Ví dụ như dựbáo lưu lượng rất cần thiết cho việc khai thác có hiệu quả các công trình thủy lợinhư vận hành hồ chứa.Dải đất ven biển miền Trung nước ta do địa hình đặc biệt nên sông ngòin
Trang 1MỞ ĐẦU
Tài nguyên nước là tài nguyên vô cùng quá giá của con người trên hànhtinh Tài nguyên nước bao gồm nguồn nước mặt, nước mưa, nước dưới đất, nướcbiển Tài nguyên nước sông là thành phần chủ yếu và quan trọng nhất được sửdụng rộng rãi trong đời sống kinh tế và xã hội có ảnh hưởng lớn đến các hoạt độngcủa con ngươi Do đó, tài nguyên nước nói chung và tài nguyên nước mặt nóiriêng là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của mộtvùng lãnh thỗ hay một quốc gia
Từ xa xưa, lịch sử phát triển nhân loại cho thấy rằng các thành phố, thị xãthị trấn thường phát triển ven các con sông Nhiều người cho rằng có thể chọnkhối lượng nước tiêu thụ cho mỗi đầu người làm chỉ số đánh giá mức độ văn minhcủa một vùng dân cư Điều đó chứng tỏ rằng, nước rất quan trọng trong cuộc sốngcủa mọi vật thể trên trái đất
Tuy nhiên chúng ta cũng không thể không chú ý tới mặt gây hại của nó.Trên thế giới cũng như ở nước ta từng có những trận lũ lịch sử lũ lớn đã gâynhững thiệt hại vô cùng to lớn về người và của cải mà phải mất khá nhiều thờigian để khắc phục hậu quả do nó gây ra
Ở nước ta hàng năm không ở tỉnh này thì ở tỉnh khác, không ở lưu vực nàythì ở lưu vực khác xẩy ra những trận lũ lớn gây ra nhiều thiệt hại to lớn làm ảnhhưởng không nhỏ đến các cộng đồng dân cư Đặc biệt là khu vực ven biển miềnTrung Con người khó tránh khỏi những thảm hoạ do thiên nhiên gây ra, tuy nhiêncon người có thể hạn chế được những thiệt hại, như đối với thiên tai bão lũ chúng
ta hoàn toàn có thể phòng tránh, giảm nhẹ tác hại của chúng bằng cách xây dựngcác phương án dự báo phòng lũ Bên cạnh các biện pháp trị thủy như xây dựng cáccông trình hồ chứa điều tiết lũ ở thượng lưu, xây dựng củng cố các tuyến đê, kègiảm nhẹ thiệt hại của thiên tai thì trong thời gian gần đây con người đã chú trọngđến việc dự báo thủy văn nhằm biết trước khả năng lũ xẩy ra để có biện phápphòng tránh
Dự báo thủy văn là tính trước một cách khoa học tình hình biến đổi các đặctrưng thủy văn trên các sông suối, ao, hồ, kho nước,… để phục vụ cho việc phòng
Trang 2Dự báo thủy văn chính xác mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt Ví dụ như dựbáo lưu lượng rất cần thiết cho việc khai thác có hiệu quả các công trình thủy lợinhư vận hành hồ chứa.
Dải đất ven biển miền Trung nước ta do địa hình đặc biệt nên sông ngòingắn và dốc, lũ tập trung nhanh, cường suất lũ lớn, thời gian xuất hiện lũ từ khi cómưa lớn đến lúc có lũ lớn là rất nhanh, thông thường từ 6 đến 12 giờ, các lướitrạm quan trắc mưa và dòng chảy trên lưu vực lại rất thưa và chưa đầy đủ, cho nêncông tác dự báo lũ và cảnh báo ngập lụt gặp rất nhiều khó khăn Vấn đề dự báo lũ
và cảnh báo ngập lụt cho hệ thống các sông miền Trung nói chung và hệ thốngsông của tỉnh Nghệ an nói riêng có một ý nghĩa vô cùng quan trọng nhằm giảmthiểu những ảnh hưởng của thiên tai lũ lụt cho nhân dân hiện đang sống ở các
vùng hạ lưu và ven biển miền Trung Vì vậy em chọn đề tài tốt nghiệp “ Nghiên
cứu phương án dự báo lũ trên song Cả tỉnh Nghệ An ” nhằm phục vụ cho công
tác phòng chống lũ lụt và giảm nhẹ thiên tai của tỉnh Đây là một trong những đềtài cơ bản đối với sinh viên Thủy văn – Môi trường và có ý nghĩa thực tế giúp emđúc kết lại những kiến thức đã học trong những năm học tại trường và hình dungđược những công việc và nhiệm vụ của người Kỹ sư Thủy Văn sau này
Với những nhiệm vụ như trên cấu trúc của đồ án sẽ được thể hiện cụ thể cácnội dung chính như sau:
Mở đầu
Chương 1: Tổng quan về lưu vực sông Cả
Chương 2: Đặc điểm khí tượng thủy văn hệ thống sông Cả
Chương 3: Nêu các phương án dự báo lũ cho hạ lưu sông Cả
Chương 4: Xây dựng phương án dự báo lũ cho hạ lưu sông Cả
Trang 3các thầy cô và quá trình thu thập tài liệu Tuy nhiên do thời gian quá ngắn và kiến thứccòn hạn hẹp nên trong đồ án này em không tránh khỏi những thiếu sót trong khi tínhtoán Kính mong các thầy cô đóng góp ý kiến để giúp em hoàn thiện và làm tốt hơn cáccông việc sau này khi là một kỹ sư.
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Lê Văn Nghinh và Th.SNguyễn Thị Thu Hà cùng toàn thể các thầy cô,các phòng ban trong trường đã giảng dạy,truyền đạt nhiệt tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng em trong suốt 4 năm học
và nhất là trong thời gian làm đồ án tốt nghiệp
Xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày… tháng… năm 2011
Sinh viên thực hiện
Trần Văn Chung
Trang 4Chương 1: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI
LƯU VỰC SÔNG CẢ 1.1 Đặc điểm địa lý tự nhiên của lưu vực
1.1.1 Vị trí địa lý
Lưu vực sông Cả nằm ở vị trí từ 18015'05" đến 20010'30" vĩ độ Bắc và
103014'10" đến 105015'20" kinh độ Đông Phía Bắc giáp lưu vực sông Chu, sôngBạng Phía Tây giáp lưu vực sông Mê Kông Phía Tây Nam giáp lưu vực sôngGianh Phía Đông giáp lưu vực sông Cảm, biển Đông
Hình I-1: Vị trí lưu vực sông Cả
Diện tích toàn bộ lưu vực là 27.200 km2 chiếm 65,2% diện tích toàn bộ lưuvực, phần diện tích còn lại 9.470 km2 thuộc đất Xiêm Khoảng của Lào chiếm34,8% diện tích toàn lưu vực Diện tích phần đá vôi là 273 km2, chiếm 1% diệntích toàn lưu vực Vùng núi cao chiếm 19.486 km2, chiếm 71,6% diện tích toànlưu vực Vùng bán sơn địa đồi núi thấp và trung du chiếm 5.604 km2, vùng đồngbằng là 2.110 km2 Dòng chính sông Cả có chiều dài 531 km; đoạn sông chảy qua
Trang 5lãnh thổ Lào là 170 km, còn lại là 361 km sông chảy qua hai tỉnh Nghệ An và HàTĩnh rồi đổ ra biển Đông tại Cửa Hội.
Giới hạn lưu vực nghiên cứu là phần diện trên lãnh thổ Việt Nam, cửa racủa lưu vực tại trạm thủy văn Chợ Tràng, bao gồm nhánh sông Hiếu và dòngchính sông Cả, nằm gọn trên lãnh thổ tỉnh Nghệ An, bao gồm các huyện QuếPhong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ (nhánh sông Hiếu) Kỳ Sơn,Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương, Thanh Chương
1.1.2 Điều kiện địa hình
Dựa theo tài liệu đã thu thập, khảo sát và dựa theo bản đồ 1/50.000,1/100.000, 1/250.000 cho thấy lưu vực nghiên cứu trên sông Cả có các dạng địahình chính:
1.1.2.1 Địa hình đồng bằng và đồng bằng ven biển
Đồng bằng sông Cả nằm dọc hai bên bờ sông tính từ phần trung lưu củasông trở xuống bao gồm Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn Đây là vùng đất đãđược khai thác lâu đời đưa vào sản xuất nông nghiệp Cho đến nay vùng đồngbằng này cũng là nơi tập trung phát triển kinh tế xã hội của lưu vực Địa hình đồngbằng sông Cả theo dạng lòng máng Sát mép sông cao độ cao dần đến vùng đáymáng trũng và sau đó sát với sườn đồi, điển hình của dạng địa hình này là vùnghữu Thanh Chương
Đồng bằng sông Cả thuộc loại nhỏ, hẹp và nằm sát với dòng chính Toàn
bộ đồng bằng được bảo vệ bằng đê hai bên bờ sông trừ vùng hữu Thanh Chương
và vùng hữu Nam Đàn chỉ bảo vệ bằng đê bối và đây được xác định là vùng chứa
lũ khi mực nước sông Cả vượt báo động III Đây là vùng cần chủ động về thuỷ lợitưới, tiêu, chống lũ để thâm canh Tổng diện tích mặt bằng vùng đồng bằngkhoảng 350.000ha chiếm 10% diện tích lưu vực sông Cả và khu hưởng lợi
I.1.2.2 Vùng đồi trung du
Trung du lưu vực sông Cả nằm ở các huyện Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Tân Kỳ,Anh Sơn, Thanh Chương Diện tích đất đai vùng trung du thường hẹp nằm ở hạlưu các sông nhánh lớn cấp I của sông Cả Đây là dạng địa hình phức tạp, dạngđồi bát úp và đồi cao xen kẽ có các thung lũng thấp như khu Bãi Tập - Quỳ Hợp,
Trang 6nhưng lại thường xuyên thiếu nước cho cây trồng Tổng diện tích mặt bằng dạngđịa hình này khoảng 680.000 ha Tiềm năng đất đai trên dạng địa hình này còn rấtlớn cần có kế hoạch khai thác gieo trồng hợp lý Vùng này chiu ảnh hưởng của lũkhá mạnh, nhất là những trận lũ lớn, đất thường bị xói mòn, rửa trôi mạnh, lớp đấtsỏi cát thường bị nước lũ mang về, bồi lấp diện tích canh tác vùng ven bãi sônggây trở ngại cho sản xuất.
Tuy nhiên dạng địa hình đồi thấp ở đây do có nhiều sông suối nên rất nhiều
vị trí cho phép xây dựng các hồ chứa vừa và nhỏ Điều này rất thuận lợi cho côngtác phát triển nguồn nước để tưới và cấp nước cho các mục tiêu phát triển kinh tếtrên lưu vực
I.1.2.3 Dạng địa hình vùng núi cao
Vùng đồi núi cao bao gồm các huyện: Kỳ Sơn, Tương Dương, Con Cuông,Quế Phong, Quỳ Châu và một phần đất đai của Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Anh Sơn,Thanh Chương, Nam Đàn Đây là vùng đồi núi cao gồm các dãy núi chạy dài theohướng từ Đông Bắc xuống Tây Nam, tạo nên những thung lũng sông hẹp và dốcnối hình thành sông nhánh lớn sông Hiếu Xen kẽ với những dãy núi lớn thường
có những dãy núi đá vôi như ở thượng nguồn sông Hiếu Vùng đất được xác địnhchủ yếu là vùng lâm nghiệp phòng hộ đầu nguồn, là vùng dự trữ cung cấp nướcchủ yếu cho sông Cả về mùa kiệt và là vùng cắt lũ cho hạ du Do thung lũng tạo radọc dòng chính sông Cả, sông Hiếu lại nằm trong vùng địa chất tốt nên trên dạngđịa hình này có thể tìm được những vị trí xây dựng kho nước lớn như Bản Lả, BảnMồng, Khe Bố để điều tiết lũ và kiệt cho hạ du Ngoài ra còn nhiều vị trí có thểphát triển những thuỷ điện vừa và nhỏ như Bản Kộc, Nhạn Hạc, Sao Va, Yên Na,Cánh Tráp, Cốc Nà… Có thể nói dạng địa hình này là tiềm năng về thuỷ điện vàphát triển lâm nghiệp của lưu vực sông Cả
Tóm lại: Địa hình sông Cả là một dạng địa hình tổng hợp nhiều dạng có thế
dốc chung theo hướng Tây - Đông, Tây Bắc - Đông Nam, Tây Nam - Đông Bắc
và rốn trũng nhất là cửa sông Cả Độ dốc bình quân lưu vực lớn, phần đồng bằnghẹp Địa hình ở lưu vực đa dạng thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp đồngthời rất thuận lợi cho nền nông nghiệp đa dạng hoá cây trồng vật nuôi và có khảnăng tạo ra các vùng chuyên canh cây hàng hoá, cây công nghiệp
Trang 7I.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng và thảm phủ thực vật
I.1.3.1 Đặc điểm địa chất
Đặc điểm địa chất trong vùng khá phức tạp Đới Trường Sơn Bắc, đới PhuHoạt trên lưu vực sông Hiếu, đới Sầm Nứa thượng nguồn sông Cả Do sự nâng lên
và hạ xuống đã tạo nên những nếp đứt gãy phân tầng chạy dọc theo hướng TâyBắc – Đông Nam Tạo nên sự phân cách riêng biệt giữa hệ thống sông chính vàcác sông nhánh lớn cấp I
Ở miền núi đất đai chủ yếu là đất trầm tích, đá quặng chứa nhiều Mica vàThạch Anh có xen kẽ đá vôi Đất đá vùng trung du chủ yếu là đất đá bị phong hoámạnh như đất Bazan xốp nhẹ, đất vùng đồng bằng chủ yếu là đất trầm tích giàuchất sét
Sơ lược về địa chất thuỷ văn:
Với nguồn tài liệu địa chất thuỷ văn nghiên cứu trên lưu vực còn ít có thể
sơ bộ xác định các dạng tồn trữ của nước dưới đất trên lưu vực như sau:
- Nước trong tầng phủ: Cấu tạo tầng phủ vùng sông Cả hầu hết là á sét, ácát lẫn dăm sạn, chiều dày mỏng, khả năng giữ nước kém Nước trong tầng nàychỉ tồn tại trong mùa mưa
- Nước trong tầng phong hoá nứt nẻ: Các loại đá gốc trong vùng có tầngphong hoá nứt nẻ dày, khả năng chứa và thông nước tốt, lưu lượng Q = 5 l/phút
- Nước dưới đất trong đới phá huỷ kiến tạo dạng tồn tại này có lưu lượngrất nhỏ ít có ý nghĩa khai thác do bị lấp, nhét kín của các đứt gãy
- Nước Oanh Sơn phát triển ở vùng đá vôi Mường Lống khả năng chứa dồidào và là nguồn cấp cho các sông suối mùa cạn
Nước dưới đất còn tồn trữ ở các trầm tích đệ tứ, trầm tích sông biển và cácdạng trầm tích khác Theo bản đồ sơ bộ địa chất thuỷ văn có thể đánh giá khảnăng khai thác của nước dưới đất vùng sông Cả
Bảng 1.1: Khả năng khai thác nước ngầm trên lưu vực sông Cả
Vùng Sông Cả Thượng Thượng lưu
Sông Hiếu
Trung lưu sông Hiếu
Trang 8Nước dưới đất vùng sông Cả chỉ có thể khai thác để phục vụ cấp nước sinhhoạt, công nghiệp và kinh tế, khai thác để phục vụ sản xuất nông nghiệp sẽ phảiđầu tư tốn kém.
1.1.3.2 Đặc điểm về thổ nhưỡng
Kết quả điều tra thổ nhưỡng theo nguồn gốc phát sinh, có thể phân đất đailưu vực sông Cả thành 2 loại chính: đất thuỷ thành và đất địa thành được phân loạinhư bảng sau:
Bảng 1.2: Phân loại đất đai trên lưu vực nghiên cứu
Tổng diện tích điều tra thổ nhưỡng 1.640.849 100Trong đó diện tích các loại đất ( đã trừ sông suối và núi đá ) 1.498.492 100
( Nguồn: Theo số liệu điều tra thổ nhưỡng năm 1990 )
Ghi chú: Cả phần thổ nhưỡng của khu hưởng lợi từ nguồn nước sông Cả
a Đất thuỷ thành
Đất này phân bố chủ yếu tập trung ở các huyện đồng bằng và đồng bằngven biển, bao gồm một phần đất của Đô Lương, Thanh Chương, Nam Đàn
Loại đất này có 5 nhóm đất chính:
- Nhóm đất phù sa dốc tụ phân bố các huyện ven sông Cả
- Nhóm đất mặn chủ yếu ven cửa sông và ven biển
- Nhóm phèn mặn
- Nhóm đất bạc màu và biến đổi do trồng lúa
Trang 9Chiếm vị trí quan trọng trong số này có 300.000 ha đất phù sa và nhóm đấtcát Đây là nhóm đất có ý nghĩa lớn đối với sản xuất trên lưu vực Có hai loạichính:
- Đất cát cũ ven biển có 31.400 ha tập trung ở vùng ven biển Đất có thànhphần cơ giới thô, kết cấu rời rạc, dung tích hấp thụ thấp Loại đất này thích hợpcho trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày như lạc, vừng, đỗ, cây ăn quả Khi
sử dụng cần hết sức chú ý đến phát triển cây họ đậu, tăng cường phân truồng,không để hở đất bằng biện pháp xen canh gối vụ
- Đất phù sa thích hợp với canh tác lúa nước và màu như đất phù sa đượcbồi hàng năm, đất phù sa không được bồi, đất phù sa vùng úng, đất phù sa cũ sảnphẩm của Feralit Trong đó đất phù sa không được bồi hàng năm khoảng 74% Đấtnày bị chia cắt mạnh, nghiêng dốc và lồi lõm Quá trình rửa trôi xảy ra liên tục cảtrên bề mặt và tầng sâu Thành phần cơ giới đa số là nhẹ Độ dày tầng canh tácmỏng, dung tích hấp thụ thấp, thường chua Nghèo dinh dưỡng đặc biệt là nghèolân
Ngoài hai loại đất chính trên còn một số loại đất cồn cát ven biển, đất bạcmàu, nhiễm mặn, với diện tích nhỏ Loại này đang được nghiên cứu chuyển sangnuôi trồng Nhưng đòi hỏi phải có nguồn nước ngọt cung cấp thường xuyên và cóbiện pháp tiêu tốt để đảm bảo môi trường
b Đất địa Thành
Loại đất này có 1.518.892 ha chiếm 83,51% diện tích đất điều tra thổnhưỡng Đất này tập trung chủ yếu ở vùng đồi núi bao gồm các nhóm đất:
- Đất Feralit đỏ vàng vùng đồi nằm ở cao trình dưới 200 m
- Đất sói mòn trơ sỏi đá nằm ở sườn núi dốc và ven sông bị khai phá làmnương rẫy do chế độ canh tác du canh và phá rừng
- Đất đen nằm kẹp giữa các thung lũng
- Đất Feralit vàng trên núi thấp từ cao trình 200 m 100 m
- Đất màu vàng trên núi từ cao trình 1.000 1.500 m
- Đất vàng trên núi cao
Tóm lại: Các loại đất trên lưu vực sông Cả được hình thành và phân bố trên
nền địa hình phức tạp, hơn 83% diện tích là đồi núi, với điều kiện khí hậu thời tiết
Trang 10nóng ẩm và mưa nhiều, lượng mưa phân bố không đều theo mùa và có các trậnmưa có cường độ lớn Nền địa chất lưu vực sông Cả nhiều loại đá gốc khác nhautạo cho lưu vực có nhiều chủng loại thổ nhưỡng đó là một điều kiện thuận lợi lớncho việc đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi trên lưu vực, đồng thời là một địa bànphát triển cây lâm nghiệp tốt, đóng góp vào chương trình 5 triệu ha rừng của nhànước.
1.1.3.3 Đặc điểm về thảm phủ thực vật
Diện tích rừng lưu vực sông Cả ngày càng bị thu hẹp Tỷ lệ rừng tự nhiên
bị giảm từ 75% năm 1943 xuống còn 29 % năm 2002
Dù tỷ lệ đất rừng tự nhiên còn khá cao (51,5% diện tích tự nhiên), nhưngdiện tích có rừng rất thấp (29%) và do bị khai thác nên độ che phủ không cao,những cánh rừng nguyên sinh chỉ ở trên núi cao nơi không thể khai thác được,rừng mới trồng độ che phủ càng thấp Độ che phủ thấp, đất rừng bị phong hoá dẽ
bị xói mòn, cây rừng bị chặt phá nên rất nhiều cành khô củi mục khi có mưa lớnrất dẽ bị cuốn trôi theo dòng lũ tạo nên dòng chảy có nhiều bùn, rác và thậm chí
có cả các cây gỗ lớn gây ra hậu quả rất nặng nề
Rừng trên lưu vực sông Cả vẫn là nguồn nguyên liệu quan trọng của cácngành công nghiệp chế biến, tổng trữ lượng gỗ còn khoảng 57÷ 60 triệu m3 trong
đó có 42,5 vạn m3 gỗ Pơ Mu, Tre, Nứa , Mét khoảng 1 tỷ cây
Rừng trên lưu vực sông Cả đa dạng và phong phú cả động vật và thực đặc biệt có những loài quý hiếm như Sao La, Gỗ Pơ Mu Đây cũng là nguồn lựclớn để hỗ trợ cho quá trình phát triển kinh tế trên lưu vực đồng thời cũng là mộtvốn quý để duy trì nguồn nước mùa kiệt và hạn chế nước trong mùa lũ, Cần phải
vật-có quy hoạch sử dụng, bảo vệ phát triển rừng một cách bền vững tạo môi trườngsinh thái của lưu vực tốt hơn
1.2 Mạng lưới sông ngòi trên lưu vực
1.2.1 Mạng lưới sông ngòi
Hệ thống sông Cả - khu vực nghiên cứu bao gồm dòng chính sông Cả vànhánh sông Hiếu Tổng số sông suối có chiều dài lớn hơn 10 km là 132 sông,trong đó có gần 8 sông nhánh lớn
Một số sông nhánh lớn trên hệ thống sông Cả được trình bày trong bảng sau:
Trang 11Bảng 1.3: Sông nhánh lớn trên hệ thống sông nghiên cứu
TT Tên sông
Chiều dài (km)
Diện tích (km 2 )
Dòng chảy
Ghi chú
km 3 m 3 /s
1 Sông Cả 531 27.200 21,90 690 Toàn lưu vực
2 Sông Hiếu 230 5.340 4,44 141 Toàn lưu vực
Mật độ sông suối trung bình của sông Cả từ 0.60 - 0.70 km/ km2 thuộc cấpmật độ sông suối tương đối dày của miền Bắc Phù hợp với phân bố mưa và địahình, những vùng ít mưa ở dưới thung lũng thấp, mật độ sông suối cũng thưa nhất,chỉ khoảng 0.5 km/km2 Ngược lại những vùng núi cao, mưa nhiều thì mật độsông suối phát triển dày, từ 1 - 1.26 km/ km2
Dòng chính sông Cả bắt nguồn từ dãy núi cao thuộc tỉnh Xiêm Khoảng bênLào có độ cao đỉnh núi 2.000m, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam vào ViệtNam, cách cửa biển 40km chảy theo hướng Tây Nam – Đông Bắc rồi đổ ra biểntại Cửa Hội Sông Cả không có phân lưu, toàn bộ lượng nước về mùa lũ và mùakiệt đều được chảy ra biển tại Cửa Hội Nhánh sông Hiếu đổ vào đoạn trung hạlưu sông Cả Nhánh sông này bắt nguồn từ vùng có lượng mưa năm lớn đạt từ2.000mm, đây là nguồn nước đáng kể cung cấp cho hạ du sông Cả Dòng chínhsông Cả già và ổn định với các bãi bồi Chiều rộng đoạn sông ở thượng nguồn từ
50 60m, phần trung du từ 60 150m Đoạn sông hạ du độ rộng trung bình 200
300m, càng ra cửa sông, sông càng mở rộng dần và đạt tới độ rộng 1.500m tạiCửa Hội Độ dốc trung bình đoạn sông từ biên giới tới Cửa Rào là 0,25‰, từ Cửa
Rào tới Con Cuông là 0,76%o, từ Dừa tới Đô Lương là 0,22‰, từ Đô Lương tới
Nam Đàn là 0,22‰, từ Nam Đàn tới biển là 0,09‰ Độ dốc trung bình đoạn sông
từ biên giới Việt Lào ra biển là 0,5‰
1.2.2 Các phụ lưu chính trên lưu vực sông Cả
1.2.2.1 Đặc điểm dòng chính sông Cả
Dòng chính sông Cả bắt nguồn từ đỉnh núi Phulaileng thuộc Cộng hoà Dânchủ Nhân dân Lào, sông chảy theo hướng Tây bắc Đông Nam Nhập vào đất ViệtNam tại bản Keng Đu, dòng chính đi sát biên giới Việt Lào chừng 40 km và đihoàn toàn vào đất Việt Nam tại chân đỉnh 1.067 Đến Bản Vẽ sông đổi dòng chảy
Trang 12theo hướng Bắc Nam về đến Cửa Rào sông nhập với nhánh Nậm Mô và lạichuyển dòng chảy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam Qua nhiều lần uốn lượn đếnChợ Tràng sông Cả nhập với sông La và đổi dòng một lần nữa theo hướng Tây -Đông Dòng chính sông Cả có chiều dài 514 km, phần chảy trên đất Việt Nam là
360 km còn lại là chảy trên đất Lào Phần miền núi lòng sông hẹp hình chữ Vchảy len lỏi giữa các núi cao và dọc đường nhận rất nhiều các nhánh suối nhỏ Tạiđất Việt Nam đến Cửa Rào sông Cả nhận thêm nhánh Nậm Mô ở phía hữu, đếncuối Tương Dương; trên Khe Bố sông Cả nhận nhánh sông Huổi Nguyên ở phía
tả, đến Con Cuông nhận nhánh Khe Choang ở phía hữu đến ngã ba cây Chanhnhận sông Hiếu ở phía Tả và đến Thanh Chương nhận nhánh sông Giăng ở phíahữu, sông Gang ở phía tả đến Chợ Tràng sông Cả nhập với sông La ở phía hữu vàcũng chảy ra biển tại Cửa Hội Đoạn sông nhập lưu cuối cùng này được gọi làsông Lam Sông Cả tính đến cửa sông có diện tích lưu vực là 27.200 km2 Phầndiện tích sông Cả chảy trên đất Lào là 9.740 km2 còn lại là nằm ở địa phận ViệtNam Đoạn sông Cả từ Cửa Rào đến Đô Lương được gọi là sông miền núi cónhiều ghềnh cao từ 2 3 m Điển hình là Khe Bố, bề rộng trung bình ở đoạn nàymùa kiệt là 150 200m Nhưng mùa lũ có nơi lên đến 2.000 m, lòng sông cắt sâuvào địa hình và có hướng chảy tương đối thẳng ít gấp khúc Từ Đô Lương đếnYên Thượng lòng sông mở rộng dần và có đôi chỗ gấp khúc như đoạn Rú Guộc,chiều rộng sông mùa kiệt từ 200 250 m Mùa lũ từ 2.500 4.000 m, vì khi có
lũ lớn toàn bộ vùng hữu Thanh Chương đều tham gia vào dòng chảy, đến YênThượng do địa hình núi phát triển ngang của dãy núi thượng Nam Đàn nên dòngchảy lại bó gọn vào trong lòng chỉ chừng 150 200 m mùa kiệt và 800 900 mtrong mùa lũ
Tóm lại đặc điểm dòng chính sông Cả là nếp đứt gãy theo hướng Tây Bắc Đông Nam của miền địa chất cũ, lòng sông sâu, ít bãi sông và ít bãi bồi trên sông.Đoạn hạ lưu sâu và rộng đoạn trung lưu rộng nhưng lại nông Phần thượng nguồn
-có nhiều ghềnh thác hai bên mép sông là núi cao và đồi Phía thượng nguồn -cónhiều vị trí có thể xây dựng được kho nước lợi dụng tổng hợp Sông Cả không cóphân lưu có một cửa thoát duy nhất
Trang 13Cả tại Ngã ba Cây Chanh Dòng chính sông Hiếu đoạn từ Phà Châu tiến xuốngđến Nghĩa Đàn lòng sông rộng, nông, nhiều bãi cuội, sỏi độ sâu dòng chảy mùakiệt chỉ đạt từ 0,5 2 m Có thác lớn nhất là thác Đũa chênh lệch đầu thác cuốithác từ 6 7 m dài gần 50 m Phần qua Quỳ Châu, Quỳ Hợp dòng chảy rất hiềnhoà Từ Nghĩa Đàn đến Ngã ba Cây Chanh lòng sông bị biến động thường xuyên
do dòng chảy bị đổi chiều nhiều lần, ở đây bờ sông có đoạn thẳng đứng không cóbãi ven sông Đáy sông chênh với bờ sông có nơi tới 20 m Lòng sông rộng trungbình mùa kiệt 100 120 m, mùa lũ 150 280 m, cũng chính vì mặt nước mùakiệt và mùa lũ không chênh nhau nhiều mà khi nước hạ thấp dòng chảy xiết trongsông làm ra hiện tượng lở bờ sông Sông Hiếu là con sông cấp nước quan trọngđối với các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Nghĩa Đàn, Tân Kỳ Nhưngmùa kiệt trên sông Hiếu có khi chỉ còn 6 7 m3/s không đủ lượng nước cấp chonhu cầu Sông Hiếu có các chi lưu quan trọng như Nậm Quàng, Nậm Giải, Kẻ Cọc
- Khe Nhã, sông Chàng, sông Dinh, Khe Nghĩa, Khe Đá Trong số các chi lưu có
2 chi lưu lớn là sông Chàng và sông Dinh, hai sông này đều là sông miền núi cấpnước quan trọng của sông Hiếu
I.2.2.3 Đánh giá chung về đặc trưng hình thái sông Cả
Sông Cả là con sông lớn thuộc vùng Bắc Trung Bộ có hình dạng lưu vựcphát triển lệch về phía Tây Bắc, diện tích lưu vực đa phần là miền núi và núi cao,
hệ thống sông Cả bao gồm nhiều sông nhánh hợp thành, có một cửa thoát duynhất vuông góc với bờ biển Lưới sông phát triển đều trên các vùng địa hình rấtthuận lợi cho công tác phát triển tưới và cấp nước Là một lưu vực sông rộng nằmtrên nhiều vùng mưa tiểu địa hình khác nhau lại đối mặt trực tiếp với hướng gióLào hàng năm do vậy các loại hình thiên tai trên sông Cả rất đa dạng xảy ra
Trang 14thường xuyên cả về không gian lẫn thời gian Có những vùng rất khan hiếm nướctrong mùa kiệt, đồng thời có những vùng bị lũ uy hiếp thường xuyên.
Đặc trưng hình thái lưu vực sông Cả được thể hiện qua các chỉ tiêu đánhgiá lưu vực trong bảng I-10 dưới đây:
Bảng 1.4: Đặc trưng hình thái một số lưu vực sông
TT Lưu vực (km F 2 ) (km) Lsông Độ cao bq(m)
Độ dốc bqlv
(%o)
Bbq (km/km 2 )
Mật số lưới sông (km/km 2 )
Hệ số không đối xứng
Hệ số hình dạng lưu vực
1.3 Tình hình kinh tế xã hội trên lưu vực
1.3.1 Đặc điểm dân sinh kinh tế
1 3.1.1 Dân số
Tính đến năm 2002 tổng dân số trên lưu vực sông Cả kể cả vùng hưởng lợi
là 3.358.333 người Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên năm bình quân năm là:1,27 %Trong đó khoảng 20% dân số sống tập trung ở thành phố, thị xã, thị trấn Còn lạihầu hết sống ở nông thôn, có tới gần 30% dân số sống ở đồi núi và núi cao Mật
độ dân số bình quân ở đồng bằng là 453 người/km2 Kinh tế ở đồng bằng cao hơnmiền núi và nhu cầu về sử dụng nước, chống lũ, môi trường ở đồng bằng hạ dusông Cả đòi hỏi lớn hơn ở miền núi và trung du
1.3.1.2 Tổ chức xã hội trên lưu vực sông Cả
Mô hình tổ chức xã hội trên lưu vực sông Cả theo mô hình hành chính cáccấp từ Tỉnh - Huyện - Xã - Thôn bản và cộng đồng dân cư
Sông Cả phần nằm ở Việt Nam (khu vực nghiên cứu) trải trên địa bàn tỉnhNghệ An:
Tỉnh Nghệ An gồm các huyện: Đô Lương, Thanh Chương, Anh Sơn, ConCuông, Tương Dương, Kỳ Sơn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu, Quỳ Hợp, QuếPhong
Toàn bộ lưu vực có 8 dân tộc sinh sống trong đó người Kinh chiếm tới 90%dân số trên lưu vực Dân tộc ít người nhất là dân tộc Chút có 250 người, các dântộc ít người đến định cư sinh sống ở miền núi dọc biên giới Việt Lào, nơi đây
Trang 15nhân dân có trình độ dân trí thấp Kinh tế kém phát triển, sự phân chia ranh giớigiữa các dân tộc chỉ là tương đối, các dân tộc phần lớn sống đan xen nhau tạothành cộng đồng dân cư chung sống trên lưu vực.
1.3.1.3 Đời sống văn hoá xã hội
Nghệ An xưa là đất Việt Thường, đời Tần thuộc Tương Quân, đời Hánthuộc Cửu Chân, đời Ngô chia quận Cửu Chân và đặt là Cửu Đức, đời Tống đặt làChâu Hoan, sau đổi là quận Nhật Nam, đời Đường đặt là Ba Châu (Hoan, Diễn vàĐường Lâm) Nước ta đời Đinh, Lê là Châu Hoan, đời Lý năm 1010 lấy ChâuHoan làm trại, năm 1036 đời Lý Thái Tông đổi là châu Nghệ An Tên Nghệ An có
từ đó
Trải qua quá trình chinh phục, cải tạo thiên nhiên và đấu tranh xã hội hàngngàn năm đã tạo ra vùng đất Xứ Nghệ khá nhiều giá trị văn hoá trong nếp sống,cách ứng xử và quan hệ xã hội
Lưu vực sông Cả là vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi Chủ Tịch Hồ ChíMinh - một nhà giải phóng dân tộc, một danh nhân văn hoá của thế giới sinh ra vàlớn lên ở đây Nơi quê hương của đồng chí Trần Phú- Tổng bí thư đầu tiên củaĐảng và là người đã xây dựng Luận cương cách mạng của Đảng Công Sản ViệtNam
Nghệ An đã đào tạo cho đất nước biết bao thế hệ nhân tài, các nhà khoahọc đã và đang đưa hết đức tài xây dựng quê hương, đất nước
Tổ chức xã hội, mức sống, trình độ dân trí của nhân dân trên lưu vực sông
Cả đang ngày một nâng cao cả về chất lượng cuộc sống, mức sống Sự đổi mớitrên lưu vực hơn 10 năm qua là kết quả đáng kể
Về văn hoá giáo dục đã và đang được nâng cao theo phương châm bảo tồnvăn hoá dân tộc, giáo dục cộng đồng Các dân tộc miền núi đều có các trường vănhoá nội trú đào tạo nguồn nhân lực cho địa phương Cơ sở hạ tầng nông thôn, điện
- đường - trường - trạm đã được đầu tư thích đáng bằng mọi nguồn vốn Y tế côngđồng, Y tế điều trị, ngày càng được cải thiện có mạng lưới y - Bác sĩ về tận xã đểđảm bảo duy trì sức khoẻ cho người dân
Chương trình lồng ghép nước sạch nông thôn chương trình 135 đã có tácdụng nâng cao mức sống của dân vùng sâu vùng xa
Trang 16Nền kinh tế chung trên lưu vực đã thoát khỏi nền kinh tế tự cấp, tự túc vớichủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã dần đưanền kinh tế lên ở mức độ nhất đinh nhất là nông nghiệp Đã tham gia vào xuấtkhẩu hàng nông sản và chế biến hàng nông sản
Nói tóm lại nền kinh tế chung trên lưu vực được nâng lên mặt bằng mới vàcũng từ đó mà văn hoá xã hội trên lưu vực cũng được nâng lên tạo cơ sở chongười dân tin tưởng hơn vào sự thành công của Chủ nghĩa xã hội
1.3.1.4 Hiện trạng các ngành kinh tế trên lưu vực
a Cơ cấu kinh tế trên lưu vực
Theo thống kê 5 năm gần đây 1998 ÷ 2002 cơ cấu kinh tế trên lưu vực đã
có sự chuyển dịch đáng kể theo hướng công nghiệp hoá và hiện đại hoá Nhưng tỷtrọng kinh tế ngành nông nghiệp vấn đóng vai trò chủ đạo Cơ cấu chung nền kinh
tế lưu vực vẫn là Nông lâm nghiệp - Dịch vụ - Công nghiệp Theo tài liệu thống
kê cơ cấu kinh tế trên lưu vực sông Cả năm 2002 theo địa bàn hành chính nhưtrong bảng I-11 phần phụ lục
Cơ cấu kinh tế trên đây phản ánh rõ nét nền kinh tế trên lưu vực sông Cảvẫn là Nông - Lâm - thuỷ sản Công nghiệp đang có xu hướng phát triển với tốc
độ tương đối cao Xu thế cơ cấu kinh tế đang giảm ở khu vực Nông – Lâm - ngưnghiệp và tăng ở khu vực công nghiệp dịch vụ Nhưng tốc độ tăng trưởng chungcủa nền kinh tế còn thấp so với kinh tế toàn quốc Nền kinh tế chậm phát triển củalưu vực sông Cả có nhiều nguyên nhân nhưng một trong những nguyên nhân chủyếu là công tác thuỷ lợi phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi và đảm bảo
an toàn trong sản xuất còn nhiều bất cập, cần có sự điều chỉnh thích đáng để cácngành kinh tế phát triển bền vững hơn
b Hiện trạng các ngành kinh tế trên lưu vực sông Cả
Hiện trạng kinh tế nông nghiệp
Diện tích có khả năng nông nghiệp trên lưu vực sông Cả và vùng phụ cậnhưởng lợi theo điều tra năm 1999 là 172.364 ha Diện tích đã huy động vào sảnxuất cây hàng năm và cây lâu năm là: 173.235 ha Diện tích nông nghiệp đangđược sử dụng để sản xuất lương thực chiếm tới 80% tổng diện tích đang gieotrồng trong đó có tới 70% là sản xuất lúa còn lại là các cây trồng khác như ngô,
Trang 17khoai, cây công nghiệp ngắn ngày: lạc, vừng, đậu đỗ các loại, mía Diện tích câydài ngày chủ yếu tập trung ở vùng đồi, núi với các loại cây cao su, chè, cà phê, cây
ăn quả có múi, dứa Đất trồng chưa sử dụng 249.346 ha diện tích này có khả nănghuy động vào sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản khoảng 45% Đất đaitrên lưu vực sông Cả được phân bổ theo đơn vị hành chính như sau:
Theo điều tra đất đai trên lưu vực, khả năng tăng diện tích trồng trọt cònkhá lớn, tập trung ở khu ruộng một vụ và đất nông nghiệp khác, khu vực đất trốngđồng bằng và ven biển
Diện tích gieo trồng cây hàng năm trên lưu vực những năm gần đây cũngbiến động rất lớn, tuỳ theo tình hình khí tượng thuỷ văn, khả năng đảm bảo tưới,tiêu và sự biến động giá cả thị trường Theo tài liêu thống kê của các tỉnh diện tíchgieo trồng bình quân 5 năm 1998 ÷ 2002 trên lưu vực như trong bảng sau:
Bảng 1.5: Diện tích gieo trồng cây hàng năm bình quân trên lưu vực sông Cả
Trang 18Bảng 1.6: Diện tích gieo trồng lúa trong lưu vực
Bảng 1.7: Diện tích gieo trồng cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày năm 2000
Số lượng (con) 281.095 294.403 40.500 9.693.000 1.090.363
Trang 19Chăn nuôi
Hình thức chăn nuôi hiện tại trên lưu vực sông Cả là chăn nuôi theo hộ giađình Một vài nơi đã hình thành trang trại nhỏ với quy mô đàn gia súc khoảngdưới 100 con, đàn gia cầm dưới 10 nghìn con và đàn lợn dưới 200 con Nhữngđiểm nuôi tập trung như vậy vẫn là hộ gia đình và có sự hợp tác của nhiều hộ
Vật nuôi chủ yếu đại gia súc có trâu, bò, hươu, dê, gia cầm gà vịt, chim cút
- Thuỷ sản khai thác tự nhiên theo hai nguồn: Thuỷ sản nước ngọt trên đầm
ao, sông suối và thuỷ sản biển Theo thống kê bình quân 5 năm trên lưu vực thuhoạch được khoảng 21.000 tấn/năm
- Nuôi trồng thuỷ hải sản
Cá nước ngọt được nuôi trồng trên mặt nước và nuôi cá lồng, cá bè trênsông Trong các vùng đất trũng nhân dân tận dụng số hồ để nuôi với diện tích nuôitrồng cá nước ngọt tới 3.500 ha sản lượng biến động từ 3.500 ÷ 4.200tấn
Diện tích nuôi trồng và sản lượng đánh bắt trên lưu vực được trình bàytrong bảng sau:
Trang 20Bảng 1.9: Diện tích nuôi trồng và sản lượng đánh bắt trên lưu vực nghiên cứu:
Tương lai của ngành thuỷ sản sẽ phát triên mạnh mẽ hơn nhất là khu vựcnuôi trồng, đây cũng là ngành hướng tới xuất khẩu nhiều nhất
Diện tích đất lâm nghiệp trên lưu vực sông Cả chiếm tới 65% diện tích nằmtrên lãnh thổ Việt Nam Do chế độ khai thác rừng không có bảo dưỡng, do đốtnương làm rẫy và do cháy rừng nên trong giai đoạn từ 1945 ÷ 1990 rừng càng
Trang 21ngày càng cạn kiệt Đất trống đồi núi trọc tăng lên Từ 1990 ÷ 2004 với chươngtrình 327, chương trình 5 triệu ha rừng và một số vùng được đưa vào làm khu bảotồn vốn rừng, khu bảo tồn quốc gia như Phù Mát (Thượng nguồn sông Cả) vàchương trình giao đất giao rừng nên dần dần rừng được phục hồi.
Theo đánh giá của đoàn điều tra quy hoạch rừng và diễn biến rừng trên lưuvực sông Cả được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.10: Diễn biến rừng trên lưu vực nghiên cứu
và hành chục loài chim đã quay lại rừng sông Cả do chế độ bảo dưỡng rừng tốthơn Sản phẩm thu được từ ngành lâm nghiệp rất đa dạng như mây, gỗ củi, nấmhương, thảo mộc, gỗ nguyên liệu giấy, gỗ trụ hầm lò Hàng năm rừng trên lưu vựcsông Cả cung cấp tới 40 ÷ 50 nghìn m3 khối gỗ cho các ngành kinh tế Đây là mộttiềm năng kinh tế lớn trên lưu vực và là khu vực có khả năng tạo công ăn việc làmcho nhiều lao động của hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Công nghiệp trên lưu vực sông Cả trong những năm qua đã có bước pháttriển nhất định Công nghiệp đã hình thành cơ cấu đa ngành: cơ khí luyện kim,hoá chất, dệt may, thuộc da, khai thác khoáng sản, chế biến nông sản, vật liệu xâydựng v.v Nhưng công nghiệp trên địa bàn vẫn chưa phát triển tương xứng vớitiềm năng và lợi thế của lưu vực
Trang 22Đã bước đầu hình thành các cụm công nghiệp tập trung:
- Cụm công nghiệp Hoàng Mai gồm nhà máy xi măng 1,5.106 tấn/năm, sảnxuất vật liệu xây dựng, sản xuất đá các loại
- Cụm công nghiệp Nghĩa Đàn gồm nhà máy hoa quả hộp, ép dầu, míađường Quỳ Hợp, chế biến lâm sản
- Cụm công nghiệp Đô Lương gồm chế biến gỗ, cơ khí, sản xuất công cụmáy móc nông nghiệp và cơ khí quốc phòng
- Khai thác Thiếc ở Quỳ Hợp với công suất tinh chế 3000 tấn/năm và khaithác đá quý ở Quỳ Châu, quặng Thiếc ở Quế Phong
- Cụm công nghiệp Anh Sơn gồm xi măng quốc phòng 800.000 tấn/năm,mía đường sông Lam
- Cụm công nghiệp Thanh Chương (Dùng) gồm Diêm, gỗ dán, bột giấy vàgia công chế biến nông sản
Ngoài ra đã hình thành các tổ hợp sản xuất thuộc sở hữu tư nhân hoạt độngtrong lĩnh vực sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản, các ngành nghềtiểu thủ công nghiệp đã phát triển theo hình thức làng nghề đã thu hút hàng vạnlao động dư thừa ở vùng nông thôn và thu hút lực lượng lao động nông nhàn Tuynhiên ngành công nghiệp trên lưu vực đang đứng trước khó khăn:
- Thiếu vốn để sản xuất
- Thiếu công nghệ, thương hiệu và đầu ra cho sản phẩm
Vấn đề này sẽ được khắc phục trong thời gian sớm nhất
Cùng với việc phát triên kinh tế trong lưu vực các cơ sở hạ tầng cũng đượcxây dựng tương đối đồng bộ để hỗ trợ cho phát triển kinh tế Ngành giao thôngvận tải trên lưu vực đã phát triển cả trên lĩnh vực đường bộ, đường sắt, đường thuỷ
và đường hàng không
- Giao thông đường bộ khá thuận lợi trên hai tuyến đường bộ Bắc Nam làtuyến đường 1A chạy dọc ven biển từ đèo Hoàng Mai đến thị xã Hà Tĩnh và chạyvào phía Nam đã được nâng cấp từ 2001
- Đường Hồ Chí Minh chạy cắt ngang lưu vực từ Đông Hiếu chạy dọc sôngCon đến Anh Sơn chạy cắt ngang vùng đồi hữu Thanh Chương qua Hương Sơn,
Trang 23Khê Vũ Quang, Hương để vào Quảng Bình Tuyến đường này là một thế mở kinh
tế mới cho lưu vực
- Đường Đông Tây có tuyến đường 48 chạy lên Quế Phong, Đồng Văn,Thông Thụ trục đường này hỗ trợ phát triển kinh tế thượng nguồn sông Hiếu
- Tuyến đường 40 từ TP Vinh đi Thanh Chương và cửa khẩu Thanh Thuỷnhằm hỗ trợ phát triển kinh tế đường Hồ Chí Minh và vùng miền núi ThanhChương
Các tuyến đường liên huyện, liên thôn, liên xã cũng đã được mở rộng vànâng cấp nhờ vào chương trình phát triển công nghiệp, chương trình 135, chươngtrình xoá đói giảm nghèo và chương trình hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn.Các xã đã có đường ô tô tải vào tận trung tâm xã trừ mấy xã vùng dẻo cao củaQuế Phong, Kỳ Sơn, Con Cuông Việc đầu tư xây dựng các công trình miền núi sẽgiảm bớt chi phí hơn nhờ vào mạng lưới giao thông này Đồng thời mạng lướigiao thông cũng là tiền đề quan trọng để phát triển nền kinh tế hàng hoá
Các loại hình giao thông toàn lưu vực đã phát triển đúng hướng kinh tế thịtrường và tạo điều kiện thuận lợi để khai thác tiềm năng trên lưu vực đưa vào pháttriển kinh tế Tuy nhiên công tác đầu tư về giao thông và duy tu bảo dưỡng cònphải đầu tư lớn trong tương lai Công cuộc khai thác tài nguyên nước cũng sẽ tácđộng lớn tới sự phát triển này, ngược lại sự phát triển giao thông cũng hỗ trợ lớncho sự phát triển tài nguyên nước
Dịch vụ- Y tế- Xã hội
o Ngành dịch vụ
Ngành dịch vụ thương mại và dịch vụ du lịch đang trên đà phát triển mạnh.Lưu vực sông Cả nằm ở vị trí cầu nối Bắc Nam và có hướng mở mạnh ra hướngĐông và sang phía Tây Bằng các cửa khẩu, cầu cảng và các danh lam thắng cảnh,các di tích lịch sử đã hỗ trợ cho ngành dịch vụ du lịch và thương mại trên lưu vựcphát triển mạnh Vùng sông Cả có các khu du lịch sinh thái Pù Mát, Vũ Quang, dulịch lễ hội như đền Cuông, Cỡn, khu di tích Kim Liên và du lịch thương mại nhưcửa khẩu Cầu treo, Nậm Cắn, Thanh Thuỷ
o Y Tế
Trang 24Mạng lưới y tế trên lưu vực phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng,tính đến năm 2003 các tuyến xã đã có biên chế 1÷2 bác sĩ, 1 y sĩ và 2 y tá Bìnhquân cứ 10.200 dân có 1 bác sĩ, 5 y sĩ và 16 y tá để phục vụ chăm sóc sức khoẻcho nhân dân và thực hiện chức năng y tế cộng đồng Tuy nhiên trong lưu vực còntồn tại những vùng dịch sốt rét như thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu Y tế môitrường còn nhiều vấn đề cần đầu tư để có cơ sở kiểm soát môi trường y tế.
và chuyển giao công nghệ trong sản xuất
Công tác truyền thông giáo dục cộng đồng được Đảng và nhà nước chú ýphát triển ở mọi nơi với mọi hình thức Các chủ trương, chính sách của Đảng đãđược đưa đến tận người dân để quán triệt thực hiện
Sự nghiệp giáo dục là sự nghiệp đào tạo cho đất nước và các ngành kinh tếlực lượng lao động có chuyên môn và nghiệp vụ Đây là bước phát triển tiềm năng
xã hội để xây dựng một nền kinh tế hiện đại
o Dịch vụ bưu chính viễn thông
Các xã đều đã có nhà văn hoá bưu điện trung tâm xã Bưu chính viễn thôngtrên toàn lưu vực phát triển mạnh đã phủ sóng điện thoại di động toàn bộ vùngđồng bằng hạ lưu Việc thông tin liên lạc trong khu vực rất thuận lợi để hỗ trợ choviệc phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn
Đánh giá chung về phát triển kinh tế trên lưu vực sông Cả:
Trang 25Từ thời kỳ 1996 ÷ 2004 kinh tế xã hội trên lưu vực sông Cả đã bắt đầu pháttriển trên một số lĩnh vực Năng lực sản xuất được nâng lên, kết cấu hạ tầng đượccải thiện tạo điều kiện thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, rútngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế so với bình quân cả nước, tạo tiền đề chobước phát triển kinh tế xã hội thời kỳ tiếp theo Đời sống vật chất và văn hoá củanhân dân được cải thiện một bước.
Tuy nhiên so với tiềm năng và yêu cầu phát triển thì tốc độ tăng trưởngkinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn chậm GDP bình quân thu nhập đầungười chỉ bằng 70% mức bình quân toàn quốc
Kinh tế trên lưu vực sông Cả chủ yếu là nông lâm nghiệp chiếm từ 43-46%,lực lượng lao động 91% là sản xuất nông lâm nghiệp Tuy sản xuất nông nghiệpchú trọng nhất vào sản xuất lương thực nhưng bình quân lương thực mới chỉ đạt286÷290 kg/người-năm Sản phẩm cây công nghiệp, nông nghiệp hàng hoá vàchăn nuôi chưa nhiều
Công nghiệp chỉ chiếm 18,9% trong GDP Sản xuất công nghiệp chưa vữngchắc, sản xuất hàng hoá và chế biến nông lâm sản chưa nhiều, chất lượng hànghoá chưa cao, hiệu quả thấp Sức cạnh tranh trên thị trường còn kém
Tỷ lệ đói nghèo trên lưu vực còn cao, lao động thiếu việc làm thườngxuyên ở mức 3,6 ÷ 3,8 vạn người Số lượng lao động đông nhưng chất lượng laođộng thấp Chỉ có 1,7% số lao động có trình độ trên đại học, đại học và cao đẳng.Tiềm năng về đất đai, lao động, con người xã hội, môi trường đầu tư phát triểnkinh tế trên lưu vực còn rất lớn Cần có một chiến lược phát triển đồng bộ để pháthuy hết các nội lực, điều kiện tự nhiên, xã hội để thực hiện thành công hiện đạihoá, công nghiệp hoá nền kinh tế trên lưu vực
1.3.2 Các công trình hồ chứa, đập dâng nằm trên lưu vực sông
Tổng lượng nước của sông Cả là 21.9 km3 và được đánh giá là lưu vựcsông thuộc loại tương đối nhiều nước so với các sông miền Bắc( trong khi sông
Mã liền kề có diện tích lư vực lớn hơn nhưng chỉ có tổng lượng là 16.6 km3) Sông
Cả có tiềm năng về thuỷ điện ước tính khoảng 1.5 triệu kw
Trên dòng chính hệ thống sông chưa có một hồ chứa đa mục tiêu quy môlớn nào ở thượng nguồn lưu vực Lưu vực có độ dốc lớn, hẹp là nguyên nhân hình
Trang 26thành nên những đợt lũ lớn, xảy ra bất ngờ gây thiệt hại nghiêm trọng về người vàsản vùng hạ lưu, đặc biệt cho sản xuất nông nghiêp - hoạt động kinh tế chính củalưu vực Mặc dù chưa có các hồ chứa lớn đa mục tiêu nhưng trên những dòngnhánh đã xây dựng được hàng trăm hồ chứa vừa và nhỏ (ước tính có trên 900 hồchứa các loại) và hàng ngàn đập dâng, hồ chứa nhỏ do dân tự xây dựng với tổngdung tích được điều tiết khoảng 30 triệu km3 cùng với hàng trăm trạm bơm nướctưới cho gần 40.000 ha ruộng.
Hiện trạng các hồ chứa phục vụ cho tưới tiêu nông nghiệp nhìn chung chưađạt yêu cầu tưới thiết kế do các công trình này thiếu hoàn chỉnh, đồng bộ Khảnăng của các công trình phục vụ tưới lệ thuộc vào chế độ dòng chảy của các sôngsuối nhỏ Một số công trình nằm trong vùng địa hình đồi núi, quy mô nhỏ khôngđược tính toán thiết kế nên thường xuyên bị hư hại khi mưa to, lũ lớn
Các tính toán chuyên ngành cho biết nhu cầu sử dụng nước và đòi hỏi côngtrình trữ nước phục vụ điều tiết trên lưu vực sông Cả cần có tổng dung tíchkhoảng 7 km3 Tuy nhiên, các công trình điều tiết hiện có chỉ mới đạt tổng dungtích khoảng 30 triệu km3 nghĩa là còn quá ít so với đòi hỏi thực tế và chủ yếu làcác hồ chứa nhỏ có diện tích hứng nước trên dưới 10 km2 nên không có khả năngđiều tiết trong thời gian dài làm hạn chế khả năng phục vụ của công trình trongkhi phương hướng khai thác tài nguyên nước trong lưu vực sông Cả vẫn phải lấyviệc giữ nước trong mùa lũ, điều tiết cho sản xuất trong mùa cạn là chính Ngoài
ra còn có hàng trăm trạm bơm nước tưới cho gần 40.000 ha ruộng Tuy vậy, vẫnchưa đạt yêu cầu khai thác đối với nguồn nước trong lưu vực sông Cả
Do vậy, Trên các phụ lưu quan trọng cần xây dưng hồ chứa nước lớn đểchống lũ, tăng lượng nước trong mùa cạn
Mặt khác, cần chú ý tới đặc điểm của phân phối dòng chảy của sông ngòisông Cả là dòng chảy giữa các mùa thì tương đối điều hoà, nhưng trong từngtháng lại rất chênh lệch Do đó điều tiết tháng có vị trí đặc biệt quan trọng Đây làđặc điểm rất đáng chú ý trong quá trình trị thuỷ và khai thác tài nguyên nước trên
hệ thống sông Cả
1.4 Kết luận
Trang 27Địa hình sông Cả thích hợp cho phát triển kinh tế tổng hợp đồng thời rấtthuận lợi cho nền nông nghiệp đa dạng hoá cây trồng vật nuôi và có khả năng tạo
ra các vùng chuyên canh cây hàng hoá, cây công nghiệp
Các loại đất trên lưu vực sông Cả được hình thành và phân bố trên nền địahình phức tạp, với điều kiện khí hậu thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều, lượng mưaphân bố không đều theo mùa và có các trận mưa có cường độ lớn Nền địa chấtlưu vực sông Cả nhiều loại đá gốc khác nhau tạo cho lưu vực có nhiều chủng loạithổ nhưỡng đó là một điều kiện thuận lợi lớn cho việc đa dạng hoá cây trồng, vậtnuôi trên lưu vực, đồng thời là một địa bàn phát triển cây lâm nghiệp tốt
Điều kiện địa hình và khí hậu như trên đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự hìnhthành và phân bố mạng lưới sông suối trong vùng Hệ thống sông Cả bao gồmnhiều sông nhánh hợp thành Lưới sông phát triển đều trên các vùng địa hình rấtthuận lợi cho công tác phát triển tưới và cấp nước Là một lưu vực sông rộng nằmtrên nhiều vùng mưa tiểu địa hình khác nhau lại đối mặt trực tiếp với hướng gióLào hàng năm do vậy các loại hình thiên tai trên sông Cả rất đa dạng xảy rathường xuyên cả về không gian lẫn thời gian Có những vùng rất khan hiếm nướctrong mùa kiệt, đồng thời có những vùng bị lũ uy hiếp thường xuyên
Kinh tế trên lưu vực sông Cả chủ yếu là nông lâm nghiệp Sản phẩm câycông nghiệp, nông nghiệp hàng hoá và chăn nuôi chưa nhiều
Sản xuất công nghiệp chưa vững chắc, sản xuất hàng hoá và chế biến nônglâm sản chưa nhiều, chất lượng hàng hoá chưa cao, hiệu quả thấp Sức cạnh tranhtrên thị trường còn kém
Tiềm năng về đất đai, lao động, con người xã hội, môi trường đầu tư pháttriển kinh tế trên lưu vực còn rất lớn Cần có một chiến lược phát triển đồng bộ đểphát huy hết các nội lực, điều kiện tự nhiên, xã hội để thực hiện thành công hiệnđại hoá, công nghiệp hoá nền kinh tế trên lưu vực
Trang 28Chương 2: PHÂN TÍCH TÍNH TOÁN CÁC ĐẶC TRƯNG KHÍ
TƯỢNG TRÊN LƯU VỰC SÔNG CẢĐặc điểm khí tượng, thuỷ văn trên lưu vực sông Cả đã được người Pháp quan tâm nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Bằng việc đặt các trạm quan trắc để thu thập các thông tin về thời tiết khí hậu và các thông tin về dòng chảy của lưu vực Những trạm đo đạc khí hậu khí tượng như trạm Mường Xén, Đô Lương được xây dựng từ những năm 1907-1908 và đến năm 1930 mới đi vào đo đạc ổn định Thời kỳ đo đạc ổn định nhất là từ năm 1958 trở lại đây
1.2.1 Các trạm quan trắc khí tượng chính trên lưu vực
Hình 2-1: Bản đồ các trạm khí tượng lưu vực sông Cả
Nguồn: Trung tâm tư liệu khí tượng thủy văn
Bao gồm các trạm đo như Quỳ Châu, Quỳ Hợp, Tây Hiếu (lưu vực sông Hiếu) Tương Dương, Con Cuông, Đô Lương (lưu vực dòng chính sông
Quỳ Châu
Quỳ HợpTương Dương
Đô LươngCon Cuông
Tây Hiếu
Quỳnh lưu
Trang 29Cả) Các yếu tố đo đo đạc của các trạm khí tượng: Mưa (X), Gió (V), Độ ẩm (W), Nhiệt độ (T), Bốc hơi (Z), ngoài ra còn thu thập các yếu tố tiểu khí hậu như sương mù, sương muối, mưa Axit.
Các trạm đo mưa:
Trên lưu vực nghiên cứu có 23 trạm đo mưa đã được thiết lập nhưng hiện nay chỉ còn 11 trạm đo mưa hoạt động, còn lại các trạm đã giải thể Các trạm quan trắc mưa chủ yếu được tập trung ở vùng đồng bằng hoặc thị trấn, thị tứ nằm ở thung lũng sông Vùng núi cao rất ít trạm đo mưa, đặc biệt trạm
đo mưa bằng máy tự ghi rất ít chỉ trừ một số trạm đo khí hậu có máy đo mưa
tự ghi Liệt tài liệu đo mưa không đồng bộ về thời gian quan trắc, trạm có tài liệu ít năm có số liệu từ 7 ÷ 10 năm, trạm có số liệu dài năm có tài liệu đo đạc 30 ÷ 40 năm, nên tính cả liệt tài liệu đo trước năm 1954 thì thời gian đo đạc tới 60-70 năm.
Những trạm đo mưa do Tổng cục khí tượng thuỷ văn quản lý có chất lượng tài liệu tốt Các trạm đo mưa chuyên dùng tại các nông trường hoặc ở vùng sâu, vùng xa chất lượng tài liệu kém tin cậy hay bị gián đoạn Số lượng trạm đo mưa hiện có trên lưu vực đủ đảm bảo tài liệu cho việc tính toán các đặc trưng mưa thiết kế, phục vụ cho tính toán nguồn nước đến trên lưu vực.
Các trạm đo mưa và khí tượng trên lưu vực nghiên cứu được thống kê trong bảng sau:
Bảng 2.1: Thống kê lưới trạm đo mưa và khí tượng trên lưu vực nghiên cứu
TT Trạm Yếu tố đo Thời kỳ đo trước 1954 Thời kỳ đo sau 1954
Trang 30TT Trạm Yếu tố đo Thời kỳ đo trước 1954 Thời kỳ đo sau 1954
Trang 311.2.2 Các đặc trưng khí hậu lưu vực sông Cả
Mùa hè có thể tính bắt đầu từ tháng IV đến tháng X khi khối không khí xích đạo - Thái Bình Dương ảnh hưởng lớn tới lưu vực Nhiệt độ trung bình ngày các tháng mùa lũ đạt từ 260C - 280C Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng VII bình quân ngày đạt tới 390C Nhiệt độ tối cao tuyệt đối đo được tại Tương Dương là 42,70C (tháng 5/1966), Quỳ Châu 41,30C (5/1966) , Đô Lương 41,10C (5/1966) Chênh lệch nhiệt độ trong ngày về mùa lũ đạt tới 12-140C.
Đặc trưng nhiệt độ trung bình tháng trên sông Cả được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.2: Đặc trưng nhiệt độ trung bình tháng trên sông Cả
Đơn vị: 0C
Tương Dương 17,8 19,0 21,9 25,2 27,3 28,0 28,0 27,3 26,2 24,0 21,0 18,2 23,7Con Cuông 17,4 18,3 21,0 24,6 27,4 28,6 28,7 27,8 26,3 24,1 21,0 18,2 23,6
Đô Lương 17,6 18,3 20,6 24,3 27,4 28,8 29,1 28,0 26,5 24,4 21,4 18,6 23,7Quỳ Châu 16,9 18,1 20,8 24,3 26,9 27,7 27,8 27,1 26,0 23,7 20,5 17,5 23,1
Trang 321.2.2.2 Bức xạ
Theo tài liệu đo đạc của các trạm khí tượng, Số giờ nắng trung bình năm trên lưu vực sông Cả biến động từ 1.500 ÷1.800 giờ/năm Lượng bức
xạ nhiệt tổng đạt bình quân 120÷130 Kcad/cm2 năm Số giờ nắng trung bình
và lượng bức xạ lớn trên lưu vực là điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông lâm ngư nghiệp trên lưu vực.
Số giờ nắng trung bình tháng, năm trên sông Cả được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.3: Số giờ nắng trung bình tháng, năm trên lưu vực sông Cả
Cuông 86,6 64,1 88,9 137,3 204,0 173,5 206,7 160,7 152,5 147,6 108,9 112,2 1643,0
Đô
Lương 80,5 55,1 70,4 125,7 209,3 193,9 223,2 171,8 157,3 149,6 110,3 102,9 1650,0Quỳ
Châu 88,6 59,5 73,7 126,6 196,9 166,1 190,2 153,0 151,7 152,8 118,5 117,9 1595,5
.
1.2.2.3 Bốc thoát hơi nước
Thiết bị đo bốc hơi trên lưu vực sông Cả hầu hết bằng ống Piche.Theo tính toán thuỷ văn lượng bốc hơi nước trên lưu vực sông Cả khoảng 940 mm/năm Khu vực có lượng bốc hơi năm bình quân nhỏ nhất là lưu vực sông Hiếu Tại Quỳ Châu là 701 mm/năm Lượng nước bốc hơi bình quân năm đồng bằng nhỏ hơn miền núi nhưng phần trung lưu giữa lưu vực lại có lượng bốc hơi nhỏ hơn cả Lượng nước bốc hơi bình quân tháng lớn nhất vào tháng VII khi gió Lào và nắng hoạt động lớn trên lưu vực Tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất vào tháng II chỉ đạt 29,7 mm/tháng Bốc hơi 4 tháng lớn nhất là V, VI, VII, VIII tổng lượng bốc hơi đạt tới 541 mm chiếm gần 60% tổng lượng bốc hơi năm
Trang 33Lượng bốc hơi bình quân tháng các khu vực trên lưu vực sông Cả được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.4: Lượng nước bốc hơi bình quân tháng trên lưu vực sông Cả
Đơn vị: mm
Tương
Dương 59,9 63,2 85,3 95,0 102 90,9 97,7 72,9 57,5 52,0 47,8 54,0 878Con
Cuông 42,8 39,6 54,1 72,6 99,1 105 118 83,8 57,2 49,8 46,1 46,2 814
Đô
Lương 41,9 35,4 41,3 53,9 87,7 112 122 84,9 60,4 59,5 55,4 53,1 807Quỳ
Châu 42,9 40,7 54,5 70,4 80,5 77,7 78,9 59,8 52,8 52,2 48,2 47,4 706
1.2.2.4 Độ ẩm không khí
Độ ẩm bình quân năm trên lưu vực sông Cả biến động từ 82% đến 85% vùng có độ ẩm bình quân năm cao là Con Cuông 86,5%, Đô Lương 85,5; Tương Dương 81,5%; Quỳ Châu 86,6% Độ ẩm cũng phù hợp với lượng bốc hơi năm vùng trung lưu có độ ẩm lớn - độ bốc thoát hơi nước nhỏ
và vùng miền núi, đồng bằng có lượng bốc hơi lớn- độ ẩm không khí nhỏ Tháng có độ ẩm cao nhất là tháng I, II độ ẩm cao đạt tới 94%, tháng có độ
Trang 34gió Đông Bắc Tốc độ gió trung bình đạt 1,9÷3,0 m/s Một năm có khoảng 3÷4 đợt gió mùa gây lạnh trên lưu vực.
- Gió mùa hè có hướng thịnh hành là gió Đông và Đông Nam, tốc độ gió trung bình 1,5 ÷ 3,0 m/s giữa mùa đông và mùa hè có gió Tây và Tây Nam hoạt động Trên toàn lưu vực gió có tốc độ từ 2,0 ÷ 4,0 m/s đặc trưng của gió này là khô, nóng, thổi theo từng đợt từ 5-7 ngày mà nhân dân thường gọi là gió Lào Một năm trên lưu vực có từ 5 ÷ 7 đợt gió Tây và xuất hiện từ đầu tháng IV đến tháng VII Thời kỳ có gió này lượng bốc thoát hơi lớn và độ ẩm của sông tăng cao Đây là thời kỳ cuối vụ xuân và đầu vụ hè thu do vậy trên lưu vực sông Cả những tháng có gió Tây càng cuối cần tưới nhiều nhưng thời gian tưới lại cần vào ban đêm hoặc gần tối, gần sáng vì khi cây bốc thoát hơi nước nhanh, tưới đủ nước vào ban ngày gây tình trạng càng bị úng sinh học dễ héo chết và ủng thân.
Vùng đồng bằng sông Cả mở rộng theo hướng nhìn ra phía Đông lại sát bờ biển chịu ảnh hưởng nhiều của các đợt mưa bão càng đi sâu lên phía Tây Bắc và phía Tây lưu vực ảnh hưởng của bão càng giảm nhỏ Vào đầu tháng VII khi hoạt động của các hình thái thời tiết gây mưa tăng lên ở vùng Thái Bình Dương Khối áp cao Thái Bình Dương lớn mạnh lên, hoạt động mạnh ở vùng rìa vịnh Bắc Bộ lấn át dần khối áp thấp Sibêri dịch dần vào bờ biển phía bắc Việt Nam gây ra bão hoặc áp thấp nhiệt đới kèm theo mưa to vùng ven biển phía bắc trong đó có lưu vực sông Cả Hàng năm lưu vực sông Cả chịu ảnh hưởng của bão và bão đổ bộ trực tiếp từ 1,0 1,5 cơn bão trong năm Tốc độ gió do bão gây ra đạt tới cấp 9 ÷ 10 khi giật lên đến cấp
12 Bão thường đổ bộ vào lưu vực sông Cả từ cuối tháng IX, X và đầu tháng
XI Tốc độ gió lớn nhất đã quan trắc được tại Tương Dương 25 m/s hướng N.W (1975) Tại Quỳ Châu lớn hơn 20 m/s hướng N.W năm 1973, tại Đô Lương 28 m/s hướng E.N.E (1965) Thông thường bão và áp thấp nhiệt đới
đổ bộ vào lưu vực sông Cả là gây mưa lớn ngập lụt trên diện rộng Bão là
Trang 35một hình thái thời tiết bất thường khó chống nhưng nếu có phương án phòng tránh tốt sẽ giảm đi những thiệt hại về người và của nhà nước và nhân dân trên lưu vực.
Tốc độ gió trung bình tháng, năm tại một số trạm trên lưu vực được trình bày trong bảng sau:
Bảng 2.6: Tốc độ gió trung bình tháng, năm
Đơn vị: m/s
1.2.2.6 Mưa
Mưa là loại hình thời tiết nhìn chung là có lợi cho các hoạt động kinh
tế xã hội trên lưu vực Mưa là tác nhân điều chỉnh khí hậu rất tốt trên lưu vực Cũng như chế độ mưa vùng miền Bắc lượng mưa bình quân năm trên lưu vực dao động từ 1.100 2.500 mm/năm, có các trung tâm mưa lớn như thượng nguồn sông Hiếu lượng mưa bình quân năm đạt 2.000 2.400 mm/ năm Trung tâm mưa nhỏ dọc theo dòng chính sông Cả, tại Cửa Rào, Mường Xén đạt 1.100 1.400 mm/năm Vùng đồng bằng hạ du sông Cả có lượng mưa bình quân năm từ 1.700 1.800 mm/năm Mưa phân bố theo thời gian trong năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa ít và mùa mưa nhiều Ở thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu mùa mưa có thể tính từ tháng V đến tháng X Diễn biến mưa trong năm cũng mang tính đặc thù của miền Trung Mưa lớn trong năm thường có 2 đỉnh, đỉnh mưa lớn thứ nhất xuất hiện vào cuối tháng V đầu tháng VI khi gió giao mùa Đỉnh mưa này là nguyên nhân chính xuất hiện lũ tiểu mãn Đỉnh mưa lớn nhất trong năm thường xuất hiện vào cuối tháng IX, X hàng năm Đầu mùa hạ lượng mưa tháng đạt cực đại vào tháng V, VI sau đó mưa giảm nhỏ vào tháng VII, VIII Tổng lượng mưa hai tháng V, VI đạt tới 20% tổng lượng mưa năm Trong 2 tháng mưa lớn tháng IX, X lượng mưa đạt tới 40 50% tổng lượng mưa năm, cường độ
Trang 36mưa trong mùa mưa rất lớn Trong 1 ngày lượng mưa có thể đạt từ 700 mm đến 800 mm, mưa 3 ngày đạt trên 1.000 mm điển hình như trận mưa ngày 20/8/1965 thành phố Vinh chỉ trong 1 giờ lượng mưa đạt 142 mm/giờ Những trận mưa lớn như trên thường gây lũ nghiêm trọng trên lưu vực sông Cả.
Tổng lượng mưa 6 tháng mùa khô lại rất nhỏ chỉ chiếm 15 20% tổng lượng mưa năm Lượng mưa nhỏ nhất thường vào tháng II, III Nhiều trạm đo trong vùng lượng mưa hai tháng này chỉ đạt 1 2% lượng mưa năm.
Lưu vực sông Cả so với các lưu vực Bắc Bộ ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc đã giảm đi nhiều Nhưng số ngày có mưa phùn trong các tháng mùa khô cũng khá nhiều Vùng đồng bằng số ngày mưa phùn có thể tới 30
40 ngày/năm Lượng mưa mùa Đông từ tháng XII đến tháng IV có thể đạt tới 130 300 mm/tháng, đây là loại hình mưa thuận lợi cho canh tác vụ đông xuân.
1.2.3 Các loại hình thời tiết đặc thù trên lưu vực
Lưu vực sông Cả nằm trong vùng thời tiết khí hậu nhiệt độ gió mùa.
Do vị trí địa lý của lưu vực, hình thái địa hình bề mặt của lưu vực Do hướng mở của lưu vực theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và do sự hạ thấp cục bộ dạng các yên ngựa của dãy núi cao phía Tây lưu vực làm cho hình thái thời tiết khí hậu của lưu vực trở nên phức tạp cả về không gian và thời gian Tuy nhiên có thể thấy những hình thái thời tiết chính của lưu vực sông
Cả có những đặc trưng chính:
- Lưu vực sông Cả chịu ảnh hưởng của khối không khí cực đới lục địa hoạt động bắt đầu từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, gây lên thời tiết lạnh khô trong suốt thời gian hoạt động của khối không khí này Tuy nhiên do sự hoạt động mạnh dần lên của khối không khí Thái Bình Dương nên vào đầu tháng 2, tháng 3 (vào cuối mùa đông) thường có mưa phùn, mưa nhỏ trên lưu vực Hiện tượng mưa nhỏ, mưa phùn trong mùa
Trang 37Đông của lưu vực sông Cả thường xuyên hơn các lưu vực sông ở phía Bắc Đây là một yếu tố thuận lợi cho cây trồng Đông Xuân ít phải tưới Đồng thời cũng gây khó khăn không ít cho thời vụ cây trồng nếu mùa Đông kéo dài và các đợt rét đậm muộn.
- Lưu vực sông Cả chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của khối không khí xích đạo- Thái Bình Dương bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 khi khối không khí suy biến của Thái Bình Dương mạnh dần lên và di chuyển từ xích đạo lên Bắc Bán Cầu lấn át khối không khí lạnh lục địa Châu Á tràn vào lưu vực gây ra mưa trên lưu vực, thời đoạn này được gọi là mùa lũ.
- Khối không khí Ấn Độ Dương hoạt động mạnh ở phía Tây vào thời kỳ từ tháng 4 đến tháng 6 khi này khối không khí lạnh Xiberi yếu dần đi
và không khí nóng Thái Bình Dương mạnh dần lên nhưng chưa đủ mạnh bị khối không khí nóng có áp cao của Vịnh Bengan di chuyển theo hướng Tây Nam khi vượt qua dãy núi cao phía Tây Tràn vào lưu vực gây nên không khí khô nóng, ít hơi nước mà nhân dân trong vùng gọi là gió Lào Khối không khí này tràn vào từng đợt từ 5-7 ngày và một năm có từ 5÷ 8 đợt gió như vậy Thời kỳ này là thời kỳ bất lợi cho sản xuất, sinh hoạt của nhân dân Đây
là một đặc trưng điển hình thời tiết của lưu vực sông Cả.
- Các loại hình thời tiết diễn ra theo quy luật năm và quy luật mùa làm cho chế độ khí hậu của sông Cả vừa có đặc điểm của khí hậu Bắc Bộ vừa có đặc điểm của khí hậu chuyển tiếp giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, vừa
có đặc điểm khí hậu của sườn Đông dãy Trường Sơn lại vừa có đặc điểm khí hậu của duyên hải miền trung Sự pha tạp khí hậu này gây bất lợi cho phát triển kinh tế nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi trên lưu vực
1.2.4 Tính toán mưa năm
Tình hình các trạm đo mưa trên lưu vực nghiên cứu đã được trình bày trong chương I.
Trang 38Dưới đây là bảng danh sách các trạm đo mưa sử dụng để tính toán trên lưu vực nghiên cứu và chuỗi thời đoạn thu thập được số liệu:
Bảng 2.7: Bảng các trạm đo mưa chính trên lưu vực nghiên cứu
Cuông
Đô Lương
Quỳ Châu
Tương Dương Thời
đoạn
1998
1998
1998
1998
1966-1.2.4.1 Phân mùa mưa
Nghệ An là một tỉnh thường xuyên xảy ra lũ lụt, bên cạnh đó vẫn có những đợt hạn hán kéo dài đã gây ảnh hưởng lớn đến đời sống của người dân khi mà nền kinh tế ở đây chủ yếu là sản xuất nông nghiệp Đó là do lượng mưa trong năm biến động khá lớn, có tháng mưa rất nhiều nhưng có tháng lượng mưa rất ít, thậm chí trong năm có nhiều tháng liên tục không có mưa Để phân biệt thời kỳ mưa nhiều và thời kỳ mưa ít tương ứng với mùa
lũ và mùa cạn trong sông ta thường phân ra một năm thành hai mùa đó là mùa mưa và mùa khô.
Theo chỉ tiêu phân mùa mưa: Mùa mưa gồm những tháng liên tục có lượng mưa tháng vượt quá lượng tổn thất ổn định nào đó Lượng tổn thất đó
có dùng khả năng bốc hơi (lấy lượng bốc hơi mặt nước đo bằng thùng, chậu) tương ứng làm đặc trưng tính toán Mức ổn định có thể lấy tần suất P ≥ 50% cho vùng có sự tương phản rõ rệt giữa mùa mưa và mùa khô (như vùng Tây Nguyên, Nam Bộ, ven biển miền Trung) và dùng P ≥ 75% đối với vùng còn lại (Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ).
Nghệ An thuộc vùng Bắc Trung Bộ, với lượng mưa trung bình năm khoảng 1800mm nhưng phân bố không đều giữa các vùng Vì vậy mức ổn định có thể lấy tần suất P ≥ 75% Các bước phân mùa mưa như sau:
- Chọn lượng tổn thất ổn định của từng vùng
- Đánh dấu các tháng có trị số lượng mưa tháng vượt quá lượng tổn thất
ổn định.
Trang 39- Tính tần suất xuất hiện lượng mưa lớn hơn lượng tổn thất ổn định của từng tháng.
Bảng 2.8: Lượng tổn thất ổn định của từng vùng
Dương
Con Cuông Đô Lương Quỳ Châu Lượng tổn thất
Cuông
Số
P(%) 6.1 3 3 39 94 79 70 91 100 88 45 9,1 Đô
Lương
Số
P(%) 3 6,1 12 52 85 82 67 91 100 88 45 9,1 Quỳ
Châu
Số
P(%) 0.0 0,0 9,1 52 100 91 94 100 91 88 21 3 Theo kết quả tính toán như trên thì mùa mưa ở hầu hết các vùng trên lưu vực kéo dài từ tháng V đến tháng X ( là những tháng liên tiếp có số lần xuất hiện lượng mưa vượt chỉ tiêu ổn định với P≥ 75%), với lượng mưa chiếm (78÷88)% tổng lượng mưa cả năm Những tháng có lượng mưa lớn nhất từ tháng VII – IX có tổng lượng mưa chiếm (40÷50)% tổng lượng mưa cả năm Còn những tháng mùa kiệt lượng mưa chỉ chiếm (12÷22)% của tổng lượng mưa cả năm Lượng mưa nhỏ nhất thường vào tháng II, III Kết quả này phù hợp với bảng phân vùng mùa mưa trên lãnh thổ Việt Nam.
Trang 40Bảng 2.10: Phân bố mùa mưa tại các trạm
Tỷ lệ % Mùa mưa (V -
40 ngày/năm Lượng mưa mùa đông từ tháng XII đến tháng IV có thể đạt tới 130 300 mm/tháng, đây là loại hình mưa thuận lợi cho canh tác vụ đông xuân.
1.2.4.2 Chuẩn mưa năm
Lượng mưa hàng năm luôn biến động, có năm nhiều, năm ít và năm
có lượng mưa trung bình nhưng nhìn chung sự thay đổi này có tính chu kì.
Để xác định chu kỳ dao động mưa năm trong nhiều năm, cách đơn giản nhất nghiên cứu thông qua đường luỹ tích sai chuẩn, biểu diễn tổng độ lệch chuẩn của các giá trị riêng lẻ theo thời gian.
Đường cong luỹ tích sai chuẩn thể hiện chu kì dao động của mưa năm
rõ ràng hơn, ngoài ra còn cho ta xác định thời kì tính toán đại biểu cho chuỗi quan trắc dài ngày và có thể đánh giá được vị trí chuỗi quan trắc ngắn của các trạm trong chu kì dao động nhiều năm của chuỗi quan trắc mưa.
Để nghiên cứu tính chất chu kỳ của mưa năm và xém xét sự đồng bộ của chúng theo không gian ta xây dựng được đường cong luỹ tích sai chuẩn cho một số trạm đại diện trên lưu vực nghiên cứu Các trạm này có số năm quan trắc dài, phải đầy đủ và liên tục.
Trên cơ sở đó ta chọn số liệu các trạm sau: Con Cuông, Đô Lương, Quỳ Châu, Tương Dương có đầy đủ số liệu từ năm 1966-1998