Tiểu thuyết là thể loại quan trọng nhất trong văn xuôi nghệ thuật hiện đại. Tiểu thuyết được định nghĩa
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tiểu thuyết là thể loại quan trọng nhất trong văn xuôi nghệ thuật hiện
đại Tiểu thuyết được định nghĩa là “Tác phẩm tự sự cỡ lớn có khả năng phản ánh hiện thực đời sống ở mọi giới hạn không gian và thời gian” [II.19;
277] Tiểu thuyết có khả năng khám phá cuộc sống nhiều chiều và hướngđến những vấn đề có tính đời tư Một phần bởi tiểu thuyết thuộc thể loại
“sinh sau đẻ muộn”, có điều kiện gần gũi với con người hiện đại Người tacòn nhận thấy điều đó qua chất liệu và hình thức phát ngôn của nó
Nhiều nhà nghiên cứu đã nói đến sự tự do và tính chất hiện đại củatiểu thuyết dựa trên xuất phát điểm của thể loại này là thời gian hiện tại, là
cái đương đại Balzac viết: “Tôi miêu tả một hiện tại đang bước đi” Như
vậy, yếu tố thời gian - cái hiện tại đã chi phối phần lớn tính chất tự do của
tiểu thuyết, cũng chính là yếu tố ám ảnh trong tiểu thuyết hiện đại.“Tiểu thuyết hiện đại nay lại càng phát huy nhiều thủ pháp nhấn mạnh cảm giác
về hiện tại: kỹ thuật dòng tâm tư, thời gian đồng hiện…” [II.15; 17] Từ đó
có thể thấy kỹ thuật dòng tâm tư đã trở thành một trong những thủ pháp độcđáo, đóng vai trò quan trọng trong tiểu thuyết hiện đại
Lần theo bước tiến của tiểu thuyết, chúng ta cũng nhận thấy rằng nó
là tinh thần của thời hiện đại - thời đại mà M Kundera nói: “Chân lý thần thánh duy nhất bị tan rã thành hàng trăm chân lý tương đối mà những con người chia lấy cho nhau”, không có giá trị nào là tuyệt đối và con người
nhận được sự bình đẳng trước hiện thực Do đó, vượt qua ý nghĩa thể loại,tiểu thuyết còn là một giai đoạn, một cấp độ mới trong tư duy nghệ thuật củacon người về thế giới: phủ nhận chân lý độc tôn và tính tất định của cuộcđời Tiểu thuyết cũng như văn học chấp nhận một cái nhìn hoài nghi và một
hiện thực của sự trải nghiệm ở người viết “Họ (nghệ sĩ hậu hiện đại) đã
Trang 2hào hứng đi tới sự biểu hiện thế giới có tính phức tạp và phiến đoạn như họ từng trải nghiệm” [II.4; 65] Hệ quả là xuất hiện con người đơn độc với bản
thể bất toàn và vô số những uẩn khúc, những mê cung suy tưởng Tinh thần
này được thể hiện rõ nhất trong tiểu thuyết hậu hiện đại : “Những đam mê, những mơ tưởng của bản năng và các hình ảnh đau đớn nhất của vô thức đã đan bện lấy nhau tạo ra những văn bản đậm đặc đủ sức chuyển tải những trạng thái căng thẳng sâu sắc của con người…” [II.4; 68] Tiểu thuyết Việt
Nam sau 1975 cũng ảnh hưởng nhiều từ đặc điểm này Khám phá thế giớinội tâm của con người, buộc các nhà văn phải có bản lĩnh vượt qua nhữnghình thức được kiến tạo trước đó Kỹ thuật tiểu thuyết, vì vậy, luôn luôn là
sự thôi thúc của người cầm bút cũng như yêu cầu tất yếu của văn chươngnghệ thuật
1.2 Nguyễn Bình Phương là tác giả thuộc trào lưu đổi mới tiểu thuyết Việt
Nam, tên tuổi anh được biết đến từ cuối những năm 90 Một số tiểu thuyết
của anh như: Những đứa trẻ chết già (1994), Người đi vắng (1999), Trí nhớ suy tàn (2000), Thoạt kỳ thủy (2004), Ngồi (2006) đã thể hiện một lối
viết rất mới lạ, mở ra một hướng tiếp cận mới cho người đọc Với thế hệ cácnhà văn trẻ như: Phạm Thị Hoài, Thuận, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh,Nguyễn Việt Hà… tiểu thuyết Việt Nam đang bước vào hành trình cách tân
với nỗ lực thực sự của những “người cầm bút rất có tư cách” (Nguyên Ngọc) Những năm gần đây, tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đã trở thành
đối tượng của nhiều công trình nghiên cứu khoa học, được khám phá trênnhiều phương diện như ngôn ngữ, thể loại…
Đánh giá về bản thân, Nguyễn Bình Phương nhã nhặn khi cho rằngmình không có chỗ trên văn đàn vì chỉ là người viết nghiệp dư, viết chơi,
“viết nhăng viết cuội” cho vui Có nhà nghiên cứu đã hình dung trên sân ga văn chương trùng điệp người đi, người ở, Nguyễn Bình Phương như kẻ “lặng
lẽ nép mình ở một góc” Mặc dù vậy, nếu cần lựa chọn một hiện tượng tiêu
Trang 3biểu nhất của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, nhà nghiên cứu Phạm XuânThạch vẫn dành ưu tiên số một cho sáng tác của Nguyễn Bình Phương Điều
đó cho thấy vị trí của anh đâu hẳn là khiêm tốn như anh từng nhận
Đặt trong hành trình sáng tác (thơ) chúng ta vẫn phát hiện thêm nhiềuđiều độc đáo ở tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương mà không phải ai cũng dễdàng tiếp nhận Lối tư duy thơ và logic cảm xúc đã chi phối đến thể loại tiểuthuyết tạo nên một lối viết rất lạ ở anh Thế giới tiểu thuyết của NguyễnBình Phương là một cõi thường biến và đan xen, linh ảo Nó vừa hiển hiện ởthì hiện tại với cuộc đời trần tục, vừa nhập nhằng ở thì quá khứ với một cuộcsống xa xôi từ thời khởi thủy hay ám ảnh những giấc mơ, suy tưởng Thếgiới ấy không phải ai cũng dễ dàng thâm nhập vào được Nhưng đó cũng chỉ
là cảm nhận khác biệt so với nhiều tiếng nói tiểu thuyết đương đại, còn đểgọi thành tên cho lối viết ấy phải đến với tác phẩm của anh bằng rung cảmthực sự và thái độ tìm tòi, nghiên cứu nghiêm túc Những ý kiến khen, chê,băn khoăn khó hiểu về tác phẩm của anh càng chứng tỏ rằng lối viết củaNguyễn Bình Phương đã tạo ấn tượng với người đọc
Đã từng có nhà nghiên cứu ghi nhận rất lý thú về diễn ngôn văn học,
xem đó “là loại diễn ngôn chênh vênh về hiện thực” (J Bellemin Noel) Từ
lâu người ta đã nhận thấy độ lệch giữa hiện thực và văn học, bởi nó được thểhiện qua lăng kính tâm hồn và những trải nghiệm riêng của mỗi nhà văn
S Freud khi nghiên cứu mối quan hệ giữa phân tâm học và văn học
có nói rằng: “Các nhà thơ và các nhà tiểu thuyết là những đồng minh quý báu của chúng ta…họ đã đắm mình trong những mạch nguồn nơi chúng ta còn chưa đưa khoa học lại gần được” Nhận định đó không phải là sự ưu ái
với văn chương bởi sự sàng lọc khắt khe của thời gian là minh chứng thuyếtphục cho thấy văn chương dám “dấn thân” vào cả những địa hạt tâm lý sâuthẳm của con người mà ngay các nhà tâm lý cũng cảm thấy nan giải Có lẽ
một phần vì hiệu quả khôn cùng ở thứ “diễn ngôn chênh vênh” của văn học.
Trang 4Trong các gương mặt tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Nguyễn BìnhPhương là một cây bút đã đi sâu khám phá vùng bí ẩn, có khi lạc vào tầngsâu nhất ở mỗi con người Chúng tôi vẫn hình dung như đó là một mê đồcủa ý thức với những con đường ngoằn ngoèo, chằng chịt, rất khó tìm thấy
điểm đầu và kết thúc Đúng như anh tâm niệm: “Tiểu thuyết cần có những bước mạo hiểm” Con đường mà anh lựa chọn quả là mạo hiểm nhưng đầy
sức vẫy gọi đối với người tiếp nhận Một số bài viết và công trình nghiêncứu có đề cập đến cái vô thức, phân tâm học trong tiểu thuyết của Nguyễn
Bình Phương Nhưng kỹ thuật dòng ý thức vẫn là vấn đề khó tiếp cận nhất,
kể cả đối với lớp người đọc “đặc tuyển”
Đó là lý do chính thôi thúc chúng tôi tìm đến đề tài: Kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
1.3 Kỹ thuật dòng ý thức là một kỹ thuật tự sự của văn xuôi hiện đại Nó
được khơi nguồn từ tâm lý học cuối thế kỷ XIX (tâm lý học cơ năng củaW.James), triết học đầu thế kỷ XX ( thuyết trực giác của H Bergson), tuynhiên văn học dòng ý thức khởi nguồn nhiều nhất ở thuyết trực giác của H
Bergson với “cái tôi bề sâu” và trạng thái “kéo dài liên tục” - trạng thái tâm
lý mang tính chất thuần túy tâm tư Sức mạnh của phương tiện nghệ thuậtnày chính là tính chất tức thì của dòng ý thức Vì thế, nó thực hiện được
tham vọng của tiểu thuyết thế kỷ XX là “viết chính tả cho ý nghĩ”, để cho
dòng chảy của suy nghĩ trào ra tự nhiên, biểu hiện tính chất “tại đây”- “bâygiờ” của ý nghĩ Một số nhà văn phương Tây, mở đầu là M Proust sáng táctheo dòng ý thức với quan niệm xem đây mới là cái chân thực của đời sống
con người, họ mạnh dạn phơi bày các hoạt động bí mật nội tâm Kỹ thuật dòng ý thức được xem là một phương tiện đắc dụng tạo ra những chiều sâu
khôn cùng của việc khám phá thế giới bên trong con người Đi vào địa hạtsâu thẳm đó, Nguyễn Bình Phương đã tạo được dấu ấn riêng ở việc vậndụng lối trần thuật dòng ý thức (độc thoại nội tâm, các chi tiết liên tưởng tự
Trang 5do, không - thời gian, sự dung hợp các thể loại) như một hướng đổi mới thipháp tiểu thuyết, bắt đầu từ phương diện kỹ thuật.
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn cách tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn
Bình Phương từ việc khai thác kỹ thuật dòng ý thức.
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
2.1 Từ những bài viết có tính gợi dẫn
Thụy Khuê trong Sóng từ trường II: Nguyễn Bình Phương khi điểm qua ba tiểu thuyết: Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, đã nhận thấy cái nhìn hiện thực độc đáo ở Nguyễn Bình Phương (hiện
thực linh ảo âm dương, hiện thực huyền ảo) Đó không chỉ là một hiện thựcđan xen hai cõi âm - dương mà còn là một thế giới bao quát tất cả những vậtgiới, linh giới, hiện tượng… riết róng đi tìm bản thể của mình với cái nhìn
vượt lên trên tính tự tôn của loài người Cảm nhận về Trí nhớ suy tàn, tác
giả nhìn thấy cảm quan hiện thực và vấn đề dòng ý thức: “Những người viết theo dòng nhận thức này có đặt lại một số vấn đề cơ bản” [II.32] và đưa ra
một số phát hiện cụ thể hơn về những yếu tố của tiểu thuyết mới trong tác
phẩm: “Người viết truyện chỉ là thư ký, ghi lại những gì trí nhớ cô gái xướng lên, trong trạng thái nguyên thủy, mỗi liên tưởng có thể gần gũi mà cũng có thể nhảy cóc từ vấn đề này sang vấn đề khác” [II.32] Người viết đã
bước đầu nhận thấy một số đặc điểm độc đáo ở tiểu thuyết Nguyễn BìnhPhương như là biểu hiện của lối viết dòng ý thức
Trong Cảm nhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, Phùng Gia Thế
đã nhận thấy một số đặc điểm nổi bật: thời gian xoắn vặn, chồng xếp, khônggian nhòe mờ, con người cô đơn, sự kiện nhảy cóc Tuy tác giả không gọitên cụ thể, nhưng có thể thấy đó cũng là những phương diện biểu hiện củalối viết dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Ở bài viết Lối đi riêng của Nguyễn Bình Phương, Hoàng Nguyên
Vũ cảm nhận ở Nguyễn Bình Phương một lối viết như người mộng du:
Trang 6“Người đọc có cảm giác như đang theo dõi một người mộng du đi trên một sợi dây, và phấp phỏng chờ điểm rơi của người ấy cho đến cuối truyện để rồi nhận những kết thúc bất ngờ và đau đớn” [II.74] Lối viết ấy tất yếu đã
tạo nên màn sương nhòe mờ cho sự xuất hiện của thế giới nhân vật Các
nhân vật trong tiểu thuyết hiện lên như những đám đông “được soi bởi một lối tư duy vô thức” Tác giả phát hiện ra dấu ấn vô thức trong sáng tác
Nguyễn Bình Phương
Nguyễn Chí Hoan với Những hành trình qua trống rỗng đã nhận
diện trung tâm sáng tác của Nguyễn Bình Phương là ý thức: “Chúng tôi thấy rằng có một mối bận tâm về ý thức xuyên suốt các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương cho đến nay Tác giả này cho thấy anh cố gắng nắm bắt và mô tả ý thức thông qua kinh nghiệm và suy tưởng” [II.27] Người viết
đã gọi tên địa hạt mà tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương đang đi bằng chính
sự trải nghiệm và bản lĩnh của nhà văn
Những bài viết trên dù mới là cảm nhận ban đầu về tiểu thuyết củaNguyễn Bình Phương nhưng đã nhận ra những đặc điểm nổi bật về cảmquan hiện thực, bút pháp huyền thoại và lối viết đặc trưng theo dòng suytưởng Tuy nhiên, người viết chỉ bước đầu nhận diện một số biểu hiện củadòng ý thức, chủ yếu qua cảm nhận chủ quan Phần lớn chỉ phát hiện ra cáchnhìn hiện thực độc đáo ở Nguyễn Bình Phương
Hai bài viết của PGS TS Bích Thu và PGS TS Nguyễn Thị Bình mặc
dù không đề cập cụ thể đến sáng tác của Nguyễn Bình Phương mà chỉ đưa ravấn đề mang tính chất khái quát nhưng là gợi dẫn quan trọng cho chúng tôi
tìm đến đề tài nghiên cứu Với bài viết Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, PGS.TS Bích Thu nhận định về tiểu thuyết Việt Nam:
“Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại đã vận dụng thủ pháp dòng ý thức như một phương tiện đi vào thế giới tâm linh một cách có hiệu quả.” [II.67; 27] Ý
kiến khái quát này cũng là gợi dẫn cho chúng tôi soi chiếu tiểu thuyết
Trang 7Nguyễn Bình Phương trên hành trình tiểu thuyết Việt Nam đương đại Thủpháp dòng ý thức xuất hiện ở nhiều sáng tác, tuy nhiên có thể thấy NguyễnBình Phương là nhà văn vận dụng thủ pháp này một cách có ý thức với tần
số cao nhất trong các tiểu thuyết của mình PGS.TS Nguyễn Thị Bình với
bài viết Văn xuôi từ sau 1975 in trong Giáo trình văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 đã đánh giá khái quát những nỗ lực làm mới
tiểu thuyết Việt Nam sau 1975, đặc biệt trên phương diện hình thức Khi dẫn
chứng tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), tác giả nhận định: “Tác
phẩm là dòng chảy “rối bời, bấn loạn”của kí ức về thân phận, chức phận của một nhà văn hiện đại” Xuất hiện sau Bảo Ninh, nhà văn Nguyễn Bình
Phương cũng đã lựa chọn cho mình một lối tư duy tiểu thuyết khá độc đáonày Vì thế, đây là một gợi ý khả thi cho chúng tôi về cách khám phá tiểuthuyết Nguyễn Bình Phương trên phương diện những dòng chảy bất tận của
ý thức
2.2 Đến những công trình nghiên cứu có tính gợi mở
Ngoài ra, một số luận văn thạc sĩ khoa học trường ĐHSP Hà Nội cũng
đề cập đến vấn đề dòng ý thức ở một số phương diện cụ thể - nhân vật dòng
ý thức như: Nguyễn Bình Phương với việc khai thác tiềm năng thể loại để hiện đại hóa tiểu thuyết ( Hồ Bích Ngọc), Nhận diện thi pháp thể loại tiểu thuyết mới ở Việt Nam sau 1990 ( Phùng Phương Nga) Hồ Bích Ngọc phát
hiện kiểu nhân vật dị biệt về tinh thần trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương,
là kiểu nhân vật không bị đòi hỏi tư duy mạch lạc, khúc chiết, những dòngsuy tưởng theo đúng logic thông thường Trao điểm nhìn cho họ, nhà văn cóđiều kiện thể hiện một dòng chảy ý thức miên man, vô định Tác giả đã nhận
thấy: “Hầu hết các tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương đều mang hơi hướng dòng ý thức” [II.44; 13] Tuy nhiên, điều mà tác giả luận văn hướng
đến có tính khái quát hơn, đó là nhìn nhận sự hiện đại hóa thể loại tiểu thuyết
từ chính việc khai thác tiềm năng của nó ở Nguyễn Bình Phương
Trang 8Phùng Phương Nga cũng đề cập đến một số đặc điểm của nhân vậtdòng ý thức với giấc mơ, hồi ức và trạng thái tâm lý phân rã, không kiểmsoát Ngoài ra tác giả cũng quan tâm đến một số vấn đề khác như: giao thoagiữa thể loại tiểu thuyết với các thể loại khác như thơ, kịch; đặc điểm củakhông - thời gian Đó là những phạm trù thi pháp tiểu thuyết - là mục đíchnghiên cứu mà luận văn hướng đến.
Trong luận văn thạc sĩ khoa học ngữ văn ĐHSP Hà Nội 2007, Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI, Cao Thị Hà đã khái quát một
trong những cách tân nghệ thuật, đổi mới tư duy tiểu thuyết đương đại là thủ
pháp dòng ý thức: “Phương tiện đắc dụng khi khám phá thế giới bên trong con người sử dụng mô típ giấc mơ, giấc chiêm bao như một ngôn ngữ độc thoại đặc biệt để giải mã thế giới vô thức của con người” Các công trình
nghiên cứu trên đề cập đến phạm vi tiểu thuyết Việt Nam đương đại, rộnghơn là những tiểu thuyết cụ thể của Nguyễn Bình Phương và chỉ lấy sáng táccủa anh như một trong những minh chứng thuyết phục cho sự cách tân đổimới trên phương diện thể loại Tuy nhiên chúng tôi vẫn ghi nhận và kế thừađánh giá của người viết về tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Cùng với quá trình tìm hiểu nghiêm túc các sáng tác Nguyễn BìnhPhương, những công trình nghiên cứu khoa học có tính khái quát về tiểuthuyết Việt Nam sau 1975 và một số bài viết về Nguyễn Bình Phương là tài
liệu gợi ý quan trọng cho chúng tôi tìm đến đề tài: Kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương.
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn cố gắng tìm hiểu, chỉ ra kỹ thuật tiểu thuyết Nguyễn BìnhPhương nhằm khẳng định giá trị của tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương Mặtkhác, luận văn xác định vị trí của tác giả trong văn học Việt nam từ sau đổimới và xu hướng vận động tiểu thuyết sau 1975, đặc biệt những năm 90 vànhững năm đầu thế kỷ XXI
Trang 94 Giới hạn khái niệm, đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Giới hạn khái niệm
Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), kỹ thuật được định nghĩa là:
“Tổng thể nói chung những phương pháp, phương thức sử dụng trong một hoạt động nào đó của con người” Chúng tôi vẫn hiểu trên cơ sở đó, tức là một thao tác được vận dụng thành thạo và có ý thức Dòng ý thức được hiểu
là thuật ngữ chỉ một dòng văn học xuất hiện đầu thế kỷ XX ở phương Tây
Đặc biệt, kỹ thuật dòng ý thức được chúng tôi xem như một thứ công năng
mà Nguyễn Bình Phương sử dụng để khám phá những vùng bí ẩn, khuất tốivẫn tồn tại ở mỗi con người
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn này là kỹ thuật dòng
ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương dựa trên những vấn đề cơ bản:
- Quan niệm về sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
- Hoàn cảnh lịch sử - xã hội - văn hóa và quan niệm nghệ thuật củaNguyễn Bình Phương
- Đặc điểm dòng ý thức và nghệ thuật biểu hiện kỹ thuật dòng ý thứctrong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
4.3 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu 5 tiểu thuyết của Nguyễn Bình
Phương: Những đứa trẻ chết già, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thủy, Người đi vắng, Ngồi.
5 Cấu trúc và đóng góp của luận văn
5.1 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn sẽ được triển khai theonhững nội dung chính sau:
Chương I Quan niệm về sự đổi mới tiểu thuyết và những yếu tố hình
thành kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Trang 10Chương II Đặc điểm của dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình
Phương
Chương III Phương diện biểu hiện nghệ thuật của kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
5.2 Đóng góp của luận văn
Luận văn tiếp cận vấn đề nghiên cứu ở góc độ văn học sử, tức là nhìnnhận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương trong tiến trình vận động của tiểuthuyết Việt Nam sau 1975 Đồng thời cũng dựa trên nền tảng lí luận về thểloại tiểu thuyết, tuy nhiên đó chỉ là cơ sở, tiền đề lý thuyết chứ không đượcxem là nhiệm vụ mà luận văn đề ra
Trên nhận thức đó, chúng tôi có quan điểm kế thừa các công trìnhnghiên cứu đã có và tri thức, kinh nghiệm bản thân để đưa ra một giải pháptiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương từ cái nhìn kỹ thuật tiểu thuyết
Luận văn không có tham vọng giải quyết triệt để mọi vấn đề, cũngkhông đưa ra một lời khẳng định cuối cùng và duy nhất mà tất cả chỉ mangtính chất đề xuất, cố gắng để người đọc Nguyễn Bình Phương có thể hiểuhơn về bản lĩnh, tài năng cũng như những đóng góp của anh cho văn học
Mặt khác, với đề tài Kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, luận văn phần nào giải quyết những ý kiến xung quanh vấn đề lối
viết và cái được gọi là sex trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
Chúng tôi vẫn tin tưởng sẽ mở ra một cái nhìn lạc quan về tiểu thuyếtViệt Nam nói chung, cũng như những cắt nghĩa của chúng tôi sẽ được tiếptục để mở ra hướng nghiên cứu triển vọng
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp phân tích, tổng hợp
Chúng tôi vận dụng kỹ năng phân tích các dẫn chứng cụ thể từ nămtiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương để đi đến những tiểu kết các chương
và kết luận tổng hợp có tính thuyết phục
Trang 116.2 Phương pháp thống kê khảo sát
Đây là phương tiện đáng tin cậy để mô tả chính xác giá trị của các dữ
liệu được rút ra từ năm tiểu thuyết, là “phương pháp phụ trợ có hiệu quả để làm tăng sức thuyết phục cho những kết luận có thể rút ra từ các phương pháp khác” [II.7; 281].
6.5 Phương pháp liên ngành
Luận văn triển khai vấn đề dòng ý thức vốn là một vấn đề phức tạpcủa tâm lý học Vì thế, để nắm bắt cặn kẽ bản chất của nó, nhất thiết phảitìm hiểu hoạt động tâm lý, được xem là cơ sở cắt nghĩa dòng ý thức Chúngtôi sử dụng phương pháp liên ngành giữa văn học và tâm lý học
Trang 12PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I
QUAN NIỆM VỀ SỰ ĐỔI MỚI TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU 1975
VÀ NHỮNG YẾU TỐ HÌNH THÀNH KỸ THUẬT DÒNG Ý THỨC
TRONG TIỂU THUYẾT NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
Nguyễn Bình Phương là nhà văn mang đến tiếng nói riêng cho sángtác của mình từ những năm cuối thập kỷ 90 Vì thế, trên hành trình đổi mớivăn học sau 1975, anh không phải là người đơn độc Cũng như các nhà vănkhác, việc lựa chọn cho mình một “lối đi riêng” đối với Nguyễn BìnhPhương bắt nguồn từ quan niệm về sự đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết, đặt tronghoàn cảnh xã hội, văn hóa chung đến quan niệm nghệ thuật riêng về hiệnthực, con người và văn chương
1.1 Quan niệm về sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975
Bản thân văn chương là hoạt động sáng tạo nghệ thuật Đó là hànhtrình khám phá những điều chưa biết về đối tượng mà nó hướng đến Sự đổimới trong văn chương cũng phải chập chững những bước đầu tiên từ sựkhám phá, được thôi thúc bởi thái độ nhiệt tình và lòng say mê Ở luận vănnày, chúng tôi chủ yếu tiếp cận quan niệm đổi mới trên phương diện nghệthuật tiểu thuyết, đương nhiên không thể thiếu mối quan hệ với phương diệnnội dung của nó
1.1.1 Đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết
1.1.1.1 Trong mối liên hệ với truyền thống
Nhìn sự đổi mới trong cả một hành trình lâu dài, chúng ta đều nhậnthấy sợi dây liên hệ với truyền thống - những cái đã qua Yếu tố truyềnthống bao giờ cũng có sẵn ở mỗi nhà văn Mặt khác viết văn được xem như
Trang 13là “hành động đối thoại” ( Đặng Anh Đào) giữa nhà văn và bạn đọc nên để
thay đổi một cách tiếp nhận có sẵn không phải là dễ dàng
Tuy nhiên, không hẳn tất cả mọi đổi mới đều có tính “gây hấn” vớicái cũ Có khi xảy ra một nghịch lý là sự đổi mới ở một giai đoạn văn học lạidựa trên một kỹ thuật rất cũ, đã xuất hiện trong văn học giai đoạn trước Sựvận dụng sáng tạo đem lại hiệu quả nghệ thuật nhất định khiến nó trở thànhmột hiện tượng văn học, một giá trị văn học
Đặt trong mối liên hệ với truyền thống, đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết
có những bước kế thừa và phát triển Đó là một quy luật tất yếu của bất cứ
sự vật, hiện tượng nào không loại trừ lĩnh vực văn chương, như có nhà văn
đã từng nói: “Không ai bắt đầu từ số 0”.
1.1.1.2 Từ nhu cầu đổi mới tư duy nghệ thuật
Bất cứ sự đổi mới nào cũng được “tiên phong” từ sự thay đổi trong tưduy Sự đổi mới kỹ thuật tiểu thuyết cũng bắt nguồn từ một cách quan niệmmới trên nhiều phương diện: hiện thực, con người, văn xuôi
Hiện thực là một quan niệm không tĩnh tại trong văn học hiện đại.Nhưng suy cho cùng, nó là phương diện phản ánh của văn chương nghệthuật Nếu trước đây, hiện thực trong văn học được xem là cái đang hiện
hữu có khi còn là cái sẽ đến trong ước mơ - “hiện thực ước mơ”(chữ dùng
của Nguyễn Minh Châu), được nhìn bằng cảm quan “đại tự sự” thì sau năm
1975 quan niệm về hiện thực lại được mở rộng Hiện thực không chỉ lànhững vấn đề to tát của thời cuộc mà còn là những cái nhỏ nhặt của cuộcsống mà con người phải đối mặt hằng phút, hằng giờ Hiện thực không chỉ
là cái tồn tại hiện hữu trong biên độ không gian, thời gian mà còn là cái tồntại hiện hữu trong tâm trạng, cảm xúc con người Nó là cả thế giới vật chất
hữu hình và tâm linh huyền ảo vô hình, “nó nhằm chủ yếu khơi gợi suy ngẫm và kích thích tưởng tượng, đối thoại nhiều hơn là để người ta tin nó
có tồn tại thật” [II.37; 269] Văn học hướng đến khai thác “tiểu tự sự ” trong
Trang 14cuộc sống, buộc người viết cũng phải thực sự “phiêu lưu” và “trôi dạt” vào
một thế giới chơi vơi của cảm xúc
Con người vốn là tâm điểm của văn học, nó thể hiện một cách tư duy,cách chiếm lĩnh đời sống riêng của mỗi nhà văn Sau năm 1975, quan niệmnghệ thuật về con người đã không còn nằm yên trong cái khuôn đúc lýtưởng của điểm nhìn ý thức hệ và nguyên tắc miêu tả sự kiện lấn át conngười Con người được đặt trong vòng xoáy của thế sự và những mảnh vỡđời tư Nhịp điệu phong phú của cuộc sống đã mang lại cho con người mộtdiện mạo mới Mỗi cá nhân là một thế giới phức tạp và bí ẩn
Con người được nhìn nhận ở nhiều kiểu dạng: con người ý thức, vôthức, con người cá nhân với những đặc điểm tâm lý, sinh lý, tính cách phongphú Chính sức hút của sự bí ẩn và những vùng tối sâu thẳm đã cuốn các nhàvăn vào hành trình nỗ lực khám phá để nhận ra những điều kỳ diệu muônmặt của con người Với cái nhìn xuyên suốt văn học Việt Nam từ một thế kỷnay, chúng ta sẽ nhận thấy quan niệm nghệ thuật về con người dường nhưđang tiếp nối nguồn mạch dang dở của văn học những thập kỷ đầu của thế
kỷ XX, đặc biệt ở Nam Cao - nhà văn hiện thực tâm lý nghiêm ngặt Vấn đềcon người với những mối quan hệ nhân sinh phức tạp, với những trăn trởday dứt trong cuộc đấu tranh nội tâm triền miên đã được nhà văn Nam Cao
đặt ra đầy sức ám ảnh Ông tha thiết được “cố tìm mà hiểu” con người (Lão Hạc), tức là tiếp xúc thôi chưa đủ mà phải tìm kiếm vào những ngóc ngách
tâm hồn, đặt cá nhân trong muôn vàn mối quan hệ mới hiểu được bản chấtđích thực có khi bị che lấp Tuy nhiên, những gì mà nhà văn cố gắng kiếmtìm đang dừng lại ở việc khám phá phẩm chất tốt đẹp, đầy nhân tính ở conngười Sau năm 1975, khi đào sâu vào ngõ ngách đó, các nhà văn đã pháthiện ra sự tham gia của phần tối vô thức, tâm linh - một thế giới dường như
xa lạ nhưng lại hiện hữu trong mỗi cá thể người Nhà văn Nguyễn Minh
Châu là người “mở đường tinh anh và tài năng”, “người dẫn đường tận tụy
Trang 15và dũng cảm” (Nguyên Ngọc) của văn học Việt Nam sau 1975, qua rất
nhiều sáng tác (Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa, Phiên chợ Giát…) đã
lặng lẽ suy ngẫm và đúc kết nhiệm vụ của người cầm bút đồng thời cũng là
quan niệm nghệ thuật về con người, “đào sâu cho đến cùng đáy cái thật chứa đầy bí ẩn, đầy nỗi niềm nguồn cơn của con người” Vấn đề đó sau này
trở thành cốt yếu của đổi mới văn học
Đến những năm 90 của thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, sựxuất hiện của các cây bút tiểu thuyết như: Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Thuận,Nguyễn Bình Phương… đã mở ra một cách nhìn thực sự đổi mới về conngười trong văn học nói chung và trong tiểu thuyết nói riêng
Sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực và con người đã dẫn đến đổimới trong quan niệm văn xuôi Quan hệ giữa nhà văn - bạn đọc đã đượcnhận thức lại Người đọc có quyền đối thoại với tiếng nói của nhà văn quatác phẩm Vì thế, phát ngôn của nhà văn không hẳn là chân lý (ngay cảnhững đoạn văn có tính triết lý) mà người đọc chỉ tôn trọng như là nhữngtrải nghiệm riêng của cá nhân nhà văn Ngược lại, người viết nhận thức rõ vịthế của mình nên có khi để kích thích phản ứng đối thoại của bạn đọc, họđưa ra những câu chuyện chỉ mang tính giả thiết
Bên cạnh đó, tác phẩm mở ra nhiều điểm nhìn tạo nên một cái nhìntoàn diện, đa chiều Vấn đề nhà văn (hoặc nhân vật) đặt ra mang tính kháchquan hơn, cho phép người đọc cùng “thâm nhập” để “giải mã” tác phẩm.Người đọc không chỉ được tiếp cận với một thế giới đời thường có cáithực, cái cao cả, tầm thường…mà còn lạc vào một thế giới mênh mông củacái ảo, cái huyền hoặc…Do vậy, để phù hợp với thế giới đời thường là sựgia tăng chất liệu ngôn ngữ hiện thực, đậm chất khẩu ngữ, có khi dung tục.Lối viết tràn dòng, không tuân theo quy tắc chính tả cũng thường xuất hiện
ở tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương khi thể hiện những dòng chảy ýthức vô định
Trang 161.1.1.3 Đến nhu cầu đổi mới kĩ thuật tự sự trong tiểu thuyết
T Môtưlêva đã nói: “Việc các nhà tiểu thuyết ham đi vào tìm tòi những gì mà chúng ta chưa quen trong lĩnh vực hình thức không phải chỉ là trò ranh mãnh hoặc lối chạy theo mốt Đúng ra, đấy là cái cách để nắm cho được hiện thực phức tạp” [II.48; 122] Cách viết là yếu tố tiên quyết để tạo nên hình thức tác phẩm, “khi đã hiểu được bản chất của chân lý, cần tìm cách diễn đạt thế nào để có thể đi sâu vào tiềm thức của người đọc và trở thành một bộ phận trong kinh nghiệm cá nhân của bản thân họ”(Ernest
Hemingway) Vấn đề hình thức tiểu thuyết đã được đặt ra như một đòi hỏitất yếu đối với những tư duy sáng tạo Với sự khước từ nguyên tắc truyềnthống, phiêu lưu vào các thể nghiệm của tiểu thuyết thế kỷ XX, các nhà vănnhư: M Proust, M Kundera, J Joyce…đã tạo cho mình một tiếng nói riêng,
mở ra hàng loạt những quan niệm mới về tiểu thuyết
Sau 1975, tiểu thuyết Việt Nam đã có những tín hiệu đổi mới âmthầm mà trước hết là mạch vận động về nội dung, ở góc độ tiếp cận và xử lýhiện thực Từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, vấn đề được các nhà tiểuthuyết theo đuổi là sự lựa chọn cách viết như thế nào Nếu giai đoạn đầu vănhọc đổi mới rầm rộ hơn với những tên tuổi của Nguyễn Minh Châu, Ma VănKháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Huy Thiệp…thìgiai đoạn cuối thế kỷ XX đến nay có phần đơn độc hơn nhưng chủ yếu
hướng đến vấn đề hình thức nghệ thuật tác phẩm Từ Thiên sứ (1989) Phạm Thị Hoài đến Thân phận tình yêu (1990) - Bảo Ninh, tiểu thuyết Việt
-Nam đã thật sự có những bước đột phá mang tính “gây hấn” Một diện mạomới của tiểu thuyết đang định hình với những thể nghiệm, cách tân trênnhiều phương diện Có nhà văn hạn định dung lượng tạo nên dạng tiểuthuyết ngắn, phân mảnh như Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Nguyễn BìnhPhương Có người viết lựa chọn chất liệu lịch sử với hình thức “giả lịch sử”(lịch sử giả định) như Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Khánh Có nhà
Trang 17văn sử dụng kỹ thuật lồng ghép tạo nên nhiều cốt truyện ứng với nhiều nhânvật cùng song hành tồn tại như Thuận Có những câu chuyện được tái hiệnqua dòng hồi ức triền miên của nhân vật (tác phẩm của Phạm Thị Hoài, BảoNinh…) và những giấc mơ đứt đoạn, dòng ý thức lang thang bất định đượcgọi về từ tiềm thức (sáng tác của Nguyễn Bình Phương) Thế hệ nhà văn trẻ
gần đây đều quan niệm hình thức là điều quan trọng Họ cho rằng: “Câu chuyện (nội dung) có nhiều, chỉ có cách viết là còn ít”, “viết là để khám phá”, “mỗi tác phẩm là một chuyến đi xa”(Thuận).
Trong nhiều sáng tác của mình, M Kundera đã cho rằng: “Tiểu thuyết không phải là một lời tự thú của tác giả mà là một cuộc thăm dò cuộc sống con người trong thế giới đã trở thành cạm bẫy” [II.32; 33] Để đến cái
đích cuối cùng, cuộc thăm dò nào cũng cần sự hỗ trợ của những phương tiệntối ưu Những năm gần đây, văn học xuất hiện nhiều cây bút trẻ với lối viết
lạ mà không ít trong số họ đã tạo ấn tượng đối với người đọc Họ không chỉmang đến sự tò mò, khám phá cho người tiếp nhận mà còn phải đón nhậnphản ứng gay gắt bởi những trang văn lạ “kênh” tiếp nhận Sự cách tân đómặc nhiên hình thành một lối tư duy mới, lối đọc mới Tiểu thuyết đã phá vỡhoàn toàn hệ thống nhân vật và cốt truyện - những yếu tố cốt lõi của tiểuthuyết truyền thống Người ta chỉ còn chiêm nghiệm tất cả qua ngôn ngữ vànhững thủ pháp, kỹ thuật mới Tuy nhiên, phá vỡ con đường mòn đã đượchình thành sẵn đã khó khăn, định hình con đường mới cho lối viết cũng nhưcách tiếp nhận càng không phải là chuyện dễ dàng
Trong chuyên đề Tiểu thuyết Việt Nam đang ở đâu?, nhà văn
Nguyên Ngọc đã bày tỏ niềm tin: “Còn nhiều người cầm bút có tư cách và
có tài để thể hiện tư cách đó Và đó là niềm hy vọng của văn học, của tiểu thuyết chúng ta” [II.46] Nhà văn Võ Thị Hảo cũng bộc lộ: “Tôi lạc quan,
và thấy nhiều đồng nghiệp của tôi đang lao động một cách nghiêm cẩn, bền
bỉ, nhiều người viết hay, thậm chí sẵn sàng trả giá bằng cả cuộc đời cho sự
Trang 18viết của mình” [II.20] Tức là họ có lòng tự trọng với nghề, sự hi sinh và
tâm huyết, tài năng thực sự
Vậy là, dù vẫn có những ý kiến bi quan nhưng phần lớn những ngườiviết trẻ đều có cái nhìn lạc quan, tin tưởng về hướng đi của tiểu thuyết ViệtNam Mặt khác, nói như một số nhà nghiên cứu văn học thì một cách tânkhông bao giờ là độc tôn, mà là những tìm kiếm khác nhau, được quyền chungsống bên nhau, góp thêm nhiều cái nhìn và nhiều hương sắc cho nền văn học
1.1.2 Kỹ thuật dòng ý thức trong văn học Việt Nam sau 1975
1.1.2.1 Sơ lược về kỹ thuật dòng ý thức trong văn học
“Kỹ thuật, xét cho cùng là nỗ lực tạo ra hình thức và hiệu quả cao nhất cho tác phẩm” [I.2; 378] Nó thuộc vấn đề hình thức của tác phẩm Ở
mỗi giai đoạn phát triển của tiểu thuyết, các nhà văn lại không ngừng sángtạo ra các kỹ thuật mới để hoàn thiện và làm giàu cho nghệ thuật tiểu thuyết
Thuật ngữ dòng ý thức được đặt ra đầu tiên bởi nhà tâm lý học người
Mỹ là William James trong công trình Cơ sở tâm lý học (1890) Ông cho
rằng ý thức là một dòng chảy trong đó các ý nghĩ, cảm giác, liên tưởng bất
chợt, thường xuyên, chen nhau, đan bện vào nhau Dòng ý thức là dòng chảy
của tư duy, mà bản thân tư duy là liên tục Mặt khác những suy nghĩ bêntrong con người không phải lúc nào cũng tuân theo một trật tự nhất định mà
nó hỗn loạn, xô bồ “Với sự phối hợp của giả thuyết James, phân tâm học Freud, thuyết trực giác Bergson, một số nhà văn phương Tây bắt đầu sáng tác để biểu hiện dòng ý thức, xem đây mới là cái chân thực của đời sống con người, mạnh dạn phơi bày các hoạt động và bí mật của nội tâm” [II.19;
93] Đầu thế kỷ XX, với xu hướng cấu trúc hướng nội, nhà văn MarcelProust đã đề xướng kỹ thuật “dòng chảy ý thức”- một sự phát triển cao hơn
của kỹ thuật độc thoại nội tâm, qua bộ tiểu thuyết 7 tập Đi tìm thời gian đã mất, mở ra một hướng đi mới cho tiểu thuyết hiện đại Từ một sự việc ở thời
điểm hiện tại, nhà văn nhớ lại một kỷ niệm quá khứ, kỷ niệm nọ gợi lại kỷ
Trang 19niệm kia, làm cho tác phẩm cứ trôi đi trong không gian và thời gian vô định,lôi cuốn người đọc vào dòng chảy đời sống tâm lý và tâm linh.
Biểu hiện của dòng ý thức trong sáng tác là những giấc mơ đứt đoạn,
dòng hồi ức triền miên và những suy tư bất định - trạng thái tâm lý phân rã
Với lối viết dòng ý thức, cốt truyện đã trở thành thứ yếu, nhà văn thiên về
khai thác ý nghĩ của nhân vật Thời gian, không gian bị đảo lộn theo dòngtâm tưởng Những tình tiết liên tưởng tự do đan xen Sử dụng nhiều loại độc
thoại nội tâm và hỗn hợp ngôn ngữ, thể loại Dòng ý thức đã trở thành một dòng văn học thế kỷ XX và được xem là “kỹ xảo của tiểu thuyết hiện đại”
(Lê Huy Tiêu)
Một trong những người được tôn vinh là bậc thầy của tiểu thuyết
phương Tây hiện đại là James Joyce, nhà văn Anh gốc Ailen Với Ulysses,
“ông đã cố gắng tìm ra cho mình một phong cách và kỹ thuật viết để khiến cho những chuyện vặt vãnh thường ngày mang tầm ý nghĩa sâu rộng hơn” [II.5; 18] Kỹ thuật dòng ý thức đã trở thành một nỗ lực cao độ để chiếm lĩnh
và tái hiện cuộc sống trong một ngày bình thường ở vịnh Dublin, ngày16/6/1904 Ông đã tái hiện thành công bức tranh ngoại cảnh, những kỷ niệmquá khứ và những suy tư của con người thông qua dòng hồi tưởng và cảmxúc Các nhân vật hầu hết đều sống trong những hồi ức của chính mình Đó
là suy nghĩ của Marion Tweedy Bloom về người tình, về bí ẩn trong cơ thểcon người những gã đàn ông mà ả đã từng chung chạ Leopold Bloom nhớ
về cậu con trai Rudy đã chết khi mới 11 ngày tuổi, nhớ về người cha đã tựsát Giáo viên y khoa Stephen Dedalus chợt bắt gặp thời thơ ấu của mình khitiếp xúc với một học trò, anh lạc vào dòng suy nghĩ miên man về văn học,
về những ngày còn là sinh viên, những ngày bất hạnh trong đời khi đi dạomột mình trên bờ biển
Xuất phát từ quan niệm: “Cách tân nghệ thuật đầu tiên là đấu tranh với tập quán nghệ thuật truyền thống” (Từ A Kính) nên các nhà văn hiện đại
Trang 20Trung Quốc chủ trương tiểu thuyết chỉ cần tả dòng ý thức là đủ, họ vận dụng
kỹ thuật này vào sáng tác và xem đó là một trong những cách tân nghệ thuậtlớn nhất mà hai nhà văn tiêu biểu là Vương Mông và Cao Hành Kiện VươngMông là nhà văn đi tiên phong trong đổi mới tiểu thuyết đương đại Trung
Quốc Tác phẩm của ông (Cánh diều, Thanh âm mùa xuân, Con bướm)
không kết cấu theo trật tự thời gian, không gian mà theo tâm lý nhân vật,hướng trọng tâm vào những độc thoại nội tâm và liên tưởng tự do Truyện
Con bướm có 13 tiêu đề nhỏ, “mỗi tiêu đề nhỏ là sự liên tưởng, hồi tưởng,
suy ngẫm của nhân vật chính” [II.69; 32] Thời gian cốt truyện là 2 ngày
nhưng thông qua hoạt động tâm lý, thời gian mở rộng 30 năm đầy sóng gió
Bút pháp tượng trưng - một trong những phương diện của dòng ý thức
cũng được thể hiện qua hình ảnh, chi tiết Cánh diều (Cánh diều) là hình ảnh
tượng trưng cho tuổi xuân, lý tưởng đồng thời cũng là sự tự do của tâm linh
Trong lời đề từ cho một cuốn truyện ngắn của mình, Cao Hành Kiện đã
viết: “Điều mong mỏi đối với các nhà văn là sự nhận biết bản thân con người Con người hiện đại mới thoát ra khỏi tình trạng mông muội chưa được bao lâu, để có được sự tường tỏ ở chính bản thân mình sợ rằng con người còn phải cố gắng nhiều hơn nữa, còn tôi hy vọng có thể tìm ra một
ngôn ngữ chân thật hơn để nhận thức bản thân con người” Linh sơn là cả
hành trình khám phá Núi hồn của chính con người bằng cuộc viễn du đến
những vùng núi xa xôi của nhân vật Tác phẩm lấy bối cảnh không gian, thờigian Trung Hoa những năm cách mạng văn hóa nhưng đôi lúc bị đẩy lùi vềthời phong kiến, những năm kháng Nhật với những địa danh như Bắc Kinh,Thượng Hải, Tây Tạng… qua dòng hồi ức của nhân vật, tức là được kết cấu
theo dòng chảy tâm lý Dòng ý thức trong Linh Sơn chỉ còn lại là một dòng
thác lũ của mộng mị, suy tưởng, giải thoát khỏi thời gian Nó đồng hiện cùngvới trạng thái tâm lý căng thẳng, cô đơn, cần một người giãi bày đôi lúctưởng như nhân vật đang phân thân để trò chuyện với mình
Trang 21Những tên tuổi của văn học thế kỷ XX như M.Poust, J.Joyce, VươngMông, Cao Hành kiện đã thực sự được làm nên từ tác phẩm với lối viết dòng
ý thức, điều đó là minh chứng hiển nhiên cho sự có mặt của một dòng vănhọc lớn mà sau này, nhiều người cầm bút Việt Nam có hứng thú theo đuổi
1.1.2.2 Kỹ thuật dòng ý thức trong văn học Việt Nam sau 1975
Với sự thay đổi về quan niệm hiện thực và con người, sau đổi mới,các nhà văn Việt Nam đã đi đến việc tìm tòi những thủ pháp nghệ thuật
trong đó có dòng ý thức Thủ pháp này được xuất hiện trong thể loại truyện
ngắn như: Phiên chợ Giát (Nguyễn Minh Châu), Trong cơn mưa (Phạm Thị Hoài), Bức thư gửi mẹ Âu Cơ (Y Ban), Cánh đồng bất tận (Nguyễn Ngọc Tư) và đặc biệt là tiểu thuyết: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Thiên sứ (Phạm Thị Hoài), Chinatown (Thuận) và phần lớn sáng tác của
Nguyễn Bình Phương
Truyện ngắn Phiên chợ Giát được nhận định là một trong những thể
nghiệm đầu tiên của kỹ thuật dòng chảy ý thức Quãng đường ông Khúngdẫn con bò Khoang lên chợ huyện năm tiếng đồng hồ lại là cả một hànhtrình được dài thêm, chồng chất bởi những dòng hồi tưởng về quãng đờinhọc nhằn, những suy tư về cuộc sống Đó là hồi ức về cuộc đời của conngười từ miền biển lên khai phá rừng núi, về sự hy sinh của đứa con trai và
cả giấc mơ ông Khúng hóa thành con bò, bị đánh vào sọ bằng búa tạ “ Miêu tả cuộc hành trình bên trong tâm linh con người, bằng nhiều bút pháp, cái tĩnh lặng và cái bùng nổ, chất thơ và cái dữ dằn, ảo giác và cái thực bao giờ cũng dồn nén, chứa đựng nhiều tầng lớp ý nghĩa” [II.25; 256].
Trong Nỗi buồn chiến tranh, Bảo Ninh để nhân vật Kiên kể chuyện
bằng những ảo giác và giấc mơ Chiến tranh đã để lại chấn thương tinh thầnnặng nề ở con người này Vì thế, anh sống trong những ám ảnh dai dẳng,những suy tư, hồi ức triền miên Cuộc sống của anh trôi trong giấc mơ vềPhương trước và sau chiến tranh - người yêu duy nhất của anh, trôi trong
Trang 22những hồi tưởng và suy nghĩ về thân phận của người cha đẻ - nghệ sĩ thiếutri âm, về người cha dượng sống âm thầm cô đơn, về chiến tranh tàn phákhủng khiếp cuộc sống mỗi con người Đặc biệt những suy tư, giấc mơ củaKiên liên tục bị bỏ dở, đứt đoạn đã thể hiện nhận thức về sự bất trắc củacuộc đời, và tính tất yếu không thể kiểm soát của đời sống tâm lý.
Cùng với Nỗi buồn chiến tranh, một số tiểu thuyết đáng chú ý như Thiên Sứ (Phạm Thị Hoài), Chinatown (Thuận), Và khi tro bụi (Đoàn
Minh Phượng)… cũng được viết với thủ pháp dòng chảy ý thức Đó lànhững tiểu thuyết ngắn mà nội dung sự kiện diễn ra trong sự chảy trôi củahồi ức nhân vật Phần lớn họ là những con người bất hạnh và có một khoảngtrống rất lớn trong tâm hồn không gì bù đắp được, đó cũng là lý do khiến họthu nhỏ mình lại để sống triền miên với kí ức và suy tư
Sự đổi mới tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 chủ yếu được xem xét ởphương diện nghệ thuật, tức hình thức tiểu thuyết Trong đó việc vận dụnglối viết dòng ý thức đã góp phần làm thay đổi diện mạo tiểu thuyết Lối viếtnày chúng tôi nhận thấy xuất hiện với tần số cao ở tiểu thuyết Nguyễn BìnhPhương Những sáng tạo đó đã mở ra một lối đi riêng cho nhà văn
1.2 Những yếu tố hình thành kỹ thuật dòng ý thức trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương
1.2.1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa
1.2.1.1 Hoàn cảnh lịch sử, xã hội
Nguyễn Bình Phương sinh năm 1965, tại một làng quê tỉnh TháiNguyên Anh bắt đầu viết văn từ những năm 86 - 87 và tác phẩm của anhthực sự tạo được ấn tượng từ những năm 90 cho đến những năm đầu thế kỷXXI Sáng tác vào thời điểm cao trào đổi mới văn học, cây bút trẻ Nguyễn
Bình Phương có điều kiện tìm cho mình “một lối đi riêng”, đóng góp tiếng
nói riêng cho văn học Việt Nam đương đại
Trang 23Sau năm 1975, con người ra khỏi chiến tranh, quay về thời bình cũng
có nghĩa là phải đối diện với nhu cầu muôn mặt và nhiều mối quan hệ phứctạp của đời sống cá nhân Tâm thế cả dân tộc và từng cá nhân trong dân tộcthay đổi khiến cho nhu cầu cảm xúc, nhận thức khác trước Những giá trị cũ
bị hoài nghi, phán xét lại để hướng tới những giá trị mới Lẽ tất yếu, văn họccũng phải được giải phóng khỏi sứ mệnh thiêng liêng nặng nề (cổ vũ chiếnđấu, giáo dục con người mới…), là tiếng nói của Tổ quốc, nhân dân, đạo lý.Nhà văn không còn tư cách “người phát ngôn quyền năng” nữa mà là phận
sự một công chức đang thực hiện trách nhiệm công dân của mình - một thânphận tất yếu và bình đẳng Hơn ai hết, bản thân các nhà văn đã nhận thấyvăn chương đang trở về với bản chất nghệ thuật vĩnh cửu của nó buộc họphải “vào cuộc” bằng niềm say mê, tài năng và tư cách Như nhà văn
Nguyễn Minh Châu nói, “từ cuộc chiến đấu cho quyền sống của cả dân tộc”, văn học phải hướng đến “cuộc chiến đấu cho quyền sống của từng con người” khi đời sống cộng đồng được đảm bảo, nhu cầu và ý thức cá nhân trỗi
dậy Điều đó thể hiện trong nhận thức của nhà văn cũng như người đọc Mỗitác phẩm là cuộc đối thoại và kích thích đối thoại với người tiếp nhận Ngườiviết cũng như người đọc bình đẳng trên từng trang viết Đến với văn chương,người đọc được tham gia vào trò chơi chữ nghĩa thỏa mãn sự tò mò và tìm lạitâm thế thoải mái, cân bằng trong cuộc sống
Nhãn quan hiện thực và con người thay đổi mang đến cho văn chươngnhiều bình diện, từ lịch sử, sự kiện chuyển sang đời sống cá nhân thườngnhật Văn học thể hiện tính chất bất toàn, phức tạp của cuộc đời, con người.Con người không chỉ là tổng hòa mối quan hệ xã hội mà còn là sản phẩm tựnhiên Hiện thực không chỉ là đối tượng phản ánh mà còn là phương tiệnphản ánh của văn học Vì thế mới xuất hiện nhiều câu chuyện giả lịch sử,giả cổ tích mà nhà văn đưa ra như một giả thiết cho sự suy ngẫm của ngườitiếp nhận
Trang 241.2.1.2 Về văn hóa
Công cuộc đổi mới về mọi mặt của Đảng đã mở ra cánh cửa giao lưuvăn hóa với thế giới bấy lâu vẫn bị hạn chế bởi chiến tranh Không chỉ bó hẹptrong sự giao lưu với văn hóa Pháp và các nước xã hội chủ nghĩa (Nga, TrungQuốc), các nước láng giềng Đông Nam Á mà hướng tới các nước phương Tây,
Mỹ la tinh Điều đó không chỉ làm đa dạng diện mạo văn hóa dân tộc mà còngóp phần làm phong phú nền văn học nước nhà Văn học Việt Nam tiếp nhậnđược những kỹ thuật hiện đại của văn học thế giới, xuất hiện nhiều thuật ngữ
mới: Tiểu thuyết mới, chủ nghĩa hậu hiện đại Đặc biệt nhiều tác phẩm mang
dấu ấn của lối viết hậu hiện đại với tinh thần hoài nghi, cấu trúc phân mảnh, lắpghép Tính trò chơi cũng thể hiện rõ nhằm đề cao cá tính sáng tạo của nhà văn
và chất nghệ thuật của văn chương Những đặc điểm này dễ nhận thấy nhất ởcác cây bút như Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Thuận, Tạ Duy Anh,Nguyễn Bình Phương…
1.2.2 Quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người
Quan niệm nghệ thuật được hiểu là “nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó” [II.58; 229] Nó là cách nhìn và
thái độ đối với thế giới và con người của nhà văn được thể hiện trong tác
phẩm Trong một cuộc trả lời phỏng vấn, Nguyễn Bình Phương đã nói: “Tôi chỉ có một nhận thức bảo thủ là cố gắng viết cho nó gần sát với quan niệm của mình về văn chương vậy thôi” Mặc dù anh không nói nhiều về quan
điểm của mình nhưng phải chăng đây chính là gợi ý về con đường đi vào tácphẩm từ quan niệm nghệ thuật của nhà văn?
1.2.2.1 Hiện thực “sống hằng ngày, hằng giờ, hằng phút”
Quan niệm hiện thực và con người của Nguyễn Bình Phương đượcphát ngôn trực tiếp ở những bài trả lời phỏng vấn của báo chí Trò chuyện
với phóng viên Vietnamnet, nhà văn nói: “Theo tôi, đời sống có những từ
Trang 25ngữ nào thì văn học có quyền đưa từ đó vào Tại sao lại bỏ nó đi trong khi
nó vẫn sống hằng ngày, hằng giờ hằng phút với chúng ta?” [II.53] Anh coi
trọng mọi từ ngữ tiếng Việt, dù là lớp từ thanh cao, sang trọng hay tục tĩutrong phát ngôn của nhân vật Điều đó cũng có nghĩa là cho rằng mọi đề tài,hiện thực đều bình đẳng nhau trong văn học Không ít người dị ứng vớinhiều yếu tố sex trong tác phẩm Nguyễn Bình Phương thì anh lại thẳng thắn
xem nó là “một trong những hành động giao tiếp đỉnh cao”, “bản thân nó (sex) đã là quá đẹp, quá nhân văn, nó trọn vẹn là chính nó không lẫn với những thứ khác” [II.53] Hiện thực trong quan niệm của anh là tất cả những
thứ hiển nhiên trong cuộc sống với mọi góc khuất của nó Nguyễn BìnhPhương coi sự tồn tại của những mảnh vỡ hiện thực là tất yếu Vì thế, lẽ tấtnhiên là tác phẩm của anh khai thác cái đa chiều của hiện thực, từ cái quenthuộc hàng ngày đến cái kỳ quái, huyền ảo, từ hiện thực cuộc sống đến hiệnthực tâm linh Các nhà văn đương đại gặp gỡ nhau ở quan niệm này, chỉ cóđiều, họ tìm cho mình những cách nói riêng Nguyễn Huy Thiệp cho rằng:
“Văn chương phải bất chấp hết, ngập trong bùn, sục tung lên, thoát thành
bướm và hoa”(Giọt máu) “Từ “bùn” chuyển sang “bướm và hoa” là một
sự lột xác đầy phiêu lưu, mạo hiểm” [II.21] bởi vì đó là cả một sự thay đổi
về nhãn quan hiện thực
1.2.2.2 “Cuộc chiến khủng khiếp” của nội tâm cá nhân
Quan niệm nghệ thuật về con người ở Nguyễn Bình Phương được
thể hiện độc đáo Anh chú trọng đời sống nội tâm của con người, “Lịch sử chả là gì cả nếu không có những cá nhân và cá nhân chẳng là gì cả nếu bản thân nó không vang lên bất kỳ một ý nghĩ nào” [II.54] Trọng tâm lịch
sử chính là cá nhân và đánh dấu sự tồn tại của mỗi cá nhân lại là đời sống
nội tâm, những “ý nghĩ” của họ Vì thế chiều kích của tiểu thuyết không là
gì khác ngoài “tổng số kích thước ý nghĩ của tất cả các nhân vật trong tiểu thuyết đó” Để lý giải điều này, nhà văn cho rằng “nội tâm cá nhân con
Trang 26người cũng đã từng có, đang có những cuộc chiến khủng khiếp” [II.52].
Đào sâu vào thế giới tâm hồn của con người, nơi ít có mối quan hệ giaotiếp với bên ngoài nhưng ở đó con người phần lớn lại sống thành thật nhất,không phải chuyện dễ dàng Nó đòi hỏi cái nhìn tinh tế và thái độ chấpnhận dấn thân của nhà văn Nguyễn Bình Phương còn tiếp cận con người ởphương diện bản năng với sức sống tiềm ẩn nhưng mạnh mẽ nằm ngoài vùngkiểm soát của ý thức Nó là cõi vô thức cùng với ẩn ức, dục vọng, mộng mị
và dòng chảy bất định, chồng chéo của suy tư Vì thế ta thấy xuất hiện nhiềutrong tác phẩm của anh là hình ảnh người điên và giấc mơ Tuy nhiên trong
cách nhìn của nhà văn, con người không hề mất niềm tin: “Các nhân vật của tôi sống bản năng, nhưng tiềm tàng một niềm tin đứng dậy” [II.54] Dù
khai thác hiện thực hay con người, Nguyễn Bình Phương đều mong muốn điđến tận cùng sâu thẳm của nó, truy tìm bản chất của cuộc đời
1.2.3 Quan niệm về văn chương
Nguyễn Bình Phương đã phát biểu quan niệm về văn chương mộtcách trực tiếp qua các bài phỏng vấn Và thành thật nhất trong thơ của mình
1.2.3.1 “Không có sự sáng tạo, nhà văn sẽ tự tiêu diệt mình”
Sáng tạo là ý thức thường trực ở người theo đuổi nghệ thuật, đặc biệt
là văn chương - một lĩnh vực nhạy cảm và cần nhiều tài năng Người ta vẫnnhớ những câu văn đậm chất suy tư của Nam Cao từ những thập kỷ đầu thế
kỷ XX: “Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi,
khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có” (Đời thừa).
Đến đầu thế kỷ XXI, vấn đề mà Nam Cao trăn trở đã thành một “cuộcchạy” đua riết róng và quyết liệt ở mỗi nhà văn, trên từng trang viết Vềvấn đề sáng tạo trong văn chương, Nguyễn Bình Phương có những cách
diễn đạt khác: “Nhà văn là người vượt qua những định nghĩa để tiến tới một định nghĩa khác” Tức là họ phải vượt qua tất cả để tạo cho mình tiếng
Trang 27nói riêng Sáng tạo bao giờ cũng là hệ quả của những cuộc kiếm tìm.Nguyễn Bình Phương đã tự nhận về mình:
Ta lớn lên bằng kiếm tìm Kiếm tìm giờ đã cũ
(Bài thơ cũ)
Động lực của cuộc sống là tìm kiếm để lấp đầy kho trí tuệ và lấp đầycảm xúc Mỗi sự kiếm tìm không bao giờ là cũ, nó chỉ cũ về mặt thời gian sovới những tìm kiếm khác mà thôi Một con người luôn ám ảnh bởi cái cũ như
Nguyễn Bình Phương: “Ta sinh ra cô đơn/ Giờ cô đơn đã cũ/ Ta trưởng thành bởi sợ hãi/ Sợ hãi cũng cũ rồi” thì tất yếu luôn mong muốn được đổi
mới, có cái để làm mới mình Vì vậy, nó khiến cuộc sống và văn chươngthêm nhiều ý nghĩa
1.2.3.2 “Vắt như thể sự cạn kiệt đang đến gần”
Nguyễn Bình Phương đã tâm sự như thế khi anh “vắt từng chữ” thời
viết Thoạt kỳ thủy trên một căn gác chật hẹp Nhưng đâu phải chỉ có Thoạt
kỳ thủy, đâu phải chỉ bảy, tám năm về trước mà ở mọi sáng tác, đến bây giờ,
anh vẫn là nhà văn miệt mài trên con đường của mình, khi mệt thì “ngồi và
sẽ đứng dậy đi tiếp” Công việc viết văn là sự nhọc nhằn không kể hết Đối
mặt với trang giấy trắng là đối mặt với cả hành trình trăn trở, đơn độc :
Đâu là giấy trắng đâu là ta?
(Thế giới mười hai
dòng)
Hay:
Đứng dậy, sũng ướt, đi rồi tự hỏi Viết là tìm thấy hay đánh mất?
(Chân dung khi trống trải)
Đây cũng là điểm gặp gỡ ở các nhà văn đương đại Bảo Ninh quan
niệm trong Nỗi buồn chiến tranh là viết với cả sự khổ công: “Viết khổ viết
Trang 28sở, viết như đập đầu vào đá, như là tự tay tước vụn trái tim mình, như là lộn trái con người mình ra” Hay như triết lý của Nguyễn Huy Thiệp: “Công
việc viết văn vốn rất nhọc nhằn, phức tạp, lại buồn tẻ nữa” (Kiếm sắc) Nhà
văn Nguyễn Ngọc Tư cũng đã than thở về cái nghiệp đeo đẳng mình: “Làm
nghề văn cô độc, cực khổ quá má ơi” (Lời cho má) Nhà văn phải đi đến tận
cùng cảm xúc và những trải nghiệm cuộc đời, tức là phải chung sống vớinhọc nhằn và cô đơn
1.2.3.3 “Ai cũng có một người điên trong chính mình”
Trong sáng tác của Nguyễn Bình Phương ta thấy xuất hiện nhiềungười điên - những nhân vật không bình thường về suy nghĩ Cả nhân vật cụ
thể, mang tên như Tính (Thoạt kỳ thủy), Cương (Người đi vắng), Quang, Mộc (Những đứa trẻ chết già), đến những nhân vật không tên như gã điên đứng dưới mưa (Ngồi), người đàn ông điên dưới gốc cây điệp vàng (Trí nhớ suy tàn), người đàn ông điên xuất hiện trong những ngày binh biến của Đội Cấn (Người đi vắng) Đôi khi họ còn tập hợp thành một “tập thể” đông đúc (Thoạt kỳ thủy) - một thế giới tâm lý phức tạp mà không ai có thể xâm
phạm được Nhà văn đã từng phát biểu: “Tôi cho rằng người điên chứa trong họ một phần rất lớn phẩm chất của nghệ thuật” Thực chất, điên là
phần ngoại hiện của một trạng thái tinh thần Nếu như văn học hiện thựchướng đến khám phá con người về ý thức thì văn học hậu hiện đại lại quantâm đến phần vô thức, tiềm thức - phần nhá nhem, tranh tối tranh sángnhưng dồi dào, vô tận ở con người “Người điên” không thể kiểm soát đượchành động của mình, một cách nào đó về mặt nghệ thuật, có thể cắt nghĩanhư sự thăng hoa mà người nghệ sĩ đôi khi cũng không thể ý thức được Có
lẽ vì quan niệm này mà đến với tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, tanhận thấy có những đoạn viết rất “nham nhở”, tưởng như được sắp xếp tùy ýnhiều mạch suy tư, nhiều lời tâm sự của một thế giới nhân vật đa dạng Điềunày không chỉ phù hợp với bản chất của dòng chảy ý thức mà còn thể hiện
Trang 29rõ sức mạnh của văn chương là khám phá vùng tiềm ẩn, vô tận của conngười Nó khẳng định phẩm chất nghệ thuật được kết tinh từ sự vô tư hồnnhiên của một trạng thái vô thức ngự trị triền miên
1.2.3.4 Văn chương là “chân trời tự do”
Nguyễn Bình Phương đã từng có nhiều băn khoăn về văn chương, đã
có lúc anh nghĩ nó tách biệt với cuộc sống, là một thế giới riêng mà nhà văn
phải chấp nhận “bó buộc trong một khung cố định nào đó” của nó Văn
chương như vậy sẽ trở nên nhạt nhẽo về cảm xúc và cứng nhắc, dập khuôn
về hình thức Nhưng sự trải nghiệm trên từng trang viết đã khiến anh phần nào
nhận thức được bản chất của văn chương, “bản thân nó là chân trời tự do”.
Nghĩa là văn chương gắn bó với cuộc sống nhưng không bị bó buộc, nó là mộtthế giới mênh mông và tự do, đối với cả người sáng tác lẫn người tiếp nhận.Người viết có thể khai thác tất cả ở chân trời đó và tự do bộc lộ thái độ đối vớicuộc sống Người nhận có những cách tiếp nhận riêng, cách thưởng thức tácphẩm riêng Ý thức điều đó, khiến nhà văn có thể sống và viết thành thật, dânchủ hơn Tác phẩm của Nguyễn Bình Phương (cả tiểu thuyết và thơ ca) tạođược ấn tượng từ sự khước từ khuôn mẫu truyền thống Văn chương với anh,thực sự được tôn trọng với bản chất nghệ thuật của nó Sự độc đáo trong sángtác của anh đều bắt nguồn từ sự thay đổi trên phương diện kỹ thuật
Nhà văn Tạ Duy Anh đã lí giải cho vấn đề tự do sáng tạo tiểu thuyết,
vì “bản thân nó phải là một thế giới thay vì chỉ phản ánh đời sống một cách đơn giản” [I.2, 395] Những nhà nghiên cứu văn học cũng tìm thấy được mục đích sáng tạo của nhà văn là hướng tới tự do: “Như thế thì hành vi sáng tạo nhằm mục đích gì? Đó là tự do Nhà văn không phải người đi tìm chân
lý Họ sáng tạo là để vươn tới tự do: thoát khỏi sự vây hãm của tồn tại vừa như thế giới khách quan vừa như yếu tính của chủ quan nghệ sĩ” [ II.11] 1.2.3.5 Tiểu thuyết cần có thêm “những bước mạo hiểm”
Trang 30“Tôi nghĩ giá như tiểu thuyết của chúng ta có thêm những bước mạo hiểm” [II.53] Nói cụ thể hơn là phải gây bất đồng“cho tiểu thuyết thêm phần phong phú”, tất nhiên không phải là sự bất đồng theo nghĩa tiêu cực.
Quan niệm này xuất phát từ đòi hỏi sáng tạo của bản thân người cầm bút,cũng gần với quan niệm dấn thân của một số nhà văn đương đại Nguyễn
Bình Phương gọi là “những bước mạo hiểm” bởi con đường đó có thể thành
công hoặc thất bại Vì thế, anh ý thức rất rõ hạn chế trong quan niệm này là:
“Trong nghệ thuật, kẻ mạo hiểm phần lớn trở thành nạn nhân của chính mình” [II.53] Dù vậy, anh vẫn tìm tòi, thể nghiệm những “bước mạo hiểm”
trong các sáng tác của mình như thăm dò cái vô thức, bản năng (Thoạt kỳ thủy); hình thức cấu trúc lập thể, lời câm (Người đi vắng, Ngồi); thủ pháp tiểu thuyết mới (Trí nhớ suy tàn); thủ pháp huyền thoại (Những đứa trẻ chết già)…Đặc biệt, anh đi sâu vào dòng ý thức của nhân vật, lấy đó làm
trung tâm vận động, thay cho sự kiện trong tác phẩm Điều này xuất hiện ởphần lớn tác phẩm của nhà văn Lối đi đó phần nào đã định hình cho một lốiviết tự tin và phong cách vững vàng ở Nguyễn Bình Phương
1.2.4 Thi ca Nguyễn Bình Phương
Nguyễn Bình Phương sáng tác từ khi còn rất trẻ với các tập thơ:
Khách của trần gian (1986), Lam chướng (1992), Xa thân (1997),… Anh
cho rằng: “Bản thân sáng tác thơ vì thế không có gì ngạc nhiên khi có sự lây lan giữa hai thể loại này” Ranh giới giữa thể loại thơ và tiểu thuyết đã
bị xóa nhòa Cuộc kiếm tìm Nguyễn Bình Phương trên lĩnh vực thi ca sẽhiểu thêm được những gì anh thể hiện ở tiểu thuyết
Thơ Nguyễn Bình Phương không thuộc loại dễ đọc Cũng như tiểuthuyết, nhà văn luôn cố gắng tìm tòi những cách diễn đạt mới cho thơ Cóngười cho rằng, nếu không lắng nghe, sẽ chẳng hiểu những gì anh viết Thơ
anh gợi dậy một thế giới tâm linh “không ngừng chuyển động và tiếp biến
kỳ ảo” (Mai Văn Phấn) Ta thường bắt gặp trong thơ anh những trạng thái
Trang 31cảm xúc thường trực là nhớ, mơ và suy tưởng Có một nhân vật trữ tình lang
thang trong miền hoài niệm về thời gian, tình yêu:
Cuối cùng tôi lại quay về nhớ Những mùa đang nở rộ bên kia
(Quanh quanh)
Đặc biệt, con người đó luôn bị ám ảnh bởi những giấc mơ:
Mơ theo mưa mưa dắt anh đi
Quan niệm về sự đổi mới tiểu thuyết sau 1975 không nằm ngoài mốiliên hệ với truyền thống, bắt nguồn từ đổi mới tư duy nghệ thuật và nhu
cầu đổi mới kỹ thuật tự sự Kỹ thuật dòng ý thức xuất hiện đầu tiên trong
văn học phương Tây, sau này một số nhà văn Trung Quốc và Việt Nam đãvận dụng như một thủ pháp nghệ thuật để thể hiện thế giới nội tâm củacon người
Không hẳn là ngẫu nhiên mà tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương có
vẻ đẹp độc đáo khiến người đọc nhiều khi cảm giác “lệch kênh” tiếp nhận và
Trang 32kích thích ở họ hứng thú khám phá Tất cả lời giải mã nằm trong kỹ thuật viếtcủa anh Nó được hình thành không chỉ bởi các tác nhân khách quan của hoàncảnh lịch sử, xã hội, văn hóa mà quan trọng là ở quan niệm riêng của nhà văn
về hiện thực và con người cũng như về văn chương nghệ thuật Mặt kháckhông thể phủ nhận rằng thơ ca đã chi phối lối tư duy và tâm thức sáng táctiểu thuyết của anh
Trang 33CHƯƠNG II ĐẶC ĐIỂM CỦA DÒNG Ý THỨC TRONG TIỂU THUYẾT
NGUYỄN BÌNH PHƯƠNG
Kỹ thuật dòng ý thức “phát tích” từ văn học phương Tây đầu thế kỷ
XX, được các nhà văn ở những nước có nền văn học đang phát triển sử dụngnhằm khám phá thế giới nội tâm con người Đặc biệt, điều đó tạo nên phongcách trần thuật độc đáo cho tiểu thuyết Tuy nhiên, mỗi tác giả lại lựa chọncho mình kiểu thể hiện riêng Trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, dòng
ý thức biểu hiện ở dòng hồi ức bất tận, dòng suy tư bất định và những giấc
mơ hoang hoải
2.1 Dòng hồi ức bất tận
Hồi ức hay hồi tưởng là “làm trở lại trong trí nhớ những hình ảnh của cái đã xảy ra, những kỷ niệm của dĩ vãng” [II.12; 386] Cũng có nhiều cách hiểu tương tự về khái niệm hồi ức: “Hồi ức thực chất là tìm lại cái quá khứ đã qua đi, làm cho nó sống lại…” [II.72; 51].
Như vậy, hồi ức là làm tái hiện lại quá khứ trong tâm trí và làm sốnglại những sự việc trong quá khứ như nó đang diễn ra Qua đó, người hồi ứccũng tìm lại chính bản thân mình Trong văn học, hồi ức có ý nghĩa khơi dậy
kỷ niệm, khiến câu chuyện được kể sinh động Nó cũng góp phần thể hiện
tính cách, đời sống nội tâm nhân vật “Chỉ khi nào có ý thức về đời sống nội tâm nhân vật thì nhân vật mới có khả năng hồi tưởng” [II.58; 89] Có lẽ vì ý
nghĩa đó, nhân vật trong tiểu thuyết dòng ý thức thường đắm mình trong hồi
ức Nó biểu hiện ở những kỷ niệm khó phai mờ, những nỗi nhớ về một bónghình trong quá khứ, hoặc cũng có thể đi vào những giấc mơ Dòng hồi ứctrong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương, trên phương diện nào đó có thể xem
là “kí ức trắng” (me’moir blanch) - tức là nhân vật vẫn có kí ức nhưng đã bịxóa mất Đó là những mảnh ký ức không trọn vẹn nhưng đeo đẳng triền
Trang 34miên theo cuộc đời nhân vật, đôi lúc nó tạo nên sức ám ảnh khôn cùng Nókhông chỉ hiện diện ở cả thế giới “hiện hữu”- cuộc sống hiện thực, đờithường, trần tục mà còn có mặt ở một thế giới “tàn phai” - quá khứ, giấc mơ(tiềm thức) một thế giới xa xôi như hình bóng của cõi âm lạnh giá
2.1.1 Những mảnh ký ức của thế giới “hiện hữu”
Ở thế giới “hiện hữu” thường ngày, các nhân vật vẫn sống, hoạt độngvới công việc và làm tròn chức phận của mình Tuy nhiên, ở trạng thái bình
yên của tâm hồn, nhân vật dành thời gian lần trở về quá khứ ngọt ngào (Trí nhớ suy tàn, Người đi vắng), hoặc cũng có khi quá khứ trở về ở mọi lúc, xô dạt hiện tại, chiếm lĩnh cả khoảng không (Ngồi, Người đi vắng, Thoạt kỳ thủy) Những mảnh vỡ ký ức có khi nhẹ nhàng, âm thầm cũng có khi triền
miên, không dứt trong đời sống nội tâm của nhân vật
Dòng hồi ức được cảm nhận rõ nhất ở Trí nhớ suy tàn Với tựa đề
như vậy, tiểu thuyết gợi nhắc hai yếu tố là trí nhớ (ký ức) và sự suy tàn của trí nhớ (thời gian) Trí nhớ hay kí ức trở thành một nỗi ám ảnh của nhân vật
- người con gái xưng Em không có tên gọi cụ thể cũng như sự chập chờncủa kí ức vậy Cô gái ấy chao đảo giữa hai người tình là Tuấn và Vũ Các sựkiện chỉ diễn ra trong vòng mấy tháng trước sinh nhật lần thứ hai mươi sáucủa cô nhưng hồi ức làm sống lại cả quãng đời tuổi thơ, đặc biệt từ ngàynhận lời yêu Tuấn cách đó sáu năm Kỷ niệm không nhiều nhưng cảm giác
và ấn tượng về quá khứ lại tràn ngập Đó là cảm giác trống rỗng, chán nản
của người ốm: “Năm xưa đã một lần ốm nằm bẹp trên giường mất hai tuần, đầu óc bồng bềnh, chân tay bồng bềnh, mình làm mây, không cất lên trời để trôi nhưng vẫn cảm giác chuyển động” [I.8; 10] Nhìn Quẩy - con bé giúp việc, Em nhớ đến cảm giác “khác lạ” của mình khi bằng tuổi nó: “Mười lăm tuổi như Quẩy bây giờ em đã cảm nhận được cái nhìn khác lạ của gã đàn ông mắt lé bán đồ điện cũ ở nhà đối diện…Mười bảy tuổi, lần đầu tiên một người con trai bước vào giấc mơ của em…” [I.8; 98] Ngay cả khi nhớ đến
Trang 35người bạn gái thân thiết năm xưa, là chủ hiệu cầm đồ bây giờ, Em vẫn gợi
nhắc nhiều ấn tượng hơn là những sự kiện: “Dạo cấp hai nó nhút nhát, ăn nói lí nhí, luôn nhìn xuống và chỉ chực lẩn vào góc tối” [I.8; 24] ; “Trở về với đứa bạn gái nhút nhát cần được che chở, trở về những mặt bàn gỗ rây mực loang lổ, những cuốn vở bé nhỏ với các ý nghĩ tinh khiết” [I.8; 114,
115] Nhân vật Em luôn lưu giữ ấn tượng về sự nhút nhát của cô bạn gái,mặc dù bây giờ đã khác xa, chứng tỏ dấu ấn của quá khứ không dễ phai tàntrong trí nhớ Nhưng phần lớn hồi ức trở về với hình ảnh của Tuấn - mối
tình đầu mà Em tự nhận thấy điều đó rõ nhất: “Tuấn là một kỉ niệm, một kí
ức khó phai tàn cho dù không được chăm sóc thường xuyên” [I.8; 95] Hình
ảnh Tuấn trở đi trở về trong kí ức của Em dù hiện hữu bên cô là Vũ Nhìncánh cổng cơ quan, Em nhớ đến cánh cửa địa ngục trong bộ phim cùng đi
xem với Tuấn: Bước qua cổng sơn xanh của cơ quan, sực nhớ lần xem phim cùng Tuấn thấy trên màn ảnh một hoàng tử loay hoay mở cửa địa ngục để tìm người yêu…” [I.8; 28] Một không gian vắng vẻ cũng gợi nhắc hình ảnh người yêu đầu tiên: “Giờ một người đang ở trong nắng, cách xa gần hai nghìn cây số, ký ức tràn ngập…” [I.8; 58] Có lẽ vì độ chênh lệch không
gian khiến tâm tưởng cũng bị xô nghiêng, chao đảo Dòng hồi tưởng âmthầm tìm về lần gặp gỡ cuối cùng, lưu giữ lời từ biệt và lời hẹn trở về của
Tuấn: “…lởn vởn đâu đó lời bày tỏ bâng quơ của Tuấn, cả những bước chân bâng quơ không rõ từ thuở nào” [I.8; 20] Giọng nói, bước chân của
người yêu như được đẩy xa thêm khoảng cách về thời gian khiến nó mơ hồ
xa xăm như vang vọng lại từ miền sâu thẳm Kí ức tưởng ngủ quên trong sựchao đảo giữa hai cuộc tình, nhưng thực sự nó lại có sức sống dai dẳng gặmnhấm tâm hồn Cô gái hầu như chỉ sống miên man trong khoảng thời gian
sáu năm về trước: “Cách đây sáu năm, cũng vào ngày này, dưới gốc cây này, đã nhận lời với Tuấn, nhận sự gặp gỡ mềm mại, da diết” [I.8; 94] Cây
điệp vàng đã chứng kiến lời tỏ tình, nụ hôn đầu nồng nàn của hai người, nó
Trang 36trở thành hình ảnh gợi nhớ quá khứ Nó đang hiện hữu, tức là quá khứ vẫnchưa thể xóa nhòa, mặc dù hiện tại, một người đã ở “bên kia quá vãng”, cònmột người “trí nhớ đang suy tàn khủng khiếp”.
Trong Người đi vắng, ta cũng thấy dòng hồi tưởng thầm lặng này
chảy trong tâm trí của nhiều nhân vật Với Cương, Hoàn vẫn là một người
tình ngọt ngào nhất, thậm chí anh cảm nhận được cả hơi thở của cô : “Rất nhiều lần Cương và Hoàn đã ngồi cùng nhau ở chỗ này hàng tiếng đồng hồ, khi ấy cả hai đều ăn nói dè dặt vì sợ phá vỡ sự yên tĩnh xung quanh…lần nào Cương cũng lắng nghe tiếng thở của Hoàn, nó nhẹ nhàng mong manh nhưng quyến rũ…” [I.10; 466] Trong anh vẫn luôn có hình ảnh của Hoàn ngày đầu tiên hai người đến với nhau: “Ở Tân Cương, sau đêm diễn, Hoàn
đã chủ động đến với Cương có nhớ không? Hoàn chủ động hôn lên má Cương giữa bạt ngàn những cây chè…” [I.10; 510] Nhân vật Hà, dù cố
gắng đánh bóng mình để che đậy con người nhà quê nhưng tâm trí vẫnkhông thể vượt thoát hàng rào ngăn cách đó Càng cố gắng phủ nhận, nó
càng thấy hiển hiện tuổi thơ: “Đang trở về vĩnh viễn một con bé túm tóc đuôi gà từng sục bùn dọc sông Linh Nham móc cua về nấu canh, từng len lỏi vào rừng bẻ củi ra chợ bán và từng giữa trưa nắng hừng hực cắp rổ đi lấy rau vừng.” [I.10; 716] Tuổi thơ đẹp nhưng lam lũ và bươn trải luôn lặng
lẽ đi về trong hồi tưởng của Hà Còn Kỷ - người con duy nhất có tráchnhiệm và gắn bó với ngôi nhà cũ kỹ bao đời đã sống, cũng không thôi nhớ
về những kỷ niệm ấm áp, cả nỗi đau khổ của gia đình mà ngôi nhà là chứng
nhân: “Ngày bé, ở sau nhà, dưới chân tường, Kỷ và Yến suốt ngày lọ mọ bắt công cống chơi…Ngày mẹ mất Kỷ trốn ra sau nhà áp mặt vào bức vách này ngửi mùi đất ngai ngái của nó…” [I.10; 564] Tìm đến ký ức đó, nhân vật
như được sẻ chia nhiều hơn, được tìm thấy nguồn an ủi mà mình không cótrong thực tại
Trang 37Ở Những đứa trẻ chết già, nhà văn lại để những người già sắp bước
sang bên kia thế giới đắm mình vào dòng kí ức đã qua rất lâu Đó là cụTrường với hồi tưởng khi cụ mười bốn tuổi gặp gỡ người đàn ông mặc áokaki cũ, sặc mùi cồn I ốt và thuốc súng Người đàn ông đã nhận là bác cụđến để giao phó một nhiệm vụ thiêng liêng của dòng họ, nhiệm vụ mà cụ sẽphải đánh đổi bằng cả cuộc đời Đó là hồi ức xen lẫn cơn hôn mê của cụ
Chẩn ở giờ hấp hối, khi cái chết đang cận kề : “Cụ Chẩn nhớ lại thời gian
mà mình đã sống Ngôi làng trống hoác hiện ra…rồi cụ cắp sách đến trường…cụ lén lút đi giữa đêm để bắt gà hàng xóm…cụ nhập vào đám người đào ao thuê…” [I.7; 188], về vùng đất xa lạ, về gia đình người đàn
ông kì quặc, về cái việc lạ lùng mà chính cụ đã nhận làm khi đi đào ao thuê.Những sự kiện trong quá khứ ấy chắc chắn luôn đi bên cuộc đời của họ nêngiờ phút cuối cùng, nó vẫn miên man sống trong dòng chảy hồi ức
Từ cô gái hai sáu tuổi không tên (Em) đến những gương mặt rất cụthể (Cương, Hà, Kỷ), từ người trẻ tuổi đến những người kết thúc một thế hệ,nhân vật nào trong tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương đều khẳng định sựhiện hữu của mình bằng trạng thái hồi tưởng Quá khứ làm họ sống dậy cònhiện tại thu nhỏ họ đi Tuy những kí ức của họ không mãnh liệt nhưng lại rấtkhó “suy tàn” Nó chỉ âm thầm, không mãnh liệt nhưng luôn hiện diện trongmột góc khuất của tâm hồn
Nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương thường sống phầnlớn trong không - thời gian hồi ức Bởi nó là trạng thái tiếp nối liên tục như
những dòng chảy bất tận Trong Người đi vắng, Thắng luôn ám ảnh về cuộc
chiến: “Thắng xách khẩu AK nhảy vụt qua đống gạch, lăn xuống cái rãnh nước sâm sấp, một loạt đạn sướt qua vai anh…” [I.10; 407] Mặc dù đã qua
rất lâu, cuộc chiến mà anh có mặt vẫn như còn hiện hữu, sống động trướcmặt Ngay cả lúc anh đắm chìm trong làn da, mái tóc của Thư thì hơi thở
“dồn dập” mà anh nghe bên cạnh mình không còn là của Thư nữa Nó đã
Trang 38trở thành hơi thở “hấp hối buồn bã” dưới làn khói bom, đạn phá và phút chốc trở thành đối tượng cảm nhận hơn là lắng nghe: “Thắng nghe thấy hơi thở dồn dập bên tai những hơi thở hấp hối buồn bã dưới bức tường đen sạm khói bom, nham nhở vì đạn phá” [I.10; 720]
Nhiều nhân vật lại sống triền miên trong thế giới vô thức và lắng nghechỉ duy nhất tiếng nói của chính mình Sự liền mạch trong dòng chảy củanhân vật lại chính là những hình ảnh ám ảnh được hiện lên nhiều nhất
Trong suy tư của Tính (Thoạt kỳ thủy) luôn có vầng trăng, máu, cảnh chọc
tiết, bố gặm chén Điều đó chứng tỏ nó đã trở thành những dấu vết hồi ứcđược lưu giữ trong cõi vô thức của nhân vật
Còn Hưng trở về sau cuộc chiến với chấn thương tinh thần nặng nề,
không thôi nghĩ về người mẹ đã mất: “Nếu mày là bướm thì đến đây Nếu mày là mẹ tao thì bay đi” [I.9; 69] Khi trò chuyện với Tính, Hưng vẫn mê man như đang nói chuyện cùng mẹ ngày xưa:“Mẹ tao về đấy…mẹ này, còn
cà không…” [I.9; 106] Hình ảnh con bướm trắng được xem như sự vật gửi
gắm linh hồn của người mẹ Những việc Hưng làm trở thành vô thức, còn
mẹ mới là thực tại duy nhất của anh: “Hưng không nghe thấy gì Trước mặt, một con bướm trắng bay lảo đảo…Hưng nhìn theo con bướm, lẩm bẩm
“Mẹ, mẹ” rồi cắp súng lao lên” [I.9; 144].
Khẩn (Ngồi) lại triền miên trong dòng hồi tưởng về Kim Kí ức này
tưởng như không bao giờ bị đứt đoạn Không hề có thời gian, không gianxác định trong nỗi nhớ của Khẩn dành cho Kim Nó len lỏi vào từng góc
khuất tâm hồn Khẩn: “Đường đi của cái chén hằn vào tâm trí Khẩn những nét nhằng nhịt, rối loạn Nó làm thức dậy một không gian khác, nơi mình
mơ thấy mình và Kim bất đồ đứng trước mặt một ông già…Mình kể đi kể lại với Kim giấc mơ đó mặc dù xem ra Kim không thích nghe” [I.11; 55, 56].
Lắng tai nghe tiếng mưa thu “vàng óng ả như hổ phách”, Khẩn nhớ lần tỏ
tình với Kim: “Ngày tỏ tình với Kim cũng là ngày mưa Khi ấy mình mặc áo
Trang 39mưa đứng ở giữa sân thấy Kim trên ban công đang nhìn mình với ánh mắt
lạ lùng…Ngày ấy Kim mặc chiếc áo màu ngà với một đường viền nâu sẫm chạy ngang qua ngực Những giọt mưa màu hổ phách, như màu của ánh nến” [I.11; 108] Khi đưa Thúy đến đền Chử Đồng Tử, câu hỏi của Thúy gợi nhắc về Kim vì Kim cũng từng hỏi như thế “và Khẩn nhớ khi ấy mình vừa mừng rỡ vừa lúng túng đưa mắt tìm nhưng không thấy một doi cát nào
mơ mộng xứng với câu chuyện…” [I.11; 131] Khẩn nghe câu hỏi của Thúy
“thoang thoảng như gió vờn theo đường lượn của cát” mà “chỉ cảm thấy mình lắc đầu” và lại trôi trong kí ức về Kim “…mình hỏi đùa Kim, bây giờ vẫn là em hay là công chúa? ” [I.11; 133] Hồi ức về Kim gắn liền với
những kỷ niệm đẹp Đó là ngày Khẩn tỏ tình dưới mưa, ngày hai người đếnđền Chử Đồng Tử, những không gian mơ hồ lãng mạn của kí ức Dòng hồi
tưởng hiện lên cùng với sự thay đổi điểm nhìn trần thuật: “Khẩn…mình”
như trạng thái nhập dần vào câu chuyện của Khẩn
Quá khứ để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí nhân vật khiến nó trở đitrở lại trong hồi tưởng đã làm nên dòng chảy bất tận của một chuỗi hình ảnh,
sự kiện, cảm xúc Dòng chảy ấy có khi bình lặng đi bên cuộc đời, rất khó
“suy tàn” Tuy nhiên ở nhiều nhân vật, kí ức lại là một thế giới lấn át cả thựctại Họ sống phần lớn thời gian ở kí ức, có khi chỉ là một kí ức duy nhất
2.1.2 Những mảnh ký ức của thế giới “tàn phai”
Hiện thực trong tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương không chỉ là mộthiện thực phân mảnh mà còn là một hiện thực “linh ảo âm dương”, khôngchỉ có cõi dương mà còn có cõi âm với sự lang thang của những linh hồn
Nó không chỉ là hiện thực mà còn chen lẫn dòng chảy quá khứ hàng trămnăm, có khi bị đẩy lùi về khoảng mờ mịt, xa xăm hơn nữa Đó cũngkhông chỉ là hiện thực của sự thường hằng mà còn là hiện thực của trạngthái hôn mê, của hồi ức Tất cả hợp thành một thế giới “tàn phai” màkhông có một sợi dây ngăn cách nào giữa nó với thế giới “hiện hữu” Con
Trang 40người trong thế giới đó có một đời sống nội tâm còn mãnh liệt hơn cuộcsống thường hằng.
Ở Người đi vắng, vang vọng trong không gian là tiếng ru em của
người chị ở bãi tha ma Lời ru ấy có nỗi nhớ về người mẹ: “Ngủ đi, ngủ đi
bé ơi chị sẽ kể cho bé nghe chuyện về mẹ của chúng mình…Mẹ bảo đêm nào hoa cũng đến chơi với mẹ…mẹ đi thăm hoa một mình bé ạ, một mình thôi vì lúc ấy chưa có chị em mình…” [I.10; 420, 421] Một người mẹ vắng mặt, lại
trong trí nhớ, trí tưởng tượng của người con gái nên hình ảnh bàng bạc mộtlớp sương khói Một hồi ức không trọn vẹn ở lại cùng với sự “vô tăm tích”của người mẹ
Đó là ký ức của nhân vật xưng Mình về dòng sông cuộn trôi mang theo
Tuyết - người yêu về nơi quên lãng: “Nhớ là một cái gì đó vô cùng khó khăn, mình nghĩ thế Mọi thứ cứ lặng lẽ qua đi, qua tuột đi, vô tình, lạnh lùng, không có cơ hội trở lại…Tuyết nhìn mình rồi trôi qua như cái lá lẫn vào với bao nhiêu kỷ niệm bập bềnh trôi nổi Một ngày đi cùng Tuyết, xa, rất xa tới đại dương mênh mông của thời gian nơi mọi thứ đều bị hòa tan để trở thành khoảng xanh nhạt tù đọng Người ta đồn Tuyết mất tích mình biết Tuyết trôi đi” [I.10; 472] Sự ra đi của Tuyết cũng là một bí mật đối với mọi người Ngay cả khi người yêu của cô gái ấy biết cụ thể thì sự “trôi đi” cùng với
dòng nước mênh mông cũng là một sự ra đi nhuốm màu huyền thoại Hồi ứccủa nhân vật Mình vô tình bị đứt đoạn với cuộc tình không đi đến tận cùng
Lẩn khuất trong đêm lời thủ thỉ về cuộc đời người đàn bà gầy guộc
không có mắt: “ Ngày thứ sáu cỏ tóc tiên lại rối lên Tôi nghe tiếng chân ông vọng về chệnh choạng mệt mỏi, có lẽ do mang một vật gì đó khá nặng…
Từ ngày ông đạp tôi ngã vào bếp đùng đùng mang quần áo theo con đĩ ấy đi biệt, chim sẻ đến nhà nhiều hơn…” [I.10; 565, 566] Và triền miên trong hồi
ức của mình: “Ngày bé cụ tôi thường dẫn tôi ra vườn vào ban trưa dặn ở đời này đừng có chờ đợi một ai cả, họ sẽ làm ta thất vọng… Tôi không cuốc