astrid Hager cũng chỉ ra, CSXH nông nghiệp bao gồm chính sách bảo hiểm hưu trí, BHYT và bảo hiểm tai nạn cho nông dân Theo Dr.Astrid Hager, về mặt lịch sử, hình thức đầu tiên của CSXH nông nghiệp là bảo hiểm tai nạn cho nông dân Hình thức này có từ năm 1869 Loại bảo hiểm này bao gồm bảo hiểm tai nạn và bệnh nghề nghiệp đối với nông dân Đến năm

1956, xuất hiện hình thức bảo hiểm hưu trí cho nông dân Cuối cùng, năm 1972,

có thêm hình thức BHYT nhằm bảo hiểm rủi ro bệnh tật và bảo hiểm chăm sóc sức khoẻ cho người già không tự chăm sóc mình

Nhìn chung, theo quan điểm các nhà khoa học CHLB Đức, CSXH nông nghiệp chính là những chính sách bảo hiểm và trợ cấp xã hội cho nông dân

Trang 18

1.1.2 Bảo hiểm xã hội và trợ cấp xã hội cho nông dân - Nội dung chủ yếu của chính sách xã hội nông thôn ở CHLB Đức

1.1.2.1 Bảo hiểm x∙ hội ở CHLB Đức

a Khái quát chung về bảo hiểm x∙ hội ở CHLB Đức

Thứ nhất, quá trình phát triển

BHXH của CHLB Đức ra đời gắn liền với thời kỳ bắt đầu của đại công nghiệp trên cơ sở quyết định của Đại đế Wilhem I về việc xây dựng một hệ thống bảo hiểm cho người lao động

Quá trình phát triển của hệ thống BHXH của CHLB Đức trải qua hơn một trăm năm, có thể chia thành các giai đoạn sau đây:

-Từ 1883 đến 1914: Đặc điểm quan trọng nhất của giai đoạn này là sự ra

đời của hình thức pháp lý đầu tiên của BHXH (RVO) Với sự ra đời của RVO, ba loại hình bảo hiểm là Bảo hiểm y tế, Bảo hiểm tai nạn và Bảo hiểm hưu trí được

hệ thống hóa và đặt dưới sự điều chính chung thống nhất của RVO RVO trở thành cơ sở pháp lý thống nhất chung đầu tiên của hệ thống bảo hiểm xã hội cho

đến năm 1989

-Từ 1914 đến 1945: Giai đoạn này gắn liến với hai cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai mà Đức có liên hệ mật thiết và sự tồn tại của nhà nước

Đức quốc xã (1933 - 1945) Trong giai đoạn này đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện

về tổ chức, tài chính và hoạt động kiểm tra đối với các tổ chức BHYT Tuy nhiên

điều này cũng đã dẫn đến một thay đổi cơ bản trong các nguyên tắc cơ bản của BHXH Theo đó, nguyên tắc tự quản bị xóa bỏ, thay vào đó là sự quản lý trực tiếp của nhà nước Đức quốc xã Đối tượng bắt buộc của bảo hiểm y tế nhà nước

được mở rộng cho những người nghỉ hưu(1941) Giai đoạn này cũng gắn liền với

sự ra đời của hiệp hội bảo hiểm Đức đầu tiên

- Từ 1945 đến 1969: Giai đoạn này gắn liền với sự thành lập của nhà nước Liên bang và nguyên tắc tự quản theo đó được thiết lập trở lại Giai đoạn này

đánh dấu mốc phát triển của bảo hiểm hưu trí qua sự ra đời của hiệp hội bảo hiểm hưu trí Sự cải cách lương trong năm 1957 dẫn đến sự thống nhất giữa bảo hiểm hưu trí cho người lao động trực tiếp và nhân viên văn phòng

-Từ 1969 đến 1997: Vào năm 1974, luật về BHXH tiếp tục được sửa đổi Những sửa đổi này tập trung theo hướng mở rộng đối tượng bắt buộc tham gia

Trang 19

bảo hiểm xã hội, tăng thêm dịch vụ và thúc đẩy việc nâng cao chất lượng của dịch vụ, giảm sự khồng kềnh của bộ máy tổ chức của các tổ chức bảo hiểm xã hội thông qua việc sát nhập nhiều tổ chức cùng loại trong một mái nhà chung Sự thay đổi này cũng dẫn đến kết quả là nông dân, sinh viên, người tàn tật, họa sỹ,

ký giả được xác định là đối tượng bắt buộc của BHYT nhà nước Điều này cũng

đồng nghĩa với sự tăng đột biến của chi phí cho việc thực hiện các dịch vụ bảo

hiểm y tế trong BHYT nhà nước

Từ 01/01/1989 luật đổi mới trong lĩnh vực sức khỏe ra đời và trở thành cơ

sở pháp lý cho loại hình BHYT thay cho RVO trước đây Luật này thúc đẩy việc thực hiện các hoạt động nghiên cứu dự báo sớm bệnh Xây dựng và thực hiện các dịch vụ bảo hiểm liên quan đến nhu cầu của những người tàn tật, những chăm sóc đặc biệt

Với sự đổi mới năm 1995 trong lĩnh vực xã hội đã có những tác động mạnh

mẽ dẫn đến những thay đổi lớn trong lĩnh vực BHXH, đặc biệt là BHXH cho nông dân Những thay đổi này tập chung ở các vấn đề sau: Những quy định về đối tượng bảo hiểm (bắt buộc hay không bắt buộc) theo hướng mở rộng các đối tượng bắt buộc; Thời gian bảo hiểm bắt buộc tối thiểu có thể được cộng dồn các thời kỳ tham gia chứ không nhất thiết phải là liên tục như trước đây; Không có sự phân biệt mức nghĩa vụ bảo hiểm trong và ngoài thời gian thực hiện nghĩa vụ tối thiểu; Thời gian hưởng các hỗ trợ (thất nghiệp, nuôi con nhỏ dưới 3 tuổi) vẫn được tính vào thời gian thực hiện nghĩa vụ tối thiểu nếu đến thời điểm hưởng lợi của dịch vụ người tham gia bảo hiểm bắt buộc vẫn chưa hoàn thành thời gian tối thiểu

- Từ 1997 đến nay: Vào năm 1997 luật về BHYT tiếp tục được đổi mới theo hướng giảm các gánh nặng về nghĩa vụ đóng góp trong lĩnh vực BHYT

Đồng thời bảo vệ quyền hủy bỏ hợp đồng của người tham gia bảo hiểm Giai

đoạn này gắn liền với sự kiện mức tường Berlin Sự thống nhất nước Đức dẫn đến

sự thống nhất của hệ thống BHXH ở khu vực Tây Đức và khu vực Đông Đức Theo đó, từ 01/01/1991 luật BHXH của Tây Đức được đưa vào áp dụng tại khu vực Đông Đức cũ Tổ chức của hệ thống BHYT nhà nước cũng thay đổi mạnh

mẽ Những thay đổi này hướng vào hai mục tiêu cơ bản là: Tăng cường sự cạnh tranh giữa các tổ chức BHYT trong hệ thống BHYT nhà nước và giữa các tổ chức

Trang 20

này với hệ thống BHYT tư nhân (BHYT là loại hình duy nhất tồn tại sự cạnh tranh này); Tạo ra sự cân bằng về cấu trúc rủi ro trong lĩnh vực sức khỏe, cụ thể

là cân bằng giữa các rủi ro cao với các rủi ro thấp qua nguyên tắc tương trợ Năm 1995 đánh dấu sự ra đời của loại hình bảo hiểm thân thể Tuy nhiên

đây cũng có thể xem là một sự mở rộng dịch vụ của BHYT

Từ 01/01/2000 một sự đổi mới tiếp theo về luật trong lĩnh vực BHYT nhà nước được ra đời Theo đó, sự đổi mới hướng vào việc thúc đẩy chất lượng và hiệu quả kinh tế của các hoạt động bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Vai trò của bác

sỹ gia đình được nhấn mạnh (người được bảo hiểm buộc phải thực hiện việc khám đầu tiên từ bác sỹ gia đình chứ không trực tiếp đến thẳng các bệnh viện, trừ trường hợp khẩn cấp Bác sỹ gia đình phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về việc viết giấy xác nhận ốm đau cũng như chuyển điều trị và trách nhiệm với việc sử dụng các biện pháp điều trị hợp lý)

Từ năm 2003 luật điều chỉnh trong lĩnh vực BHYT nhà nước tiếp tục được

đổi mới Theo đó kích thích sự tham gia phòng ngừa của người được bảo hiểm và hạn chế các rủi ro thuộc về hành vi (mỗi người được bảo hiểm bởi BHYT nhà nước sẽ phải tự nộp 10 Euro cho lần khám đầu tiên của mỗi quý Điều này góp phần hạn chế những cuộc viếng thăm bác sỹ không cần thiết)

Từ 2005, với sự đổi mới của luật bảo hiểm hưu trí nhà nước, tuổi nghỉ hưu đối với người lao động sẽ 67 tuổi thay vì 65 như trước đây Điều này xuất phát từ nguyên nhân của dân số già do tỷ lệ sinh ngày càng thấp và gánh nặng cho người đang làm việc đối với người nghỉ hưu ngày cang tăng (Hiện nay là tỷ lệ 2,5 người đi làm gánh vác 1 người nghỉ hưu Dự tính đến năm 2035 tỷ lệ này sẽ là 1/1) Mức thu nhập của người nghỉ hưu cũng sẽ giảm xuống bởi hệ số lương hưu theo thu nhập khi đang làm việc sẽ giảm xuống và việc áp thuế thu nhập đối với người nghỉ hưu

Với truyền thống hơn 100 năm, hệ thống BHXH của Cộng hòa Liên bang

Đức ngày nay gồm có 5 loại hình bảo hiểm sau đây: Bảo hiểm y tế: 1883; Bảo hiểm tai nạn lao động: 1884; Bảo hiểm hưu trí: 1889; Bảo hiểm thất nghiệp: 1927

và Bảo hiểm thân thể 1995 Trong 5 loại hình bảo hiểm nói trên, về thực chất có thể coi bảo hiểm thân thể là một bộ phận của BHYT Bởi vì khi các dịch vụ của BHYT được lựa chọn thì các dịch vụ về bảo hiểm thân thể cũng mặc nhiên được lựa chọn theo đó

Trang 21

Thứ hai, mục tiêu và nhiệm vụ của bảo hiểm x∙ hội

Mục tiêu của hệ thống BHXH là đảm bảo sự bền vững của xã hội thông qua việc bảo vệ công dân trước những rủi ro có thể có của cuộc sống và nhưng hậu quả của nó (ốm đau, già yếu, thất nghiệp, tai nạn lao động, không có khả năng lao động ) Nhiệm vụ của hệ thống này là cung cấp các dịch vụ nhằm ngăn chăn và khắc phục hậu quả của các rủi ro; thực hiện cân bằng các rủi ro và khắc phục những thất bại của thị trường bảo hiểm

Thứ ba, các nguyên tắc cơ bản Hệ thống BHXH được xây dựng và vận hành dựa trên 6 nguyên tắc cơ bản sau đây

- Nguyên tắc về nghĩa vụ bảo hiểm Việc tham gia BHXH đối với người lao động và một bộ phận dân chúng được xác định là nghĩa vụ bắt buộc Những

đối tượng này được quy định cụ thể trong luật BHXH đối với từng loại hình bảo hiểm Tính chất bắt buộc hay không bắt buộc, được xác định chủ yếu trên cơ sở công việc và thu nhập của người lao động Nghĩa vụ tham gia bắt buộc không diễn ra vĩnh viễn mà chỉ gắn với một thời gian cụ thể gọi là thời gian thực hiện nghĩa vụ tối thiểu Hiện nay khoảng 90% dân số của CHLB Đức là đối tượng bảo hiểm của hệ thống BHXH

- Nguyên tắc tự chủ về tài chính Các chi phí cho việc thực hiện các dịch

vụ và tổ chức quản lý của BHXH không phải từ ngân sách nhà nước (từ thuế) mà

được thực hiện từ nguồn đóng góp nghĩa vụ bảo hiểm hay nghĩa vụ xã hội của người tham gia bảo hiểm Nói một cách khác thì các tổ chức bảo hiểm của hệ thống BHXH phải tự cân đối thu chi chứ nhà nước không làm thay hoặc bao cấp Mặc dù các nhiệm vụ của BHXH do nhà nước đặt ra Chỉ trong một số trường hợp cụ thể, sẽ có sự hỗ trợ tài chính của nhà nước nhưng không phải hỗ trợ các tổ chức bảo hiểm mà hỗ trợ người tham gia bảo hiểm bằng việc nhà nước đóng góp thay một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ bảo hiểm của các đối tượng này Trừ một vài ngoại lệ trong lĩnh vực nông nghiệp, nhà nước tham gia cả vào chi phí cho việc thực hiện một số dịch vụ Nhưng về bản chất đây là các khoản chi tiêu gắn với mục tiêu bảo hộ nông nghiệp

- Nguyên tắc về sự tương trợ Tất cả các rủi ro có thể có của những người

tham gia bảo hiểm sẽ do tất cả những người tham gia bảo hiểm cùng gánh vác

Trang 22

chung Điều này hoàn toàn giống như hệ thống bảo hiểm tư nhân Tuy nhiên, sự tương trợ trong BHXH được nhấn mạnh ở việc xác định nghĩa vụ bảo hiểm trên cơ sở thu nhập ròng của người lao động chứ không xác định trên cơ sở dịch vụ

được lựa chọn như ở bảo hiểm tư nhân

- Nguyên tắc tự quản Các tổ chức bảo hiểm trong hệ thống BHXH được xác định là các tổ chức tự quản Các tổ chức này tự tổ chức bộ máy để thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ được nhà nước ủy thác Nhà nước chỉ đặt ra nhiệm vụ bảo hiểm và kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ bảo hiểm của các tổ chức này thông qua các Bộ chuyên ngành Liên bang chứ không can thiệp vào tổ chức bộ máy của các tổ chức này Tổ chức cao nhất của của mỗi tổ chức BHXH là hội

đồng thành viên, sẽ hoàn toàn do người tham gia bảo hiểm và người sử dụng lao

động lựa chọn theo nhiệm kỳ 6 năm một lần dưới hình thức bỏ phiếu kín

- Nguyên tắc về quyền tự do đi lại Nguyên tắc này được đưa ra trên khuôn khổ những hiệp định chung trong khối EU về tự do hàng hóa, dịch vụ và vốn Người tham gia BHXH, có quyền tự do lựa chọn chỗ làm, sinh sống và việc hưởng lợi ích từ các dịch vụ bảo hiểm trong phạm vi Châu Âu, không phụ thuộc vào người chủ sử dụng lao động là ai

- Nguyên tắc tương đương Mức lợi ích mà người tham gia bảo hiểm có

thể nhận được sẽ tương đương với mức đóng góp nghĩa vụ bảo hiểm được thực hiện Nguyên tắc này được nhấn mạnh trong loại hình bảo hiểm hưu trí Với nguyên tắc này, mức lương nhận được khi về hưu tương ứng với mức đóng góp nghĩa vụ trong thời gian làm việc

Thứ ba, đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm x∙ hội

Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH là người lao động nói chung có mức thu nhập thấp hơn giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm được quy định cho mỗi loại hình bảo hiểm cụ thể Đối tượng bắt buộc tham gia BHXH cho mỗi loại hình bảo hiểm được quy định rõ trong luật BHXH

Những đối tượng không thuộc diện bắt buộc tham gia BHXH cũng có thể lựa chọn tham gia tự nguyện ở hệ thống BHXH hoặc ở hệ thống bảo hiểm tư nhân (ngoại trừ một số trường hợp chỉ có thể tham gia dua nhất ở hệ thống bảo hiểm tư nhân)

Trang 23

Giữa đối tượng bắt buộc tham gia và đối tượng tự nguyện có thể khác nhau

về cách xác định nghĩa vụ bảo hiểm và dịch vụ có thể được hưởng từ bảo hiểm (có những dịch vụ chỉ những đối tượng tham gia bắt buộc mới được hưởng) Những đối tượng bắt buộc tham gia BHXH cũng có thể trở thành đối tượng không bắt buộc tham gia BHXH khi: Mức thu nhập ròng của họ lớn hơn giới hạn xác định nghĩa vụ BHXH; Hoặc họ đã hoàn thành thời gian tham gia nghĩa vụ bảo hiểm tối thiểu theo quy định.Những đối tượng này nếu vẫn lựa chọn tham gia BHXH thì những lợi ích giành cho đối tượng tham gia bắt buộc sẽ không bị mất

đi Ngoài ra, phần thu nhập ròng vượt quá giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm

sẽ không phải gánh chịu nghĩa vụ

Nông dân là đối tượng bắt buộc tham gia BHXH và được xác định là đối tượng đặc biệt Đối tượng này tham gia bảo hiểm xã hội ở tổ chức BHXH dành riêng cho Nông dân và có những điều chỉnh đặc biệt phù hợp với tính chất công việc của đối tượng này

Cơ sở cho sự phân biệt này là: Nông dân là người có tài sản sở hữu, họ vừa

là người tự làm việc và trả thù lao cho chính mình, vừa là người sử dụng các lao

động khác (ít nhất là các thành viên trong gia đình) và là người thu hưởng lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại Do vậy họ không được coi là người lao động làm công ăn lương nhưng cũng không hoàn toàn là người chủ sử dụng lạo động

Giữa BHXH nói chung với BHXH dành riêng cho nông dân chỉ khác biệt ở cách xác định nghĩa vụ bảo hiểm và điều kiện để nhận các lợi ích từ các dịch vụ của bảo hiểm

Thứ tư, nghĩa vụ bảo hiểm x∙ hội

- Trừ một vài ngoại lệ, nghĩa vụ BHXH được xác định với một tỷ lệ nhất

định cho phần thu nhập ròng thấp hơn giới hạn xác định nghĩa vụ xã hội của người lao động Tổng cộng mức nghĩa vụ BHXH cho đối tượng tham gia bảo

hiểm bắt buộc hiện nay là 46,5 % thu nhập ròng

- Mức giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm được xác định khác nhau ở các loại hình bảo hiểm khác nhau và được điều chỉnh hàng năm Điều này tùy thuộc

Trang 24

vào mục tiêu và những nhu cầu thực tế cho việc thực hiện các dịch vụ bảo hiểm mỗi năm Hiện nay (năm 2006) mức giới hạn nghĩa vụ xã hội áp dụng ở Bảo hiểm y tế và Bảo hiểm thân thể là 3.487,5 euro mỗi tháng; Bảo hiểm hưu trí và Bảo hiểm thất nghiệp là 5.250 euro mỗi tháng đối với khu vực Tây Đức cũ và 4.400 Euro mỗi tháng đối với khu vực Đông Đức cũ Mức giới hạn nghĩa vụ bảo hiểm của đối tượng nghỉ hưu được xác định bằng 75% mức giới hạn nghĩa vụ bảo hiểm áp dụng cho người đang làm việc ở các loại hình bảo hiểm tương ứng mà

đối tượng này bắt buộc tham gia (mức lương hưu được xác định bằng 75% mức lương trước khi nghỉ hưu)

- Thông thường, nghĩa vụ bảo hiểm không phải do người tham gia bảo hiểm gánh chịu mà được chia đều cho người lao động (người tham gia bảo hiểm)

và người chủ sử dụng lao động Ngoại trừ một số ngoại lệ, nghĩa vụ bảo hiểm của một số đối tượng sẽ được Nhà nước đóng thay (những người thất nghiệp, nhận hỗ trợ xã hội) hoặc do người sử dụng lao động phải gánh chịu hoàn toàn (nghĩa vụ bảo hiểm hưu trí cho những lao động có thu nhập thấp hơn thu nhập tối thiểu theo quy định của luật) hoặc do người tham gia bảo hiểm tự chịu (nông dân với tư cách là chủ trang trại; phần phụ thu cho dịch vụ của nha sỹ trong bảo hiểm y tế; nghĩa vụ bảo hiểm của một số đối tượng hành nghề tự do…) Đối với người hưởng lương hưu, nghĩa vụ bảo hiểm đối với các loại hình bảo hiểm mà họ phải tham gia sẽ được chia đều cho người tham gia bảo hiểm và tổ chức bảo hiểm hưu trí nơi mà họ tham gia

Nghĩa vụ BHXH của người tham gia bảo hiểm sẽ được chuyển chung trực tiếp từ người sử dụng lao động đến tổ chức BHYT nơi họ tham gia Từ đây, các khoản nghĩa vụ khác sẽ được chuyển tiếp đến các tổ chức bảo hiểm tương ứng

Điều này xuất phát từ mục đích nhằm đơn giản hóa cho người tham gia BHXH

và thuận tiện cho các hoạt động kiểm tra tài chính và nhiệm vụ bảo hiểm trong lĩnh vực BHXH

- Đối với những người có thu nhập cao vượt quá giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm, nếu chuyển sang hệ thống bảo hiểm tư nhân, có thể yêu cầu chủ sử dụng lao động thanh toán thêm cho mức phí bảo hiểm tăng thêm Nhưng mức

Trang 25

gánh chịu của chủ sử dụng lao động sẽ không vượt quá 50% của mức nghĩa vụ bảo hiểm theo thu nhập ròng mà không quan tâm đến giới hạn xác định nghĩa vụ xã hội Ví dụ với mức thu nhập là 6.000 Euro thì mức gánh chịu của người chủ

sử dụng lao động trong trường hợp này cho nghĩa vụ bảo hiểm hưu trí sẽ không vượt quá 9,75% của 6.000 Euro

Thứ năm, tổ chức và cơ sở pháp lý của bảo hiểm x∙ hội

Các tổ chức BHXH là các tổ chức tự quản phải tự chủ về các hoạt động thu chi và thực hiện các nghĩa vụ xã hội được Nhà nước đặt ra Nhà nước chỉ đặt ra

và kiểm soát việc thực hiện các nghĩa vụ xã hội của các tổ chức này thông qua các Bộ chuyên ngành như: Bộ y tế và xã hội Liên bang; Bộ Kinh tế và Lao động Liên bang; Bộ bảo vệ người tiêu dùng Liên bang và Bộ Nông nghiệp Liên bang Hội đồng thành viên của các tổ chức BHXH sẽ do người tham gia bảo hiểm và người chủ sử dụng lao động sẽ lựa chọn kín theo nhiệm kỳ 6 năm Hội

đồng thành viên có nhiệm vụ tiếp tục lựa chọn các thành viên của hội đồng quản trị Cơ sở pháp lý cho hoạt động của các tổ chức BHXH là Luật BHXH với các

điều chỉnh chung và điều chỉnh theo từng lĩnh vực bảo hiểm

b Các loại bảo hiểm x∙ hội cho nông dân

Thứ nhất, bảo hiểm y tế cho nông dân

- Khái quát chung về bảo hiểm y tế

Bảo hiểm y tế là loại hình bảo hiểm bắt buộc, mọi công dân, người làm việc và học tập tại CHLB Đức đều có nghĩa vụ phải tham gia BHYT Tuy nhiên chỉ các đối tượng sau đây, được xác định là đối tượng bắt buộc của BHYT nhà nước: Người lao động và nhân viên văn phòng; Những người liên quan đến tiền thất nghiệp hoặc nhận hỗ trợ thất nghiệp; Những người hoạt động nghệ thuật và phóng viên; Những người khuyết tật; Sinh viên; Thực tập sinh và thực tập nghề nghiệp không lương; Những người nghỉ hưu Nông dân và các thành viên trong gia đình Những đối tượng khác không thuộc đối tượng bắt buộc của BHYT nhà nước, sẽ phải tham gia bảo hiểm ở các tổ chức BHYT tư nhân hoặc một số trường hợp có thể tham gia ở BHYT nhà nước dưới hình thức tự nguyện

Trang 26

Biểu số 1 : Bảo hiểm y tế bắt buộc và số thành viên năm 2003

Trong đó % Loại Quỹ Số lượng

quỹ

Thành viên (1000) Bắt buộc Tự nguyện Về hưu

Nguồn: TS Astrid Haeger Viện Wisola, Humboldt Universitat zu Berlin

- Bảo hiểm y tế cho nông dân

Trên lãnh thổ CHLB Đức hiện có 8 quĩ BHYT nông nghiệp vùng cộng với

1 quĩ cho xây dựng vườn đều hướng vào phục vụ các hợp tác xã nghề nông Các quĩ bảo hiểm y tế nông nghiệp tính đến cả hơn 320 quĩ khác biệt nhất bảo hiểm y

tế bắt buộc Năm 2003 trên lãnh thổ liên bang có 320 quĩ bảo hiểm y tế bắt buộc Trong những năm gần đây có khuynh hướng tập trung hoá mạnh mẽ - đặc biệt

đối với các quĩ bảo hiểm y tế vùng - sự sụt giảm mạnh các quĩ

Trong những năm sắp tới khuynh hướng này - với luật quĩ bảo hiểm y tế mới từ năm 1998 và sự cạnh tranh lớn nhất - chắc chắn sẽ duy trì và mạnh hơn nhờ sự thay đổi cấu trúc thành viên vì các quĩ bồi thường ngày nay cũng phục vụ cho người lao động Các quĩ bảo hiểm y tế xí nghiệp thu nhập ở vị trí dẫn đầu

Về số lượng thành viên các quĩ bảo hiểm y tế vùng điều khiển cả các quĩ bồi thường cho nhân viên Các quĩ bảo hiểm y tế nông nghiệp chỉ đặt ra một số lượng nhỏ các quĩ và chỉ tham gia vào sự tồn quĩ của mọi thành viên với mức 1,2% Tính cộng đồng của các quĩ bảo hiểm y tế nông nghiệp hình thành sự bảo hiểm mang ít tính cộng đồng đoàn kết

Tiếp theo một số lượng rất lớn những người được bảo hiểm hưu trí (còn cao hơn ở nghiệp đoàn công nhân mỏ và vượt qua mức trung bình ở các quĩ khác) gây chú ý cho LKK

Trang 27

Số lượng lớn nhất những người được bảo hiểm tự nguyện tìm đến các quĩ bồi thường cho nhân viên và quĩ bảo hiểm y tế biển, nơi không thể có thu nhập cao hơn các thành viên của các quĩ bảo hiểm này

Nông dân sẽ tham BHYT ở tổ chức BHYT cho nông dân (một trong tám tổ chức BHYT trong hệ thống BHYT nhà nước của CHLB Đức hiện nay) Đối tượng bắt buộc là nông dân với tư cách là người chủ sở hữu trang trại; và những thành viên trong gia đình họ làm việc tại trang trại với nghề nghiệp chính là nông dân

và những người đang hưởng hưu nông dân là đối tượng bảo hiểm bắt buộc tham gia vào bảo hiểm y tế nông dân (Từ năm 1995, với chính sách đổi mới trong lĩnh vực nông nghiệp, nhưng đối tượng là công chức, công nhân làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp cũng có thể tham gia vào loại hình bảo hiểm này theo hình thức

tự nguyện) BHYT cho nông dân cũng tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc của BHYT nói chung Tuy nhiên ngoài sự khác biệt về đối tượng được bảo hiểm, BHYT cho nông dân còn có các điểm khác biệt so BHYT chung ở các điểm cơ bản sau đây:

+ Nghĩa vụ BHYT của người nông dân với tư cách là chủ sở hữu trang trại không được xác định trên cơ sở thu nhập mà được xác định trên cơ sở giá trị của diện tích mặt phẳng của trang trại được sử dụng Nó được phân theo loại hạng từ thấp đến cao theo hệ số cố định (thấp nhất là 5 và cao nhất là 10) Trên cơ sở đó

sẽ áp vào cho từng trang trại để xác định mức nghĩa vụ bảo hiểm cụ thể Mức nghĩa vụ bảo hiểm không phải do nhà nước hay quốc hội đưa ra mà do hội đồng quản trị của tổ chức BHYT cho nông dân xác định

+ Nghĩa vụ bảo hiểm cho người nông dân là chủ trang trại và các thành viên trong gia đình họ (những người làm việc tại trang trại gia đình như nghề nghiệp chính là Nông dân) sẽ do chính bản thân người Nông dân đảm nhiệm (ngoại trừ một số trường hợp các thành viên trong gia đình được miễn nghĩa vụ theo quy định chung giống như BHYT chung) Mức nghĩa vụ đối với các thành viên trong gia đình bằng 50% đến 70% mức của chủ trang trại Đối với các thành viên là thực tập nghề nghiệp có tuổi từ 18 đến 25 thì mức nghĩa vụ bằng 37,5% mức nghĩa vụ của chủ trang trại

+ Người nông dân sẽ không nhận được tiền ốm đau từ dịch vụ này như các

đối tượng khác của bảo hiểm y tế chung (ngoại trừ các thành viên trong gia đình

Trang 28

họ nếu có hợp đồng làm việc với người chủ sở hữu trang trại) Thay vào đó, họ sẽ nhận được tiền hỗ trợ cho hoạt động điều hành sản xuất của trang trại – công việc hàng ngày của họ vẫn làm nhưng nay không làm được vì ốm và phải thuê người làm thay Mức hỗ trợ này sẽ được xác định cụ thể trên từng tiêu thức phân loại về

đối tượng cần điều hành, quản lý (số người làm việc, số đầu gia súc của trang trại…) Cơ sở cho những khác biệt này là

Thu nhập của nông dân hàng tháng là không thể nhìn thấy trước được như người làm công ăn lương Điều này xuất phát từ lý là hoạt động sản xuất của họ

có tính mùa vụ và chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên

Nghĩa vụ bảo hiểm là cơ sở để xác định mức lợi ích được hưởng từ các dịch vụ của bảo hiểm Tiền hỗ trợ cho hoạt động điều hành sản xuất trang trại phải xuất phát từ thực tế công việc của trang trại mới có tính khả thi Công việc này ở mỗi trang trại khác nhau sẽ khác nhau Trong đó giá trị của mặt phẳng sử dụng sẽ quyết định đến khối lượng các công việc của trang trai (ví dụ cần bao nhiêu máy móc, có thể nuôi thả được bao nhiêu gia súc…)

Thứ hai, bảo hiểm tuổi già cho nông dân

- Những vấn đề chung về bảo hiểm hưu trí

Trong loại hình bảo hiểm hưu trí, đối tượng được bảo hiểm được chia thành hai loại là đối tượng bắt buộc và đối tượng tư do hay tư nguyện

Các đối tương thuộc diện bảo hiểm bắt buộc là: Những người lao động và nhân viên văn phòng nói chung; Thực tập nghề nghiệp; Một nhóm xác định trong những người hành nghề tự do (thợ thủ công, giáo viên, cô nuôi dạy trẻ, những người hoạt động nghệ thuật, phóng viên…); Những người phục vụ quân sự (bộ

đội) và dân sự; Những người khuyết tật; Người bố hoặc người mẹ trong thời gian nuôi con nhỏ đến 3 tuổi; Nông dân và các thành viên trong gia đình

Công chức và những người có thu nhập thấp hơn thu nhập tối thiểu không thuộc đối tượng bắt buộc bảo hiểm Lý do là công chức đã được đảm bảo bởi nhà nước và những người có mức thu nhập thấp hơn mức thu nhập tối thiểu thuộc diện được hưởng phúc lợi xã hội đảm bảo thu nhập luôn bằng mức thu nhập tối thiểu Những người lao động có mức thu nhập cao hơn giới hạn chịu nghĩa vụ bảo hiểm, được xác định là đối tượng tự do và có thể tự do lựa chọn việc mua bảo hiểm nhà nước hoặc của các tổ chức bảo hiểm tư nhân

Trang 29

Nông dân với tư cách là chủ sở hữu trang trại hay chủ doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp, không thuộc hệ thống bảo hiểm hưu trí mà thuộc hệ thống bảo hiểm tuổi già dành cho nông dân (Alterversicherung) Về bản chất, hai hệ thống này giống nhau, chỉ khác nhau về tổ chức bảo hiểm và việc đóng nghĩa vụ bảo hiểm cũng như điều kiện nhận dịch vụ của bảo hiểm

Những người tham gia bảo hiểm hưu trí có thể được hưởng các lợi ích từ tổ chức bảo hiểm hưu trí mà họ tham gia như Tiền lương hưu; Tiền trợ cấp do công việc bị giới hạn đột xuất hoặc không có khả năng lao động; Tiền tuất; Tiền lương thất nghiệp; Tiền lương cho phụ nữ trong thời gian nuôi con nhỏ

- Bảo hiểm tuổi già cho nông dân

Hệ thống bảo hiểm xã hội của Cộng hòa Liên bang Đức phân biệt rõ hai

khái niệm Bảo hiểm hưu trí (cho người lao động nói chung) và Bảo hiểm tuổi già cho nông dân. Cơ sở cho sự phân biệt này như đã trình bầy là do đặc thù của người nông dân trong công việc của họ Tuy nhiên về bản chất, cả hai loại này

đều nhằm mục đích đảm bảo thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi hết tuổi lao động hoặc gặp những rủi ro khác dẫn đến không còn khả năng lao động vẫn

có điều kiện sống tối thiểu

+ Đối với bảo hiểm tuổi già của Nông dân, các đối tượng được xác định là

đối tượng bắt buộc đóng bảo hiểm tuổi già là: Người nông dân với vai trò là người chủ nông trang và điều hành hoạt động sản xuất của nông trang; Các thành viên trong gia đình người nông dân ở độ tuổi từ 20 đến 65, tham gia làm việc tại nông trang với nghề nghiệp chính của nông dân;

Tính chất bắt buộc này được loại trừ ở các đối tượng nông dân mà công việc của họ không nhằm mục đích kinh tế (thú vui); những người chưa đủ 65 tuổi nhưng đang trong thời gian chờ nghỉ hưu do các hoàn cảnh cụ thể

+ Ngoài sự khác biệt về đối tượng và tổ chức bảo hiểm, giữa bảo hiểm hưu trí và bảo hiểm tuổi già của nông dân có những khác biệt cơ bản sau đây:

Về các loại hình dịch vụ Bảo hiểm tuổi già cho nông dân cũng bao gồm các dịch vụ về tiền lương khi hết tuổi lao động, tiền trợ cấp do mất khả năng lao động và tiền tuất cho người được hưởng hợp pháp khi người tham gia bảo hiểm qua đời

Về nghĩa vụ bảo hiểm và thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm ở bảo hiểm tuổi già cho nông dân, nghĩa vụ bảo hiểm cho người chủ và trực tiếp điều hành hoạt

Trang 30

động sản xuất không được xác định theo thu nhập ròng mà được đưa ra một mức

cố định, như hiện nay là 291Euro mỗi tháng chung cho mọi thành viên là chủ trang trại tham gia bảo hiểm, không phân biệt về thu nhập hay quy mô của trang trại Mức này do tổ chức bảo hiểm tính toán và xác định chứ nhà nước không áp

đặt hoặc ảnh hưởng.Tuy nhiên mức nghĩa vụ thực tế để hưởng lương hưu sau này không phải là 291Euro mà là 1.000Euro mỗi tháng Khoảng hơn 700Euro chênh lệch này người tham gia bảo hiểm được nhà nước hỗ trợ Đối với các đối tượng tham gia bắt buộc khác, mức nghĩa vụ được xác định bằng 50% mức nghĩa vụ của người chủ nông trang Kể cả phần hỗ trợ của nhà nước ở loại dịch vụ này Vì mức đóng góp nghĩa vụ hàng tháng của mỗi đối tượng cùng loại là như nhau nên mức lương hưu không được xác định trên cơ sở mức nghĩa vụ bảo hiểm nộp hàng tháng mà xác định trên cơ sở thời gian tham gia bảo hiểm Những người có thời gian tham gia bảo hiểm lớn hơn thời gian nghĩa vụ tối thiểu càng nhiều thì mức lương hưu nhận được càng cao theo lũy tiến Thời gian thực hiện nghĩa vụ tối thiểu ở loại hình này là 15 năm ít hơn so với bảo hiểm hưu trí là 3 năm Mức lương của người chủ đương nhiên cũng lớn gấp hai lần mức lương của các thành viên khác trong gia đình anh ta

Ngoài nghĩa vụ bảo hiểm chính áp dụng chung cho mọi nông dân với tư cách là chủ và điều hành sản xuất nông trang tham gia bảo hiểm bắt buộc, mỗi người có thể sẽ phải thực hiện thêm một khoản nghĩa vụ bổ sung cho việc đảm bảo thu nhập trong hoàn cảnh thu nhập bị giảm sút Nghĩa vụ này hướng vào những đối tượng có thu nhập thấp nhằm đảm bảo điều kiện sản xuất cho những

đối tượng này khi gặp khó khăn, không có khả năng đầu tư sản xuất Mức nghĩa

vụ này được xác định trên cơ sở thu nhập và tỷ lệ nghịch với thu nhập Hiện nay, mức nghĩa vụ cao nhất cho dịch vụ này bằng 80 % mức nghĩa vụ bảo hiểm chính Mức này được áp dụng cho những thành viên có mức thu nhập đến 16.000Euro mỗi năm Đối với những thành viên, có mức thu nhập từ 16.000Euro đến 40.000Euro mỗi năm, mức nghĩa vụ phụ thêm này sẽ giảm đi 3,2% cho mỗi 1.000Euro thu nhập cho phần lớn hơn 16.000Euro Đối với những thành viên có mức thu nhập lớn hơn 40.000Euro mỗi năm, không phải thực hiện nghĩa vụ này Trong trường hợp trang trại do cả vợ và chồng là chủ điều hành thì mức thu nhập

Trang 31

sẽ được chia đôi Người chủ sử dụng lao động cũng phải trả thêm 10Euro nghĩa

vụ bảo hiểm bổ sung cho việc đảm bảo mức lương hưu của người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp ngang bằng với mức lương hưu của người lao động ở lĩnh vực khác (thu nhập của công nhân nông nghiệp thường thấp hơn lĩnh vực khác)

Về điều kiện hưởng dịch vụ Đối với dịch vụ chính (lương hưu), ngoài

việc đáp ứng đủ các điều kiện như ở bảo hiểm hưu trí, ở bảo hiểm tuổi già cho nông dân còn bị ràng buộc thêm điều kiện về việc chuyển giao hoạt động điều hành sản xuất của người tham gia bảo hiểm sang người khác (chuyển nhượng hoặc cho thuê…) Tức là ngoài điều kiện họ hết tuổi lao động (65 tuổi), hoàn thành thời gian thực hiện nghĩa vụ bắt buộc, họ phải là người không tham gia vào hoạt động điều hành sản xuất của nông trang nữa Người tham gia bảo hiểm có thể đệ đơn xin hưởng lương hưu khi đến 55 tuổi trong trường hợp vợ (hoặc chồng) ở thời điểm đó đang là người nhận lương hưu thông thường (đủ 65 tuổi) Tuy nhiên trong trường hợp này, mức lương hưu sẽ giảm

Trong trường hợp họ vẫn điều hành hoạt động sản xuất thì họ sẽ vẫn chưa nhận được lương hưu mặc dù họ đã thỏa mãn hai điều kiện trên Trong hoàn cảnh này, thay vì nhận lương hưu, họ sẽ nhận được tiền hỗ trợ cho việc điều hành (thuê người hoặc thêm các điều kiện thuận lợi cho việc điều hành)

Đối với dịch vụ hỗ trợ khi không có khả năng làm việc, người tham gia bảo hiểm chỉ nhận được lợi ích của dịch vụ này khi thỏa mãn các điều kiện: Thời gian tham gia bảo hiểm tối thiểu là 5 năm; Trong 5 năm cuối trước khi rơi vào hoàn cảnh không còn khả năng lao động phải có ít nhất 3 năm (có thể nhỏ hơn 3 năm nếu mất khả năng lao động do tai nạn lao động) thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm bắt buộc Như vậy, chỉ những đối tượng bảo hiểm bắt buộc mới được hưởng lợi ích từ dịch vụ này Trong thời gian 5 năm này không liên quan đến các khoản

hỗ trợ nuôi con nhỏ dưới 3 tuổi Nếu có thì mức thời gian quy định này sẽ tăng lên gấp đôi

Đối với tiền tuất, ở bảo hiểm tuổi già nông dân, được chia thành hai loại: Một loại là sau khi người được bảo hiểm mất, đối tượng có thể được hưởng tiền tuất theo quy định sẽ được hưởng lợi ích của dịch vụ này như các điều kiện của bảo hiểm hưu trí nếu hoạt động điều hành sản xuất ở nông trang được chuyển

Trang 32

giao sang người khác chứ không phải người có thể được nhận tiền tuất theo quy

định của luật Một loại khác là, nếu hoạt động điều hành sản xuất do người được hưởng lợi tiếp quản lý, thì thay vì chi trả tiền tuất, tổ chức bảo hiểm sẽ đảm nhiệm việc hỗ trợ tài chính nhằm giúp việc điều hành sản xuất ở nông trang trở lại bình thường

Thứ ba, bảo hiểm tai nạn cho nông dân

- Khái quát chung về bảo hiểm tai nạn

Bảo hiểm tai nạn được xác định là bảo hiểm bắt buộc đối với mọi người lao động và các thành viên tham gia các hoạt động xã hội, bao gồm cả trẻ em tham gia nhà trẻ, mẫu giáo

Dịch vụ của bảo hiểm tai nạn cũng được chia thành ba loại là dạng đồ vật, dạng dịch vụ thuần túy và dạng dịch vụ là tiền nhằm khắc phục các hậu quả do tai nạn gây ra cho người tham gia bảo hiểm và lợi ích cho những người liên quan Qua đó giúp cho những người này có thể sớm hồi phục và trở lại với công việc; ngăn chặn các rủi ro có thể xẩy ra Bảo hiểm tai nạn cũng thực hiện các dịch vụ tư vấn các biện pháp phòng ngừa và tư vấn kỹ thuật, đảm bảo điều kiện làm việc

an toàn, đảm bảo sức khỏe của người lao động

Về cơ bản, các dịch vụ của bảo hiểm tai nạn cũng được thực hiện thông qua nguồn đóng góp nghĩa vụ bảo hiểm Tuy nhiên khác với các loại hình bảo hiểm khác trong hệ thống bảo hiểm xã hội, người tham gia bảo hiểm không phải thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm Nghĩa vụ bảo hiểm của người lao động sẽ do người

sử dụng lao động hoàn toàn đảm nhận Các chi phí cho các đối tượng khác sẽ

được thực hiện bởi nhà nước Liên bang

- Bảo hiểm tai nạn cho nông dân

Về cơ bản các dịch vụ của bảo hiểm tai nạn cho nông dân cũng giống như bảo hiểm tai nạn nói chung Tuy nhiên bảo hiểm tai nạn cho nông dân có những

điểm khác biệt so với bảo hiểm tai nạn nói chung ở các điểm sau đây:

+ Về tổ chức: các tổ chức bảo hiểm tai nạn cho nông dân hoạt động như một HTX tự quản mà các thành viên là các chủ trang trại hay các doanh nghiệp nông nghiệp chứ không phải tất cả các đối tượng tham gia bảo hiểm đều là thành viên Chỉ các thành viên mới có quyền tham gia lựa chọn hội đồng thành viên

Trang 33

+ Về nghĩa vụ bảo hiểm: Nghĩa vụ bảo hiểm được xác định trên cơ sở của phương pháp tự bao phủ (các chi phí cho các dịch vụ của năm trước là cơ sở để xác định nghĩa vụ bảo hiểm năm sau cho các thành viên) Nghĩa vụ bảo hiểm không phải do tất cả các đối tượng được bảo hiểm phải thực hiện mà chỉ những

đối tượng là thành viên Ngoài ra các tổ chức này nhận được sự hỗ trợ của nhà nước cho các chi phí thực hiện dịch vụ Mức hỗ trợ này thường gấp hai lần mức nghĩa vụ mà các thành viên phải gánh chịu

+ Dịch vụ là tiền: Dịch vụ là tiền cho người lao động khi bị tai nạn trong bảo hiểm tai nạn nông dân không được xác định trên tổng thu nhập ròng của người lao động trong 12 tháng trước khi bị tai nạn mà được xác định trên cơ sở thu nhập trung bình với mức cố định áp dụng chung cho tất cả các đối tượng

Điều này xuất phát từ sơ sở rằng thu nhập trong lĩnh vực nông nghiệp là không thể nhìn thấy trước và chịu ảnh hưởng nhiều của yếu tố tự nhiên

+ Bảo hiểm tai nạn nông nghiệp cũng được ngân sách liên bang tài trợ khoảng rất lớn, trong thời gian 1993 đến 2003, mức tài trợ này lên tới 30% Như thế, trong khoảng 10 năm mức phải chi phí tăng khoảng 20% Tổng mức đóng góp của các thành viên tăng khoảng 46% Phần của ngân sách liên bang giảm nhẹ (hiện nay xác định cố định ở mức 250 triệu EUR) tuy vậy vẫn rất lớn

Biểu số 2: Mức phải chi phí và tài trợ của bảo hiểm tai nạn nông nghiệp

Ngân sách Liên bang Năm Chi phí

(triệu EUR)

Mức đóng góp của nông nghiệp (triệu EUR) Triệu EUR %

là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm y tế nhà nước cũng chính là đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thân thể nhà nước.Tất cả các đối tượng không thuộc

Trang 34

diện bắt buộc của bảo hiểm y tế nhà nước, cũng được xác định là đối tượng không bắt buộc của bảo hiểm thân thể nhà nước Nhưng chỉ những ai trong số này tham gia tự nguyện ở BHYT nhà nước thì mới được tham gia ở bảo hiểm thân thể nhà nước Những người khác phải tham gia ở bảo hiểm thân thể tư nhân Cũng như các dịch vụ của BHYT, các dịch vụ của bảo hiểm thân thể được chia thành ba dạng là dịch vụ dưới dạng đồ vật, dịch vụ tiền và gắn liền với các dịch vụ của BHYT Các dịch vụ của bảo hiểm thân thể chỉ được thực hiện trên cơ

sở quyết định của bác sỹ từ kết quả của các dịch vụ y tế và được chia thành ba bậc gắn liền với ba mức độ khác nhau từ mức nhẹ, trung bình đến nặng của thương tật thân thể trong trường hợp xẩy ra rủi ro

Tuy nhiên khác với dịch vụ y tế, dịch vụ của bảo hiểm thân thể còn bao gồm cả các hoạt động giúp cho người bị rủi ro làm quen với tình trạng mới của cơ thể và khả năng hòa nhập với các hoạt động đời thường (tổ chức các khóa đào tạo, hỗ trợ các phương tiện kỹ thuật, dụng cụ…) Dịch vụ chăm sóc hàng ngày

đối với những người không còn khả năng hành vi (bảo hiểm sẽ thanh toán tiền lương cho người chăm sóc người tàn tật) và chi trả nghĩa vụ bảo hiểm lương hưu cho những đối tượng thuộc diện hưởng lợi ích này

Cũng như dịch vụ của BHYT, dịch vụ bảo hiểm thân thể cũng có giới hạn

về mức độ chi trả của dịch vụ cũng như hệ số chăm sóc y tế theo đóng góp nghĩa

vụ bảo hiểm Nhưng khác với BHYT, các dịch vụ của bảo hiểm thân thể còn giới hạn ở mức độ thương tật và hoàn cảnh thương tật và cách thức chăm sóc (chăm sóc tại nhà hay tại cơ sở y tế)

Các dịch vụ của bảo hiểm thân thể cũng được thực hiện trên cơ sở nguồn

đóng góp nghĩa vụ bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm Mức đóng góp nghĩa vụ bảo hiểm thân thể cũng được xác định trên cơ sở thu nhập ròng của người lao động với mức cố định là 1,7% và được chia đều cho người sử dụng lao động và người lao

động tham gia bảo hiểm Bảo hiểm thân thể cũng có chung giới hạn xác định nghĩa

vụ bảo hiểm với bảo hiểm y tế và các tính chất đi liền với mức giới hạn này

Đối với sinh viên, mức nghĩa vụ được đưa ra cố định là 7,92Euro mỗi tháng Những người thất nghiệp, nghĩa vụ bảo hiểm của họ sẽ được thực hiện bởi Phòng việc làm Liên bang, nơi mà họ tham gia bảo hiểm thất nghiệp

Trang 35

- Bảo hiểm thân thể cho nông dân

Bảo hiểm thân thể cho nông dân về cơ bản cũng giống như bảo hiểm thân thể nói chung trong hệ thống bảo hiểm xã hội Ngoại trừ nghĩa vụ bảo hiểm của các thành viên tham gia, đối với các đối tượng này, nghĩa vụ bảo hiểm không

được tính trên cơ sở thu nhập với tỷ lệ phần trăm nhất định như bảo hiểm thân thể nói chung mà được coi như một phần nghĩa vụ bổ sung thêm cho nghĩa vụ bảo hiểm y tế dành cho nông dân Mức bổ sung này được xác định bằng 7,5% (cho khu vực Tây Đức cũ) và 7,7% (cho khu vực Đông Đức cũ) mức nghĩa vụ bảo hiểm y tế cho nông dân Mức phụ thêm này do người chủ trang trại gánh chịu chung cho cả các thành viên khác trong gia đình ở khu vực Đông Đức cũ, mức

đóng góp phụ thêm cho bảo hiểm thân thể cao hơn vì mức nghĩa vụ BHYT khu vực này thấp hơn khu vực Tây Đức cũ

Thứ năm, bảo hiểm thất nghiệp

- Khái quát về bảo hiểm thất nghiệp

Đối tượng tham gia bắt buộc ở bảo hiểm thất nghiệp nhà nước là những đối tượng lao động có thu nhập hàng tháng thấp hơn mức giới hạn xác định nghĩa vụ xã hội và thực tập nghề nghiệp

+ Các dịch vụ của bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Hỗ trợ các chi phí cho việc nhận tư vấn và môi giới việc làm; Hỗ trợ các nỗ lực tìm kiểm và tiếp nhận việc làm (chi phí đi lại đến nơi thử việc); Hỗ trợ thức đẩy việc hành nghề tự do khi thất nghiệp (hỗ trợ vốn để tự kinh doanh), hoạt động này được thực hiện thông qua việc hỗ trợ vay vốn để tự kinh doanh Những đối tượng này sẽ phải tự chi trả nghĩa vụ BHYT và bảo hiểm hưu trí Trong 3 năm đầu họ cũng có thể lựa chọn việc thực hiện 100% nghĩa vụ hoặc 50% nghĩa vụ (tất nhiên mức lợi ích sẽ khác nhau); Thúc đẩy việc tham gia học tập, đào tạo lại, đào tạo mở rộng và đào tạo nâng cao (Phòng việc làm Liên bang đảm nhiệm việc hỗ trợ các kinh phí để người thất nghiệp tham gia các chương trình học thích hợp); Thanh toán tiền lương trong trường hơp chủ sử dụng lao động không còn khả năng thanh toán; + Tiền thất nghiệp được xác định trên cơ sở nghĩa vụ tham gia bảo hiểm Thời gian hưởng lợi ích tiền thất nghiệp được căn cứ vào thời gian tham gia lao

động và tuổi đời của người tham gia bảo hiểm Thông thường thời gian này là từ

Trang 36

12 tháng đến 32 tháng cho đối tượng thất nghiệp tạm thời Sau thời gian này, nếu người thất nghiệp không trở lại được công việc mới, sẽ chuyển sang diện hưởng lợi ích khác (như thất nghiệp vĩnh viễn hoặc hưởng lương hưu nếu đáp ứng đủ yêu cầu)

+ Việc chi trả nghĩa vụ BHYT và bảo hiểm hưu trí cho những người tham gia bảo hiểm bị thất nghiệp do Phòng việc làm Liên bang đảm nhận việc chi trả Chỉ 80% lương ròng của người lao động ở tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp

được lấy làm căn cứ xác định mức nghĩa vụ BHYT và bảo hiểm hưu trí Điều này một mặt làm giảm gánh nặng cho Phòng việc làm Liên bang, mặt khác đảm bảo lợi ích của người hưởng trợ cấp thất nghiệp phải thấp hơn lợi ích của người đang

đi làm về mức độ chăm sóc y tế hiện tại và lợi ích tiền lương hưu sau này

Về nguyên tắc, các dịch vụ của bảo hiểm thất nghiệp cũng dựa trên nguyên tắc tương đương với mức nghĩa vụ bảo hiểm Ngoại trừ các dịch vụ về tư vấn và môi giới việc làm cho người thất nghiệp là không phụ thuộc vào mức nghĩa vụ đã thức hiện

+ Các dịch vụ của bảo hiểm thất nghiệp về cơ bản cũng được chi trả từ nguồn

đóng góp nghĩa vụ bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm Mức nghĩa vụ bảo hiểm

được xác định trên cơ sở thu nhập ròng của người lao động với mức 6,5% cho phần thu nhập nhỏ hơn mức giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm Mức giới hạn xác định nghĩa vụ bảo hiểm thất nghiệp cũng chung mức với bảo hiểm hưu trí Nghĩa vụ bảo hiểm cũng được chia đều cho người sử dụng lao động và người lao động Tuy nhiên nhằm thúc đẩy phát triển việc làm, nhà nước cũng thực hiện các hoạt động hỗ trợ về tài chính cho lĩnh vực này theo luật đổi mới năm 1995

- Bảo hiểm thất nghiệp cho nông dân

Về cơ bản bảo hiểm thất nghiệp cho nông dân cũng giống như bảo hiểm thất nghiệp nói chung Tuy nhiên đối với bảo hiểm thất nghiệp cho nông dân có một số khác biệt cơ bản sau đây:

+ Không chỉ người nông dân với tư cách là người làm công ăn lương mà ngay cả người chủ trang trại cũng nhận được các dịch vụ của bảo hiểm thất nghiệp dưới dạng hỗ trợ trong các hoàn cảnh như chuyển đổi sản xuất trong trang trại do những yêu cầu khách quan (phát triển của kỹ thuật, thay đổi của thị

Trang 37

trường, thời tiết hoặc thực hiện chính sách thay đổi cấu trúc kinh tế của nhà nước) Mức lợi ích được xác định cho khu vực Tây Đức cũ là 850Euro cộng với 150Euro cho trẻ em mỗi tháng, khu vực Đông đức cũ là 510Euro cộng với 90Euro cho trẻ em mỗi tháng

+ Một phần lớn nông trang vì lý do khách quan dẫn đến bị bỏ hoang, dẫn

đến việc làm bị giảm, sẽ nhận được sự hỗ trợ để có thể thích nghi với hoàn cảnh mới Mức hỗ trợ mỗi tháng được xác định từ 200 đến 500Euro cho khu vực Tây

Đức cũ và từ 140 đến 350Euro cho khu vực Đông Đức cũ Đối với người lao dộng đã lớn tuổi (đến 50 tuổi), có thể được hưởng lợi ích này đến khi đủ điều kiện chuyển sang hưởng lương hưu Đối với người có việc làm phụ thêm ngoài nông nghiệp, chỉ được hưởng tối đa là 5 năm

1.1.2.2 Những trợ cấp x∙ hội đặc biệt khác

CHLB Đức là một quốc gia có chính sách bảo hộ nông nghiệp lớn thứ nhì Châu Âu (sau Pháp) Ngoài những hỗ trợ về bảo hiểm thông thường như đã trình bầy ở trên, đối tượng nông dân còn nhận được trợ cấp xã hội khác Có thể nêu lên một số loại trợ cấp như sau:

Thứ nhất, những trợ cấp liên quan đến vấn đền chính sách bảo hiểm

Ngoài chính sách bảo hiểm như trên, người nông dân còn được hưởng những trợ cấp có liên quan đến bảo hiểm hưu trí, bảo hiểm y tế Chẳng hạn, đối với bảo hiểm tuổi già, người lao động trong lĩnh vực này, vì lý do thu nhập thấp nên dẫn đến lợi ích thấp hơn ở lương hưu so với đối tượng này ở lĩnh vực khác

Để san bằng khoảng cách này, người lao động có thể nhận được lợi ích bổ sung

từ nhà nước thông qua tổ chức bảo hiểm một trong hai loại sau đây:

Loại thứ nhất, cứ mỗi 12 tháng thực hiện nghĩa vụ bảo hiểm bắt buộc, người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được thêm 2,5Euro tăng thêm ở lương hưu mỗi tháng Cho lợi ích này của người lao động, nhà nước sẽ hỗ trợ một phần và người chủ sử dụng lao động phải đảm nhận một phần nghĩa vụ thanh toán thêm 10Euro nghĩa vụ bảo hiểm hàng tháng cho mỗi người lao động Điều kiện để được nhận lợi ích này là đến khi nghỉ hưu, thời gian đóng nghĩa vụ cho loại này phải đạt tối thiểu là 180 tháng

Loại thứ hai là, người tham gia bảo hiểm sẽ nhận được thêm 54Euro mỗi tháng ở lương hưu nếu là độc thân,còn nếu có gia đình, số này sẽ là 90Euro Chi phí cho lợi ích này của người lao động hoàn toàn do nhà nước gánh chịu

Trang 38

Trong BHYT, những thành viên trong gia đình của người nông dân với tư cách là chủ trang trại sẽ phải đóng nghĩa vụ BHYT bằng 37,5% đến 70% mức nghĩa

vụ đóng BHYT của người chủ trang trại Song với những thành viên không tham gia làm việc như con dưới 18 tuổi, hoặc vợ làm nội trợ, thì được miễn nghĩa vụ BHYT, mặc dù họ vẫn được hưởng các dịch vụ từ bảo hiểm của người chủ trang trại trong gia đình và ngyươì chủ trại vẫn không phải đóng thêm nghĩa vụ BHYT

Thứ hai, những hỗ trợ liên quan đến bảo hộ khu vực nông nghiệp

Người nông dân còn được nhận những hỗ trợ khác từ nhà nước có liên quan đến bảo hộ khu vực nông nghiệp như chính sách trợ giá, trợ cấp trong trường hợp khẩn cấp và đặc biệt là chính sách phát triển vùng Theo đó, những vùng được xác định là vùng nông nghiệp sẽ được nhận những ưu đãi đặc biệt liên quan đến hoạt động nông nghiệp, kể cả những diện tích bỏ hoang hoặc trải thảm

cỏ nhằm gìn giữ đất đai hoặc tạo màu xanh

Theo chính sách này, các trang trại vì mục đích khách quan (thiên tai, hoặc chuyển dịch mục đích sử dụng đất) dẫn đến tình trạng một phần đất không

được sử dụng vào sản xuất, sẽ nhận được những hỗ trợ để thực hiện chuyển dịch, phát triển kỹ thuật, thay đổi theo nhu cầu thị trường hoặc khắc phục thiên tai

1.2 Một số kinh nghiệm từ nghiên cứu phương pháp

luận xây dựng csxH nông thôn ở Chlb Đức

Qua nghiên cứu vấn đề CSXH nông nghiệp ở CHLB Đức, có thể rút ra một

số kinh nghiệm sau đây đối với việc xây dựng CSXH nông thôn

Thứ nhất, chính sách x∙ hội nông thôn ở CHLB Đức là một hệ thống chính sách riêng biệt, độc lập

Hiện nay, ở CHLB Đức người ta phân biệt ba bộ phận chính sách để phát triển nông thôn Đó là:

Chính sách thị trường giá cả là chính sách đảm bảo thu nhập cho nông

dân Đây là trụ cột trong chính sách nông nghiệp của EU Chính sách này do EU quyết định và ngân sách do EU đảm bảo 100% Trước đây, chính sách thị trường giá cả của các nước EU là bảo hộ để giữ giá nông sản phẩm cao Hiện nay, chính sách này được thay thế bằng chính sách trợ cấp trực tiếp cho nông dân theo đầu

đơn vị diện tích và đầu gia súc

Trang 39

Chính sách cơ cấu là các biện pháp nhằm cấu trúc lại nền nông nghiệp

Đức Người ta còn gọi chính sách cấu trúc là chính sách vùng Chính sách này là trụ cột thứ hai của EU Tuy nhiên khác với chính sách thị trường giá cả, chính sách cơ cấu do cả EU và các nước thành viên đồng tài trợ

Chính sách x∙ hội là chính sách do mỗi nước thành viên EU tự xây dựng

chính sách xã hội Liên minh EU không có thẩm quyền quyết định CSXH của các nước.Và do vậy, tài chính cho CSXH là do từng nước thành viên tự trang trải

ở CHLB Đức, CSXH nông thôn là hệ thống chính sách độc lập, riêng biệt

so với các chính sách xã hội khác Lý do để giữ cho hệ thống này là độc lập được

lý giải là: hệ thống riêng này sẽ giúp cho nông dân được nhiều hơn, vì nó phù hợp với ngành nghề của người nông dân Qua hệ thống này để thực hiện cấu trúc lại ngành nông nghiệp Ví dụ người chủ trang trại chỉ được hưởng tiền hưu trí khi

họ nộp trang trại của mình cho nhà nước để giao cho người khác quản lý Qua hệ thống bảo hiểm này sẽ tác động đến thu nhập của người nông dân Điều này do

đặc điểm phát triển của nền nông nghiệp CHLB Đức quy định

Thứ hai, ở CHLB Đức, chính sách x∙ hội nông thôn chủ yếu được thực hiện trong bảo hiểm và trợ cấp x∙ hội cho nông dân, được luật hoá rất cao và cơ cấu tổ chức của BHXH rất đa dạng

- Lý do là ở chỗ, trong chính sách BHXH đã bao gồm toàn bộ những CSXH mà nhà nước hỗ trợ cho người dân nói chung, người nông dân nói riêng

Đó là các khoản hỗ trợ của nhà nước về chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh, tìm kiếm việc làm, học tập, nâng cao trình độ, nhà ở Vì thế việc xây dựng và hoàn thiện CSXH ở CHLB Đức về cơ bản là tập trung vào việc xây dựng, bổ sung, hoàn thiện hệ thống chính sách bảo hiểm và trợ cấp xã hội

- Một điểm đáng chú ý là hệ thống CSXH nông thôn ở CHLB Đức được luật hoá rất cao Luật xã hội trong nông nghiệp là một trong những hệ thống đặc biệt của Luật xã hội Đức Cơ sở của tính đặc biệt cuat hệ luật này là nó đề cập

đến các hoàn cảnh khác biệt nhất của các nhóm người và ngành kinh tế xác định Các đặc điểm chủ yếu của Luật xã hội trong nông nghiệp ở CHLB Đức là:

+ Nhóm người được bảo hiểm được tạo thành trong thực tế từ các chủ ruộng đất, vợ (chồng) họ cũng như các thành viên gia đình cùng cộng tác và có quyền được nuôi dưỡng

Trang 40

+ Hệ thống bảo hiểm xã hội nông nghiệp độc lập hướng vào các trường hợp thay đổi cuộc sống xác định như tuổi tác, tai nạn, bệnh tật và sự thiếu thốn cần hỗ trợ

+ Mục tiêu đã được điều chỉnh đối với hoàn cảnh sống và làm việc của các gia đình nông dân

+ Các điểm chủ yếu đặc biệt ở các lĩnh vực Luật Nghĩa vụ và đóng góp

Nhờ có hệ thống luật xã hội độc lập nên đã chuẩn bị sẵn sàng các trợ giúp nghề nghiệp chuyên môn trong phạm vi thích hợp Việc thực hiện hệ thống luật

độc lập như thế cho phép hiện thực các mục tiêu cấu trúc lại nông nghiệp; Hiện thực hoá các giải pháp giảm gánh nặng thu nhập trong sự phù hợp với Luật EU;

Đồng thời việc tài trợ các mục tiêu chính sách nông nghiệp từ Ngân sách liên

- Một điểm đáng chú ý khác là cơ cấu tổ chức của bảo hiểm xã hội ở CHLB Đức là rất đa dạng Tham gia vào hệ thống tổ chức BHXH trong nông nghiệp ở CHLB Đức có Liên đoàn hợp tác xã nghề nông liên bang;Tổng liên

đoàn quĩ bảo hiểm tuổi già trong nông nghiệp; Liên đoàn quĩ bảo hiểm y tế trong nông nghiệp liên bang; Bảo hiểm chăm sóc bổ sung và Cơ sở chăm sóc bổ sung

đối với người lao động nông - lâm nghiệp

Liên đoàn hợp tác xã nghề nông liên bang Là tổ chức liên minh của 8 hợp tác xã nghề nông trên lãnh thổ CHLB Đức và hợp tác xã làm vườn nó có nhiệm vụ Bảo hiểm tai nạn theo luật định và ngăn ngừa rủi ro cho nông dân

Tổng liên đoàn quĩ bảo hiểm tuổi già trong nông nghiệp là tổ chức liên minh 9 quĩ bảo hiểm tuổi già trong nông nghiệp Nhiệm vụ của nó là: Thực hiện bảo hiểm tuổi già theo luật định đối với nông – lâm nghiệp; Thực hiện lợi tức nộp

đất đai và thực hiện lợi tức sản xuất và tiền cân đối

Ngày đăng: 17/05/2015, 19:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ths. Mai Ngọc Anh: Tách biệt xã hội về kinh tế và an sinh xã hội cho nông dân n−ớc ta. Tạp chí Phát triển kinh tế số 186 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tách biệt xã hội về kinh tế và an sinh xã hội cho nông dân n−ớc ta
Tác giả: Ths. Mai Ngọc Anh
Nhà XB: Tạp chí Phát triển kinh tế
5. TS. Astrid Haeger. Chính sách xã hội đối với nông nghiệp- Những vấn đề chung, bảo hiểm tai nạn bảo hiểm y tế và xã hội. Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Một số vấn đề về chính sách xã hội nông thôn Việt Nam. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Một số
10. Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004; Nghèo; báo cáo chung của các nhà tài trợ tại hội nghị T− vấn các nhà tài trợ Việt Nam; Hà Nội 2-3/12/2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004
Nhà XB: báo cáo chung của các nhà tài trợ tại hội nghị T− vấn các nhà tài trợ Việt Nam
Năm: 2004
14. Bảo hiểm hưu trí Đức: http://www.deutsche-rentenversicherung.de Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm hưu trí Đức
18. Bảo hiểm xã hội của CHLB Đức: http://ww.deutsche-sozialversicherung.de Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội của CHLB Đức
21.Bhalla and Lapeyre (2004): Poverty and exclusion in a global world. Published: Palgrav Macmillan, 2004 22. Bộ luật Lao động năm 1994 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Poverty and exclusion in a global world
Tác giả: Bhalla, Lapeyre
Nhà XB: Palgrave Macmillan
Năm: 2004
43. Lê Anh Dũng: Tầm quan trọng của chính sách xã hội nông thôn trong phát triển kinh tế xã hội ở nước ta. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách xã hội nông thôn Việt Nam. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách "xã hội nông thôn Việt Nam
44. TS. Nguyễn Hữu Dũng: Đánh giá hệ thống CSXH nông thôn ở n−ớc ta hiện nay và khuyến nghị ph−ơng h−ớng hoàn thiện những năm tới. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách xã hội nông thôn Việt Nam. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa
49. David J S (2005) The social exclusion debate: Strategies, controversies and dilemmas, in Policy Studies Vol. 26, No1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The social exclusion debate: Strategies, controversies and dilemmas
Tác giả: David J S
Nhà XB: Policy Studies
Năm: 2005
50. Đề tài khoa học cấp nhà n−ớc KX 08-04 "Chính sách xã hội nông thôn"; Chủ nhiệm PGS.TS Bùi Ngọc Thanh; Hà Nội 8/1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách xã hội nông thôn
52. GS. TS. Phạm Vân Đình . Mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội nông thôn ở Việt Nam:Thực trạng và vấn đề. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách xã hội nông thôn Việt Nam. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số "vấn đề về chính sách xã hội nông thôn Việt Nam
53. PGS.TS. Nguyễn Văn Định. Chính sách Bảo hiểm xã hội đối với nông dân Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách xã hội nông thôn Việt Nam. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách xã hội nông thôn "Việt Nam
54. TS. Phạm Thị Định. Bảo hiểm tai nạn cho ng−ời nông dân ở Việt Nam. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về CSXH nông thôn Việt Nam. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ "yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về CSXH nông thôn Việt Nam
56. Ebersold, Serge (1998). Exclusion and disability. OECD: Centre for Education research and innovation. in URL: http://www/oecd.org/els/ceri/conf220299.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Exclusion and disability
Tác giả: Serge Ebersold
Nhà XB: OECD: Centre for Education research and innovation
Năm: 1998
57. Figueredo and Haan, 1998 Social exclusion: an ILO perspective; published in: International institute for labour studies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social exclusion: an ILO perspective
Tác giả: Figueredo, Haan
Nhà XB: International institute for labour studies
Năm: 1998
60. Đào Thị Hải: Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở nước ta hiện nay. Luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị, Hà Nội 2005.61. Hiến pháp năm 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp trong quá trình đô thị hoá ở nước ta hiện nay
Tác giả: Đào Thị Hải
Nhà XB: Luận văn thạc sỹ Kinh tế chính trị
Năm: 2005
62. Hiệp hội Liên bang của các tổ chức bảo hiểm y tế nhà n−ớc cho nông dân: http://www.isv.de Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiệp hội Liên bang của các tổ chức bảo hiểm y tế nhà n−ớc cho nông dân
64.TS. Bùi Văn Hồng. Cơ chế tài chính đối với chính sách xã hội nông thôn Việt Nam – Thực trạng và vấn đề. Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách xãhội nông thôn Việt Nam. Tháng 3/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo khoa học Một số vấn đề về chính sách xã "hội nông thôn Việt Nam
15. Bảo hiểm y tế nhà n−ớc: http://www.gkv.info/; http://www.aok-bv.de; http://www.ikk-bv.de Link
108.Văn phòng bảo hiểm Liên bang: http://www.bundesversicherungsamt.de Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Vòng tròn thuế ở CHLB Đức năm 1989 - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình 1. Vòng tròn thuế ở CHLB Đức năm 1989 (Trang 44)
Hình thành - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình th ành (Trang 68)
Hình số 2. Sơ đồ khung về chính sách x∙ hội - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 2. Sơ đồ khung về chính sách x∙ hội (Trang 76)
Hình số 3. Tỷ lệ giảm nghèo của Việt Nam theo chuẩn nghèo quốc tế - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 3. Tỷ lệ giảm nghèo của Việt Nam theo chuẩn nghèo quốc tế (Trang 106)
Hình số 4.  Tình hình nghèo về l−ơng thực, thực phẩm ở thành thị - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 4. Tình hình nghèo về l−ơng thực, thực phẩm ở thành thị (Trang 106)
Hình số 5. Tình trạng nghèo phân theo vùng, dân tộc, năm 2002 - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 5. Tình trạng nghèo phân theo vùng, dân tộc, năm 2002 (Trang 114)
Hình số 7: Số l−ợng ng−ời đ−ợc h−ởng trợ cập qua các năm  (nghìn ng−ời) - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 7: Số l−ợng ng−ời đ−ợc h−ởng trợ cập qua các năm (nghìn ng−ời) (Trang 117)
Hình 3: Số ng−ời tham gia bảo hiểm y tế giai đoạn 2000 - 2004 - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình 3 Số ng−ời tham gia bảo hiểm y tế giai đoạn 2000 - 2004 (Trang 122)
Hình  số 9: Tình hình thiệt hại do thiên tai, hạn hán giai đoạn 2000 - 20005 - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
nh số 9: Tình hình thiệt hại do thiên tai, hạn hán giai đoạn 2000 - 20005 (Trang 124)
Hình số 10: Sự lựa chọn cách sống khi về già của người lao động - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 10: Sự lựa chọn cách sống khi về già của người lao động (Trang 128)
Hình số 11. Cơ cấu tổng mức đầu t− toàn x∙ hội cho ch−ơng trình MTQGNS, - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 11. Cơ cấu tổng mức đầu t− toàn x∙ hội cho ch−ơng trình MTQGNS, (Trang 136)
Hình số 12.  Tỷ lệ nhập học đúng tuổi của trẻ em, phân theo nhóm, khu vực, 2002 - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 12. Tỷ lệ nhập học đúng tuổi của trẻ em, phân theo nhóm, khu vực, 2002 (Trang 138)
Hình số 13. Mức chi cho giáo dục bình quân 1 ng−ời đi học, phân theo nhóm thu - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 13. Mức chi cho giáo dục bình quân 1 ng−ời đi học, phân theo nhóm thu (Trang 142)
Hình số 14:  Tỷ lệ hộ đói nghèo qua các năm  Đơn vị: % - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 14: Tỷ lệ hộ đói nghèo qua các năm Đơn vị: % (Trang 148)
Hình số 16. Tỷ trọng các loại thuế  trong tổng thu từ thuế ở Việt Nam  Đ/V % - Nghiên cứu phương pháp luận xây dựng chính sách xã hội nông thôn của Cộng hòa Liên bang Đức và vận dụng cho Việt Nam
Hình s ố 16. Tỷ trọng các loại thuế trong tổng thu từ thuế ở Việt Nam Đ/V % (Trang 162)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w