Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của toàn Đảng, Toàn dân
Trang 1Phần Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Giáo dục và Đào tạo có vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêuchung của toàn Đảng, Toàn dân là: “Nâng cao dân trí, Đào tạo nhân lực, Bồidưỡng nhân tài cho đất nước.” Nhiệm vụ nặng nề đó đặt lên vai Ngành Giáodục vì làm được điều này Giáo dục và Đào tạo đã thực sự góp phần đắc lựccho sự nghiệp: Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa đất nước, xây dựng và thựchiện mục đích của Đảng và Nhà nước là: Làm cho dân giàu, nước mạnh, xãhội công bằng, dân chủ, văn minh
Nhà nước Việt Nam đã xác định rõ: “Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho
sự phát triển của xã hội.” Một đất nước muốn phát triển hay không người tađánh giá và nhìn vào nền giáo dục của nước đó có bền vững và phát triển ổnđịnh hay không
Trong bài nói chuyện với lớp đào tạo hướng dẫn viên các trại hè cấp I(ngày 12 tháng 6 năm 1956) Bác Hồ đã nói: “Nhiệm vụ giáo dục rất quantrọng và rất vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục Không
có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không thể nói gì đến nền kinh tế, vănhóa.” [26]
Văn kiện Hội nghị lần thứ IV Ban chấp hành Trung ương Đảng cộngsản Việt Nam khóa VII có ghi: “ Để đảm bảo chất lượng của giáo dục và đàotạo phải giải quyết tốt vấn đề thầy giáo.’’ Có nghĩa là Người thầy giáo dù dạy
ở bất cứ bậc học, ngành học nào đòi hỏi phải có trình độ, phải được đào tạochuẩn cả về chuyên môn và nghiệp vụ, phải có tay nghề cao, phải năng độngsáng tạo, không ngừng trau dồi và nâng cao tri thức
Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 2khóa VIII cũng đã chỉ ra: “Giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng giáodục và đào tạo.”
Trang 2Điều 70 Luật Giáo dục đã khẳng định: “ Nhà giáo phải có những tiêuchuẩn sau đây”:
+ Có phẩm chất đạo đức tốt
+ Có tư tưởng tốt
+ Đạt trình độ chuẩn, được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ ”
Đồng thời nhấn mạnh vai trò, tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên,cán bộ công nhân viên của các trường đại học trong công cuộc phát triển giáodục của nước nhà Trải qua hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển các trườngđại học trong cả nước đã đào tạo được một số đông đảo các nhà giáo, cán bộquản lí giáo dục, có phẩm chất đạo đức, có bản lĩnh chính trị, có tinh thầntrách nhiệm và tận tụy với nghề, có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ ngàycàng được nâng cao, đã cơ bản đáp ứng được yêu cầu nâng cao dân trí, đàotạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, kịp thời phục vụ có hiệu quả cho sựnghiệp giáo dục trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Trước yêu cầungày càng cao của sự nghiệp phát triển giáo dục trong bối cảnh toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt là khi Việt Nam đã trở thành thành viênchính thức của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, đòi hỏi các tổ chức giáodục, các trường đại học trong cả nước phải phấn đấu nâng cao chất lượngđào tạo và hiệu quả nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội, bằngnhiều cách khác nhau một mặt phải tiếp tục phát huy những thành tích đã đạtđược, mặt khác phải khắc phục nhanh chóng và kiên quyết xóa bỏ nhữnghạn chế, yếu kém tận dụng tối đa các cơ hội, vượt qua những thách thứctrong quá trình hội nhập để phát triển và nâng cao chất lượng đào tạo, bồidưỡng đội ngũ giáo viên, nhà quản lí giáo dục, thực hiện triệt để “Hai khôngtrong giáo dục, Bửnh thành tích trong giáo dục” góp phần thúc đẩy việc pháttriển kinh tế - xã hội của đất nước Xây dựng định hướng phát triển nhiệm
vụ cụ thể trọng tâm qua từng giai đoạn 2007 - 2010, thống nhất định hướngphát triển giai đoạn 2011 - 2020
Trang 3Trong thời đại ngày nay, giáo dục không phải chỉ là tích tụ tri thức màcòn làm thức tỉnh tiềm năng sáng tạo to lớn trong mỗi con người, đòi hỏingười thầy giáo không những phải có vốn kiến thức sâu, rộng, phong phú màcòn phải có phương pháp sư phạm, có nghệ thuật sư phạm, có kĩ năng sưphạm và có tay nghề sư phạm.
Như vậy nghề dạy học không chỉ là công việc lao động thuần túy mà
đó là một nghề sáng tạo đòi hỏi yêu cầu cao, có tính nghệ thuật
Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Nghề dạy học là nghềsáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo.”
Khi nói đến vai trò quan trọng của nghiệp vụ sư phạm nguyên tổng bíthư Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam Lê Khả Phiêu đãnhấn mạnh: “Nghề thầy giáo là nghề có nghiệp vụ cao, tinh tế chứ không phảinghề phổ thông.’’
Đặc biệt càng ở các bậc học cao như: cao đẳng, đại học thì người giảngviên đại học lại càng cần được đào tạo công phu về cả chuyên môn và nghiệp
vụ sư phạm vì ở các cấp học này đòi hỏi người giảng viên với những yêu cầucao hơn, chuyên nghiệp hơn
Thực tế giáo dục ở Việt Nam hiện nay nói chung và đội ngũ giảng viêncác trường đại học thuộc thành phố Hà Nội nói riêng ngày càng phát triểnđông đảo về số lượng và không ngừng được nâng cao về trình độ chuyên mônnghiệp vụ (Số giảng viên tại các trường đại học có trình độ từ thạc sĩ trở lênchiếm 90%, đội ngũ giảng viên có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư ở cáctrường đại học chiếm một tỉ lệ khá cao)
Tuy nhiên, một bất cập đang tồn tại hiện nay là đội ngũ giáo viên trongcác trường từ Mầm non, Tiểu học đến Trung học cơ sở, Trung học phổ thôngđều được đào tạo trong hệ thống các trường sư phạm từ Trung học sư phạm,Cao đẳng sư phạm, Đại học sư phạm được trang bị đầy đủ kiến thức vềchuyên môn và nghiệp vụ sư phạm, các kĩ năng sư phạm Còn ở các trường từ
Trang 4Trung học chuyên nghiệp đến cao đẳng, đại học số giảng viên đang trực tiếpgiảng dạy không được đào tạo từ các trường sư phạm lại chiếm một tỉ lệ khácao (47,7%) Đã có một thời gian dài chúng ta đã quá coi trọng trình độ, nănglực chuyên môn và cho rằng chỉ cần có đủ điều kiện về chuyên môn là có thểlàm tốt công tác giảng dạy Vì vậy, có nhiều giảng viên có trình độ chuyênmôn tốt có học hàm học vị từ Thạc sĩ đến Tiến sĩ, phó giáo sư, Giáo sư, Giáo
sư Tiến sĩ khoa học, Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân nhưng chưa được chútrọng về đào tạo nghiệp vụ sư phạm nên đã gặp nhiều khó khăn trong côngtác giảng dạy (Các môn như : Giao tiếp sư phạm đại học, Lý luận giáo dụcđại học, Lý luận dạy học đại học, Tâm lý học đại học, Phương pháp nghiêncứu khoa học giáo dục đại học, Tổ chức quản lí giáo dục đại học, Kiểm định
và Đánh giá kết quả giáo dục đại học)
Đứng trước thực trạng đó việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạmcho đội ngũ giáo viên và giảng viên các trường cao đẳng, đại học trong cảnước nói chung và các trường Cao đẳng, Đại học thuộc khối kinh tế trên địabàn thành phố Hà Nội nói riêng là một trong những giải pháp thiết thực nhằmnâng cao chất lượng giảng dạy đại học của đội ngũ giảng viên nói riêng, vàchất lượng Giáo dục - Đào tạo nói chung, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ,mục tiêu giáo dục từ nay đến 2010 Đó là lý do tôi lựa chọn đề tài:
“Các biện pháp tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các trường đại học khối kinh tế”
Để làm luận văn tốt nghiệp cho mình với mong muốn sẽ góp thêm tiếngnói trong sự nghiệp đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên có chấtlượng cao phục vụ cho nhu cầu đất nước trong thời kỳ đổi mới, thời kỳ côngnghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước khi chúng ta đã trở thành thành viên thứ 150của WTO
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn làm công tác quản lý việc tổchức, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho hàng ngàn lớp, lớp học viên của các
Trang 5trường đại học ngoài sư phạm của các tỉnh, thành phố khác nhau trong cảnước để giúp cho học viên chuyển đổi ngành, nghề công tác, tôi xin được đềxuất một số biện pháp tổ chức quản lý, nhằm nâng cao hiệu quả, chất lượngcủa công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm nói chung và bồi dưỡngnghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học khối kinh tếtrên địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng.
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên cáctrường Đại học
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các trường đạihọc khối kinh tế
4 Giả thuyết khoa học
Công tác tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng
viên các trường đại học trong những năm qua dù có những thành tựu, xongtrong thực tế còn gặp không ít khó khăn và hạn chế trong công tác tổ chức bồidưỡng Nếu đề xuất được những biện pháp tổ chức, bao quát những vấn đề sưphạm và kịp thời cung cấp những điều kiện hỗ trợ thì góp phần nâng cao kếtquả trong công tác bồi dưỡng, đào tạo về nghiệp vụ sư phạm
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học
5.2 Nghiên cứu thực trạng vấn đề tổ chức, đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ sư
phạm của đội ngũ giảng viên các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn thànhphố Hà Nội
5.3 Đề xuất các giải pháp tổ chức tốt quá trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
cho đội ngũ giảng viên các trường Đại học
Trang 66 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp cácnhóm phương pháp sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp như: phân tích; tổng hợp; khái quát hoá;…
để làm sáng tỏ cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận là thu thập những căn cứ, những thôngtin khoa học trên cơ sở nghiên cứu các văn bản, tài liệu đã có và bằng cácthao tác tư duy logic để rút ra những kết luận khoa học cần thiết
Mục đích của việc sử dụng nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận lànhằm tích lũy những tri thức lí luận về sự thích ứng nói chung với hoạt độngbồi dưỡng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nói riêng Để từ đó xây dựng một sốkhái niệm công cụ, để giải quyết nhiệm vụ một đề tài, làm cơ sở cho việcnghiên cứu các vấn đề về thực tiễn Bao gồm các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết: Thông qua phương phápnày nhằm phân tích lí thuyết thành từng bộ phận, từng mặt theo thời gian, khônggian để dễ hiểu chúng một cách đầy đủ, toàn diện, nhằm phát hiện ra những xuhướng, những trường phái nghiên cứu của từng tác giả, từ đó chọn lọc nhữngthông tin có ích về sự thích ứng nói chung và sự thích ứng trong bồi dưỡngnghiệp vụ sư phạm nói riêng nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài.Đồng thời thông qua đó để tổng hợp lại, liên kết từng mặt của từng thông tin líthuyết về sự thích ứng và thích ứng về rèn luyện bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm
để có một tài liệu toàn diện, khái quát về các đối tượng cần được nghiên cứu
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết: Đây là hai phươngpháp đi liền với nhau, nhằm sắp xếp tri thức khoa học thành một hệ thốngtri thức khoa học chặt chẽ, logic theo từng đơn vị kiến thức và thành hệthống nhằm tạo ra hệ thống lí luận sâu sắc toàn diện Trên cơ sở các môhình lí thuyết
Trang 76.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Nhóm phương pháp nghiên
cứu thực tiễn là nhóm phương pháp nghiên cứu trực tiếp tác động vào đốitượng có trong thực tiễn để làm bộc lộ rõ bản chất và các quy luật vận độngcủa các đối tượng ấy
6.2.1 Phương pháp điều tra viết: Là phương pháp điều tra xã hội học
mà quan trọng nhất là lập một hệ thống câu hỏi bằng văn bản, nhằm giúpngười được hỏi trả lời câu hỏi theo quan niệm và nhận thức của mình
Phương pháp điều tra viết là phương pháp nghiên cứu sử dụng phiếutrưng cầu ý kiến với một hệ thống câu hỏi đã được soạn sẵn nhằm thu thậpnhững thông tin cần thiết về những vấn đề cần được nghiên cứu
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn: Sử dụng phương pháp phỏng vấn đối với
các giảng viên không được đào tạo nghiệp vụ sư phạm để làm rõ những khókhăn vướng mắc có thể gặp phải trong quá trình gỉang dạy( Thông qua phiếuhỏi)
6.2.3 Phương pháp quan sát: Quan sát khoa học là phương pháp tri
giác đối tượng một cách có hệ thống để thu thập thông tin cần thiết về đốitượng Trong quá trình làm đề tài chúng tôi đã tiến hành quan sát 200 giảngviên của các trường đại học thuộc khối kinh tế trên địa bàn Hà Nội về côngtác tổ chức, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, những buổi lên lớp trực tiếp giảngdạy, những buổi thi nghiệp vụ sư phạm (Trong tuần lễ rèn luyện nghiệp vụ sưphạm nhằm lấy thành tích chào mừng những ngày lễ lớn trong năm như:20.11, 8.3, 26.3 thông qua phong trào đổi mới phương pháp dạy học do Côngđoàn các trường đại học, Đoàn thanh niên… các trường phát động tổ chức)
Mục đích: Nhằm thu thập thông tin thực tiễn về nhận thức thái độ vàkết quả của công tác tổ chức, bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho độingũ giảng viên các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội.Đặc biệt đội ngũ cán bộ giảng viên trẻ
6.2.4 Ngoài ra sử dụng các phương pháp bổ trợ khác như:
Trang 8Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục;
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia để làm sáng tỏ hơn những vấn đềcần nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động là phương pháp phântích sản phẩm hoạt động (Những giờ lên lớp) của giảng viên để tìm ra nhữngthông tin về đối tượng nghiên cứu mà không thể nhận thức nó một cách trựctiếp được
Mục đích: Qua việc phân tích kết quả của công tác tổ chức bồi dưỡngrèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong các hoạt động lên lớp của người giảngviên, trong việc giải quyết các tình huống sư phạm, qua phân tích tình hìnhthực tiễn việc tích cực, chủ động tham gia vào quá trình bồi dưỡng rènluyện nghiệp vụ sư phạm để tìm hiểu tâm tư nguyện vọng của đội ngũgiảng viên, thái độ của họ, nhận thức của họ về tầm quan trọng, nội dung,
ý nghĩa của công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trong quá trìnhgiảng dạy tại các trường đại học, những thuận lợi, khó khăn, nguyện vọng,
ý kiến đề nghị với Ban giám hiệu, với Bộ giáo dục và Đào tạo và các banngành có liên quan
Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: Là phương pháp sử dụng trí tuệcủa đội ngũ chuyên gia có trình độ cao của một số chuyên ngành, nhằm xemxét, nhận định bản chất của sự kiện khoa học hay thực tiễn để tìm ra giải pháptối ưu nhất cho các sự kiện đó, hay phân tích đánh giá một sản phẩm khoahọc
Sử dụng các công thức toán học thống kê SPSS để xử lý các số liệu đãthu được (Thông qua phiếu hỏi)
Ngoài ra trong quá trình làm thực nghiệm chúng tôi còn sư dụngphương pháp trò chuyện để hỗ trợ cho phương pháp điều tra, phương phápquan sát và phân tích sản phẩm của hoạt động nghiệp vụ sư phạm, đồngthời thông qua đó cũng để kiểm chứng lại độ tin cậy của các kết quả nghiên
Trang 9cứu, việc trao đổi với ban Giám hiệu các trường đại học, với đội ngũ giảngviên về tính cấp thiết của công tác tổ chức bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm cho đội ngũ giáo viên nói chung và giảng viên các trường caođẳng, đại học nói riêng, về nội dung, hình thức và kinh nghiệm của côngtác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Đặc biệt trong việc giải quyếtcác tình huống sư phạm, ngoài ra chúng tôi cũng tranh thủ lấy ý kiến đónggóp của đội ngũ lãnh đạo các trường về chất lượng, ý thức, sự ủng hộ quantâm của đội ngũ cán bộ lãnh đạo đối với tính cấp thiết của công tác tổ chứcbồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên nói chung và giảngviên các trường đại học nói riêng Đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trườngđại học khối kinh tế
7 Phạm vi nghiên cứu
200 giảng viên các trường Đại học thuộc khối kinh tế trên địa bànThành phố Hà Nội: Đại học Thương mại, Đại học Ngoại Thương, Học việnNgân hàng, Học viện Tài chính
8 Cấu trúc của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu và phần kết quả nghiên cứu chủ yếu gồm
có 83 trang
Phần kết quả nghiên cứu chủ yếu có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu có 23 trang
Chương 2: Thực trạng công tác tổ chức, bồi dưỡng, đào tạo Nghiệp vụ
Sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường Đại học khối kinh tế trên địa bànThành phố Hà Nội gồm có 24 trang
Chương 3: Đề xuất các giải pháp tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học khối kinh tế trên địabàn thành phố Hà Nội có 24 trang
Sau mỗi chương là phần kết luận của chương
Cuối luận văn có kết luận, khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo
Trang 10Phần nội dung
Chương 1
Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
1.1 Sơ lược lịch sử vấn đề nghiên cứu
Giáo dục ở bất kỳ xã hội nào, trong bất cứ thời đại nào cũng phục vụcho sự phát triển của xã hội đó Vì vậy hoạt động giáo dục phải luôn luôn đổimới không ngừng để góp phần vào sự tiến bộ của xã hội
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã chỉ rõ “Muốn tiếnhành Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển Giáo dục - Đàotạo, phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản của việc phát triển nhanhchóng, bền vững”
Nghị quyết Trung ương II, tại Đại hội lần thứ VIII Đảng Cộng sản ViệtNam đã nêu rõ mục đích giáo dục của Việt Nam trong giai đoạn Công nghiệphóa - Hiện đại hóa hiện nay là: “Xây dựng những con người và thế hệ trẻ thiếttha, gắn bó với lí tưởng độc lập của dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đứctrong sáng, có ý chí kiên cường để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện vàocông cuộc Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá đất nước, biết giữ gìn và phát huytruyền thống các giá trị văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu và bảo tồnnhững tri thức tinh hoa văn hoá nhân loại ”
Để thực hiện tốt mục đích giáo dục mà văn kiện Đại hội Đảng đã đề ra,Ngành Giáo dục cần nỗ lực đầu tư hơn nữa về tất cả các mặt: Nhân lực, vậtlực, Tài lực, huy động mọi tiềm năng sẵn có của xã hội cùng với nội lực củađội ngũ cán bộ, giáo viên nói chung và giảng viên các trường đại học nóiriêng trong toàn Ngành Giáo dục
Từ trước đến nay, nhất là kể từ khi đất nước đổi mới đến nay, đã có khánhiều đề tài nghiên cứu việc tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảngviên và sinh viên các trường thuộc khối sư phạm
Trang 11Ví dụ đề tài "Tổ chức và quản lý công tác rèn luyện nghiệp vụ sưphạm cho giáo sinh trường THSP tỉnh Thanh Hoá" của Nguyễn Xuân Thái,
Hà Nội, l999; Đề tài “Thực trạng và các biện pháp tổ chức hoạt động rènluyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trường CĐSP Hải Phòng” của HoàngThị Lệ Khanh, Hà Nội, 2000; Đề tài “Biện pháp quản lý hoạt động rèn luyệnnghiệp vụ sư phạm cho sinh viên khoa Mầm non trường ĐHSP HảiPhòng” Tuy nhiên, chưa có công trình, tài liệu nào nghiên cứu về việc tổchức bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các trường đại học vàgiảng viên các trường đại học khối kinh tế
1.2 Lý luận chung về quản lý
1.2.1 Khái niệm về tổ chức quản lý
Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triểncủa xã hội Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái
xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau Cáctriết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi trọng vai trò củaquản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội Nó là một phạm trù tồn tạikhách quan và là một tất yếu lịch sử ở mỗi góc độ tiếp cận và hoạt động,người ta có thể đưa ra một quan niệm về quản lý khác nhau
Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chungnào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sựchỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năngchung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động củanhững khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấymình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [1]
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loàingười nhằm đạt mục đích, hiệu quả cao hơn, năng xuất cao hơn Đó chính làhoạt động giúp cho người đứng đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành viêntrong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra
Trang 12Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quátrình xây dựng lý luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lýluận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu củamỗi người.
rẻ tiền nhất” [18]
Với nhà lý luận quản lý kinh tế Pháp A Fayon (1841 - 1925) thì:
“Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài,vật, lực) của nó” [17]
- Dưới góc độ điều khiển học, A.I Beng cho rằng: Quản lý là quá trình
chuyển một hệ động lực phức tạp từ trạng thái này sang trạng thái khác nhờ
sự tác động vào các phần tử biến thiên của nó [35]
- Nhà toán học A.N Kolmogorov cho rằng: Quản lý là quá trình gia
công thông tin thành tín hiệu điều chỉnh hoạt động của máy móc hay cơ thể
sống [35].
- Khi nói về vai trò của quản lý trong xã hội, ý kiến của Paul Hersey vàKen Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là mộtquá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thôngqua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạtmục tiêu của tổ chức [32]
- Theo quan điểm của hệ thống thế giới quan Mác - Lê Nin cho rằng:Toàn bộ thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnhthể, một hệ thống Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vậy, cũng
Trang 13là hệ thống Theo quan điểm này thì quản lý một đơn vị với tư cách là hệthống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng thành
tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu đặt ratrong điều kiện biến đổi của môi trường”
- Quan niệm về quản lý của một số nhà khoa học Việt Nam:
+ Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trìnhđịnh hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt đượcnhững mục tiêu nhất định [19]
+ Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là quá trình tác động liêntục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
(S - O) về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá bằng một hệ thốngcác nguyên tắc pháp luật, chính sách, phương pháp và giải pháp quản lý tạo ranhững điều kiện cho sự phát triển của khách thể và tạo ra uy tín [16]
+ Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã
đề ra” [43]
+ Theo quan điểm của Nguyễn Quang Toản - Trung tâm quản lý chấtlượng quốc tế (IQC) thì: Quản lý là các hoạt động có phối hợp để định hướng
và kiểm soát một tổ chức trong việc đạt mục đích đề ra [34]
+ Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: Quản lý là một quá trình tác động cóđịnh hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động cóthể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sựvận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu
đã định [35]
Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý vớinhững cách tiếp cận khác nhau nhưng từ những quan niệm đó có thể thấy rõđược nội hàm khái niệm quản lý như sau:
- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động
Trang 14- Trong quản lý, bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lýquan hệ với nhau bằng những tác động quản lý Những tác động quản lýchính là những quyết định quản lý, là những nội dung mà chủ thể quản lý yêucầu đối với đối tượng quản lý.
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động
xã hội Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài ngườitồn tại, vận hành
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện Điều đó cũngxác lập rằng quản lý phải có một cấu trúc và vận động trong một môi trườngxác định
Hoạt động "quản lý" bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của conngười và toàn xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vậnđộng và phát triển của đối tượng cần quản lý theo một mục đích nhất định.Khái niệm đó phải bao quát được tất cả mọi hoạt động của con người Đồngthời khái niệm “quản lý" cũng như bất kỳ một khái niệm nào khác cũng phảixây dựng theo những quy tắc khái niệm và không phạm phải sai lầm có thể cókhi khái niệm sẽ thuộc loại khái niệm chính xác
Trong các quan điểm về quản lý đã nêu trên ta nhận thấy hầu như cácquan điểm đó chưa bao quát được mọi hoạt động của con người Có địnhnghĩa chưa nêu được khuynh hướng vận động của đối tượng quản lý theo mụcđích hoạt động của con người Theo chúng tôi, chỉ có quan niệm của NguyễnĐức Trí về “quản lý" đầy đủ, hợp lý hơn cả:
Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được
ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [35].
1.2.2 Chức năng của quản lý
a Chức năng kế hoạch hoá
Trang 15Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý hàng đầu đương đại
đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những việc
"đúng") và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng việc) ông cho rằng tínhhiệu nghiệm là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả khi chọn saimục tiêu Hai tiêu chuẩn này song hành cùng với hai khía cạnh của kế hoạch:xác định những mục tiêu "đúng" và lựa chọn những giải pháp "đúng" để đạtcác mục tiêu này Cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa sống còn đối với quátrình quản lý
Để phản ánh bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hoá, chúng ta
có thể định nghĩa như sau: Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định mụctiêu và quyết định những giải pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó
Như vậy: Thực chất của kế hoạch hoá là đưa toàn bộ những hoạt độngvào công tác kế hoạch hoá với mục đích, giải pháp rõ ràng, bước đi cụ thế và
ấn định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu
Nhiều lý thuyết gia quản lý cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên củamọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác Họ ví: Kế hoạch như một chiếcđầu tầu kéo theo các toa "tổ chức", "chỉ đạo", "kiểm tra" Như vậy, ngườiquản lý, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và cácnguồn nhân lực khác như thế nào, thậm chí họ còn không rõ phải tổ chức cái
gì nữa Không có kế hoạch, người quản lý không thế chỉ dẫn, lãnh đạo ngườithuộc quyền hành động một cách chắc chắn với những kỳ vọng đặt vào kếtquá mong đạt tới
Cũng vậy, không có kế hoạch thì cũng không xác định định được tổchức hướng tới đúng hay chệch mục tiêu, không biết khi nào đạt được mụctiêu và sự kiểm tra trở thành vô căn cứ
Kế hoạch hoá là một chức năng quan trọng của quá trình quản lý vì trên
cơ sở phân tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềm năng đã có vànhững khả năng sẽ có mà xác định rõ hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động,
Trang 16các giải pháp cần thiết để chỉ rõ trạng thái mong muốn của đối tượng khi kếtthúc các hoạt động.
Kế hoạch hoá có vai trò to lớn như vậy bởi bản thân nó có những chứcnăng cơ bản cụ thể sau:
* Chức năng chẩn đoán: Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và
những phân tích về trạng thái đó
* Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu
để suy ra những hướng phát triển cơ bản, trong đó có tính tới nhu cầu bênngoài và bên trong Lựa chọn những hướng ưu tiên, dự kiến những mục tiêucần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá
* Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phát hiện các phương án chọn lựa
có tính đến tiềm năng của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan
b Chức năng tổ chức
Bamard định nghĩa tổ chức như là “hệ thống các hoạt động hay tácđộng có ý thức của hai hay nhiều người" Cuốn “Cơ sở khoa học của quản lý"
đã xác định: “Tổ chức là hoạt động hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của
hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các hệ thống lãnh đạo và bị lãnhđạo (chấp hành)"[16]
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, chophép các cá nhân góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung Tổ chức được coi làđiều kiện của quản lý, đúng như V.I Lê-Nin đã khẳng định: “Chúng ta phảihiểu rằng muốn quản lý tốt - còn phải biết tổ chức về mặt thực tiễn nữa".Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con người, giữacác bộ phận trong hệ thống quản lý Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực,
tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý
c Chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành
vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra Chỉ đạo
Trang 17thể hiện quá trình ảnh hướng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viêntrong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra.
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậyđộng lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối quan hệgiữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối quan hệ đó
do họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu
d Chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những giải pháp tốt nhất đểđạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để hiện thựchoá các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xétviệc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cầnthiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác quản
lý như: đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo cũng như đốivới cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng và hiệuquả quản lý
Tóm lại:
Sự phân công và chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý đã hìnhthành nên các chức năng quản lý Đó là chức năng kế hoạch hoá, chức năng tổchức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra
Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng các chức năngnày có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn nhau tạothành một thể thống nhất của hoạt động quản lý Mối quan hệ đó, chúng tôithể hiện ở sơ đồ sau đây:
Trang 181.2.3 Quản lý giáo dục
* Quản lý giáo dục: Là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đếnkhách thể quản lý nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tớikết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất Quản lý giáo dục theo nghĩatổng quan là một hoạt động điều hành, phối hợp giữa các lực lượng trong xãhội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển ngàycàng cao của xã hội
Theo Phạm Minh Hạc: Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạyhọc Có tổ chức được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất củanhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục,tức là cụ thể hóa đường lối của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực,đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước
Theo Nguyễn Quang Học: Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mụcđích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vậnhành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tínhchất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quátrình dạy học
Kế hoạch hoá
Chỉ đạo
Trang 19Tóm lại: Quản lý giáo dục chứa đựng những đặc trung sau:
- Chủ thể quản lý giáo dục ở tầm vĩ mô là quản lý của nhà nước mà cơquan quản lý trực tiếp là Bộ Giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục
- Chủ thể quản lý ở tầm vi mô: Là quản lý của Hiệu trưởng các trườngdưới hiệu trưởng là hiệu phó và tổ trưởng phụ trách chuyên môn
Quản lý giáo dục có tính chất xã hội cao bởi vì luôn luôn trong nócần phải được tập trung giải quyết các vấn đề có tính thời sự như: Kinh tế,Chính trị, Văn hóa, Xã hội, An ninh quốc phòng để phục vụ tốt cho côngtác giáo dục
- Khách thể quản lý giáo dục đội ngũ giáo viên và học sinh, có thể nóitrong giáo dục và đào tạo thì đây là đối tượng khách thể quan trọng nhấtnhưng đồng thời ở một lĩnh vực nào đó đội ngũ này cũng là chủ thể quản lýtrực tiếp quản lý quá trình giáo dục Khách thể quản lý là những con người cụthể, trong họ có rất nhiều mối quan hệ đan xen, phức tạp, đa dạng mà ngườiquản lý phải đối phó, sử lý khi thực hiện chức năng quản lý của mình
Vì vậy người quản lý phải biết biến các mối quan hệ trên trở thành cácyếu tố tích cực tạo nên môi trường thuận lợi nhất để hướng tới hoàn thànhmục tiêu chung
Như vậy: Quản lý giáo dục là sự tác động có định hướng, có mục đíchvào khách thể quản lý Đó là việc tổ chức, định hướng và duy trì các hoạtđộng giáo dục nhằm làm cho bộ máy, cho cá nhân và tổ chức các thầy giáo côgiáo và tập thể nhà trường, học sinh và cả cộng đồng xã hội thực hiện đầy đủ,đúng đắn những đường lối, chủ trương và quan điểm giáo dục của Đảng vàNhà nước Việt Nam XHCN Với phương pháp quản lý nghệ thuật, Ngườiquản lý giáo dục phải biết tổ chức các hoạt động giáo dục đi đến mục đíchbằng nhiều cách, nhiều con đường, biết ứng xử các tình huống trong quản lýgiáo dục một cách linh hoạt mau lẹ và tinh tế, biết tìm ra phương án tối ưu đểgiải quyết mọi công việc có liên quan đến giáo dục của nhà trường nơi mình
Trang 20quả lí, biết cách huy động mọi lực lượng cả về vất chất và tinh thần phục vụcho công tác giáo dục và phát triển giáo dục.
Quản lý giáo dục là một hoạt động khó khăn, phức tạp bởi vì sản phẩmgiáo dục là : “con người” và phục vụ chính cho “ con người”
Do vậy người cán bộ quản lý giáo dục( Nhà quản lí) cần phải có nhâncách quản lý: Vì con người, cho con người và xuất phát từ con người
Quản lý giáo dục trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi mà đấtnước chúng ta đang tiến hành tiến trình công nghiệp hóa - Hiện đại hóa đấtnước Đặc biệt khi Việt Nam đã trở thành nước thứ 150 của WTO, thì Ngườilãnh đạo, Người quản lý giáo dục không chỉ có dựa vào tinh thần, ý chí, kinhnghiệm mà phải lãnh đạo bằng trí tuệ, khối óc, dựa trên những cơ sở khoahọc năng động, sáng tạo, biết khơi dạy nguồn lực trong mỗi trập thể nhàtrường, cơ sơr giáo dục, phát huy tài năng trong đội ngũ giáo viên mình quản
lý, để thực hiện và làm tốt công tác quản lý của mình, phải linh hoạt, biếtvận dụng khoa học công nghệ tiến tiến của nhân loại vào công việc quản lýgiáo dục của mình
Hệ thống quản lý giáo dục như là hệ thần kinh của con người nó điềukhiển toàn Ngành giáo dục, mỗi cán bộ quản lý là đại diện cho một tế bào của
hệ thần kinh đó Nếu một tế bào nào đó không lành mạnh, không tích cực hoạtđộng thì cả hệ thống thần kinh sẽ bị giảm sút, guồng máy hoạt động sẽ bị trì trệ
Mỗi cán bộ quản lý ngoài việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ đãđược định sẵn trong hệ thống còn phải góp phần làm cho hệ thống đó ngàycàng hoàn thiện và phát triển
Do vậy: yêu cầu đặt ra đối với người quản lý giáo dục là hết sức quantrọng Đóng vai trò then chốt và quyết định cho sự nghiệp giáo dục Chúng taphải coi quản lý giáo dục cũng là một nghề cũng phải được đào tạo công phu,bài bản, như chúng ta đào tạo để làm người giáo viên khi đứng trên bực giảng
Có làm được như vậy chúng ta mới tạo ra được những nhà cán bộ quản lý
Trang 21giỏi, tâm huyết với nghề, biết thực hiện quá trình quản lý của mình bằng nghệthuật dựa trên cơ sở khoa học.
1.2.4 Quản lý nhà trường
Nhà trường là đối tượng cơ bản nhất của quản lý giáo dục trong đó độingũ giáo viên và học sinh là đối tượng quản lý và cũng là chủ thể trực tiếpquản lý quá trình giáo dục
Thực chất của quản lý giáo dục xét cho cùng là tạo điều kiện thuận lợicho các hoạt động của nhà trường được vận hành theo đúng mục tiêu của hệthống giáo dục quốc dân Trường học là những tế bào quan trọng của hệthống giáo dục, màatrong đó mỗi một tế bào hoạt động có tốt thì cả hệ thốnggiáo dục mới thực hiện được đúng mục tiêu, đạt được chất lượng giáo dục vàđào tạo mà xã hội giao phó
Vì vậy: Quản lý nhà trường có thể coi như một bộ phận không thểthiếu của Quản lý giáo dục
Quản lý nhà trường là quá trình thực hiện đường lối giáo dục của Đảng
và Nhà nước trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình tức là phảiđưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục định hướng XHCN để tiếntới mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vixác định của một của một đơn vị giáo dục, nền tảng đó là nhà trường Vì thếquản lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáodục để đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường theo mục tiêu đào tạo chung
đã được Đảng và Nhà nước đề ra Mỗi nhà trường hay cơ sở giáo dục phải làcái nôi và tạo ra mnôi trường học tập thuận lợi nhất để mọi người đều đượcđến rtrường và đều có cơ hội học tập như nhau, nhà trường không được phânbiết trai, gái, người kinh hay dân tộc, miền núi hải đảo hay thành phố
Tóm lại: Bản chất của quản lý nhà trường là quản lý mọi hoạt động dạy
và hoạt động học làm sao để đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng
Trang 22thái khác( Thầy truyền thụ, cung cấp tri thức trò tiếp thu) để dần dần tiến tớimục tiêu giáo dục Một nhà trường có tổ chức dạy và học tốt là nhà trường đó
đã cụ thể hóa được đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Namthành hiện thực, đáp ứng được nhu cầu học tập suốt đời của nhân dân Tạomọi điều kiện để mọi người dân đều được đến trường, đều có cơ hội học tậpnhư nhau, học tập suốt đời
Theo Phạm Viết Vượng thì: “ Quản lý trường học là lao động của các
cơ quan quản lý, nhằm tập hợp và tổ chức các lao động của giáo viên, họcsinh, sinh viên và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đacác nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trongnhà trường
Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý ở các lĩnh vực khác, vì
ở đây có những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác
tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý là học sinh, sinh viên nhằm giải quyếtnhững nhiệm vụ giáo dục của nhà trường( Truyền thụ tri thức kỹ năng kĩsảo ) Đó là một hệ thống có tác động, có phương hướng, có mục đích, có kếhoạch, có tổ chức, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, phụ thuộc vào nhau, thúcđẩy nhau cùng thực hiện tốt nhiệm vụ của giáo dục
Người quản lý giáo dục trong công tác tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ sưphạm: Chúng ta cần khẳng định: “Muốn quản lý tốt công tác tổ chức bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm cho học viên (Trong các trường đại học) Ngườiquản lý phải là người thầy giáo giỏi, có trình độ chuyên môn vững vàng, cókiến thức sâu rộng và phải nắm chắc các nội dung, yêu cầu và quy trình đàotạo của việc dạy nghề cho học viên (Sinh viên, giảng viên ).”
1.3 Khái niệm nghiệp vụ sư phạm và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
1.3.1 Nghiệp vụ sư phạm
Nghiệp vụ: Từ điển tiếng Việt thông dụng của Nguyễn Như ý đã cho rằng : “Nghiệp vụ là công việc chuyên môn của một nghề.”
Trang 23Trong kỉ yếu hội thảo Quốc gia các trường Đại học Sư phạm 1998 TạiThành phố Vinh - Nghệ an cũng đã khẳng định: “ Dưới mọi trường nghề,Nghiệp vụ là toàn bộ kiến thức, kĩ năng cần thiết để người học làm tốt côngviệc của mình sau khi được đào tạo (Trang 11 5- Kỉ yếu hội thảo)
Sư phạm: Khoa học về giáo dục và giảng dạy trong trường học
Nghiệp vụ sư phạm: là một khoa học nhằm bồi dưỡng và giảng dạy
những chuyên môn riêng cho từng ngành, nghề khác nhau, cung cấp những kĩnăng, phương pháp truyền thụ sư phạm, giao tiếp, ứng sử sư phạm…
Trường sư phạm là nơi đào tạo nghề dạy học, việc dạy học của giáoviên không chỉ dạy chữ mà còn dạy người Toàn bộ hoạt đông của giáo viêntrong nhà trường là nhằm hình thành nhân cách con người mới, vừa có trình
độ về khoa học kĩ thuật vừa năng động sáng tạo trong cuộc sống.Theo HồChủ Tịch người giáo viên phải là người: vừa hồng vừa chuyên Vừa có tâmvừa có đức
Yêu cầu của quá trình dạy học là đào tạo ra người giáo viên có đủ phẩmchất và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu đổi mới, phục vụcho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước
Trường Sư phạm không những phải cung cấp cho sinh viên hệ thốngtri thức khoa học cơ bản, tri thức khoa học chuyên ngành mà còn tổ chức chosinh viên tham gia vào các hoạt động nghiệp vụ để hình thành kĩ năng nghiệp
vụ cho sinh viên
Vậy: Nghiệp vụ sư phạm là gì?
Nghiệp vụ: là công việc chuyên môn của một nghề.
Như vậy: chúng ta có thể hiểu: Nghiệp vụ sư phạm là công việc
chuyên môn của nghề dạy học
Đó chính là công việc dạy học và giáo dục của giáo viên trong hoạtđộng nghề nghiệp của mình
Trang 24Nghiệp vụ sư phạm không chỉ là hệ thống kĩ năng, mà bao gồm cả hệthống tri thức và các phẩm chất nghề nghiệp, mà một người giáo viên cần có
dù là giáo viên ở bất cứ Cấp học, Ngành học, Bặc học nào từ Mầm non, Tiểuhọc đến Cao đẳng, đại học, chất lượng của nghiệp vụ sư phạm cần phải đượcđánh giá ở ba mặt đó
Khi nói đến mối quan hệ giữa kiến thức và kĩ năng Jonh E rpeck đã viết: “ Năng lực được tri thức làm cơ sở, được quy định bởi các giá trị, được
sử dụng như những kĩ năng, được tăng cường qua vốn kinh nghiệm và đượcthực hiện thông qua ý định”
1.3.2 Quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động cơ bản trong quátrình đào tạo và bồi dưỡng giáo viên Có ý nghĩa quyết định trong việc hìnhthành phẩm chất, và năng lực nghề nghiệp Người quản lý hoạt động bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm phải tạo điều kiện cho sinh viên, giáo viên và giảngviên rèn luyện, bồi dưỡng bằng nhiều cách, nhiều hình thức khác nhau, biếthuy động mọi lực lượng, vật chất, tinh thần, biết phối hợp tất cả các lực lượng
để hỗ trợ cho hoạt động bồi dưỡng rèn luyện nghiệp vụ sư phạm theo mộthướng thuận lợi và đạt được kết quả tốt nhất
Ngoài các nội dung trên trong khuôn khổ nghiệp vụ sư phạm còn cómột số kĩ năng bắt buộc như:
+ Rèn luyện các kĩ năng cơ bản của hoạt động dạy học như:
Kĩ năng nói: (Kĩ năng diễn đạt bằng lời) Khi lên lớp đứng trước bụcgiảng, đứng trước học sinh, sinh viên Người giáo viên nói chung và giảngviên các trường đại học nói riêng phải chững chạc, nói năng lưu loát, có sứcthuyết phục, giọng nói truyền cảm, gần gũi, dễ nghe, thu hút được sự chú ýcủa mọi người, phát âm đúng, rõ từ đầu đến cuối, âm thanh vừa phải để mọingười đều dễ nghe được (Kể cả những bàn ngồi cuối lớp) , giọng nói dứtkhoát, tự tin có sức thuyết phục, hùng biện
Trang 25Đây là một kĩ năng quan trọng nhất của người giáo viên, giảng viên bởi
vì khi được rèn luyện về kĩ năng giao tiếp, giáo viên được tập cách tiến hànhkhi giao tiếp sư phạm, hoặc khi người giáo viên hướng dẫn các sinh viên tiếnhành các trắc nghiệm, các giai đoạn trong giao tiếp, tập sử dụng các phươngtiện để giao tiếp sư phạm, rèn luyện phong cách và kĩ năng giao tiếp sư phạm:
- Khi tiến hành người giáo viên cho sinh viên tiếp xúc với các tìnhhuống và lựa chọn phương án giải quyết tốt nhất, hoặc giáo viên hướng dẫnsinh viên tiến hành trắc nghiệm để tự đánh giá về khă năng giao tiếp củabản thân
Khi rèn luyện kĩ năng giao tiếp sư phạm: Người giáo viên phải chú ýrèn cho sinh viên từng bước từ kĩ năng định hướng, kĩ năng nhận biếtnhững dấu hiệu bên ngoài, hoặc kĩ năng định vị, điều chỉnh, điều khiển bảnthân, bằng cách qua việc tiếp xúc với các bài tập miêu tả chân dung họcsinh, các bài tập nhận biết thông tin qua dấu hiệu bên ngoài, hoặc qua sựlựa chọn những yếu tố hợp thành các kĩ năng, những phương án tự điềuchỉnh thích hợp với các bài tập tình huống Kĩ năng giao tiếp sư phạm cóthể được hình thành qua nhiều con đường: Qua thói quen ứng sử được xâydựng từ nền tảng gia đình, cách ứng xử với bạn bè đồng nghiệp, với lốixóm và với toàn xã hội
Kĩ năng viết bảng: Phải viết ngay ngắn, thẳng hàng có bố cục hợp lý,khoa học, làm nổi rõ trọng tâm của bài dạy, biết trình bày bảng bằng ngônngữ trong sáng, dễ hiểu, mang đầy nội dung tri thức khoa học, chính xác, rõràng,
bởi vì : Viết bảng là một hoạt động thường xuyên của người giáo viêntrong suốt cuộc đời hoạt động dạy học của mình Kĩ năng viết bảng thể hiện:
Viết đúng: Không thừa, không thiếu, nét viết rõ ràng, thẳng hàng, viếtnhanh, đẹp
Khi viết làm nổi bật được trọng tâm bài giảng
Trang 26Giữ đúng tác phong sư phạm khi viết bảng, nhằm giúp cho học sinh,sinh viên trong quá trình học vừa nghe giảng, vừa tri giác bài giảng, sẽ giúpcho học sinh, sinh viên tiếp thu bài nhanh hơn, đầy đủ hơn và nhớ lâu hơnkiến thức ngay ở trên lớp.
Các bước tiến hành tập viết bảng:
Bước 1: Người giáo viên tập viết thống nhất theo một kiểu chữ: In hoa,
in thường, hoặc viết hoa có nét mềm, tập viết chữ đứng, nghiêng đều sang bênphải, tránh viết chữ nghiêng sang bên trái, tập viết thẳng hàng, bố cục bảngphải cân đối
Bước thứ 2: Tập viết các đề mục của bài theo nguyên tắc đồng đẳngtheo một trục dọc
Bước thứ 3: Tổng hợp cả hai bước trên thành một cách trình bày bảnghoàn chỉnh, khoa học, đẹp mắt
Kĩ năng làm và sử dụng đồ dụng dạy học: Đây cũng là một trong những
kĩ năng không thể thiếu của người giáo viên, đặc biệt càng cấp học dưới(Mầm non, Tiểu học) thì khả năng làm và sử dụng đồ dùng càng quan trọng vì
ở các cấp học này học sinh tri giác bài dạy qua đồ dùng đồ chơi sẽ giúp các
em nắm vững tri thức và nhớ bài lâu hơn, hứng thú say mê học tập Ngườigiáo viên biết lập kế hoạch làm đồ dùng, đồ chơi để phục vụ cho bài giảng,cho chuyên đề, cho các hoạt động dạy và học sao cho phù hợp Đồ dùng đồchơi đẹp, chính xác, hấp dẫn, màu sắc tươi sáng, khi sử dụng phải biết sửdụng đúng mục đích, đúng thời điểm, đúng thời gian vì nếu quá lạm dụngvào đồ dùng thì hiệu quả dạy học sẽ giảm, sự thu hút học sinh chú ý vào bàigiảng không cao dẫn đến kết quả giờ dạy không đạt yêu cầu
Kĩ năng soạn giáo án và lập hồ sơ bài giảng Việc soạn giáo án là soạn
kế hoạch cho từng bài dạy là một công việc bắt buộc, thường ngày của ngườigiáo viên khi đứng trên bục giảng Khác với cách diễn đạt bằng lời việc soạngiáo án trong các trường đặc biệt trong trường sư phạm là một nội dung rèn
Trang 27luyện cho sinh viên vô cùng quan trọng và cần thiết, gắn liền với hoạt độnggiảng tập.
Mỗi người sinh viên khi tiếp xúc với dạng hoạt động này đều phải thựchiện ở hai mức độ: Mức độ đầu là qua sự hướng dẫn của giáo viên nghiệp vụ(Giáo viên chuyên nghành Tâm lý học, Giáo dục học) Mức độ sau có thể làgiáo viên dạy phương pháp giảng dạy bộ môn Đây cũng là một hình thứchoạt động bắt buộc đối với các sinh viên đặc biệt là sinh viên trong các trường
sư phạm năm thứ hai trở ra trước khi bước vào giai đoạn giảng tập, kiến tập
Trong quá trình rèn luyện cho sinh viên , học viên soạn giáo án ngườigiáo viên cần xác định cho sinh viên rõ đây là công việc mà đòi hỏi sinh viên,học viên cần phải suy nghĩ, đầu tư công sức trí tuệ, thời gian, kinh phí cả vềnội dung và phương pháp giảng bài đòi hỏi mỗi người sinh viên, học viênphải nhuần nhuyễn cả về nội dung và phương pháp dạy học, để giúp cho sinhviên, học viên làm chủ được bài giảng của mình Khi đã chuẩn bị kĩ bài giảngkhi lên lớp thì mới ít phụ thuộc vào bài giảng, vào giáo án ( Thoát li giáo án,làm chủ tình thế), lúc đó việc tổ chức giờ dạy mới có hiệu quả, chất lượnggiáo dục mới được nâng cao
Kĩ năng tổng hợp các thao tác lên lớp, kế hoạch thực tập chủ nhiệm : Bao gồm kế hoạch chủ nhiệm lớp, kế hoạch tiến hành tổ chức các hoạtđộng giáo dục như (sinh hoạt lớp, tổ chức các hoạt động tập thể nhân cácngày lễ lớn trong năm học; 20/11, 8/3, 26/3, 19/5 ) hoạt động ngoại khoá,ngoài giờ lên lớp
Kĩ năng bao quát lớp học:
+ Rèn luyện một số kĩ năng giáo dục:
Phân tích một số tình huống giáo dục
Tập giải quyết các tình huống sư phạm theo các phương án cho trước.Tập giải quyết các tình huống sư phạm một cách sáng tạo khoa học,phù hợp với điều kiện thực tế của lớp học, Từng trường cụ thể
Trang 281.4 Quản lý bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các trường đại học khối kinh tế
1.4.1 Tầm quan trọng của việc bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giảng viên các trường đại học khối kinh tế
Chúng ta biết rằng trong những năm gần đây đặc biệt khi Việt Nam trởthành nước thứ 150 của WTO với tất cả các Ngành nghề nói chung và Ngànhgiáo dục và đào tạo nói riêng muốn tồn tại và phát triển, để đáp ứng nhu cầucủa đất nước và theo kịp thời đại Công nghiệp hóa -Hiện đại hóa, thời đạiCông nghệ thông tin, chúng ta phải không ngừng nâng cao về chuyên mônnghiệp vụ, phải giữ vững thương hiệu, uy tín, chất lượng Đảng và Nhà nước
đã có rất nhiều chủ trương, chính sách khuyến khích đầu tư, ưu tiên cho giáodục (Con người và tài chính Nguồn lực, Nhân lực Vật lực) Ngành giáo dụccũng đã xác định rõ trọng trách của mình để chỉ đạo kịp thời các trường đạihọc, cao đẳng trong các nước, các Sở giáo dục và đào tạo của các tỉnh (Thựchiện phong trào hai không trong nhà trường, chống tiêu cực và bệnh thànhtích trong giáo dục mà Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn ThiệnNhân đã phát động trong toàn Ngành giáo dục) có kế hoạch sát thực với tìnhhình thực tế của từng địa bàn (Từng tỉnh thành phố từ nông thôn, miền núiđến các tỉnh, thành phố, từ người Kinh hay đồng bào các dân tộc… ) để làmsao cho tất cả người dân ai ai cũng được đến trường, cũng được học hành, đều
có cơ hội học tập như nhau, ưu tiên cho đồng bào các dân tộc và miền núi, hảiđảo, vùng kinh tế khó khăn, vùng bão lụt thiên tai… bằng cách xây dựng một
xã hội học tập, học tập suốt đời không phân biệt loại hình đào tạo, hình thứcđào tạo, không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc) Đứng trước thử thách tolớn đó để đáp ứng được nhu cầu học tập của toàn xã hội ngành giáo dục phảicung cấp và đáp ứng đầy đủ đội ngũ giáo viên (Cả về số lượng và chất lượng),các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho ngành giáo dục, từng bước khắc phục
Trang 29những khó khăn (Trường học tranh tre nứa lá, lớp học ba ca ) Ưu tiên chovùng sâu xa, vùng kinh tế khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Cụ thể: Bộ giáo dục và Đào tạo đã có chủ trương cho mở rất nhiều hệđào tạo bồi dưỡng giáo viên như hệ 9+1, 9+2, 10+3, Cao đẳng, đại học Sauđại học, Nghiên cứu sinh, các hệ Tại chức, Chuyên tu, Từ xa, Đào tạo theo địachỉ, Cử tuyển để đáp ứng đội ngũ giáo viên cho toàn xã hội
Tuy nhiên ở các trường đại học, cao đẳng hiện nay số lượng những nhàgiáo chưa được đào tạo qua sư phạm chiếm tỷ lệ khá cao (47.7% con số do
Vụ Tổ chức Cán bộ Bộ Giáo dục Đào tạo cung cấp)
Đây cũng là một vấn đề bất cập của Ngành giáo dục khi nói đến chấtlượng giáo dục nói chung và chất lượng giáo dục đại học nói riêng, bởi vìtrong thực tế những giảng viên này lên lớp có thể nói kiến thức chuyên môn làthế mạnh, xong những kĩ năng truyền thụ, kĩ năng giao tiếp, phương phápgiảng dạy, lí luận dạy học, lí luận giáo dục …còn gặp không ít khó khăn vàbất cập Đứng trước thực trạng đó Bộ giáo dục và Đào tạo đã yêu cầu trườngĐại học sư phạm Hà Nội kết hợp với Viện Nghiên cứu Sư phạm xây dựngchương trình khung để bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viêncác trường đại trong cả nước theo quyết định số 7130 ngày 13/8/2006 mà chủyếu là hai thành phố lớn là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (Làm nòngcốt), nhằm giúp cho đội ngũ giảng viên có trình độ, có kĩ năng, có phươngpháp truyền thụ kiến thức một cách khoa học sáng tạo Nâng cao chất lượnggiáo dục trong các trường đại học, cao đẳng nói riêng và toàn Ngành giáo dụcnói chung nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của đất nước, của khu vực vàtrên trường quốc tế
Mục tiêu bồi dưỡng:
+ Về kiến thức: Giúp người học nắm vững hệ thống kiến thức về Tâm
lý học sư phạm đại học, Giao tiếp sư phạm đại học, Lý luận và phương pháp
Trang 30sư phạm đại học, Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo ở bậc đại học,Kiểm tra và Đánh giá trong giáo dục đại học, Phương pháp luận nghiên cứukhoa học giáo dục, ứng dụng công nghệ thông tin vào quá trình dạy học vàNghiên cứu khoa học giáo dục, Lôgic học, Quản lý giáo dục đại học để vậndụng vào thực tế dạy học ở các trường đại học và cao đẳng nói chung và cáctrường đại học khối kinh tế nói riêng.
+ Về kĩ năng: Hình thành cho người học hệ thống kĩ năng nghiệp vụ sưphạm để có thể giảng dạy tốt ở bậc đại học
+ Về thái độ: Hình thành cho người học ý thức nghề nghiệp và tácphong sư phạm của Nhà giáo bậc đại học( Giảng viên đại học)
1.4.2 Các nội dung của chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cần bồi dưỡng cho đội ngũ giảng viên các trường đại học
+ Khối kiến thức: bắt buộc
Tâm lý học sư phạm đại học
Giao tiếp sư phạm đại học
Lý luận và phương pháp sư phạm đại học
Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo ở bậc đại học
Kiểm tra và đánh giá trong giáo dục đại học
Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục đại học
+ Khối kiến thức tự chọn:
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đại học
Nghiên cứu khoa học giáo dục ở bậc đại học
Trang 31Ngoài những nội dung bắt buộc như ở mục 1.3.2 còn cần bổ xungnhững nội dung sau:
+ Phương pháp giảng dạy bộ môn (Theo chuyên ngành Tài chính, Ngânhàng, Thương mại, Ngoại thương ) mà nhà nghiên cứu tiến hành nghiên cứuthực nghiệm cụ thể cho từng trường
1.5 Yêu cầu tổ chức hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm.
Khảo sát tình hình thực tế ở các trường đại học và cao đẳng trên cảnước Đặc biệt là các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn thành phố HàNội để nắm được số giảng viên đang trực tiếp giảng dạy chưa qua đào tạo bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm (Thông qua danh sách cán bộ giảng viên của từngtrường đại học) của Vụ Tổ chức cán bộ - Bộ giáo dục và Đào tạo và Phòng tổchức cán bộ của các trường Đại học Ngoại thương, Đại học Thương mại, Họcviện Ngân hàng, Học viện Tài chính) lập đề án trình Bộ Giáo dục và Đào tạo,
Vụ Đại học và sau đại học, Ban Giám hiệu các trường đại học nêu trên để có
kế hoạch bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên
Đặc biệt đội ngũ giảng viên trẻ là sinh viên ưu tú được giữ lại ở cáctrường làm trợ giảng, giảng viên, cán bộ hướng dẫn thực hành, thực tập sưphạm, phục vụ thí nghiệm, giảng viên được chuyển ngành
1.5.1 Dự trù kinh phí đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho 200 giảng
viên các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn thành phố Hà Nội
1.5.2 Xây dựng chương trình khung: Gồm 33 đơn vị học trình
+ Khối kiến thức: bắt buộc
- Tâm lý học sư phạm đại học (5 đơn vị học trình)
- Giao tiếp sư phạm đại học (2 đvht)
- Lý luận và phương pháp sư phạm đại học (5 đvht)
- Xây dựng và phát triển chương trình đào tạo ở bậc đại học (2 đvht)
- Kiểm tra và đánh giá trong giáo dục đại học (3 đvht)
- Phương pháp luận nghiên cứu khoa học giáo dục (2 đvht)
Trang 321.5.3 Tổ chức bồi dưỡng
Tổ chức thành từng lớp để tiến hành bồi dưỡng những nội dung chươngtrình nghiệp vụ sư phạm như trong khung chương trình theo yêu cầu của từngtrường mỗi lớp học có từ 30 đến 50 học viên
1.5.4 Tổ chức kiểm tra đánh giá
Sau hai hoặc ba chuyên đề tiến hành kiểm tra thi viết, trả lời câu hỏi trắcnghiệm, làm bài tập hoặc làm tiểu luận để đánh giá mức độ nhận thức, tiếp thukiến thức của từng học viên (Giảng viên của các trường đại học) sau mỗi khóabồi dưỡng, tổ chức cho học viên đi thực tập sư phạm theo các hình thức sau:
Thành lập đoàn thực tập về các trường đại học, cao đẳng nơi mà trựctiếp cán bộ giảng viên của các trường làm thực nghiệm đang trực tiếp giảngdạy và công tác (Đại học Thương Mại, Đại học Ngoại Thương, Học việnNgân Hàng, Học viện Tài chính)
Tổ chức hội thảo về tầm quan trọng của việc Tổ chức bồi dưỡng nghiệp
vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng trong cảnước Đặc biệt là các trường đại học khối kinh tế để giúp họ nắm vững phươngpháp giảng dạy, có kĩ năng sư phạm khi lên lớp để truyền thụ tri thức, đểhướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học nhằm nâng cao chất lượng giảngdạy ở các trường đại học và chất lượng giáo dục của toàn Ngành giáo dụcViệt Nam trong thế kỉ XXI
Trang 33Kết luận chương 1
Thông qua việc khảo sát, đánh giá thực trạng công tác tổ chức, bồidưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học chúngtôi thấy rằng:
- Vấn đề cấp thiết của việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sưphạm cho đội ngũ giảng viên các trường đại học nói chung các trường đại họckhối kinh tế nói riêng đã phần nào giúp cho đội ngũ giảng viên Đặc biệt độingũ giảng viên trẻ vững vàng hơn khi lên lớp, truyền thụ kiến thức có sứcthuyết phục hơn, giao lưu, trao đổi kinh nghiệm về tri thức khoa học giữagiảng viên và sinh viên gần gũi hơn thân mật hơn, chất lượng giảng dạy đượcnâng lên rõ rệt ( Thông qua khảo sát chất lượng và dự giờ đổi mới phươngpháp dạy học tại các trường đại học nêu trên.) Đó là mục tiêu của Ngànhgiáo dục nói chung và chất lượng giáo dục đại học nói riêng Để bồi dưỡng vàđào tạo đội ngũ giáo viên nói chung và giảng viên các trường đại học nóiriêng, nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng đào tạo, thực hiện mục tiêu xâydựng đội ngũ giáo viên có trình độ chuẩn từ nay đến 2010 mà Đảng, Nhànước và Bộ giáo dục - Đào tạo đã đề ra và có căn cứ để xây dựng chiến lượccho việc đội ngũ giáo viên, giảng viên đạt trình độ chuẩn đến năm 2020
Mặt khác chúng ta không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ cho đội ngũ giảng viên( Đặc biệt đội ngũ giảng viên trẻ tại các trường đạihọc) là góp phần nâng cao chất giáo dục của đất nước ta ở tất cả các Cấp học,Bậc học, Ngành học Đặc biệt ở bậc đại học khi chúng ta gia nhập WTO
Chúng ta khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường Quốc tế và khuvực với một nền giáo dục mở cửa, hòa nhập, thân thiện với tất cả các nướctrên thế giới và trong khu vực Tạo mọi điều kiến để các nước giao lưu họchỏi kinh nghiệm đào tạo
Trang 34Qua công tác điều tra khảo sát thực tế của một số trường đại học, đặcbiệt là các trường đại học khối kinh tế trên địa bàn Thành phố Hà Nội như:
Học viện Ngân hàng, Học viện Tài chính, Đại học Ngoại thương, Đạihọc Thương mại trên địa bàn Thành phố Hà Nội chúng tôi nhận thấy trongnhững năm qua cùng với sự phát triển nhanh, mạnh, vững chắc của đất nướccác trtường đại học đã góp phần to lớn đưa nền kinh tế của Việt Nam ngàycàng phát triển, chúng ta tự hào là những nước có sản lượng gạo xuất khẩu lớn,
có những công trình khoa học được đánh giá cao, những hội thi: Robotcon, Trítuệ Việt nam, Sáng tạo Việt nam, Chất lượng Việt nam Những hội thi Hoa hậungười Việt, Hoa hậu Thế giới được tổ chức tại Việt Nam… đã khẳng định nềnkinh tế Việt Nam ngày một phát triển khi chúng ta ra nhập WTO
Các trường đại học khối kinh tế cũng góp phần không nhỏ trong quátrình thúc đẩy nền kinh tế xã hội của đất nước chuyển mình đó là những thànhtích mà các trường đại học đã và đang gặt hái được từ những công trìnhnghiên cứu khoa học, những đề tài, luận văn được các giảng viên và học viêntham gia nghiên cứu đóng góp cho các nhà trường với những thành tích: Huânchương lao động hạng Nhất, Nhì, Ba, đơn vị Anh hùng trong thời kì đổimới…
2.1.1 Trường Đại học Thương mại
Là trường đại học công lập trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo Trườngđược thành lập năm 1960 với tên gọi đầu tiên là Trường Thương nghiệp
Trang 35Trung ương Đến năm 1965 trường được giao nhiệm vụ đào tạo đại học Năm
1979 trường được đổi tên là Trường đại học Thương Nghiệp Năm 1994trường được đổi tên là Trường Đại học Thương Mại Trong 45 năm xây dựng
và phát triển đặc biệt trong những năm đất nước đổi mới nên kinh tế xã hội cónhiều chuyển biến nhà trường đã đầu tư nhiều công sức nghiên cứu mục tiêuđào tạo ngành, nghề, cơ cấu kiến thức xây dựng hệ thống các chương trình,giáo trình, đổi mới nội dung phương pháp đào tạo nhằm đáp ứng các yêu cầuphát triển của nền kinh tế
Đến năm 2004 - 2005 Trường Đại học Thương Mại đã cung cấp cho
xã hội trên 20.000 cử nhân kinh tế, hàng trăm Thạc sĩ, Tiến sĩ bồi dưỡng hàngchục ngàn cán bộ quản lí kinh tế cho Ngành Thương mại và các Ngành khác,Trường đã trực tiếp thực hiện và tham gia nghiên cứu về đề tài khoa học cấpnhà nước, trên 100 đề tài cấp Bộ…
Hiện nay trường Đại học Thương mại đang đào tạo 3 Ngành học với 8chuyên ngành như: Kế toán, Quản trị kinh doanh, Kinh tế
Các loại hình đào tạo và tổ chức đào tạo:
+ Trường đã tổ chức đào tạo Đại học: Cấp bằng tốt nghiệp đại học danhhiệu cử nhân Kinh tế với các loại hình:
- Hệ chính quy: Thời hạn đào tạo 4 năm
- Hệ không chính quy: (Tại chức cũ) Thời hạn đào tạo 5 năm
+ Đào tạo cao đẳng: Cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng hệ chính quy, thờihạnh đào tạo 3 năm
+ Đào tạo cấp bằng cử nhân thực hành theo chương trình hợp tác vớicác trường đại học của Pháp Thời hạn đào tạo 3 năm
+ Đào tạo bồi dường các lớp ngắn hạn cấp chứng chỉ theo chuyên đề.+ Đào tạo hướng dẫn các lớp hướng dẫn viên du lịch trong thời gian 2,4đến 6 tháng
Trang 36+Đào tạo sau đại học (Tập trung và không tập trung) cấp bằng Thạc sĩkinh tế theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
+ Đào tạo Tiến sĩ (Tập trung và không tập trung) Cấp bằng tiến sĩ kinh tếNgoài ra trường còn có các khoa các bộ môn và trung tâm trực thuộckhác Cùng với sự phát triển không ngừng của đất nước trong những năm quatrường Đại học Thương mại cũng đã góp công, sức rất lớn trong sự nghiệpcủa đát nước mà không ai khác chính là công lao của các nhà giáo, các cán bộquản lí của trường
2.1.2 Trường Đại học Ngoại thương
Năm 1967, theo đề nghị của Bộ Ngoại giao và Bộ Ngoại thương, Thủtướng Chính phủ ra Quyết định số 123/CP ngày 5/8/1967 chia tách trườngCán bộ Ngoại giao - Ngoại thương thành hai trường: trường Ngoại giao trựcthuộc Bộ Ngoại giao và trường Đại học Ngoại thương thuộc Bộ Ngoại thương(nay là Bộ Thương mại) Tên hiệu chính thức của trường Đại học Ngoạithương có từ thời gian này Được sự quan tâm của Bộ Ngoại thương, cơ cấutrường đã bắt đầu được củng cố và tăng cường Ngoài một số phòng chứcnăng, trường đã có các đơn vị chuyên môn như khoa Nghiệp vụ Ngoạithương, khoa Ngoại ngữ và bộ môn Chính trị Trường đã bắt đầu tăng quy mô
và đa dạng hóa các loại hình đào tạo
Năm 1984, Trường Đại học Ngoại thương chuyển từ Bộ Ngoại thươngsang Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp (nay là Bộ Giáo dục và Đàotạo) Công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế đã được đẩymạnh và phát triển thêm một bước
Về ngành, chuyên ngành đào tạo: Cho tới cuối năm 1998, Trường vẫn
chỉ đào tạo một Ngành là Ngành Kinh tế với chuyên ngành Kinh tế Đối ngoại
Từ năm học 1999 - 2000, Trường Đại học Ngoại Thương được Bộ Giáo dục
và Đào tạo cho phép mở thêm 2 Ngành mới: Ngành Ngoại ngữ (chuyên ngành
Trang 37tiếng Anh Thương mại) và Ngành Quản trị Kinh doanh (chuyên ngành Quảntrị Kinh doanh Quốc tế và Luật Kinh doanh Quốc tế).
Đến nay, Trường đã có những ngành đào tạo và chương trình đào tạo sau:
- Ngành Tiếng Anh: Chuyên ngành Tiếng Anh thương mại
- Ngành Tiếng Nhật: Chuyên ngành Tiếng Nhật thương mại
- Ngành Tiếng Pháp: Chuyên ngành Tiếng Pháp thương mại
- Ngành Tiếng Trung: Chuyên ngành Tiếng Trung thương mại
* Bậc Thạc sỹ:
- Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế;
- Quản trị kinh doanh;
- Thương mại
* Bậc Tiến sỹ:
- Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Chương trình đào tạo:
- Chương trình liên kết 2+1 đào tạo cử nhân Luật, Kinh tế và quản lýhợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Francois Rebelais Tours giảng dạybằng tiếng Pháp (2 năm tại Việt Nam, 1 năm tại Pháp)
- Chương trình đào tạo cử nhân chất lượng cao chuyên ngành Kinhdoanh quốc tế giảng dạy bằng tiếng Anh
Trang 38- Chương trình liên kết đào tạo Thạc sỹ Luật kinh doanh quốc tế giảngdạy bằng tiếng Pháp hợp tác với Trường Đại học Tổng hợp Francois RebelaisTours.
- Chương trình Thạc sỹ Kinh doanh quốc tế giảng dạy bằng tiếng Anh,liên kết với Trường La Trobe (Australia)
2.1.3 Học viện Ngân hàng
Học viện Ngân hàng Hà Nội (nguyên là Trường Cao cấp nghiệp vụNgân hàng, được thành lập ngày 13/09/1961 theo Quyết định số3072/VG của Thủ tướng Chính phủ) là tổ chức đào tạo và nghiên cứukhoa học của Nhà nước về lĩnh vực Ngân hàng Học viện Ngân hàngđược thành lập ngày 09/02/1998, theo Quyết định số 30/1998/QĐ-TTgThủ tướng Chính phủ trên cơ sở tổ chức lại Trung tâm đào tạo và Nghiêncứu khoa học ngân hàng
Học viện Ngân hàng có nhiệm vụ đào tạo cán bộ ở Bậc giáo dụcchuyên nghiệp, Bậc đại học và trên đại học về lĩnh vực Tiền tệ - Tín dụng -Ngân hàng và một số Ngành, chuyên ngành khác theo quy định của BộGiáo dục và Đào tạo; Tổ chức các khoá bồi dưỡng nghiệp vụ và công nghệngân hàng; Tổ chức NCKH và công nghệ về ngân hàng; Thực hiện hợp tác
về đào tạo và NCKH ngân hàng với các tổ chức trong và ngoài nước theoquy định chung của Nhà nước
Học viện Ngân hàng được tổ chức và hoạt động theo Quyết định số 48/QĐ-NHNN ngày 12/01/2004 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam,chịu sự lãnh đạo và quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vàchịu sự quản lý Nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Học viện có trụ sở chính tại Hà Nội, các phân viện Bắc Ninh, Phú Yên
và cơ sở đào tạo Hà Tây
Trang 39Học viện Ngân hàng có chức năng đào tạo nguồn nhân lực ở bậc giáodục chuyên nghiệp, Bậc đại học và sau đại học về lĩnh vực Tiền tệ - Tíndụng Ngân hàng và một số Ngành, chuyên ngành khác theo qui định của
Bộ Giáo dục và Đào tạo, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức
và năng lực thực hành nghề nghiệp trong lĩnh vực Ngân hàng tương xứngvới trình độ đào tạo
Cấp đào tạo và chuyên ngành đào tạo:
- Ngân hàng, bao gồm các chuyên ngành chuyên sâu:
+ Nghiệp vụ Ngân hàng Thương mại + Thanh toán tín dụng quốc tế + Kế toán - kiểm toán ngân hàng + Thị trường chứng khoán
- Tài chính
- Kế toán - Kiểm toán
- Quản trị kinh doanh
* Cao đẳng: chuyên ngành Ngân hàng, Kế toán và Tài chính
* Trung học: chuyên ngành Ngân hàng và Kế toán
Trang 40Đối tượng là các cán bộ ngân hàng, doanh nghiệp và các cơ quankhác có nhu cầu nâng cao về kỹ năng, nghiệp vụ hoặc cập nhật kiếnthức chuyên ngành (các chuyên đề về Ngân hàng Thương mại,Ngân hàng Trung ương, Kế toán Ngân hàng, Kế toán doanhnghiệp, Quản trị Tài chính doanh nghiệp, Thị trường chứngkhoán )
+ Các lớp liên kết đào tạo:
• Liên kết với Hiệp hội Ngân hàng, các Trung tâm đào tạo củacác Ngân hàng Thương mại cho các chương trình bồi dưỡngnghiệp vụ và cập nhật kiến thức
• Liên kết với tập đoàn Tyndale - Singapore & Edexcel và Đạihọc Sunderland - Vương quốc Anh chương trình đào tạo cửnhân chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng
• Liên kết với Viện công nghệ châu á - AIT, chương trình thạc sĩcông nghệ thông tin trong lĩnh vực Tài chính - Ngân hàng
2.1.4 Học viện Tài chính
Năm 1961 trong công cuộc xây dựng và phát triển CNXH ở Miền Bắc
đã được thực hiện kế hoạch dài hạn 5 năm lần thứ nhất và công nghiệp hóa lànhiệm vụ trung tâm của thời kì quá độ để đưa Miền bắc tiến nhanh, tiến mạnh
và vững chắc lên CNXH, làm cơ sở cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng MiềnNam thống nhất đất nước Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trên Đảng và Nhànước chủ trương đào tạo một đội ngũ đông đảo cán bộ quản lí kinh tế, đặc biệt
là cán bộ Tài chính, Kế toán có khả năng nghiên cứu và thực thi những chínhsách kinh tế tài chính của đất nước Vì vậy năm 1960 Bộ Tài chính được Nhànước giao nhiệm vụ Nghiên cứu Xây dựng hệ thống Trường Tài chính chínhquy, để đào tạo và bồi dưỡng cán bộ làm công tác nghiệp vụ về tài chính, kếtoán Trước đó đã có 2 trường chuyên ngành được mở trong thời gian 1955-