Đối với một dân tộc ngay từ thuở hồng hoang dựng nước và giữ nước đã luôn phải đương đầu với các cuộc chinh phạt
Trang 1MỞ ĐẦU
I LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Đối với một dân tộc ngay từ thuở hồng hoang dựng nước và giữ nước
đã luôn phải đương đầu với các cuộc chinh phạt của ngoại bang thì việc vănhọc đặc biệt lưu tâm tới đề tài chiến tranh cũng là điều dễ hiểu Hiện thực đấutranh chống ngoại xâm đã trở thành đối tượng khám phá và phản ánh của vănhọc như một tất yếu Và 30 năm không ngừng tiếng bom, tiếng súng chốngthực dân Pháp, đế quốc Mĩ vừa qua của cả dân tộc đã trở thành mảng hiện thựcphong phú, có sức hấp dẫn không ít người cầm bút Họ viết về chiến tranh ngaykhi cuộc chiến còn đang diễn ra, họ viết về chiến tranh cả khi tiếng súng đãlắng lại và vòng nguyệt quế đã được đặt trên đầu người chiến thắng Có thể nói,trong sự phát triển 50 năm của văn học hiện đại Việt Nam, mảng văn học về đềtài chiến tranh với nhiều thể loại: thơ ca, truyện ngắn, truyện vừa, kịch, kí, tiểuthuyết… chiếm vị trí rất quan trọng cả về số lượng lẫn chất lượng Tiểu thuyếtdường như đã phát huy được lợi thế về dung lượng khi tiếp cận mảng hiện thựctrải dàn trên một không gian rộng lớn kéo dài từ Bắc tới Nam, từ cao nguyêntới đồng bằng, gắn với khoảng thời gian 30 năm không hề ngắn ngủi Trước
1975 phải kể đến Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Sống mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Hòn đất (Anh Đức), Gia đình má Bảy (Phan Tứ), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Chiến sĩ (Nguyễn Khải), Vùng trời
(Hữu Mai)…Sau 1975 các tiểu thuyết viết về chiến tranh vẫn tiếp tục ra mắt
công chúng: Họ cùng thời với những ai (Thái Bá Lợi), Đất trắng (Nguyễn Trọng Oánh), Năm 1975 họ đã sống như thế, Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nắng đồng bằng, Ba lần và một lần, Ăn mày dĩ vãng, Vòng tròn bội bạc (Chu Lai), Nước mắt đỏ (Trần Huy Quang), Thân phận của tình yêu (Bảo Ninh), Chuyện làng Cuội (Lê Lựu)… Ở những tiểu thuyết này, chiến tranh dù
Trang 2được đề cập đến trực tiếp hay gián tiếp thì vẫn hướng tới mục đích tái hiện mộtthời kì lịch sử đầy sóng gió của dân tộc trong một cái nhìn mới từ cuộc sốnghiện tại sau ngày giải phóng Người viết luận văn chọn đối tượng nghiên cứu làtiểu thuyết viết về chiến tranh trước hết bởi đề tài chiến tranh là một đề tài lớn,đầy sức hấp dẫn của văn học nước nhà và tiểu thuyết là một thể loại đạt khánhiều thành công khi khai thác mảng đề tài này
Chọn đề tài "Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết
về chiến tranh sau 1975", người viết xuất phát từ một thực tế rằng tiểu thuyết
viết về chiến tranh sau 1975 đã có nhiều phương diện đổi mới so với tiểuthuyết trước 1975 mà trong đó sự thay đổi về cảm hứng sáng tác là một trongnhững phương diện đổi mới cơ bản Trước 1975, chiến tranh được miêu tảbằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn ngợi ca, bởi vậy tiểu thuyết thời kìnày mang hơi thở của những bản hùng ca hào sảng, tự tin, đầy khí thế Điềunày cũng dễ hiểu khi văn chương được coi là vũ khí đắc lực để tiêu diệt kẻthù, cổ vũ tinh thần chiến đấu của toàn quân, toàn dân Vả chăng cái xôn xao,náo nức hào hùng đó cũng là là tâm lí chung của cả cộng đồng "những buổivui sao cả nước lên đường" (Chính Hữu) Sau 1975, khi văn chương đã trút
bỏ vai trò chính trị, trở lại với bản chất nghệ thuật đích thực của mình và nhàvăn có đủ độ lùi thời gian cần thiết để nghiền ngẫm lại hiện thực… thì hứngthú viết về chiến tranh có sự vận động, biến đổi Ở mức độ đậm nhạt khácnhau, trên nét lớn có thể thấy có một cảm hứng chung xuất hiện trong hầu hếtcác tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kì này: cảm hứng bi kịch Trước đây,chúng ta nói nhiều đến chiến thắng, niềm vui, thì bây giờ, trong các trang viếtsau ngày giải phóng, những mất mát đau thương vốn dĩ rất thường tình củachiến tranh được nhà văn phản ánh sống động, chân thực với đầy đủ vẻ gaigóc của nó Sự vận động của cảm hứng sáng tác về đề tài chiến tranh trongtiểu thuyết sau 1975 đã đem lại cho tiểu thuyết nói riêng và văn học thời kì
Trang 3này nói chung một diện mạo mới Đây cũng là lí do quan trọng thu hút người
viết luận văn đến với đề tài " Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau1975"
Khảo sát tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975, người viết luận vănnhận thấy phần lớn các sáng tác có sự gặp gỡ chung là hứng thú viết về nỗibuồn, về sự mất mát, éo le Chiến tranh không còn được nhìn bằng cái nhìnngợi ca lãng mạn mà thay vào đó, những góc khuất đen tối, đau thương củahiện thực bắt đầu được bày lên trang viết của các cây bút sau 1975 Tuynhiên, sự biến đổi cảm hứng sáng tác từ một đề tài lớn như vậy lại chưa đượcmột công trình qui mô nào nghiên cứu Hầu hết các công trình nghiên cứumới chỉ dừng lại ở cấp độ bài báo, tham luận hoặc ý kiến, nhận định… Ở đây,các phương diện biểu hiện của cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết về chiếntranh sau chiến tranh chưa được đề cập đến đầy đủ trong tính hệ thống Giớihạn của một bài viết nhỏ buộc người viết chỉ có thể khảo sát sự biểu hiện đó ởmột vài phương diện nhất định, ví dụ: hướng tiếp cận hiện thực, số phận con
người, nghệ thuật xây dựng tình huống kịch… Với đề tài " Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975", người viết
luận văn mong muốn có thể đem đến cho bạn đọc một cái nhìn có tính hệthống về mảng văn học viết về chiến tranh sau chiến tranh với các đặc điểm
cơ bản và những biến đổi nội tại đặc trưng của nó
Từ các lí do chọn đề tài trên đây, người viết hi vọng qua luận văn "Cảmhứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975"
có thể giúp người đọc xác lập một số đặc điểm cơ bản của văn học viết vềchiến tranh sau 1975 trong sự đối sánh với văn học giai đoạn trước đó; đưa ranhững kiến giải giúp người đọc phần nào hiểu rõ quy luật vận động nội tạicủa văn chương nói chung và văn học về chiến tranh nói riêng; từ đó khẳng
Trang 4định các giá trị nhân bản bền vững vốn là kết tinh của mảng văn học viết vềchiến tranh trong những năm tháng hoà bình này
II LỊCH SỬ VẤN ĐỀ
Sau chiến thắng vĩ đại mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc ta đã mởsang một trang mới Khi tiếng bom, tiếng súng đã lắng xuống thì cuộc sốngthời bình mở ra với vô số những biến động của đời thường Trước những đổithay đó của môi trường sống, văn học tự thân cũng xuất hiện nhu cầu đổi mới.Được cổ vũ bởi tinh thần dân chủ của Đại hội Đảng VI, các cây bút sau 1975
đã có nhiều nỗ lực lao động nghệ thuật, tạo được những lối đi mới táo bạo,độc đáo, thoát khỏi lối mòn cũ của văn chương trước đây Việc khuyến khích
tự do, dân chủ trong sáng tác của Đảng thực tế đã đọc "lời ai điếu cho mộtgiai đoạn văn nghệ minh hoạ"[40], mở ra một giai đoạn văn nghệ mới mà ở
đó nhà văn có thể tự tin bộc lộ cá tính, dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, cấtlên tiếng nói cá nhân mà trước đây do phải "tự bạt chiều cao thấp đi cho khỏichạm trần, tự ép khuôn khổ chiều ngang lại để khỏi kềnh càng"[40] trong cáihành lang văn nghệ vừa hẹp vừa thấp, nhà văn không có điều kiện thể hiện.Nằm trong sự vận động đổi mới chung của văn học sau 1975, tiểu thuyết viết
về chiến tranh cũng có nhiều phương diện đổi mới mà sự chuyển hướng cảmhứng sáng tác là một phương diện cơ bản.Thông qua các sáng tác về chiếntranh thời kì này, các tác giả đã thể hiện nỗ lực bổ sung những phương diệnhiện thực trước đây ít được đề cập tới như: những gay cấn của lịch sử, cái giáphải trả cho chiến thắng, số phận bi kịch của con người…Đặt mảng văn họcchiến tranh sau 1975 trong quá trình vận động đổi mới của văn học nước nhà,
Giáo sư Hà Minh Đức khẳng định " Đại hội Đảng lần thứ VI đã mở ra một thời kì mới cho đất nước, cho sự đổi mới trong tư duy, bao gồm cả tư duy nghệ thuật Thái độ thẳng thắn nhìn nhận và đánh giá đúng bản chất của các hiện tượng xã hội, tinh thần dân chủ được phát huy trong quá trình đổi
Trang 5mới đã tạo nên sự thúc đẩy lớn lao cho sự phát triển văn xuôi Đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục được miêu tả với nhiều bình diện, những tổn thất đau thương và số phận con người trong chiến tranh và sau chiến tranh"[48].
Nhận định trên của Giáo sư Hà Minh Đức đồng thời cũng là nhận định chungcủa giới phê bình sau 1975 khi bàn về những đổi mới của tiểu thuyết chiếntranh giai đoạn này Hàng loạt các tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975:
"Nắng đồng bằng" (1977), "Miền cháy" (1977), "Năm 1975 họ đã sống như thế" (1978), "Đất trắng" (1979); đặc biệt là các tiểu thuyết ra đời trong thập kỉ
80 và 90: "Chim én bay" (1985), "Gió không thổi từ biển" (1985), "Mùa lá rụng trong vườn" (1985), "Nước mắt đỏ" (1988), "Tiễn biệt những ngày buồn" (1988), "Vòng tròn bội bạc" (1990), "Thân phận của tình yêu" (1990), "Ăn mày dĩ vãng" (1994)….đã mở ra những bình diện đổi mới đa dạng, phong phú,
nhiều vẻ của mảng văn học chiến tranh mà sự đổi mới cảm hứng sáng tác làmột bình diện tiêu biểu
Cũng như nhiều bình diện đổi mới khác của văn học sau 1975 nói chung
và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng, sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác đãgây nhiều sự quan tâm, chú ý của giới nghiên cứu, phê bình Tuy nhiên cáccông trình nghiên cứu về sự chuyển hướng cảm hứng sáng tạo này mới chỉdừng lại trong giới hạn của bài báo, tham luận hay ý kiến, nhận định nhân cáchội thảo bàn về văn học viết về chiến tranh Ngoài các bài báo được đăng tải
trên các tạp chí quen thuộc như Văn nghệ Quân đội, Văn nghệ, Tạp chí Văn học, đáng chú ý phải nói đến các tham luận được trình bày trong hội thảo "50 năm Văn học Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám" do khoa Ngữ Văn- Đại
học Sư phạm, khoa Ngữ Văn- Đại học Tổng hợp cùng với trường viết văn
Nguyễn Du và tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày
3-6-1995 44 báo cáo, tham luận của các nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứuvăn học có tên tuổi như: Chu Lai, Xuân Thiều, Đinh Xuân Dũng, Lã Nguyên,
Trang 6Nguyễn Văn Long, Vương Trí Nhàn… đã bàn luận đến nhiều vấn đề của tiểuthuyết viết về chiến tranh sau 1975 ở cả phương diện tích cực và tiêu cựcnhưng cơ bản vẫn đặc biệt lưu tâm đến sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác
của nhà văn Năm 1990, tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh
được trao giải thưởng Hội nhà văn đã dấy lên một làn sóng tranh luận với nhiều
ý kiến khen- chê Ngày 24-8-1991, tuần báo Văn nghệ tổ chức thảo luận về tiểu
thuyết "Thân phận của tình yêu" của Bảo Ninh với sự góp mặt tham dự của:
Trần Đình Sử, Nguyên Ngọc, Vũ Quần Phương, Chu Lai, Từ Sơn Ngoài các
ý kiến được đăng tải trên báo chí, các tham luận được trình bày trong các hộithảo, vấn đề cảm hứng bi kịch trong tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 cũngđược đề cập tới rải rác trong các công trình nghiên cứu về văn xuôi giai đoạn
này, tiêu biểu có thể kể đến luận án "Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật sau 1975" của Tiến sĩ Nguyễn Thị Bình Qua các công trình nghiên cứu của
mình, các nhà nghiên cứu đều khẳng định có sự xuất hiện của cảm hứng bi kịchtrong các sáng tác viết về chiến tranh sau chiến tranh ở mức độ đậm nhạt khácnhau Có thể nhận thấy dấu ấn của cảm hứng này trên nhiều bình diện của tiểuthuyết sau 1975 như: hướng tiếp cận hiện thực, việc miêu tả số phận con ngườihay nghệ thuật xây dựng tình huống, tạo dựng giọng điệu…
Khảo sát tiểu thuyết sau 1975, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy khimiêu tả, tái hiện hiện thực, các cây bút tiểu thuyết đều bộc lộ một nhu cầu
"được thành thực" hết sức mãnh liệt Chiến tranh vì thế không còn được mô tảtrong vị thế độc tôn của cảm hứng lãng mạn ngợi ca, mà được tái hiện lạibằng sự trải nghiệm có tính cá nhân, cá thể, gắn với những đau thương mất
mát có thực mà nó gây ra cho con người Nói cách khác, "nhà văn coi mình
có nhiệm vụ hấp dẫn là mổ xẻ thực tế chiến tranh, tìm đến các mặt khác nhau của hiện thực chiến tranh, dù đó là anh hùng hay hèn nhát, niềm vui hay nỗi buồn, chiến công hay thất bại, chiến thắng và những cái giá phải
Trang 7trả cho chiến thắng, không chỉ phải trả ngay trong chiến tranh, mà còn phải tiếp tục phải trả cả những năm dài sau chiến tranh"[42] Đồng tình với
ý kiến của Đinh Xuân Dũng, Ngô Thảo trong bài "Thử nhìn lại mức độ chânthực của các tác phẩm viết về chiến tranh và quân đội" cũng khẳng định
"Không mô tả những chi tiết nặng nề bi thảm của chiến tranh là xuyên tạc
bộ mặt thật của chiến tranh trong ý thức loài người"[73] Việc đào xới sâu
vào những góc khuất của hiện thực, dũng cảm nói lên những sự thật có thựctrong cuộc chiến tranh vừa qua của dân tộc như tâm lí hoang mang, dao động,nỗi bi quan, chán nản, sự thương vong, chết chóc đã chứng tỏ nỗ lực cố gắngkhắc phục sự phiến diện trong cách tiếp cận hiện thực chiến tranh của văn họctrước đó Nỗ lực đổi mới hướng tiếp cận hiện thực này được giới phê bìnhđánh giá cao song đồng thời cũng chỉ ra nhiều nhược điểm, hạn chế LêThành Nghị trong bài "Tiểu thuyết viết về chiến tranh, mấy ý kiến góp bàn"
cho rằng nhiều tác giả đã có "những nỗ lực quá đà" và " để khắc phục sư phiến diện, không phải trước đây viết về anh hùng thì lúc này viết về phi anh hùng, trước đây viết về cái tích cực, lúc này viết về cái tiêu cực (…) Không nên cho rằng viết về cái tiêu cực mới là viết về sự thật, mới là " dám" viết sự thật"[69.172] Nhận xét về hướng khám phá hiện thực của tiểu thuyết
chiến tranh nói riêng và văn xuôi viết về chiến tranh sau 1975 nói chung,
Xuân Thiều một mặt khẳng định: " đã có những nét mới trong cách nhìn nhận đánh giá hiện thực trong chiến tranh trung thực hơn, mạnh dạn hơn" , song mặt khác cũng thừa nhận: " bên cạnh những quan điểm đổi mới đích thực lành mạnh đã xuất hiện những quan điểm cực đoan, mà nguy hại nhất là quan điểm phủ định quá khứ (…), vẽ lên những khung cảnh ảm đạm giả tạo, nặn lên những nhân vật trong chiến tranh như những con thú nhằm khơi dậy sự uỷ mị, chán ngán"[69.145] Cũng một quan điểm như vậy,
Hồ Phương nhận định rằng nhiều tác giả hôm nay " không hề né tránh tất cả
Trang 8sự tàn khốc của chiến cuộc tranh Viết về những nội dung tàn khốc ấy, các tác giả có ước muốn qua đó có thể làm rõ hơn, sống động hơn sức chịu đựng, lòng hi sinh của con người, cũng như làm cho cái giá và ý nghĩa của chiến thắng được thấy rõ hơn(…) Viết về sự tàn khốc của chiến tranh là điều cần phải làm, nhưng viết như thế nào để không là mờ mất tính chất của cuộc kháng chiến ấy, để cuối cùng người đọc có thể chỉ thấy toàn chuyện chết chóc, ghê sợ và muốn chối bỏ"[69.153]
Bên cạnh các ý kiến khái quát, mang tính nhận định chung về hướngtiếp cận hiện thực chiến tranh của văn xuôi sau 1975 nói chung và tiểu thuyếtnói riêng, giới nghiên cứu phê bình cũng thể hiện những đáng giá, nhận định
cụ thể ở nhiều tác phẩm Điều này được thể hiện trong các cuộc tranh luận
khá sôi nổi xung quanh các tiểu thuyết: "Đất trắng" (Nguyễn Trọng Oánh),
"Ăn mày dĩ vãng" , " Vòng tròn bội bạc"(Chu Lai), "Thân phận của tình yêu"
(Bảo Ninh)… Với việc phản ánh một cuộc chiến tranh đầy khốc liệt, tổn thất
và những mầm mống của những dao động, phản bội đã xuất hiện ở một số
nhân vật có cấp bậc cao, ngay từ khi mới ra mắt bạn đọc, " Đất trắng" (1977)
của Nguyễn Trọng Oánh đã vấp phải luồng sóng phê phán mạnh mẽ Tuynhiên, cùng với thời gian - đặc biệt là tác động của phong trào đổi mới vănhọc sau 1975, giới phê bình đã có những đánh giá công bằng hơn về tiểu
thuyết này Giải thưởng Hội nhà văn được trao cho " Đất trắng" sau đó đã khẳng
định giá trị của tác phẩm cũng như sự thành công trong hướng tìm tòi, khámphá hiện thực chiến tranh mới mẻ của nhà văn
Tiểu thuyết chiến tranh của Chu Lai sau 1975 thực tế cũng gây nhiềutranh luận với những luồng ý kiến khác nhau, song chủ yếu vẫn là khen ngợi
"
Qua những cuốn sách gần đây viết về chiến tranh", nhà phê bình Lê Thành Nghị nhận thấy Chu Lai " đã không ngần ngại đưa ra ánh sáng những điều lâu nay còn dấu kín"[74] Bùi Việt Thắng trong bài " Một cách tái hiện chiến
Trang 9tranh" cũng nhận định: " Viết về chiến tranh còn có ý nghĩa là viết về hậu quả của nó(…) Vòng tròn bội bạc của Chu Lai … xoáy vào những vết thương của chiến tranh trong lòng người và cách thức của con người chữa trị những vết thương đó" [83] Khảo sát các tiểu thuyết chiến tranh và tập truyện
"Thân phận của tình yêu"- đó là sự bao trùm của hứng thú viết về nỗi buồn,
của cảm hứng bi kịch Từ vị thế của một nạn nhân khốn khổ, hiện thực chiếntranh đã được nhà văn miêu tả với toàn bộ tính phi nhân gớm guốc của nó.Với cách nhìn hiện thực chiến tranh đậm màu sắc bi kịch của nhà văn, xung
quanh tiểu thuyết " Thân phận của tình yêu" đã nổ ra nhiều cuộc tranh luận gay gắt với những ý kiến khen chê khá quyết liệt Trong cuộc thảo luận về "Thân phận của tình yêu" do báo Văn nghệ tổ chức ngày 24/8/1991, Giáo sư Trần Đình Sử cho rằng Bảo Ninh " đã lộn trái cuộc chiến tranh ra để ta được nhìn vào cái phía trong bị che khuất" [72] Đồng tình với Trần Đình Sử trong việc
ủng hộ hướng khám phá, tiếp cận hiện thực của Bảo Ninh, nhà văn Nguyên
Ngọc khẳng định tác phẩm " là sự nghiền ngẫm về chiến thắng; nó chỉ cho
Trang 10chúng ta biết rằng chúng ta đã làm nên chiến công vĩ đại thắng Mỹ với cái giá ghê gớm biết chừng nào" [72] Theo Nguyên Ngọc, miêu tả chiến tranh
bằng cảm hứng bi kịch, chỉ ra những thảm cảnh đau thương, bi đát do chiến
tranh mang lại, nhà văn muốn cất lên tiếng nói thống thiết: "phải sống sao hôm nay cho xứng đáng với quá khứ từng quá thiêng liêng và đau đớn như vậy" Đối lập với các ý kiến đồng tình, ủng hộ Bảo Ninh – Từ Sơn cho rằng:
"
Âm hưởng của tác phẩm còn đậm chất bi, âm hưởng hùng còn bị chìm lấp đâu đó, chưa tạo nên đầy đủ nét bi hùng của một thời đã qua"[72] Vũ Quần Phương nhận thấy Bảo Ninh " đã đánh mất cái hào khí rất đẹp của năm tháng
ấy, có thể nó ấu trĩ nhưng nó có Có cảm giác tác giả có những điều không hài lòng nên có cái nhìn thiên kiến, có chỗ cực đoan" [72] Sau cuộc hội thảo
do báo Văn nghệ tổ chức, "Thân phận của tình yêu" vẫn tiếp tục là tâm điểm
chú ý của nhiều bài viết trên các tờ báo, tạp chí trong suốt một thời gian dài
Đặt câu hỏi "Nghĩ gì khi đọc Thân phận của tình yêu" trên báo Văn nghệ số 43/1991, Đỗ Văn Khang thẳng thắn cho rằng "lẽ ra không nên in vội Thân phận của tình yêu" Hồ Phương tỏ ra khách quan hơn với nhận xét: " Nỗi buồn chiến tranh xứng đáng là một sự khai mở, với văn phong, với cấu trúc mới
mẻ khác rất nhiều những tác phẩm về chiến tranh trước nó Chỉ đáng tiếc cái nhìn của tác giả về cuộc kháng chiến lại quá buồn bã và cũng là đáng
sợ hãi, kể cả cay đắng" [78] Có thể nói, xuất bản năm 1991, tiểu thuyết
"Thân phận của tình yêu"đã gây "sốc" cho một bộ phận công chúng không
nhỏ bởi chính bức tranh hiện thực tàn khốc, nghiệt ngã mà nhà văn miêu tảtrong tác phẩm- thậm chí có người còn quyết liệt cho rằng không nên trao giảithưởng Hội nhà văn cho Bảo Ninh Phản ứng này cũng là điều dễ hiểu khi lâunay chúng ta đã quen với những trang viết hoành tráng, hào sảng về cuộcchiến tranh thần thánh vừa qua của cả dân tộc
Trang 11Miêu tả chiến tranh bằng cái nhìn ít nhiều mang màu sắc bi kịch, cácnhà văn đã đem đến cho văn học thời kì này âm hưởng lặng lẽ, khắc khoải củanỗi buồn chiến tranh mênh mang Niềm đau u ẩn đó không phải là cái hư vô
ảo ảnh mà được chạm khắc thành hình khối ngay trên thân phận bé nhỏ củacon người Nhân vật của tiểu thuyết chiến tranh sau 1975 vì thế đã trở thànhđối tượng gửi đi bức thông điệp u buồn của nhà văn tới tất cả bạn đọc Nhậnthấy sự thay đổi trong cách xây dựng nhân vật, tạo dựng hình tượng của tiểu
thuyết sau 1975, Tôn Phương Lan khẳng định: " Càng lùi về cuối thập kỷ 80,
sự thật trong văn chương viết về chiến tranh càng được biểu hiện theo một hướng khác (…) Con người trở thành đối tượng khám phá của cả người viết lẫn người đọc, và hiện thực chiến tranh với đầy đủ tính chất ác liệt của
nó đã được hiện lên qua số phận và thế giới nội tâm của con người (…) Sắc thái của nhân vật trong văn xuôi chiến tranh có phong phú hơn và tính phản quang của đời sống thông qua hệ thống nhân vật đã làm cho văn xuôi trở nên sinh động" [63]
Cũng như Tôn Phương Lan, Hồ Phương nhận thấy một trong những tìmtòi không mệt mỏi của tác phẩm viết về chiến tranh sau 1975, đặc biệt là trong
thập kỷ 80 và 90 là " những vấn đề về số phận con người đã được chú ý đào xới, khai thác một cách khá sâu sắc (…) Gắn liền với việc viết sâu về tính cách và số phận con người trong chiến tranh, mặt bi kịch của chiến tranh cũng đã được miêu tả sâu sắc, chân thực hơn trước" [77] Bàn về quan niệm
và cách thể hiện con người trong văn xuôi sau 1975 khi trình bày " Mấy suy nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách mạng" tại Hội thảo "50 năm văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám", Xuân Thiều nhận định: " Sự quan tâm của phần lớn các nhà văn viết về chiến tranh là âm vang chiến tranh, nghĩa là viết về số phận con người thời kì hậu chiến mà chiến tranh dù đã
đi qua vẫn để lại những dấu ấn khó quên, chiến tranh đã đưa đẩy họ tới
Trang 12những nẻo bất ngờ, ở đấy có thể có niềm vui, nỗi buồn, có tình yêu thương
và lòng căm thù, có lòng dũng cảm và tính đớn hèn, có lòng trung thành và những phút giây dao động" [69.140]
Như vậy, khi xem xét hệ thống nhân vật của tiểu thuyết chiến tranh sau
1975, giới nghiên cứu phê bình đều nhận thấy các cây bút thời kỳ này tỏ rađặc biệt quan tâm đến số phận con người Ở đó những bi kịch cá nhân riêng tư
mà chiến tranh dù trực tiếp hay gián tiếp cũng đều để lại hậu quả đau lòng…
đã được nhà văn đề cập tới không ngần ngại Phản ánh bộ mặt của chiến tranhqua thân phận con người, tiểu thuyết chiến tranh thời kì hậu chiến cho thấydấu ấn của cảm hứng bi kịch không chỉ thể hiện qua bức tranh hiện thực toàncảnh mà còn thể hiện ngay trong cuộc đời cụ thể của mỗi nhân vật trong tácphẩm
Khảo sát các tiểu thuyết viết về chiến tranh hôm nay, các nhà phê bìnhnhận thấy con người – nhân vật văn học đang trút bỏ "bộ cánh xã hội" củamình để trở về với bản chất tự nhiên, gắn với những quan hệ đời thường vànhững vui buồn giản dị của cuộc sống con người Và vì thế âm hưởng ngợi calãng mạn không còn vị thế thống trị trong nền văn học nước nhà như trướcđây Điều này tác động đến sự thay đổi giọng điệu của văn học hôm nay nóichung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng Hồ Phương cho rằng bên cạnh
giọng say sưa lãng mạn " văn học hôm nay đã có những giọng dung dị và trầm tĩnh, có giọng thô mộc và dân dã, trong khi đó lại có những giọng rất
bỗ bã, suồng sã, và có cả những giọng sát phạt, góc cạnh…đã xuất hiện những giọng buồn sâu lắng, lắm lúc đến cay đắng" [69.135].
Sơ lược qua một số ý kiến, nhận định trên đây của một số nhà nghiêncứu, phê bình, người viết luận văn nhân thấy tiểu thuyết viết về chiến tranhsau 1975 thực sự trở thành tâm điểm chú ý của công chúng, khuấy động đờisống văn học vốn đang trở nên phẳng lặng sau chiến thắng oanh liệt 30 năm
Trang 13ồn ào đạn bom của dân tộc Những ý kiến, nhận định đó rất phong phú, đadạng đã bàn đến nhiều phương diện đổi mới của văn học chiến tranh sau 1975
- đặc biệt là sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác được biểu hiện cụ thể quacách nhìn về chiến tranh của nhà văn Nhiều ý kiến đánh giá cao vị trí củamảng văn học này, ủng hộ sự đổi mới tìm tòi của các cây bút san 1975 Họcho rằng nhà văn có quyền viết về nỗi buồn, về bi kịch và chính từ những bikịch này mà hiện thực chiến tranh mới được tái hiện lại trong bản chất đíchthực của nó Tuy nhiên, bên cạnh những lời đồng tình, ủng hộ là những tiếngnói phê phán khá gay gắt, quyết liệt Họ cho rằng các nhà tiểu thuyết sau 1975
đã cho ra đời những tác phẩm viết về chiến tranh theo khuynh hướng bóp méohiện thực, chỉ tập trung đi tìm những mất mát, đau thương, bi thảm, éo le, độc
ác xảy ra trong chiến tranh và coi đó là toàn bộ hiện thực chiến tranh Như thế
là phủ nhận ý nghĩa của cuộc kháng chiến gian lao mà vĩ đại vừa qua của cảdân tộc Có một sự khách quan, công bằng hơn, nhiều nhà nghiên cứu – phêbình vừa nhận thấy chỗ mạnh đồng thời vừa nhìn thấy điểm yếu của tiểuthuyết về chiến tranh sau 1975 Những nhà phê bình này cho rằng việc miêu
tả chiến tranh bằng cái nhìn bi kịch khiến cho hiện thực chiến tranh hiện lênsắc nét, chân thực với mọi góc cạnh thô ráp, xù xì của nó – nhưng cũng lạiđánh mất đi yếu tố chân thực quan trọng không kém khác: cái hùng, cái tráng
là âm hưởng có thực của thời đại một thủa
Mặc dù còn nhiều luồng ý kiến khen chê khác nhau song người viết luậnvăn nhận thấy các ý kiến, nhận định của giới nghiên cứu – phê bình đều thừanhận dấu ấn của cảm hứng bi kịch trong mảng văn học chiến tranh sau 1975nói chung và tiểu thuyết nói riêng Tất nhiên, ở mỗi tác phẩm cụ thể cảm hứng
bi kịch đó được biểu hiện ở những mức độ đậm nhạt khác nhau Phá vỡ vị thếđộc tôn của cảm hứng ngợi ca lãng mạn, sự xuất hiện của cảm hứng bi kịchtrong văn học chiến tranh sau 1975 xét cho cùng là một tất yếu khi văn học đãhoàn thành chức năng lịch sử của mình và nhà văn với nhu cầu "được thànhthực" đã có đủ độ lùi thời gian cần thiết để nghiền ngẫm lại hiện thực
Trang 14Thừa nhận tính tất yếu, khách quan của sự chuyển hướng cảm hứngsáng tác trong văn học viết về chiến tranh sau 1975, các nhà nghiên cứu – phêbình cũng đồng thời quan tâm đến nhiều phương diện biểu hiện khác nhau củacảm hưng bi kịch Bàn về các phương diện biểu hiện này, các ý kiến đánh giá,phân tích tương đối thống nhất khi cho rằng cảm hứng bi kịch được thể hiệnthông qua toàn bộ chỉnh thể nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, từ cáchmiêu tả hiện thực, quan niệm về con người cho tới nghệ thuật xây dựng tìnhhuống, bố trí không gian, thời gian, tạo dựng giọng điệu.
Khảo sát tình hình nghiên cứu cảm hứng bi kịch trong văn học chiếntranh sau 1975, người viết luận văn nhận thấy đây là một vấn đề gây nhiều
tranh cãi Chọn đề tài "Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975, người viết không có ý định khuấy động lại
những tranh cãi mà chỉ muốn đưa ra quan điểm có tính cá nhân đồng thời cắtnghĩa, lí giải trong tính hệ thống các đặc điểm khu biệt của một mảng văn học
mà ngay từ khi mới xuất hiện đã thu hút sự chú ý của đông đảo công chúng.Đây là điều mà không nhiều công trình nghiên cứu có quy mô đã làm được.Vấn đề cảm hứng bi kịch trong văn học chiến tranh sau 1975 đã được các nhànghiên cứu đề cập tới từ rất sớm song khuôn khổ hạn hẹp của một bài báo,một cuộc thảo luận, trao đổi, chỉ cho phép người nghiên cứu dừng lại ở việcnêu vấn đề chứ chưa thực sự nhìn nhận, xem xét, lí giải nó trong tính hệthống Đóng góp của luận văn này chính là việc đặt cảm hứng bi kịch của vănhọc chiến tranh sau 1975 trong sự vận động đổi mới của văn học dân tộc, xemxét quá trình vận động, phát triển cũng như các phương diện biểu hiện củanó…, từ đó đem đến cho người đọc cái nhìn toàn diện về vị trí của mảng vănhọc này, đánh giá đúng những giá trị nhân văn, nhân bản cao đẹp vốn được ẩnkín trong mạch ngầm, đằng sau những đau thương, bi kịch mà chiến tranhmang lại
Trang 15III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.Đối tượng nghiên cứu:
Với đề tài "Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975, người viết luận văn không có tham vọng nghiên cứu
toàn bộ các tiểu thuyết chiến tranh được sáng tác sau 1975 mà chỉ dừng lạikhảo sát một số tác phẩm tiêu biểu của văn học giai đoạn này Mặt khác, nhữngnăm tháng sau ngày giải phóng, cái không khí hào hùng một thủa và niềm vuithắng trận vẫn tiếp tục làm con người ngây ngất Bởi vậy các tiểu thuyết viết vềchiến tranh ngay sau chiến tranh với cảm hứng chủ đạo là ngợi ca lãng mạn làchủ yếu, đã có sự xuất hiện của cảm hứng bi kịch song mới chỉ thấp thoáng đâu
đó trong một vài tác phẩm Kể từ sau Đại hội VI của Đảng với chủ trương
"nhìn thẳng vào sự thật", cảm hứng bi kịch đã xuất hiện đậm nét hơn trong vănhọc Từ thực tế sáng tác đó của các nhà văn, người viết luận văn chọn đốitượng nghiên cứu chủ yếu là các tiểu thuyết chiến tranh thời kì đổi mới - đặc
biệt là các tiểu thuyết ra đời trong thập kỷ 80 và 90 Đó là các tiểu thuyết: "Đất trắng" (1979), "Chim én bay" (1985),, "Nước mắt đỏ" (1988), "Tiễn biệt những ngày buồn" (1988), "Vòng tròn bội bạc" (1990), "Thân phận của tình yêu" (1990), "Phố" (1993), "Ăn mày dĩ vãng" (1994), …
Ngoài ra, để làm rõ hơn cảm hứng bi kịch trong văn học chiến tranh sau
1975, người viết luận văn mở rộng phạm vi khảo sát tới các truyện ngắn viết
về chiến tranh thời kì này Đó là chùm truyện ngắn viết về chiến tranh của
Nguyễn Minh Châu (Bức tranh, Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bên đường chiến tranh, Mùa trái cóc ở miền Nam, Cơn giông…), 49 cây cơm nguội (Nguyễn Quang Lập), Người sót lại của rừng cười (Võ Thị Hảo), Tiếng vạc sành (Phạm Trung Khâu)…
2 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 16Thực hiện đề tài " Cảm hứng bi kịch trong một số tiểu thuyết tiêu biểu viết về chiến tranh sau 1975", người viết đã sử dụng linh hoạt nhiều phương
pháp nghiên cứu để làm nổi bật cảm hứng bi kịch cũng như thể hiện chân xáccác phương diện biểu hiện của nó:
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Sử dụng phương pháp này, người viếtđặt văn học viết về chiến tranh sau 1975 nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong
sự so sánh với văn học và tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn trước, từ đó nhận ra
sự chuyển hướng cảm hứng sáng tác của nhà văn được thể hiện trên nhiều bìnhdiện (quan niệm về hiện thực, về con người, tình huống, giọng điệu )
- Phương pháp phân tích: Với phương pháp phân tích, người viết đã đisâu vào từng tác phẩm cụ thể, phân tích, thẩm bình từng chi tiết nghệ thuật đểlàm nổi bật tính bi kịch tiềm tàng trong mỗi nhân vật, mỗi tình tiết Phươngpháp phân tích đã giúp người viết tiếp cận được với nhiều phương diện biểuhiện khác nhau của cảm hứng bi kịch Đây là một phương pháp cơ bản mà luậnvăn đã sử dụng
- Phương pháp tổng hợp: Sử dụng phương pháp tổng hợp, người viếtluận văn có được một cái nhìn toàn diện về mảng văn học mà luận văn quantâm nghiên cứu Phương pháp này giúp người viết rút ra được những đặcđiểm cơ bản của cảm hứng bi kịch trong văn học chiến tranh sau 1975 cùngcác phương diện biểu hiện của nó
IV.CẤU TRÚC LUẬN VĂN:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dungcủa luận văn gồm 3 chương:
Chương I: Cảm hứng bi kịch trong cái nhìn về hiện thực.
Chương II: Mối quan hoài về số phận con người.
Trang 17Chương III: Một số thủ pháp nghệ thuật thể hiện cảm hứng bi kịch.
Trang 18Chương 1
CẢM HỨNG BI KỊCH TRONG CÁI NHÌN VỀ HIỆN THỰC.
I GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ KHÁI NIỆM
Là cảm hứng xuất hiện trong một số lượng đông đảo các tác phẩm viết
về chiến tranh sau 1975, nghiên cứu cảm hứng bi kịch cần phải đặt nó trong quan hệ với khái niệm cảm hứng chủ đạo Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã đưa ra định nghĩa cảm hứng chủ đạo như sau: " Cảm hứng chủ đạo là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn với một
tư tưởng ác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động đến cảm xúc của những người tiếp nhận tác phẩm.( ) Về sau LLVH xem cảm hứng chủ đạo là một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng
và xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả"[34] Cũng theo nhóm nghiên cứu này, " trong nghiên cứu Văn học hiện đại có người phân loại cảm hứng chủ đạo bi kịch, chính kịch, anh hùng, cảm thương, lãng mạn…" [34]
– hay còn gọi là cảm hứng bi kịch, chính kịch, cảm thương, lãng mạn
Như vậy, cảm hứng bi kịch là một trong số nhiều dạng cảm hứng sángtác của nhà văn, chứa đựng tình cảm, tư tưởng của nhà văn gắn liền với một
tư tưởng xác định, một cách đánh giá nhất định của tác giả và tác động được
đến cảm xúc của người tiếp nhận Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về cảm hứng bi kịch, cần đặt khái niệm này trong sự đối sánh với các khái niệm bi kịch, cái
bi Nếu cảm hứng bi kịch mang đậm dấu ấn chủ quan của nhà văn thì bi kịch
mang tính khách quan hơn trong vai trò là một thể loại văn học với những quy
định, khuôn mẫu thể loại riêng buộc người viết phải tuân thủ Đó là thể loại
"
dựa vào xung đột bi đát của các nhân vật anh hùng, có kết thúc bi thảm và tác phẩm đầy chất thống thiết"[34.19] Là một thể loại văn học, bi kịch xuất
Trang 19hiện từ rất sớm và nhanh chóng được công chúng hào hứng đón nhận Thế kỉ
V trước công nguyên, bi kịch cổ đại Hi lạp ra đời từ và thế kỉ XVI – XVIII,châu Âu bùng nổ sự phát triển của bi kịch cổ điển với nhiều tên tuổi: Sêchpia,
Raxin, Corney Được xem như là "một trạng thái tình cảm mãnh liệt", cảm
hứng bi kịch dường như đồng hành cùng với văn chương ngay từ thủa ban sơkhi con người có nhu cầu mượn văn chương để kí thác tâm trạng, giãi bày nỗi
niềm buồn vui đau khổ của mình Bởi vậy, không thể đồng nhất cảm hứng bi kịch với bi kịch dù giữa hai khái niệm này có sự gặp gỡ nhau ở trạng thái
buồn thảm, cảm xúc thương đau, có tính thống thiết
Bên cạnh sự tương đồng đó, cảm hứng bi kịch cũng có nhiều mối liên
hệ tương giao với khái niệm cái bi tuy không phải bao giờ chúng cũng trùng
khít với nhau Theo nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc
Phi – cái bi là "phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng có tính qui luật của thực tế đời sống xã hội thường diễn ra trong cuộc đấu tranh không ngang sức giữa cái thiện với cái ác, cái mới với cái cũ, cái tiến bộ với cái phản động trong điều kiện những cái sau còn mạnh hơn những cái trước Đó là sự trả giá tự nguyện cho những chiến thắng và sự bất tử về tinh thần bằng nỗi đau và cái chết của nhân vật chính diện Cái bi tạo một cảm xúc thẩm mỹ phức hợp bao hàm cả nỗi đau xót, niềm hân hoan lẫn nỗi sợ hãi khủng khiếp Cái bi thường đi liền với nỗi đau và cái chết, song bản thân nỗi đau và cái chết chưa phải là cái bi Chúng chỉ trở thành cái bi khi hướng tới và khẳng định cái bất tử về mặt tinh thần của con người"[70.31] Gắn cái bi với nỗi buồn, với đau thương, mất mát – " nhưng là
sự mất mát của lí tưởng, của cái cao cả, cái đẹp", nhóm tác giả Phương Lựu,
Lê Ngọc Trà, La Khắc Hoà khẳng định " cái bi rất gần gũi với cái cao cả"[71.160] Không phải là một phạm trù mỹ học mà là một trạng thái tình
cảm mãnh liệt gắn liền với một tư tưởng cụ thể của nhà văn nhằm tạo ra xúc
Trang 20cảm cho bạn đọc nhưng cảm hứng bi kịch có sự tương đồng với cái bi ở chỗ
"
đi liền với nỗi đau và cái chết", tạo ra "nỗi đau xót, niềm hân hoan và nỗi
sợ hãi khủng khiếp" Cảm hứng bi kịch vì thế được hiểu như là cái nhìn
mang nỗi thương đau, mang niềm xa xót, mang mối quan hoài thống thiết vềhiện thực, về con người Cái buồn đau, xa xót ấy được cất lên từ chínhnhững trái ngang, những oái oăm phạm vào cõi thiêng liêng của cái đẹp, cáithiện Cảm hứng bi kịch vì thế là cảm hứng viết về nỗi buồn chứ không phảiniềm vui, là nốt lặng trầm chứ không phải khúc hoan ca
Bàn về cái bi, Mác cho rằng " bản chất của cái bi là sự xung đột" - đó là
"xung đột giữa yêu cầu tất yếu về mặt lịch sử với việc không có khả năng thực hiện được yêu cầu đó trong thực tiễn" (Mác- Angghen toàn tập Tập 29,
tr 495) Với bản chất là sự xung đột, cái bi được biểu hiện trong phạm trù nộidung của tác phẩm Cảm hứng bi kịch có một bình diện thể hiện rộng lớnhơn- ở cả mặt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Được coi là yếu tố chủđạo của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng và xúc cảm củanghệ sĩ đối với thế giới được mô tả, cảm hứng bi kịch hiện diện ngay từ nộidung phản ánh của tác phẩm, từ cái nhìn về hiện thực, cách xây dựng nhânvật, xây dựng tình huống cho tới giọng điệu, ngôn ngữ và các biện pháp tổchức nghệ thuật khác của tác phẩm Nói cách khác, cảm hứng bi kịch đượcbiểu hiện thông qua các phức hợp các bình diện nội dung và hình thức trongmối quan hệ bổ khuyết cho nhau
Sau năm 1975, với chủ trương của Đảng "Đổi mới tư duy, nhìn thẳngvào sự thật, đánh giá đúng sự thật" (Báo cáo chính trị Ban chấp hành Trungương Đảng VI), văn học có bước chuyển mình với nhiều đổi mới trong quanniệm về hiện thực, về con người, về cảm hứng sáng tạo Văn học viết vềchiến tranh nói chung và tiểu thuyết nói riêng không nằm ngoài sự vận độngkhởi sắc ấy và thực tế mảng văn học này đã tạo nên được những nét đặc trưng
Trang 21riêng độc đáo của mình Khai thác đề tài chiến tranh, tiểu thuyết sau 1975mang tính đa dạng bởi cảm hứng sáng tác phong phú của các tác giả Vẫn còn
dư âm của cảm hứng lãng mạn anh hùng ca trong nhiều tiểu thuyết song phảithừa nhận một thực tế rằng ở một số lượng tác phẩm không nhỏ, cảm hứng bikịch đã xuất hiện với những mức độ đậm nhạt khác nhau Tập trung khám phánhững góc khuất của hiện thực mà trước đây cái nhìn lãng mạn ngợi ca khôngcho phép nói đến, các cây bút sau 1975 đã tạo nên một mảnh ghép hoàn hảo,giúp tái hiện hiện thực chiến tranh trong cái nhìn toàn cảnh, đa chiều Hơnbao giờ hết số phận con người với những bi kịch cá nhân riêng tư được nhàvăn đặc biệt quan tâm Tuy nhiên cần phải khẳng định rằng không phải chỉsau năm 1975 cảm hứng bi kịch mới xuất hiện trong các sáng tác văn học.Thực tế, ngay từ những sáng tác trước 1975 đã thấy có sự xuất hiện của cảmhứng này, dẫu là thoáng qua- như một tiên liệu cho những tìm tòi mạnh mẽ
hơn sau 1975 Ở "Dấu chân người lính" (1972), Nguyễn Minh Châu tỏ ra
quan tâm đến những bi kịch cá nhân riêng tư khi bộc lộ nỗi trăn trở về mốitình éo le giữa Lượng- một chiến sĩ cách mạng với Xiêm- vợ của một nguỵquân Sài Gòn Cuộc đời ông cụ Phang trong tiểu thuyết này cũng được miêu
tả gắn với bi kịch đau đớn, xót xa của một người cha có đứa con trai duy nhấtcầm súng trong hàng ngũ kẻ thù Một số tiểu thuyết sáng tác ngay sau ngàygiải phóng cũng tỏ ra hết sức nhạy cảm khi chạm vào bi kịch cá nhân riêng tưcủa con người vốn ít nhiều là hậu quả của chiến tranh Nguyễn Trí Huân táihiện được không khí chiến trận hào hùng của cả dân tộc những năm đánh Mĩ
trong tiểu thuyết "Năm 1975 họ đã sống như thế" (1978) nhưng cũng ngay ở
tác phẩm này dấu ấn của cảm hứng bi kịch đã xuất hiện Nhà văn ngoài việcmiêu tả con người với chức năng xã hội còn chú ý đến con người với tư cách
là một cá nhân, cá thể với những vấn đề riêng tư của mình Bởi vậy nhiềunhân vật trong tiểu thuyết được miêu tả trong những cảnh ngộ éo le riêng
Trang 22Mạc có nỗi đau khổ trong hạnh phúc riêng tư khi chồng đang lăn lộn ở chiếntrường miền Nam thì ở nhà vợ "ngang nhiên đi lại với một người đàn ôngkhác, bất chấp dư luận, bất chấp sự lên án của cơ quan, bạn bè"[6.181] Đốivới Duật, Phác nỗi đau lại đến từ phía người thân gia nhập vào hàng ngũ kẻthù, trở thành kẻ đối đầu bên kia chiến tuyến Bên cạnh việc quan tâm đếncảnh ngộ cá nhân, nhà văn đã tái hiện được một hiện thực chiến tranh trongcái nhìn mới mẻ khi không ngần ngại nhắc đến những hi sinh, thương vong,chết chóc, thậm chí cả những thất bại từ chính phía hàng ngũ cách mạng Ở
tiểu thuyết "Đất trắng", Nguyễn Trọng Oánh lại đi theo một hướng không thể hiện cảm hứng bi kịch từ những cảnh ngộ cá nhân mà từ nhữngbiểu hiện tiêu cực, đáng buồn ngay trong hàng ngũ những người lãnh đạo sưđoàn Tuy nhiên ở các sáng tác về chiến tranh trước 1975 và các sáng tácngay sau ngày giải phóng, cảm hứng bi kịch chưa trở thành cảm hứng chủ đạo
khác-mà mới chỉ là những dự cảm, những tiên liệu có tính khơi gợi, mở đường chocác sáng tác giai đoạn sau của Chu Lai, Lê Lựu, Bảo Ninh, Trung Trung
Đỉnh Đến "Chim én bay", "Nước mắt đỏ" , " Ăn mày dĩ vãng" , " Thời xa vắng" ,
"
Thân phận của tình yêu" , " Vòng tròn bội bạc" , " Ba lần và một lần" dấu ấn của
cảm hứng bi kịch đã được định hình rõ rệt và trở thành sợi dây liên kết cáctiểu thuyết viết về chiến tranh sau chiến tranh trong một sự gặp gỡ, đồng cảm.Nghiên cứu cảm hứng bi kịch thể hiện qua một số tiểu thuyết tiêu biểu viết vềchiến tranh sau1975- đặc biệt là các tiểu thuyết thời kì đổi mới, người viếtluận văn mong muốn đem đến cho người đọc cái nhìn có tính hệ thống hơn về
sự liên kết, gặp gỡ đó
II TỪ BẢN HÙNG CA CHIẾN TRẬN CỦA VĂN HỌC TRƯỚC 1975
Lấy đề tài từ hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc kéo dài suốt
30 năm- chống thực dân Pháp, đế quốc Mĩ- văn học Việt Nam trước 1975 đãbao quát và tái hiện được một bức tranh hiện thực rộng lớn Đó không phải là
Trang 23mảng hiện thực gắn với những mảnh đời nhỏ bé, những số phận bất hạnh,những mộng tưởng cá nhân như trong văn học 1930- 1945 mà là hiện thựcchiến trường kéo dài từ Bắc tới Nam Mỗi một miền quê, mỗi một cánh rừng,mỗi một triền sông đều được miêu tả như một trận tuyến đánh quân thù vớikhông khí sục sôi, nóng bỏng Không gian được tái hiện trong tác phẩm vì thếkhông còn là không gian của một ngôi nhà, một căn gác nhỏ mà là không giancủa các chiến dịch, các mặt trận, các ngả đường hướng ra tiền tuyến trên khắpmọi miền tổ quốc Hàng loạt các tiểu thuyết ra đời trong thời kì này đã baoquát hiện thực chiến tranh rộng lớn và phản ánh được hơi thở hừng hực của
thời đại máu lửa này Tiêu biểu có thể kể đến: "Xung kích" (Nguyễn Đình Thi), "Hòn đất" (Anh Đức), "Mẫn và tôi" (Phan Tứ), "Đất nước đứng lên" (Nguyên Ngọc), "Trước giờ nổ súng" (Lê Khâm), "Dấu chân người lính" (Nguyễn Minh Châu), "Chiến sĩ" (Nguyễn Khải), "Vùng trời" (Hữu Mai)
Mảnh đất hiện thực được các nhà văn mở rộng phạm vi- không chỉ miêu tảcuộc kháng chiến của dân tộc trên một dải đồng bằng quen thộc của ngườiKinh mà còn vươn tới những cánh rừng đại ngàn trên dẻo cao để phản ánh ýchí quật cường của đồng bào dân tộc thiểu số Bana, Êđê, Sơđăng Bóngchiến tranh được tái hiện từ những trận đánh đối đầu ác liệt rát lửa đạn bom;
từ những chiến dịch được chuẩn bị công phu hàng tháng trời; từ công tácchuẩn bị sôi nổi, hăng hái cho một chiến dịch; từ không khí thi đua sản xuấtchuẩn bị sức người, sức của ở hậu phương để cung cấp cho tiền phương Vớilợi thế về dung lượng, thể loại tiểu thuyết thực sự đã đáp ứng được tham vọngbao quát hiện thực rộng lớn của nhà văn Sự kiện, biến cố xuất hiện liên tiếp
là một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết viết về chiến tranh thời kì này Sự dồnnén một khối lượng lớn các sự kiện, biến cố trong tiểu thuyết đã phác hoạđược bối cảnh không hề phẳng lặng yên bình của thời đại Mở rộng phạm viphản ánh, tiểu thuyết viết về chiến tranh trước 1975 tạo được tầm vóc của
Trang 24mình từ chính hiện thực miêu tả rộng lớn và hoành tráng đó Dáng đứng hiênngang, tầm vóc kì vĩ, lớn lao của dân tộc thực tế cũng được tôn vinh từ chínhcái nền hiện thực ấy.
Đưa vào tiểu thuyết một bức tranh hiện thực phong phú, rộng lớn- vănhọc thời kì này đã bứt khỏi giọng điệu buồn thương, sầu mộng của văn học1930- 1945 để cất lên âm hưởng lãng mạn hào sảng, tươi vui Do sự chi phốicủa khuynh hướng sử thi như một đặc điểm bao trùm nền văn học thời kìchiến tranh, tiểu thuyết giai đoạn 1945- 1975 nhìn chung không hướng tớitính đa thanh mà chủ yếu hướng đến sự đồng nhất trong quan điểm của ngườitrần thuật, quan điểm của nhân vật chính với quan điểm của quần chúng đểtạo nên một giọng điệu chung Bởi vậy cái tôi riêng tư của nhà văn hoà tantrong cái ta cộng đồng, hơi thở của cá nhân hoà cùng hơi thở của dân tộc vàtiếng nói của văn học thời kì này đồng thời cũng là tiếng nói của cả dân tộc
"những buổi vui sao cả nước lên đường" (Chính Hữu) Với giọng điệu ngợi calãng mạn, tiểu thuyết về chiến tranh trước 1975 đã phản ánh được cái xônxao, náo nức trong mỗi con người Việt Nam Đối với họ, đường ra trận làđường đẹp nhất và "những ngày tôi sống đây là những ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn’’ (Chế Lan Viên) Tiểu thuyết "Dấu chân người lính" (Nguyễn Minh Châu) đầy ắp không khí nóng bỏng, nhiệt tình,
hăng say của triệu triệu con người Việt Nam hướng về tiền tuyến Từ Kinh,Lượng đến Khuê, Lữ, Hoạt là sự nối tiếp của các thế hệ "lớp cha trước, lớpcon sau" như một dòng chảy hiện thân cho sức sống bất diệt của đất nước, quê
hương "Dấu chân người lính" không chỉ là dấu chân hành quân của các binh
đoàn mà còn là bước đi của các thế hệ, của cả dân tộc trên chặng đường "Xẻdọc Trường Sơn đi cứu nước" Âm hưởng hùng ca tráng lệ ấy cũng là âmhưởng chung của tiểu thuyết nói riêng và văn học 1945-1975 nói chung
Những cái tên "Xung kích" , " Đất nước đứng lên" , " Sống mãi với thủ đô" , " Dấu
Trang 25chân người lính" ," Vùng trời"…ngay từ tựa đề đã cho thấy nội dung sử thi ngợi
ca tầm vóc, dáng đứng của dân tộc
Bên cạnh việc ca ngợi tổ quốc, quê hương, tiểu thuyết thời kì này dù tiếpcận hiện thực từ góc độ nào cũng đều hướng đến làm nổi bật hình tượng conngười Việt Nam với những phẩm chất tốt đẹp đáng quí, đáng yêu Chiến tranhchính là hoàn cảnh, là điều kiện để cái đẹp đó trong con người thăng hoa, toảsáng và tính khốc liệt của cuộc chiến trở thành một thứ dung môi thử thách,khẳng định phẩm chất của con người Bởi vậy, tiểu thuyết viết về chiến tranhtrước 1975 đề cập nhiều đến niềm vui và chiến thắng- những mất mát đauthương nếu có thì chỉ là nhân tố góp phần tôn vinh vòng nguyệt quế trên đầungười chiến thắng Kiểu kết thúc "ta thắng địch thua", "chính nghĩa thắng phinghĩa" đã trở thành kiểu kết thúc phổ biến, quen thuộc của các tác phẩm vănhọc thời kì này Bị chi phối bởi cảm hứng lãng mạn ngợi ca, tiểu thuyết sau
1975 đặc biệt ít viết về cái chết, về thương vong, tổn thất Những mất mát nếu
có được nói đến cũng là nhằm thể hiện chất "hùng", chất "tráng" của chủ nghĩaanh hùng cách mạng Sự hi sinh của chị Sứ (Hòn đất- Anh Đức), Lữ (Dấu chânngười lính- Nguyễn Minh Châu)… được miêu tả mang đậm dấu ấn của cảmhứng lãng mạn, ngợi ca đó Tinh thần "quyết tử cho tổ quốc quyết sinh" đã đemđến cái nhìn hào sảng về những gì tưởng là mất mát đau thương ấy
Tái hiện hiện thực bằng cái nhìn sử thi và cảm hứng lãng mạn ngợi ca,tiểu thuyết trước 1975 đồng thời cũng xây dựng nên hàng loạt các mẫu hình lítưởng Nhân vật của tiểu thuyết thời kì này không phải là những con ngườibước ra từ cuộc sống bình thường Chiến tranh là môi trường bất thường nên
đã sản sinh ra những con người cũng hết sức đặc biệt Ở họ có sự kết tinh của
vẻ đẹp thời đại, của thế hệ và vì thế họ được xem như là hiện thân, là đại diệncủa cộng đồng, của dân tộc Sống trong thời đại "muôn người như một",gương mặt cá nhân phản ánh khuôn mặt cộng đồng, vẻ đẹp cá nhân thắp sáng
Trang 26vẻ đẹp tập thể, các nhà văn đã xây dựng thành công các mẫu hình nhân vật lí
tưởng trong sáng tác của mình Chị Trần Thị Lý (Người con gái Việt Nam), chị Sứ (Hòn đất), chị út Tịch (Người mẹ cầm súng)… đã trở thành biểu
tượng của người phụ nữ Việt Nam trung hậu đảm đang, kiên cường, bất
khuất Việt, Chiến (Những đứa con trong gia đình) Lữ, Khuê, Hoạt (Dấu chân người lính)… là hiện thân của thế hệ trẻ Việt Nam đầy hăng say, nhiệt
tình trên chặng đường hành quân cứu nước Hình tượng người lính trong vănhọc 1945- 1975 dù vô danh hay hữu danh thì từ một em bé giao liên, một côthanh niên xung phong, anh lái xe cho tới người lính công binh, chàng pháothủ… đều mang khuôn mặt chung của cả dân tộc Ở họ có sự kết tinh những
vẻ đẹp của con người Việt Nam như: lòng dũng cảm, tinh thần yêu nước, ýchí chống giặc… Cách xây dựng nhân vật mang tính lí tưởng đó đã góp phầntạo nên âm hưởng hào hùng, tráng lệ cho bản hùng ca chiến trận năm xưa của
cả dân tộc
Với yêu cầu phục vụ kháng chiến, hướng về đất nước, nhân dân- vănhọc thời kì này nói chung và tiểu thuyết viết về chiến tranh nói riêng đã hoànthành tốt sứ mệnh lịch sử cao cả của mình
III ĐẾN NỖI BUỒN CHIẾN TRANH THỜI KÌ HẬU CHIẾN:
1 Chiến tranh được nhìn nhận bằng sự trải nghiệm cá nhân:
Một điều cần ghi nhận trong đội ngũ sáng tác của văn xuôi viết về chiếntranh sau 1975 là sự xuất hiện của hàng loạt các cây bút mới mà trong chiếntranh họ đứng ở vị trí người lính hoặc làm những công việc rất gần gũi vớicông việc của người lính: Chu Lai, Thái Bá Lợi, Nguyễn Trí Huân, KhuấtQuang Thuỵ, Bảo Ninh… Trong chiến tranh họ chưa xuất hiện với tư cách nhàvăn mà chỉ sau khi cuộc chiến đã khép lại thì những trang viết của họ mới ra
mắt công chúng và lập tức gây nhiều sự chú ý: "Hai người trở lại trung đoàn"(Thái Bá Lợi), "Chim én bay" (Nguyễn Trí Huân), "Phố" , " Ăn mày dĩ
Trang 27vãng" , " Vòng tròn bội bạc" (Chu Lai), "Thân phận của tình yêu" (Bảo Ninh)…
Thế hệ nhà văn này đã đem vào văn xuôi nói chung và tiểu thuyết về chiếntranh nói riêng sự trải nghiệm cá nhân của mình, của thế hệ mình đã tích luỹtrong những năm chiến đấu Họ hướng tới sự chân xác bằng sự từng trải, chiêmnghiệm của chính mình Bởi vậy, trong các tiểu thuyết sau 1975, chiến tranhkhông còn được miêu tả bằng kinh nghiệm cộng đồng, qua lăng kính tập thể
mà bằng con mắt cá nhân, kinh nghiệm cá nhân của nhà văn Ở mạch ngầm củanhiều tác phẩm như muốn cất lên một tiếng nói khẳng định: đây là chiến tranhnhư tôi biết, là thứ chiến tranh như tôi đã từng sống, đã từng trải nghiệm Vớiquan điểm đó, "những tác phẩm này thường lựa chọn điểm nhìn từ chiến hào
mà không có ý định mô tả toàn cục chiến trường hay bức tranh toàn cảnh củacuộc chiến tranh, mặc dù không gian của tác phẩm có lúc được mởrộng"[67.215] Điểm nhìn này cho phép nhà văn miêu tả cuộc chiến ở góc độtrực diện, phản ánh hiện thực bằng cái nhìn cận cảnh Những góc khuất củahiện thực chiến tranh mà trước đây bị che lấp bởi sự ồn ào của chiến thắng và lítưởng đã được mở ra trong tiểu thuyết sau 1975 Khi cuộc chiến đã khép lại,tiếng bom tiếng súng đã lắng xuống và vầng hào quang chiến thắng không cònlàm con người ngây ngất- thì sẽ bình tâm và công bằng hơn khi nhìn về nhữngđược mất mà chiến tranh mang lại Là những người đã từng cầm súng trước khicầm bút, thế hệ nhà văn như Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thuỵ,Bảo Ninh…thấm thía một điều rằng: cuộc chiến đã đi qua, vinh quang là cóthực nhưng những mất mát đau thương là không hề giả dối Không đứng trêndanh nghĩa cộng đồng và vị thế công dân để nhìn về cuộc chiến, họ đứng trênlập trường nhân bản, hướng về con người khi miêu tả chiến tranh Bản hùng cachiến trận năm xưa không còn vang vọng nguyên vẹn âm hưởng hào hùng,tráng lệ trong cuộc sống hôm nay Đứng trên lập trường nhân bản và bằng sựtrải nghiệm của cá nhân, các nhà tiểu thuyết sau 1975 tập trung khai thác mặt
Trang 28trái của chiến tranh, đặt ra những vấn đề nhức nhối có sức ám ảnh ghê gớm đốivới con người Đó là vấn đề số phận con người trong chiến tranh và sau chiếntranh, vấn đề tha hoá nhân cách, vấn đề nhân tính, tình người…
Như trên đã trình bày, tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975 thườnglựa chọn điểm nhìn từ chiến hào và điều này quyết định đến tính chân xác củahiện thực được miêu tả trong tác phẩm Tái hiện hiện thực chiến tranh quađiểm nhìn của người lính nơi chiến hào, các nhà tiểu thuyết đã chạm vào đượcbản chất cốt lõi của chiến tranh, miêu tả đến tận cùng tính khốc liệt, bạo tàncủa nó Nhà văn thường để nhân vật tự cất lên những suy nghĩ, cảm nhận vềchiến tranh từ sự trải nghiệm của cá nhân mình nên bao giờ chiến tranh cũngđược miêu tả gắn với nỗi thấm thía sâu sắc của con người Dốc cả tuổi thanhxuân tươi trẻ trên các mặt trận ác liệt nhất của chiến trường miền Nam, Hai
Hùng (Ăn mày dĩ vãng- Chu Lai) nhận ra rằng: "Chiến tranh… Là cái quái
gì ấy nhỉ? Phải chăng nó chỉ gói gọn trong một định nghĩa mộc mạc: Là ngày nào cũng thấy người chết nhưng lại chưa đến phiên mình chết?"[11.106] Những người còn sống mang trong mình nỗi buồn chán chiến
tranh, mệt mỏi vì "chờ đợi một kết cục không thể nào tránh thoát, như mộtđịnh mệnh đã an bài rồi"[11.106], kẻ xấu số bị đạn bom làm cho tuyệt diệtcũng không chịu lặng câm trong lòng đất mà vẫn gắng cất lên tiếng nói siêulinh từ cõi âm u, đượm mùi tử khí – tiếng nói của người đã nếm trải, kinh qua
mọi khốn khổ, kinh hoàng của chiến tranh: "Chiến tranh bẩn thỉu hơn tất cả mọi trò bẩn thỉu mà con người nghĩ ra"[1.302] Trong tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu", bộ mặt chiến tranh được Bảo Ninh miêu tả từ nhiều điểm
nhìn phong phú có tính chất bổ khuyết cho nhau Người bố dượng già nua của
Kiên quan niệm: "Nghĩa vụ của một con người trước Trời Đất là sống chứ không phải là hi sinh nó, là nếm trải sự đời một cách đủ ngọn ngành chứ không phải là chối bỏ…" Và lời khuyên của một người đã đi gần trọn cuộc
Trang 29đời với chàng thanh niên tuổi 17 mang trong mình niềm say mê lí tưởng, khao
khát khám phá những chân trời mới lạ, bí ẩn… mới thật là thấm thía: "hãy cảnh giác với tất cả những gì thúc giục con người lấy cái chết để chứng tỏ một cái gì đấy"[25.435] Đặt cuộc sống, sinh mệnh của con người kên trên tất
cả, người đàn ông này tỏ ra tỉnh táo trước tất cả những lời kêu gọi, thúc giụcdấn thân vào mảnh đất máu lửa đạn bom Cũng một cái nhìn bàng quan về
cuộc chiến như vậy, Phương phê phán Kiên: "Anh say mê cuộc chiến tranh đến đứng ngồi không yên, Anh không yêu mẹ, không yêu cha, không yêu tình yêu của em Anh khăng khăng: tôi đi chiến đấu, tôi là con người trung thực, tôi trong sạch và tôi không muốn em bị nhơ nhuốc, chẳng có gì mới cả"[25.545] Với một tâm hồn nhạy cảm, sắc sảo, Phương dường như lớn hơn
cái tuổi 17 của mình Bình thản đón nhận cuộc chiến tranh, Phương đồng thờinhận ra ngay những góc khuất tăm tối của nó mà phải nhiều năm lăn lộn trên
chiến trường khốc liệt Kiên mới thấm thía hết Đối với Phương- "chiến tranh thì nó có chừa bất kỳ một cái gì mà nó không ngấu nghiến và không chà đạp"[25.683] Nhìn cuộc chiến bằng cái nhìn ơ hờ, lãnh đạm, Phương ý thức
được cái mất nhiều hơn cái được mà chiến tranh mang lại Với Kiên, conđường khám phá, tìm hiểu bộ mặt đích thực của chiến tranh diễn ra lâu dàihơn, và cùng với thời gian, cái nhìn của anh về cuộc chiến cũng ngày càng trởnên nghiệt ngã, đau đớn hơn Dấn thân vào cuộc chiến tranh ở tuổi 17 bấtchấp lời khuyên của dượng, sự níu kéo của người yêu, anh mang theo niềm
say mê "đến đứng ngồi không yên" và niềm hân hoan: "chiến tranh – từ nay mới thật là sống"[25.612] Những năm tháng đối mặt với kẻ thù bên bờ sông
Sa Thầy, chứng kiến những trận tàn sát đẫm máu trên chuông Gọi Hồn, đồiXáo Thịt, phiên hiệu tiểu đoàn bị xoá đi, lập lại không biết bao nhiêu lần,Kiên mới nhận ra chiến tranh thật khác xa với những lời kêu gọi, thúc giục,
tuyên truyền mà anh được biết Với anh bây giờ "chiến tranh là cõi không
Trang 30nhà, không cửa, lang thang khốn khổ và phiêu bạt vĩ đại, là cõi không đàn ông, không đàn bà, là thế giới bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người"[25.399] Cảm thấu nỗi khốn khổ bị đày đoạ trong
guồng máy chiến tranh, buồn đau và tuyệt vọng – tâm trạng đó của Kiên cũng
là tâm trạng của Can và nhiều đồng đội trẻ tuổi khác Những năm tháng rátmặt đạn bom và chết chóc đã giúp Can nhận ra rằng chiến tranh chính lànhững chuỗi này "chết hoại tình người" Nhân vật thành thực bộc lộ nỗi buồn
chán chiến tranh của mình: "Thắng hay thua, kết thúc mau hay chậm, với tôi chẳng nghĩa lí gì nữa ( ) Đời tôi tàn rồi Cả đời đi đánh nhau, thú thật, tôi chẳng thấy cái trò này có gì là vinh"[25.385] Chặng đường chiến
tranh kéo dài hun hút với bao nhiêu thảm cảnh kinh hoàng đã gieo vào tâmhồn con người sự mỏi mệt, chán nản, niềm bi quan và cái nhìn tuyệt mù vôphương vào ngày khải hoàn chiến thắng
Sống trong thời đại đạn bom ác liệt, trực tiếp chứng kiến những sự chia
li, tàn phá, huỷ diệt, các nhân vật của văn học chiến tranh luôn thể hiện một cáinhìn thấm thía sâu sắc về bản chất của chiến tranh Xuất phát từ điểm nhìn củangười trong cuộc, trực tiếp chứng kiến trải nghiệm qua mọi đau thương mấtmát vốn là hậu quả của chiến tranh, các cây bút sau 1975 đã đem lại vẻ sốngđộng, chân thực cho trang viết của mình Ở đây chiến tranh không phải đượcmiêu tả qua con mắt của một người, mà được tái hiện lại từ phức hợp các điểmnhìn của nhiều nhân vật khác nhau với những trải nghiệm riêng tư mang tính cánhân Nếu ở dượng của của Kiên là cái nhìn của một người từng trải, thấu hiểu
lẽ đời, thì ở Phương- cái nhìn về chiến tranh xuất phát từ những đòi hỏi thực tếcủa tuổi trẻ Đến với chiến tranh và bước ra khỏi chiến tranh vì lí do thất bạitrong tình yêu, coi chiến tranh như một trò chơi, một cuộc thử sức- cái nhìn củaHai Hợi về cuộc chiến này lại mang vẻ bất cần, khinh mạn Mong muốn chạytrốn khỏi cuộc hôn nhân bất hạnh, chạy trốn khỏi cuộc sống gia đình gượng
Trang 31gạo, không có tình yêu, Sài (Thời xa vắng- Lê Lựu) coi chiến tranh là mảnh
đất lí tưởng để quên đi bi kịch riêng tư của mình như một hướng giả thoát Với
Hai Hùng, Ba Thành (Ăn mày dĩ vãng), Kiên, Can, Vượng (Thân phận của tình yêu) cái nhìn về chiến tranh lại mang vẻ thâm trầm sâu sắc của những
người từng trải nghiệm, kinh qua mọi cay dắng, mất mát của cuộc chiến Mỗingười một cảnh ngộ, mỗi người một cách nhìn nhưng điểm chung giữa họ làkhông đứng trên lập trường giai cấp để bàn về chiến tranh mà đứng trên lậptrường nhân bản, hướng về con người Bởi vậy, nói về chiến tranh- đặt cao hơnvấn đề chiến thắng hay thất bại, chính nghĩa hay phi nghĩa, họ luôn đau đáu cáivấn đề nhân sinh thường tình giản dị của con người
Miêu tả hiện thực chiến tranh bằng sự trải nghiệm của cá nhân nhà văn,tiếp cận hiện thực thông qua điểm nhìn của người lính từ chiến hào, củanhững nhân vật vốn ít nhiều đều chịu sự tác động trực tiếp của chiến tranh,tiểu thuyết sau 1975 đã tái hiện được một bức tranh hiện thực đa dạng, phongphú với các mảng bổ khuyết nhau hài hoà Không còn âm hưởng của bảntráng ca hào hùng ra trận của tiểu thuyết 1945-1975, cái khảng khái kiêu hùng
ồn ào thuở trước đã nhường chỗ cho một khúc nhạc trầm, buồn hơn mà cũngthành thực hơn Qua các trang viết của các thế hệ nhà văn trưởng thành sau
1975, chiến tranh hiện lên chân thực như nó vốn có với sự hiện diện của chiếnthắng, vinh quang bên cạch thất bại, đau buồn; của các được và cái mất; củakhúc hoan ca bên cạnh những nốt lặng trầm; của cái đẹp, cái cao cả bên cạnhcái thấp hèn, nhu nhược
2 Chiến tranh – hiện thực bất thường, khắc nghiệt
Cuộc sống trận mạc chịu tác động bởi đạn bom, bởi ranh giới mỏngmanh giữa sự sống và cái chết nên không bao giờ có vẻ yên ả thường tình.Hiện thực bất thường đó đã được văn học 1945-1975 đề cập tới qua nhữngthiếu thốn vật chất, sự khắc nghiệt của môi trường (địa hình, khí hậu), nỗi ám
Trang 32ảnh bệnh tật mà người lính luôn phải đối mặt Tuy nhiên, cảm hứng chungcủa các nhà văn khi viết về những nỗi gian truân vất vả nhọc nhằn này lại làcảm hứng lãng mạn ngợi ca Cuộc sống gian nan, thiếu thốn không phải củariêng cá nhân nào đã trở thành niềm tự hào chung của cả cộng đồng nên dẫuphải "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non" thì vẫn "gankhông núng, chí không mòn" Có thể nói, trong văn học thời kì này, hoàncảnh sống khắc nghiệt lại trở thành môi trường lí tưởng để toả sáng vẻ đẹpcủa chủ nghĩa anh hùng cách mạng
Sau năm 1975, các nhà văn viết về chiến tranh vẫn tiếp tục lấy hiệnthực bất thường đó làm đối tượng khám phá, miêu tả nhưng mạch cảm hứngchung dường như đã rẽ sang một hướng khác Âm hưởng lãng mạn một thờituy vẫn hiện diện trong tác phẩm của Nguyễn Trọng Oánh, Thái Bá Lợi,Nguyễn Trí Huân, Chu Lai nhưng bên cạnh đó đã có sự góp mặt của nỗibuồn đau, bi kịch Ở nhiều tác phẩm, cảm hứng về nỗi buồn đã trở thành cảmhứng chủ đạo Tính chất bất thường, khắc nghiệt của chiến tranh trong vănhọc thời kì này không dừng lại ở những đau thương, chết chóc, mà còn đượckhai phá sâu hơn, đề cập tới sự chi phối nghiệt ngã của chiến tranh tới thânphận con người, huỷ hoại thế giới tâm hồn đẹp đẽ, nghiền nát những ảotưởng, hoài bão vốn rất thiêng liêng của con người
Qua các trang viết sau ngày giải phóng có thể nhận thấy môi trườngchiến tranh đã được miêu tả ở những nét cận cảnh chân thực, cụ thể gắn vớinhiều hiểm nguy, khắc nghiệt Các nhà văn nhìn thấy ở những nẻo đườnghành quân gian lao sự nghiệt ngã của khí hậu, địa hình, nỗi thiếu thốn thuốcmen, lương thực đã trở thành hiểm hoạ luôn rình rập để cướp đi sinh mạngcủa con người bất kì lúc nào Bảo Ninh đã đem được thực tế cùng cực, nghiệt
ngã ấy vào trong tiểu thuyết "Thân phận của tình yêu" Ở tiểu thuyết này,
không gian xuất hiện trở đi trở lại như một ám ảnh trong hồi ức của Kiên là
Trang 33không gian núi rừng âm u và không gian mưa lạnh lẽo Đặc điểm của khí hậu
và địa hình của vùng rừng núi phía Nam đó vừa là một thử thách, vừa là nỗiđày đoạ buộc con người phải ép mình gắng gượng Sống trong không gianxám xịt, bầu trời, núi non một màu bạc phếch và mưa rấm rứt, âm thầm chảyxuyên qua lớp sương mù xám trắng màu tang tóc, con người cảm nhận rõ nỗibuồn chán, sự thống khổ và mùi tử khí lờm lợm sực lên khắp mọi nơi Cuộc
sống dậy lên mùi ẩm mốc, bế tắc- "khẩu phần lương thực đang sụt xuống nhanh như thể nước trong cái bình bị đập vỡ đáy Khổ sở vì đói, vì sốt rét triền miên, thối hết cả máu, vì quần áo tả tơi và vì những lở loét cùng người như phong hủi"[25.386] Cuộc sống thiếu thốn và khắc nghiệt được
miêu tả bằng chính sự trải nghiệm của người trong cuộc nên mang sự thấmthía, chua xót rất rõ Viết về những sự thiếu thốn, vất vả đó, các cây bút sau
1975 muốn nói lên một sự thực rằng: những nhu cầu tưởng như là tầmthường, bé nhỏ của con người thực ra lại không hề nhỏ bé, tầm thường chútnào Bỏ qua cái bé nhỏ, tầm thường để hướng tới mục đích lớn lao; quên đimọi khó khăn, thiếu thốn để vươn tới lí tưởng cách mạng cao cả- đó là điềudân tộc ta, đất nước ta đã làm được Cả một thế hệ người Việt Nam đã lớn lên
từ sự hi sinh đó Đề cập đến cái đói, cái khát, đến sự thiếu thốn vật chất trongchiến tranh, tiểu thuyết sau 1975 đưa ra một cách nhìn, một quan điểm mới:con người ta nhiều khi không thể vượt qua được cái "ngưỡng" tầm thường đó.Bởi một lẽ giản đơn, trước khi là một thánh nhân, là một anh hùng thì họ vẫn
là một con người bình thường Điều này cho thấy hiện thực chiến tranh đãđược tiếp cận bằng cái nhìn biện chứng, không chỉ thấy khả năng vượt lêntrên hoàn cảnh của con người mà còn nhận ra sự bất lực của con người trướcsức mạnh chi phối nghiệt ngã của hoàn cảnh Khám phá sâu hơn những bấtlực đó, tiểu thuyết chiến tranh giai đoạn này đã tạo nên tính bi kịch như mộtđặc điểm riêng của văn học sau 1975
Trang 34Với quan điểm tiếp cận hiện thực trên, Chu Lai xây dựng hình tượng
Hai Hùng (Ăn mày dĩ vãng) như là một kiểu mẫu người lính tiêu biểu trong
chiến tranh song vẫn không thoát khỏi vòng kìm toả của những thiếu thốn màchiến tranh mang lại Khai trừ Đảng một đồng chí gan dạ nhưng đã tự tiện ănhết phần gạo qui định, Hai Hùng cũng lại thú nhận với Ba Sương rằng mình
đã từng mò sang lán thương binh ăn trộm một hộp sữa - "không dao, không kéo, chỉ bằng hai hàm răng anh đã cạp thủng nắp hộp và mút một hơi đến tận đáy"[11.134] Và khi đồng đội hồ nghi, tra vấn lẫn nhau thì anh cắm mặt xuống đất, im lặng không nói gì Ở nhân vật Kiêu (Nắng đồng bằng – Chu Lai), Năm Thành (Vòng tròn bội bạc- Chu Lai), Can (Thân phận của tình yêu- Bảo Ninh), Thăng (Cơn dông- Nguyễn Minh Châu) những tác động
của môi trường sống khắc nghiệt dẫn đến những hành động quyết liệt hơn:đào ngũ, chạy trốn khỏi cõi đạn bom bạo liệt, khổ sở vì đói rét để kiếm tìmmột cuộc sống đầy đủ hơn Đói khát, khổ sở đã làm cho con người ta xấu đi -
đó là một thực tế mà không phải người cầm bút nào cũng đủ dũng cảm để nóilên Viết nhiều về những khó khăn, gian khổ, những thiếu thốn vật chất, tiểuthuyết sau 1975 không có tham vọng sử dụng hoàn cảnh để làm nền nổi bậtcác phẩm chất cách mạng cao đẹp của con người Khám phá tính chất bấtthường, khắc nghiệt của hiện thực- các nhà tiểu thuyết muốn lật đến góc khuấttận cùng của chiến tranh, qua đó bày tỏ nỗi cảm thông với những cực nhục,thống khổ mà con người phải chịu đựng khi bi ném vào guồng máy chiếntranh bạo tàn Chú ý đến những tháng ngày tăm tối đằng sau mọi chiến thắngvinh quang, hướng về những thiệt thòi, cực nhục mà con người phải gánhchịu- tiểu thuyết sau 1975 đã bứt khỏi giọng điệu ngợi ca một chiều để nói lênnhiều sự thật đau buồn có thực trong cuộc chiến tranh vừa qua của cả dân tộc.Giọng điệu buồn đau, bi kịch không còn là âm hưởng nhạt mờ mà đã trở
Trang 35thành giọng điệu quen thuộc của không ít tác phẩm viết về chiến tranh trongnhững năm tháng hoà bình này.
Cùng với nỗi đày đoạ thiếu thốn vật chất, chiến tranh còn đày ải conngười trong nỗi thống khổ về tinh thần Ở phương diện này chiến tranh mớithực sự lộ rõ bản chất huỷ diệt tàn bạo của mình Cuộc sống trận mạc thiếuthốn, khổ sở, hết trận đánh này đến trận đánh khác nhưng ngả đường chiếntranh vẫn mở ra mênh mang vô tận khiến tâm hồn con người ngày một thêmhoang phế, trống rỗng Niềm tin vào tương lai, vào ngày đoàn tụ hao mòn dầntheo năm tháng, mệt mỏi vì chết chóc và chém giết- những chàng trai tuổi 19,
20 đã từng nhiệt tình, hăm hở dấn thân vào cuộc chiến tranh này nhận ra rằng
"dần dần cái ngây ngất sau một lần đánh thắng, cái đau buồn sau một lần chiến bại trong anh không còn nữa Tất cả đã vón cục lại thành nghĩa vụ, thành bản năng tự vệ và một chút tự trọng đàn ông Lí tưởng ư? Mục đích ư? Giải phóng miền Nam ư? Vẫn còn cả đó nhưng nó đã lặn vào đâu đó trong sâu lắm rồi, không dễ gì mỗi lúc mà moi ra nhấm nháp" [11.143].
Chặng đường chiến tranh mở ra mênh mang vô tận khiến cái nhìn về cuộcsống của người trong cuộc có lúc dậy lên một màu xám xịt ảm đạm, buồnchán Cỗ máy bạo tàn đó đã nghiền nát tất cả những tín điều thiêng liêng, đẹp
đẽ, đập tan mọi khát vọng, hoài bão của con người và ném trả họ vào một thế
giới "bạt sầu vô cảm và tuyệt tự khủng khiếp nhất của dòng giống con người" [25.399] Đối với Hai Hùng, Tám Tính, Ba Thành thì lí tưởng, mục đích giả phóng miền Nam " đã lặn vào đâu đó trong sâu lắm rồi" Kiên (Thân
phận của tình yêu) cũng không thể còn nguyên vẹn sự hăng say, hăm hở để
tâm niệm như trước đây: "Chiến tranh- bây giờ mới thật là sống" Cùng với
thời gian, tâm hồn con người ngày một thêm hoang phế – niềm tin lụi tàn,niềm vui đối với họ cũng thật là hiếm hoi và thường là không trọn vẹn, thậm
chí có vẻ đáng thương, tội nghiệp Đó là niềm vui "khi nắng lên, vui khi
Trang 36trăng tỏ, vui khi đột ấp trót lọt, vui khi quơ được mẻ cá ngon, khi được ngủ đẫy đêm không phải trở dậy đi đánh giặc, vui khi gặp nhau có bi đông rượu
óc ách và vui khi thắng trận trở về Thắng trận chứ không phải vào trận Thắng trận có nghĩa là được nghỉ ngơi, xả hơi ít nhất mươi ngày, còn vào trận có nghĩa là sắp khổ sở, sắp chết chóc, có phải đao phủ đâu mà vui"[11.196] Nói như Bảo Ninh – có lẽ thời buổi chiến tranh là thời buổi ngược đời nên "những chuyện được coi như là lớn lao, những mối nguy to tát đều là thường nhật, còn những gì nhỏ nhoi, cỏn con như niềm vui, nỗi buồn hàng ngày của kiếp người thì lại trái lẽ và họa hoằn, hãn hữu lắm mới có nổi" [25.400] Ý thức được điều đó con người cũng đồng thời nhận ra
được bi kịch của hoàn cảnh mà mình đang nếm trải Ở đây tính bi kịch khôngphải chỉ nằm ở sự đe doạ của thương vong, chết chóc mà còn nằm ở tình thếcon người dường như đã bị chặt lìa hoàn toàn với thế giới bên ngoài- bị cắt lìakhỏi người thân, bị tước bỏ hoàn toàn những nỗi niềm hạnh phúc, hân hoanvốn rất thường tình, giản dị Cuộc sống đau buồn, tàn lụi niềm tin và hiếm hoihạnh phúc tuồng như muốn đẩy họ tới ngõ cụt không lối thoát là cái chết Vàchính bởi tình thế cùng quẫn, bế tắc, vô vọng đó buộc con người phải dựng
nên những hi vọng bằng ảo ảnh của khói hồng ma để "quên đi mọi nông nỗi đời lính, quên đói khổ, quên chết chóc, quên béng ngày mai"[25.376].
Những ảo mộng mà khói hồng ma mang lại thực tế đã nâng đỡ con ngườivượt qua được mọi chết chóc, đau buồn của những tháng ngày thống khổ này
Kiên "lại được thấy Hà Nội của anh Hồ Tây, chiều hạ, hàng phượng vĩ ven
hồ, tiếng ve sầu ran lên khi hoàng hôn xuống anh cũng nghe thấy và cảm thấy sóng vỗ mạn thuyền Anh mơ thấy Phương đang ở trên thuyền với anh, tóc vờn trước gió, trẻ trung, xinh đẹp không một nét sầu thương ( ).
Cừ thì rượu sắn hay hồng ma đều chỉ khuấy lên độc một cảnh tượng uỷ mị,
Trang 37khó tin của ngày trở về với cảnh sum họp, đoàn tụ.( ) Vĩnh chỉ rặt mơ thấy đàn bà ( ) Tạo voi đặc biệt hay mơ sự ăn uống" [25.376]
Đi sâu vào thế giới tâm hồn của con người, các cây bút viết về chiếntranh sau 1975 nhận thấy tính chất nghiệt ngã của chiến tranh hiện hình ngaytrong sức mạnh tàn bạo đè bẹp, nghiền nát mọi khát vọng, mơ ước giản dị củacon người- khát vọng về tình yêu và hạnh phúc Câu chuyện tình hoang dạigiữa các đội viên phân đội trinh sát với 3 cô gái trong khu trại tăng gia củahuyện đội 67 diễn ra dưới sự đồng loã của bóng đêm và những cơn mưa rừng
ướt rượi (Thân phận của tình yêu- Bảo Ninh); căn bệnh kì lạ phải nhờ đến bàn tay đàn ông chữa trị của Thu (Ba lần và một lần – Chu Lai), của các cô gái thanh niên xung phong trong truyện ngắn "49 cây cơm nguội" (Nguyễn Quang Lập), "Người sót lại của rừng cười" (Võ Thị Hảo) ; nỗi nhớ vợ cồn cào của Khiển (Ăn mày dĩ vãng- Chu Lai) được hóa giải bằng những lần tắm
sông gắn với ám ảnh nhức nhối về cái đêm cuối cùng từ biệt vợ vào chiếntrường… tất cả là kết quả của những cảm xúc đẹp đẽ, trần thế của tuổi thanhxuân hừng hực bị chiến tranh, bom đạn, bị núi rừng hoang sơ thần bí đè bẹpnay bỗng nhiên trỗi dậy với một sức mạnh cuồng si Những mối tình trongvăn học chiến tranh sau 1975 nói chung và tiểu thuyết nói riêng bao giờ cũngmang đậm nỗi éo le, đau buồn như vậy Tình yêu và chiến tranh- cái ngọtngào đắm say nảy sinh từ trong chết chóc đau thương, đượm mùi tử khí –nghịch cảnh ấy dường như gây một ấn tượng mạnh đối với người cầm bút.Tiểu thuyết chiến tranh trước 1975 viết nhiều về tình yêu nhưng là một thứtình yêu đậm màu sắc lãng mạn, có thể vượt lên trên khói lửa đạn bom đểthắp sáng niềm tin lí tưởng Đó là thứ tình yêu đồng hành với tình yêu quêhương, xứ sở, gắn với sự ngưỡng mộ, tôn thờ các phẩm chất tốt đẹp có ở
trong nhau Mối tình của Hảo- Quỳnh Đông-Thuỳ (Vùng trời- Hữu Mai), Lữ-Quỳnh (Dấu chân người lính – Nguyễn Minh Châu), Lãm – Nguyệt
Trang 38(Mảnh trăng cuối rừng- Nguyễn Minh Châu) đều mang đậm màu sắc lãng
mạn như thế Sau 1975, tình yêu thời chiến được chú ý miêu tả ở một góc độkhác, hoàn toàn xuất phát từ bản năng tự nhiên của con người Những cảmxúc, cảm giác tự nhiên trong tình yêu được các nhà văn miêu tả rất tự nhiên,
thành thực Tám Tính "cứ thấy hơi hướng đàn bà, bất kể già trẻ lớn bé, miễn là có da có thịt là tâm hồn bấn loạn, mắt nhìn như lồi ra, toàn thân cứng ngắc như bị thôi miên, như bị hoá thạch "[11.78] Khói hang ma đưa Vĩnh (Thân phận của tình yêu- Bảo Ninh)thoát khỏi hiện tại chết chóc để
đến với những giấc mơ rặt bóng dáng đàn bà Tình yêu, hạnh phúc vốn làkhát những vọng bình thường giản dị của mỗi con người- nhưng trong thờibuổi chiến tranh này nó lại là một khát vọng quá xa xỉ và hiếm hoi lắm mới có
cơ hội trở thành sự thật Đó là cõi chập chờn bất định, ngỡ là có thể nắm giữtrong tầm tay mà kì thực lại hết sức xa xôi Bởi vậy, dường như tồn tại tưtưởng hưởng thụ, sống gấp trong hiện tại vì tương lai, ngày mai có thể là cáichết, là vĩnh viễn lặng câm trong lòng đất mà chưa một lần được nếm trải
niềm hạnh phúc ngọt ngào, trần thế nhất của dòng giống con người "Một lần nữa thôi cũng là đủ cho mãi mãi bởi vì đêm mai, đêm mốt, có thể một trong hai người, một trong chúng ta sẽ không còn"[11.78]– suy nghĩ đó của Hai
Hùng cũng đồng thời là tâm lí chung của phần đông những nhân vật của tiểuthuyết chiến tranh sau 1975 Bởi vậy trước giờ khắc quyết định phải đối mặtvới kẻ thù, Thu mới trao gửi cho Tuấn cuộc đời con gái trinh trắng của mình,Hai Hùng và Ba Sương mới đi đến sự khám phá tận cùng của tình yêu, Tám
Tính- Hai Hợi mới bùng nổ cơn khát thèm tình cảm (Ăn mày dĩ vãng) Mối
tình cuồng si, bí ẩn, hoang dại giữa những người lính trong phân đội trinh sát
của Kiên với 3 cô gái bị chiến tranh bỏ quên trong rừng thẳm (Thân phận của tình yêu) diễn ra hằng đêm, bất chấp những cơn mưa nặng nề xối dội hay
những cơn mưa rào rào vội vã, ướt át, lầy lội, khốn khổ, sự hiến dâng của Thu
Trang 39với Dong (Nước mắt đỏ) trong một mối tình ngắn ngủi nhưng lại ám ảnh đau
đớn suốt cuộc đời đều xuất phát từ tâm lí hưởng thụ gấp gáp đó Hạnh phúcđến vất vả, nhọc nhằn nên con người đón nhận nó cũng trong trạng thái vội
vã, gấp gáp, tuồng như dự cảm thấy sau đó là vĩnh viễn lặng câm Và ngaysau phút giây hạnh phúc thần tiên ấy, tai hoạ đổ ập xuống thân phận conngười- thần chết bắt đầu sục sạo như muốn buộc con người phải trả giá chokhát vọng vốn dĩ bình thường nhưng lại hoàn toàn bất thường trong môitrường đạn bom ác liệt này Cái chết của Thu, của 3 cô gái, của Dong, sự litán định mệnh của Hai Hùng- Ba Sương, Tám Tính- Hai Hợi tự nó đã nóilên được tính chất nghiệt ngã của hoàn cảnh Chiến tranh đã vùi dập, chà đạp,bóp chết tình yêu, hạnh phúc của con người, không cho phép nó ươm mầmphát triển đúng như lẽ tự nhiên Và sự hưởng thụ hạnh phúc gấp gáp trướcnhững giờ khắc quyết định của cuộc đời nhân vật đã cho thấy khát khao tìnhyêu, hạnh phúc tiềm tàng trong tâm hồn con người mạnh mẽ đến chừng nào
Như một mảng bổ khuyết cho văn học trước 1975, hiện thực chiếntranh trong văn học thời kì hậu chiến nói chung và tiểu thuyết nói riêng đãđược phản ánh chân thực với những vẻ gai góc, thô ráp vốn có để tạo nên bứctranh toàn cảnh đích thực về bản chất của chiến tranh Miêu tả tính chất bấtthường, nghiệt ngã của chiến tranh, các nhà tiểu thuyết sau 1975 đồng thờicũng thể hiện một tinh thần nhân văn cao cả trong tác phẩm của mình khinhận ra rằng: dù ánh hào quang có lấp lánh trên đầu người chiến thắng haynỗi buồn có chấp chới trong mắt kẻ chiến bại thì những mất mát đau thương,những thống khổ, thiệt thòi mà nó gây ra cho con người là có thực
3 Chiến tranh- môi trường huỷ diệt, phi nhân tính
Sau ngày đại thắng rực rỡ cờ hoa, với một độ lùi thời gian cần thiết, cácnhà văn dường như đã có đủ sự tĩnh tâm, chín chắn và công bằng để đánh giá,nhìn nhận lại cuộc chiến Bởi vậy, văn học viết về chiến tranh sau 1975 nói
Trang 40chung và tiểu thuyết chiến tranh nói riêng đã thể hiện chân thực, sâu sắcnhững trầm tư, suy ngẫm của nhà văn về sự được – mất mà chiến tranh manglại, cũng như nỗ lực khám phá sâu hơn những mảng tối, góc khuất của hiệnthực lâu nay vốn bị khuất chìm đằng sau ánh hào quang của chiến thắng.Đứng trên lập trường nhân bản, hướng về con người, nhà văn nhận ra rằngchiến tranh chính là cái nôi huỷ diệt, phi nhân tính và tàn bạo nhất mà nạnnhân khốn khổ bị đày ải, bị làm cho tuyệt diệt không ai khác chính là conngười Miêu tả tính bi kịch đó của hoàn cảnh, các cây bút tiểu thuyết hôm naymuốn cất lên tiếng nói phê phán tính phi nhân, bạo tàn của chiến tranh, chia
sẻ với những đau thương, mất mát và bênh vực cho quyền sống của conngười
Không ngại đề cập đến chết chóc, thương vong, cảm hứng bi kịch trongtiểu thuyết chiến tranh sau 1975 được thể hiện ngay từ tính chất hủy diệt của
môi trường chiến trận mà nhà văn miêu tả Tiểu thuyết "Năm 1975 họ đã sống như thế" được sáng tác ngay sau ngày giải phóng (6-1975 đến 8-1978),
khi âm hưởng hào hùng của chiến thắng vẫn còn làm xôn xao, náo nức lòngngười nhưng Nguyễn Trí Huân cũng đã đề cập đến nhiều sự hi sinh, thươngvong, mất mát Bộ mặt gớm guốc của chiến tranh có thể nhận thấy từ trận thấtthủ trên cao điểm 174- toàn bộ những con người ưu tú nhất, những người línhthiện chiến nhất của tiểu đoàn 3 đã vĩnh viễn nằm xuống dưới lưới lửa đạn
bom dày đặc của kẻ thù Với "Thân phận của tình yêu", tính chất huỷ diệt
của chiến tranh được Bảo Ninh đề cập tới trong một cái nhìn u ám, đau buồnhơn Không gian của tiểu thuyết mang dáng vẻ âm u của núi rừng, của nhữngcơn mưa ướt át, lầy lội xối dội của khí hậu miền Nam Có thể nhận thấy mùi
tử khí giăng mắc khắp các cành cây, kẽ lá, len lỏi xuống con đường mòn côquạnh, ẩn mình trong tiếng gió ướt rượi, trong tiếng thở dài nẫu nuột của rừngsâu, suối thẳm Thần chết quẩn quanh sục sạo, tuồng như đây không còn là