1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam

94 1,1K 14
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Bảo Hiểm Xã Hội Tự Nguyện Khu Vực Phi Chính Thức Ở Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Bảo Hiểm Xã Hội
Thể loại Luận Văn
Định dạng
Số trang 94
Dung lượng 709 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt nỗ lực hướng vào và phát huy mọi nguồn lực

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Trong xã hội hiện đại, các quốc gia, một mặt nỗ lực hướng vào vàphát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nângcao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tạo ra bước phát triển bền vững vàngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác, không ngừng hoàn thiện hệthống (an sinh xã hội) ASXH, trước hết là bảo hiểm xã hội (BHXH) để giúpcho con người, người lao động có khả năng chống đỡ với các rủi ro xã hội,đặc biệt là rủi ro trong kinh tế thị trường và rủi ro xã hội khác Kinh tế ngàycàng phát triển theo hướng thị trường, thì ASXH càng phải đảm bảo tốt hơn

Đối với nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng thựchiện các chính sách xã hội đối với người lao động Chính vì vậy, ngay từ khithành lập nước, Chính phủ đã ban hành các đạo luật về BHXH BHXH đãkhông ngừng phát triển và trong từng thời kỳ nó đã đóng vai trò không nhỏtrong việc đảm bảo ASXH cho đất nước

Tuy nhiên, trải qua một thời gian dài BHXH cũng chỉ phục vụ đốitượng người lao động thuộc các cơ quan và doanh nghiệp nhà nước Đến ngày 1tháng 1 năm 1995, Bộ luật Lao động có hiệu lực thi hành, tại Điều 140 đã quyđịnh các loại hình BHXH bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với từngloại đối tượng và từng loại doanh nghiệp để bảo đảm cho người lao độngđược hưởng các chế độ bảo hiểm thích hợp

Thi hành bộ luật này, ngày 26/01/1995 Chính phủ đã ban hành Nghịđịnh số 12/CP quy định Điều lệ BHXH đối với công nhân viên chức nhà nước

và Nghị định 45/CP ngày 15/07/1995 đối với sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ,công nhân viên quốc phòng Năm 2007, dân số cả nước có khoảng 85,2 triệungười, lực lượng lao động có khoảng 46,6 triệu người Lao động có việc làm

Trang 2

trong nền kinh tế quốc dân khoảng 45,6 triệu người, trong đó đối tượng thamgia BHXH bắt buộc (lao động làm công ăn lương hay còn gọi là lao động khuvực chính thức) có khoảng 12,3 triệu người (27% lực lượng lao động) [26].Còn lại 33,3 triệu lao động (73%) làm việc trong nông nghiệp (nông dân), khuvực phi nông nghiệp trong nông thôn, lao động tự do hành nghề (kể cả laođộng nhập cư), lao động trong hộ gia đình sản xuất kinh doanh có thể ở thànhthị…(lao động khu vực phi chính thức) trong lực lượng lao động chưa thamgia BHXH Như vậy, BHXH mới chỉ tập trung chủ yếu ở khu vực chính thứccòn BHXH khu vực khu vực phi chính thức phát triển chưa đáng kể cả về quy

mô và chất lượng Đến 2009, dân số cả nước có khoảng 86,1 triệu người, lựclượng lao động có khoảng 49,2 triệu người (57,4%) Lao động có việc làmtrong nền kinh tế quốc dân khoảng 47,7 triệu người, trong đó lao động làmcông ăn lương (khu vực chính thức) có khoảng 18.2 triệu người (38,2% lựclượng lao động), còn lại 29,5 triệu lao động (61,8%) thuộc khu vực phi chínhthức [28] Sau hai năm thực hiện BHXH tự nguyện theo Luật BHXH số 71, sốlượng người tham gia BHXH tự nguyện còn rất hạn chế chỉ chiếm khoảng0,15% số lao động thuộc khu vực này

Trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và từng bước hội nhậpsâu vào nền kinh tế thế giới, thì hệ thống ASXH, nhất là BHXH phải đượcphát triển và hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu của người lao động, của nhân dân,

là một trong những nhu cầu rất cơ bản của con người Bảo đảm nhu cầu vềASXH, trước hết là nhu cầu về BHXH, là một trong những mục tiêu rất quantrọng, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đồng thời cũng phùhợp với xu thế chung của cộng đồng quốc tế hướng tới một xã hội phồn vinh,công bằng và an toàn Sự phát triển kinh tế thị trường đã mang lại cho đấtnước những biến đổi sâu sắc về kinh tế - xã hội Kinh tế tăng trưởng nhanh,

cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, thu nhập bình quân của ngườilao động ngày càng cao, đời sống kinh tế và xã hội của nhân dân có sự cải

Trang 3

thiện rõ rệt Vấn đề cải thiện và nâng cao mức sống của người lao động luôn

là mục tiêu trước mắt, cũng như lâu dài của Đảng và Nhà nước Việt Nam.Bên cạnh việc ban hành các chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanhphát triển, Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng thực hiện các chính sách xãhội đối với người lao động Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX

của Đảng đã chỉ rõ: "Từng bước mở rộng vững chắc hệ thống bảo hiểm xã hội

và an sinh xã hội Tiến tới áp dụng chế độ bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động, mọi tầng lớp nhân dân" Vì vậy, việc phát triển BHXH tự nguyện đối

với người lao động khu vực phi chính thức là hết sức cần thiết

Luật BHXH ra đời có hiệu lực thi hành từ năm 2007 Riêng chế độBHXH tự nguyện được áp dụng từ năm 2008 Đây là luật đầu tiên ở Việt Nam

đó thể chế hóa ở mức cao của một nhu cầu rất cơ bản về ASXH của conngười (bao gồm BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp),trong đó BHXH tự nguyện chủ yếu cho đối tượng là người lao động khu vựcphi chính thức tức là người lao động làm việc không thuộc phạm vi tham giaBHXH bắt buộc Như vậy, lần đầu tiên người lao động ở mọi khu vực cóquyền tham gia BHXH và được thụ hưởng lợi ích từ BHXH Việc triển khaiBHXH tự nguyện mặc dù còn mới, nhưng do hệ thống BHXH đã phân cấp tổchức bộ máy hoạt động đến cấp huyện và có đại lý đến cấp xã, phường rấtthuận lợi cho người lao động tiếp cận để tham gia Tuy nhiên, qua hai nămtriển khai thực hiện, số lượng người lao động tham gia BHXH tự nguyện ởkhu vực phi chính thức còn rất hạn chế (khoảng 41.000 người) chưa đáp ứngđược nhu cầu của người lao động khu vực phi chính thức, cũng như địnhhướng phát triển của Đảng, Nhà nước

Nguyên nhân số lượng người tham gia BHXH tự nguyện ở nước tacòn ít là do: trình độ học vấn và nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế; lao độngphần lớn chưa qua đào tạo; việc làm bấp bênh; thu nhập thấp là những vấn đềảnh hưởng lớn đến việc triển khai thực hiện BHXH tự nguyện cho người lao

Trang 4

động thuộc khu vực này Vấn đề cần đặt ra là làm thế nào để người lao độngnhận thức được sự cần thiết tham gia BHXH; Giải pháp nào giải quyết việctham gia BHXH của người lao động khi thu nhập bấp bênh; Vấn đề thể chế và

tổ chức thực hiện, đội ngũ cán bộ quản lý Xuất phát từ những lý do trên, tôi

đã chọn đề tài "Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam" làm đề tài luận văn.

Luận văn nhằm bổ sung, hoàn thiện và góp phần tháo gỡ những vướngmắc trong quá trình phát triển BHXH tự nguyện khu vực phi chính thức ởnước ta hiện nay

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của luận văn

Ở nước ta, BHXH đã được hình thành ngay từ những năm đầu thànhlập nước, tuy nhiên chỉ áp dụng hình thức BHXH bắt buộc Cùng với quátrình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi cần phải đổi mới và hoànthiện hệ thống BHXH theo cả hai hình thức bắt buộc và tự nguyện Chính vìvậy những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, tuynhiên tập trung chủ yếu về lĩnh vực BHXH bắt buộc

Đối với BHXH tự nguyện, các công trình nghiên cứu đã đề cập tới

phải kể đến là: "Cơ sở lý luận về việc thực hiện các loại hình bảo hiểm xã hội

tự nguyện ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm 2001,

trong đó tác giả mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm cơ

sở khoa học cho việc thực hiện loại hình BHXH tự nguyện ở Việt Nam, chứchưa nghiên cứu sâu về nội dụng, hình thức, tổ chức quản lý quá trình pháttriển loại hình BHXH tự nguyện; Hai công trình nghiên cứu tiếp theo là:

"Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập" của tác giả Bùi Văn Hồng, đề tài cấp Bộ

năm 2002; "Giải pháp mở rộng đối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội

khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước" của

tác giả Kiều Văn Minh, đề tài cấp Bộ năm 2003 tập trung nghiên cứu các giải

Trang 5

pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, chưa đề cập đầy đủ mốiquan hệ lợi ích giữa người lao động khu vực phi chính thức và chế độ BHXH

tự nguyện; Đề tài "Cơ sở khoa học quản lý và tổ chức thu bảo hiểm xã hội tự

nguyện" của tác giả Nguyễn Anh Vũ, đề tài cấp Bộ năm 2003, mới chỉ đề cập

đến vấn đề thu BHXH tự nguyện; Công trình "Nghiên cứu xây dựng lộ trình

tiến tới thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động" của tác giả Nguyễn

Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm 2004, đã tập trung nghiên cứu lộ trình và cácbước tiến hành thực hiện BHXH tự nguyện, nhưng nghiên cứu này thực hiện

trong bối cảnh chưa có Luật BHXH; Đề tài "Mô hình thực hiện bảo hiểm xã

hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam" của tác giả Đào Thị Hải Nguyệt, đề tài cấp Bộ

năm 2007, tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thực

hiện BHXH tự nguyện; Đề tài "Khảo sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã

hội tự nguyện cho khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách",

đề tài cấp Bộ năm 2007 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội và Ngânhàng thế giới, đề tài tập trung nghiên cứu và đưa ra cơ sở để triển khai Luật

BHXH về BHXH tự nguyện; Đề tài "Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn

thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2007-2015", đề

tài cấp bộ của tác giả Mai Ngọc Cường - Trường Đại học Kinh tế quốc dân,

đề tài này nghiên cứu tổng thể hệ thống ASXH ở nước ta Từ trước năm 2008

có đề cập đến một số cơ sở để xây dựng chính sách về BHXH tự nguyện

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã góp phần cung cấp cơ sở khoa họccho việc xây dựng và thực hiện BHXH tự nguyện ở nước ta những năm qua,nhưng vẫn mới là những nghiên cứu bước đầu, còn chưa đầy đủ, thiếu hệ thống,đặc biệt chưa cập nhật được những xu hướng phát triển mới của hệ thốngBHXH tự nguyện, trong bối cảnh đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thịtrường, toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, khu vực và điểm cần nhấnmạnh đó là các nghiên cứu trên thực hiện trong điều kiện Luật BHXH, vềBHXH tự nguyện chưa được thực thi

Trang 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.2 Nhiệm vụ của luận văn

- Làm rõ thêm cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện khu vực phi chính thức

- Đánh giá kết quả thực hiện và nêu những vấn đề đang đặt ra cho quátrình phát triển BHXH tự nguyện khu vực phi chính thức ở nước ta

- Dự báo khả năng, định hướng phát triển và giải pháp thực hiệnBHXH tự nguyện khu vực phi chính thức ở nước ta đến 2015

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn được nghiên cứu dựa trên các phương pháp sau: phương phápduy vật biện chứng, duy vật lịch sử, phương pháp hệ thống, khái quát, đối chiếu

và so sánh, thống kê để phân tích, đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề nghiêncứu Đề tài nghiên cứu trên dựa trên các quan điểm, chính sách, định hướngchiến lược phát triển kinh tế - xã hội và ASXH ở nước ta hiện nay

5 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

* Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là lao động khu vực phi chính thức

và tình hình thực hiện BHXH tự nguyện đối với lao động khu vực phi chínhthức ở Việt Nam

* Phạm vi nghiên cứu

Khu vực phi chính thức và BHXH tự nguyện áp dụng đối với lao độngkhu vực phi chính thức ở Việt Nam giai đoạn 2007 đến 2015

Trang 7

6 Đóng góp của luận văn

- Hệ thống hóa và làm rõ thêm các vấn đề lý luận cơ bản về BHXH tựnguyện; xác định vai trò của BHXH tự nguyện đối với lao động khu vực phichính thức

- Phân tích, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện đốivới lao động khu vực phi chính thức ở Việt Nam đến cuối năm 2009

- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển BHXH tự nguyện đối với laođộng khu vực phi chính thức ở Việt Nam đến năm 2015

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nộidung của luận văn gồm 3 chương, 11 tiết

Trang 8

Chương 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC

1.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM

1.1.1 Khu vực phi chính thức và vai trò của nó trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

1.1.1.1 Khái niệm

Trên thế giới, có nhiều khái niệm về khu vực phi chính thức, nhưngtheo ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu của đề tài này thì khu vực kinh tế phichính thức được hiểu theo một cách đơn giản nhất là các đơn vị sản xuất, kinhdoanh cá thể không có giấy phép kinh doanh, hoặc có đăng ký kinh doanhnhưng không thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật doanh nghiệp Còn kháiniệm khu vực phi chính thức được thông qua tại Hội nghị Quốc tế các nhà

Thống kê lao động (ICLS) lần thứ 15 như sau: Khu vực phi chính thức mang

những nét đặc trưng chủ yếu của những đơn vị tham gia vào quá trình sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ với mục tiêu ban đầu là tạo ra việc làm và thu nhập cho những người có liên quan Những đơn vị này thường được tổ chức hoạt động ở mức thấp, sản xuất kinh doanh ở quy mô nhỏ, với không hoặc rất ít sự phân chia giữa lao động và vốn là các yếu tố đầu vào của sản xuất Các mối liên hệ việc làm - nếu có - chủ yếu dựa trên sự tình cờ, quan hệ họ hàng hoặc quan hệ cá nhân, sự quen biết hơn là dựa trên các thỏa thuận hợp đồng với sự bảo đảm chính thức.

Như vậy chúng ta có thể hiểu khu vực phi chính thức là khu vực tựlàm, lao động tự do hành nghề và lao động làm thuê nhưng chưa được điềuchỉnh của Bộ luật lao động

Trang 9

1.1.1.2 Vị trí, vai trò của khu vực phi chính thức

Ở nhiều nước đang phát triển trên thế giới, khu vực kinh tế phi chínhthức giúp 60% lao động tìm được cơ hội việc làm Ở Việt Nam, những nghiêncứu mới đây của Tổng cục Thống kê thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chỉ rarằng khu vực kinh tế chính thức chiếm khoảng gần 30% việc làm Số còn lạilàm việc trong khu vực phi chính thức

Lao động khu vực phi chính thức chiếm tỷ lệ lớn, bao gồm lao độnglàm việc trong nông nghiệp, nông thôn, lao động tự do, lao động trong kinh

tế hộ gia đình, sản xuất kinh doanh cá thể…, chiếm trên 60% lực lượng laođộng của các nước; góp phần quan trọng vào an ninh lương thực quốc gia,sản xuất các sản phẩm hàng hóa phục vụ dân sinh và cho xuất khẩu, tạonhiều việc làm cho người lao động, đóng góp khoảng 20% vào GDP củaquốc gia Có thể nói khu vực kinh tế phi chính thức là một trong những khuvực kinh tế năng động, nó không chỉ góp phần tạo ra sản phẩm, việc làm chongười lao động, mà còn góp phần quan trọng trong quá trình chuyển đổi nềnkinh tế từ kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường Rất nhiều doanh nghiệp phátđạt của Việt Nam ngày nay có khởi nguồn từ khu vực kinh tế phi chính thức.Khu vực này tuy không tạo nên những đột biến về kinh tế, nhưng đó để lạinhững dấu ấn quan trọng trong quá trình chuyển đổi và phát triển của nềnkinh tế Việt Nam Đây là khu vực kinh tế mở ra sớm nhất, mạnh nhất và vớitốc độ nhanh nhất khi Việt Nam bắt đầu công cuộc đổi mới giữa thập niên

80 của thế kỷ trước Đây cũng là khu vực kinh tế đóng vai trò quan trọngđưa nền kinh tế Việt Nam vượt qua thời kỳ khó khăn đầu thập niên 90 củathế kỷ trước Khu vực này còn thu hút nhiều lao động bị dôi dư, khi cácdoanh nghiệp Nhà nước tổ chức sắp xếp lại, đồng thời đó lấp được khoảngtrống thiếu hụt về việc làm và thu nhập đối với một bộ phận lớn lao động khinền kinh tế chuyển đổi Với đặc thù là quy mô nhỏ, hoạt động linh hoạt, đòihỏi ít vốn và các nguồn lực khác nên khu vực kinh tế phi chính thức đã đóng

Trang 10

vai trò quan trọng trong những nỗ lực xóa đói, giảm nghèo ở nước ta Đặcbiệt, gần đây nhất, khi nền kinh tế Việt Nam chịu tác động chung của cuộckhủng hoảng kinh tế - tài chính của thế giới, thì khu vực kinh tế phi chínhthức đó chứng tỏ sự năng động của mình, thu hút hàng vạn lao động bị mấtviệc làm từ khu vực chính thức và nhờ vậy mà đó không tạo nên cú sốc vềviệc làm và thu nhập đối với xã hội.

Nhận thức được vai trò quan trọng của khu vực kinh tế phi chính thứctrong việc tạo việc làm, thu nhập và giảm nghèo nên trong những năm qua,Việt Nam đó không ngừng bổ sung, hoàn thiện hệ thống luật pháp và chínhsách hỗ trợ khu vực kinh tế phi chính thức cũng như bảo vệ quyền lợi cho lựclượng lao động làm việc tại khu vực này Với tỷ trọng lao động làm việc trongkhu vực kinh tế chính thức còn thấp như hiện nay thì trong những năm tới,khu vực kinh tế phi chính thức sẽ tiếp tục là một bộ phận cấu thành quantrọng của nền kinh tế Việt Nam Bởi vậy, Chính phủ Việt Nam sẽ tiếp tục bổsung, hoàn thiện hệ thống luật pháp, chính sách tập trung vào những nội dung:ASXH, học nghề, an toàn vệ sinh lao động, tiếp cận thị trường, cho lao độnglàm việc ở khu vực kinh tế phi chính thức

1.1.2 Khái niệm, bản chất bảo hiểm xã hội tự nguyện

1.1.2.1 Khái niệm bảo hiểm xã hội tự nguyện

Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồntại của nó là tất yếu, có nhiều khái niệm về BHXH do có nhiều cách tiếp cậnBHXH khác nhau Nhưng khái niệm được hiểu một cách chính xác nhất theo

Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù

đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự đóng góp của người

sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm

Trang 11

bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, gúp phần bảo đảm an toàn xã hội

Với tác dụng to lớn trong việc giảm gánh nặng ngân sách, cải thiện đờisống cho đối tượng, bảo đảm ASXH bền vững, BHXH phát triển rộng rãi bảođảm cho mọi người lao động đều được tham gia, trong xã hội xuất hiện hìnhthức BHXH tự nguyện Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai mô hình BHXH tự

nguyện: thứ nhất, BHXH tự nguyện áp dụng như là một hình thức BHXH bổ sung cho BHXH bắt buộc; thứ hai, BHXH tự nguyện mở cho bất cứ người lao

động nào tự nguyện tham gia Mặc dù mang tính chất tự nguyện nhưng chínhsách BHXH tự nguyện vẫn là chính sách do Nhà nước ban hành nhằm đảmbảo quyền lợi cho các bên tham gia Nhà nước quy định mức đóng góp đểhình thành Quỹ BHXH tự nguyện đủ lớn để chi trả cho người tham giaBHXH tự nguyện và xây dựng các chế độ mà người tham gia BHXH đượchưởng (bao gồm điều kiện hưởng, mức hưởng) để bảo đảm bù đắp rủi ro chongười tham gia BHXH tự nguyện Dưới góc độ tiếp cận đó, có thể đưa ra kháiniệm về BHXH tự nguyện như sau:

Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của người lao động, người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình

họ, gúp phần bảo đảm an toàn xã hội.

Như vậy, loại hình BHXH tự nguyện chỉ có thể được hình thành vàthực hiện trên cơ sở:

- Có nhiều người lao động tham gia và có thể cả người sử dụng laođộng tự nguyện tham gia với điều kiện: có nhu cầu thực sự về BHXH; Có khả

Trang 12

năng tài chính để đóng phí BHXH tự nguyện; có sự thống nhất với những quyđịnh cụ thể (mức đóng, mức hưởng, quy trình thực hiện, phương pháp quản

lý, sử dụng quỹ BHXH tự nguyện…) của loại hình BHXH tự nguyện

- Có tổ chức, cơ quan đứng ra thực hiện BHXH tự nguyện

- Được Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết

1.1.2.2 Bản chất bảo hiểm xã hội tự nguyện

* Bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện

Bản chất kinh tế của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêngthể hiện ở chỗ những người tham gia cũng đóng góp một khoản tiền tríchtrong thu nhập (khoản đóng góp này sau khi đó chi tiêu cho các nhu cầu tốithiểu và các nhu cầu cần thiết và không ảnh hưởng lớn đến đời sống và sảnxuất - kinh doanh của cá nhân) để lập một quỹ dự trữ Mục đích của việchình thành quỹ này để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự nguyệnkhi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập Như vậy BHXH cũng là quátrình phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộphận của GDP được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinhnhu cầu về BHXH như ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết Xét trong nội tạiBHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện theo cả chiều dọc và chiềungang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối giữa chính bản thânngười lao động theo thời gian (giữa thời gian lao động và thời gian nghỉhưu) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏemạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người có thunhập cao với người có thu nhập thấp Nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đờisống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bấttrắc và rủi ro xã hội

Tóm lại, BHXH tự nguyện được đặc trưng bằng sự vận động của cácnguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện

Trang 13

nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình họ khi gặprủi ro làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động.

* Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện

Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện được thể hiện ngay trong mụctiêu của nó BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Mục tiêu của bất

kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội Điều này được thể hiệnthông qua việc chi trả chế độ BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện sẽđược thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khảlao động Do có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHXH tựnguyện nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình choQuỹ BHXH tự nguyện, nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủlớn để giúp họ trang trải rủi ro Ở đây, Quỹ BHXH tự nguyện đó thực hiệnnguyên tắc "lấy của số đông, bù cho số ít" và BHXH tự nguyện được hiểunhư một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khithu nhập của họ bị giảm, bị mất Trên góc độ vĩ mô, BHXH tự nguyện gúpphần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, gúp phần xóa đóigiảm nghèo

Tóm lại, hoạt động BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận, màhoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, gópphần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội Điều này giải thích tại sao BHXHđược coi là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia

Tuy nhiên bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH không táchrời mà đan xen với nhau Khi nói đến sự đảm bảo kinh tế cho người lao động

và gia đình họ là nói đến tính xã hội của BHXH Ngược lại khi nói đến sựđóng góp ít, nhưng lại được bù đắp đủ trang trải mọi rủi ro, thì cũng đã đề cậpđến tính kinh tế của BHXH

Trang 14

1.2 NỘI DUNG CỦA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

1.2.1 Đối tượng tham gia, mức đóng góp, các chế độ bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trong Công ước 102 (ILO, 1984) quy phạm tối thiểu về an toàn xã hộicủa Tổ chức lao động quốc tế quy định 9 chế độ BHXH, nhưng không bắtbuộc các quốc gia phải thực hiện cả 9 chế độ đó mà chỉ khuyến khích cácnước thành viên thực hiện ít nhất 3 chế độ (đặc biệt lưu ý chế độ 3, 4, 5, 8, 9)

9 Trợ cấp mất người nuôi dưỡng

Cơ sở để xác định thực thi mỗi chế độ BHXHTN là căn cứ vào trình

độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Điều đó cần phải được cụ thểhóa xem xét trên các nội dung sau đây:

- Đối tượng tham gia: Về nguyên tắc mọi người lao động có nhu cầuđều được tham gia BHXHTN Tuy nhiên, ở hầu hết các nước đều thực hiệncách tiếp cận từ từ để mở rộng đối tượng trong một hệ thống BHXHTN Khixác định đối tượng của BHXHTN, cần thiết xác định phạm vi và đối tượngtham gia và những đối tượng bị loại trừ khỏi hệ thống Việc xác định này phảidựa trên cơ sở điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước, trình độ quản

Trang 15

lý của cơ quan BHXHTN và các điều kiện khác như truyền thống, đất đai,những hệ thống sở hữu đất đai, mùa vụ và những thiên tai, giá cả được đảmbảo và ổn định, hỗ trợ khuyến mãi, cải thiện dịch vụ y tế Do đó đối với laođộng trong nông nghiệp và nông thôn, trên thế giới không có mô hình đơnđộc, có phạm vi quốc tế rộng khắp, thống nhất Ngay cả khi chúng ta nghiêncứu chính sách BHXHTN đối với người lao động trong khu vực nông, ngư vàtiểu thủ công nghiệp cũng cần phải dựa trên tính đặc thù của từng nhóm ngườilao động, mà đưa ra những chính sách phù hợp cho từng đối tượng.

- Về mức đóng góp: theo loại hình BHXHTN bao gồm nhiều loại hìnhlao động có các hình thức và mức thu nhập khác nhau, nên phải xác định mứcđóng BHXHTN sao cho nhiều đối tượng có thể tham gia, đảm bảo cho việchạch toán cân đối thu chi BHXHTN được thống nhất, dễ dàng

- Về chế độ: đối với loại hình BHXHTN, lựa chọn mức độ đóng góp

để chi các chế độ và nhu cầu của số người tham gia

- Xác định mối quan hệ giữa mức đóng và mức hưởng: đây là một vấn

đề rất quan trọng đảm bảo việc thực hiện BHXHTN đạt kết quả tốt

- Quỹ BHXHTN phải được đầu tư tăng trưởng Đây là nội dung rấtquan trọng, bởi nó đảm bảo quỹ BHXHTN được bảo toàn, tăng trưởng, hoạtđộng đầu tư của quỹ BHXH không phải chịu thuế

- Nguyên tắc lấy số đông bù số ít: phải tạo nên sự ràng buộc mối quan

hệ lâu dài vững chắc giữa đóng và hưởng BHXHTN

Ở nước ta, việc xây dựng và thực hiện BHXH tự nguyện cho lao độngkhu vực phi chính thức đã được Đảng và Nhà nước có chủ trương và banhành nhiều văn bản quy định thực hiện, như: Nghị quyết đại hội VIII, đặc biệt

là Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: "phải thực hiện chế độ BHXH đối với mọingười lao động ở các thành phần kinh tế"

Trang 16

1.2.2 Vai trò của bảo hiểm xã hội tự nguyện

Trong đời sống kinh tế - xã hội, BHXH xã hội nói chung và BHXH tựnguyện nói riêng đóng vai trò to lớn được thể hiện trên các mặt sau:

- BHXH tự nguyện góp phần ổn định đời sống của người tham giaBHXH, đảm bảo an toàn xã hội Những người tham gia BHXH tự nguyện vàgia đình họ sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suygiảm, mất khả năng lao động, mất việc làm hoặc chết Nhờ có sự đảm bảothay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người tham gia BHXH tự nguyệnnhanh chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe,

ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động, hoạt động bình thường củabản thân

- BHXH tự nguyện góp phần thực hiện công bằng xã hội Phân phốitrong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lạigiữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi chonhững người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những ngườikhỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phảinhững biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy,BHXH tự nguyện góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu vàngười nghèo

- BHXH tự nguyện góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảmbảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của con người

- BHXH tự nguyện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh

tế của đất nước

1.2.3 Nguyên tắc hoạt động

Nguyên tắc BHXH tự nguyện là những quy định nhằm đảm bảo chocác hoạt động BHXH tự nguyện diễn ra bình thường, đạt được mục tiêu mongmuốn của nó Nguyên tắc của BHXH tự nguyện là những định hướng, những

Trang 17

quy định và những phương thức hoạt động của cả hệ thống BHXH nhằm đạtđược những mục tiêu đề ra Theo nghĩa đó, BHXH tự nguyện phải được xâydựng trên nền tảng các nguyên tắc sau:

1.2.3.1 Nguyên tắc tự nguyện

BHXH tự nguyện được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của người laođộng với tư cách là người tham gia BHXH cũng là người hưởng BHXH.Trước hết chúng ta cần làm rõ chủ thể tham gia BHXH xét về mặt quan hệsản xuất và quan hệ lao động Đối tượng này vừa là chủ tư liệu sản xuất (chủyếu là ruộng đất, công cụ lao động thủ công, nhà xưởng gắn liền với nơi ở,vốn tự có là chính và một phần quan hệ tín dụng…), vừa là chủ sức lao động(là người vừa tham gia quản lý, vừa tham gia lao động) Họ không tham giatrực tiếp vào thị trường sức lao động (nếu họ không di chuyển nghề), nhưngsản phẩm hàng hóa làm ra lại tham gia vào thị trường và chấp nhận cạnh tranhquyết liệt Họ tự hạch toán kết quả sản xuất kinh doanh, đồng thời tự quyếtđịnh phân phối, quyết định đầu tư và chi tiêu ngân sách trong thu chi gia đình.Bởi vậy, quan hệ của họ với BHXH là quan hệ "lỏng" hoặc quan hệ "mềm",không mang tính bắt buộc như quan hệ lao động trong Bộ luật Lao động điềuchỉnh Bởi vậy họ tham gia BHXH mang tính "tự nguyện", trên cơ sở suynghĩ về "tính lợi ích" khi tham gia BHXH Do đó, mọi chính sách BHXH cótính áp đặt, cưỡng chế và bất lợi (cả trước mắt và lâu dài) đều dẫn đến khảnăng thực thi thấp hoặc thất bại

1.2.3.2 Mọi người đều có quyền tham gia bảo hiểm xã hội và có quyền hưởng bảo hiểm xã hội khi có các nhu cầu về bảo hiểm

Quyền được BHXH của người lao động là một trong những biểu hiện

cụ thể của quyền con người Nhưng BHXH không phải là cái có sẵn, nêntrước hết phải tạo ra nó Ở mỗi nước khi muốn xây dựng hệ thống BHXH thìđầu tiên, Nhà nước phải tạo ra điều kiện và môi trường về kinh tế - xã hội, vềchính sách và luật pháp, về tổ chức và cơ chế quản lý của mình Không có sự

Trang 18

đóng góp này thì chính sách BHXH có hay đến mấy cũng không bao giờ cóBHXH trong thực tiễn Vì vậy, thực hiện trách nhiệm đóng góp tài chínhBHXH là điều kiện cơ bản nhất để người lao động được hưởng quyền BHXH.

Biểu hiện cụ thể quyền được BHXH của người lao động là việc họđược hưởng trợ cấp BHXH theo chế độ xác định Các chế độ này gắn với cáctrường hợp người lao động bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việclàm do đó bị giảm hoặc mất nguồn sinh sống Trong nền kinh tế thị trườngcác trường hợp đó có thể xảy ra rất nhiều và xảy ra một cách ngẫu nhiên Vềnguyên lý thì mọi trường hợp như thế, người lao động đều phải được hưởngBHXH Nhưng giữa nguyên lý với thực tiễn luôn luôn có một khoảng cách rất

xa Khoảng cách đó do các điều kiện kinh tế - xã hội quy định Bởi vậy trêngiác độ điều hành vi mô, cần căn cứ vào các điều kiện kinh tế - xã hội cụ thểcủa đất nước trong từng giai đoạn phát triển để tổ chức và hoàn thiện dần chế

độ BHXH đối với các trường hợp làm giảm hoặc mất thu nhập của người laođộng nói trên

1.2.3.3 Nguyên tắc Nhà nước phải có trách nhiệm đối với quỹ bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động, người lao động cũng có trách nhiệm phải tự bảo hiểm cho mình

Nhà nước có vai trò quản lý vĩ mô mọi hoạt động kinh tế - xã hội trênphạm vi cả nước Với vai trò này, Nhà nước có trong tay mọi điều kiện vậtchất của toàn xã hội, đồng thời cũng có mọi công cụ cần thiết để thực hiện vaitrò của mình Cùng với sự tăng trưởng, sự phát triển của kinh tế - xã hội, cũng

có những kết quả bất lợi không mong muốn Những kết quả bất lợi này trựctiếp hoặc gián tiếp sẽ dẫn đến những rủi ro cho người lao động Khi xảy ratình trạng như vậy, nếu không có BHXH thì Nhà nước vẫn phải chi Ngânsách để giúp đỡ người lao động dưới một dạng khác Sự giúp đỡ đó chẳngnhững làm cho đời sống người lao động ổn định mà còn làm cho sản xuất ổnđịnh, kinh tế - xã hội của đất nước phát triển Vì vậy, khi xã hội loài người

Trang 19

xuất hiện BHXH, một dạng bảo hiểm đời sống tiến bộ hơn đối với người laođộng so với các dạng giúp đỡ truyền thống thì Nhà nước càng có điều kiện vàcàng có trách nhiệm tổ chức và tham gia hoạt động đó Trong điều kiện nước

ta hiện nay, chắc chắn quỹ BHXH tự nguyện không nằm trong NSNN, nhưngvẫn cần phải có sự bảo trợ của Nhà nước về nguồn tài chính, để bảo đảm choquỹ BHXH không bị mất giá do trượt giá, hoặc do biến động về chính trị - xãhội, thiên tai, chiến tranh… Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới quản lý vềBHXH nói chung, cần phải chia tách ưu đãi xã hội và BHXH Do vậy đối vớinhóm người lao động yếu thế, cần có những chính sách ưu đãi riêng để giúp

họ vượt qua khó khăn

Bên cạnh đó, cũng cần phải nhìn nhận trách nhiệm của Nhà nước thôngqua cơ quan BHXH - cơ quan nhà nước quản lý quỹ BHXH Trong quá trìnhquản lý quỹ BHXH từ sự đóng góp của người lao động, cơ quan BHXH phảithực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng quỹ nhằm bảo toàn quỹ, đảm bảo tàichính để chi trả các chế độ BHXH Trách nhiệm này rất quan trọng, bởi suyđến cùng chỉ có những đóng góp của người lao động khi gặp rủi ro sẽ khôngđảm bảo chi trả cho bản thân họ Do đó cơ quan BHXH phải có trách nhiệmthực hiện các biện pháp đầu tư để bù đắp thiếu hụt đó Tuy nhiên, tài chính đểchi trả các chế độ BHXH chủ yếu phải từ đóng góp của người tham gia BHXH

Đối với người lao động, khi gặp phải những rủi ro không mong muốn

và không hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì trước hết đó là rủi

ro của bản thân Vì thế nếu muốn được BHXH tức là muốn nhiều người khác

hỗ trợ cho mình, là dàn trải rủi ro của mình cho nhiều người khác thì tự mìnhphải gánh chiu trực tiếp và trước hết đã Điều đó có nghĩa là bản thân ngườilao động phải có trách nhiệm tham gia BHXH để tự bảo hiểm cho mình

1.2.3.4 Nguyên tắc lấy số đông bù số ít

BHXH là hình thức chia sẻ rủi ro của số ít người cho số đông ngườicùng gánh chịu Chỉ có thực hiện việc san sẻ này thì người lao động mới có

Trang 20

thể được đảm bảo về thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập từ hoạt độngnghề nghiệp khi gặp phải những biến cố (còn gọi là "rủi ro xã hội") Cách làmriêng có của BHXH là mọi người tham gia BHXH đóng góp cho bên nhậnBHXH (cơ quan BHXH chuyên nghiệp) tồn tích dần thành một quỹ BHXHđộc lập và tập trung dùng để chi trả trợ cấp cho những người lao động khi vàchỉ khi họ bị giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động.

Như vậy, trong số đông người tham gia đóng BHXH, chỉ những ngườilao động có đủ điều kiện cần thiết mới được hưởng trợ cấp Trong số đó cónhững người tham gia đóng góp từ lâu, nhưng cũng có người vừa mới thamgia BHXH Vì thế số trợ cấp mà họ nhận được lớn hơn rất nhiều so với số tiền

đã đóng góp của họ Muốn như vậy, thì không có cách nào khác là phải lấykết quả đóng góp của số đông người tham gia, để bù cho số ít người đượchưởng trợ cấp Những người lao động chưa đủ điều kiện để hưởng trợ cấp lúcnày thì phần đóng góp của họ để cho người khác được hưởng, nhưng không vìthế mà họ bị thiệt thòi Một lúc nào đó trong cuộc đời lao động, chắc chắn họcũng sẽ cần phải được hưởng trợ cấp BHXH Khi đó, trợ cấp mà họ đượchưởng cũng do nhiều người khác đóng góp

1.2.3.5 Nguyên tắc kết hợp hài hòa các lợi ích, các khả năng và phương thức đáp ứng nhu cầu bảo hiểm xã hội

Nhu cầu BHXH là cần thiết đối với mọi người lao động Song nhu cầu

đó phải dựa trên cơ sở kết hợp hài hòa lợi ích, các khả năng của người thamgia BHXH cũng như của Nhà nước

Người lao động khi sử dụng thu nhập của mình, trước hết họ phảidành phần lớn chi cho các nhu cầu sinh sống hàng ngày của bản thân và giađình, phần còn lại mới có thể xem xét để đóng phí BHXH Giả sử thu nhậpcủa người lao động giữ nguyên, nếu đóng phí BHXH thấp thì lợi ích trướcmắt của người lao động sẽ tăng lên, nhưng khi họ có nhu cầu được BHXH thìđương nhiên chỉ nhận được trợ cấp thấp Nếu muốn được hưởng trợ cấp

Trang 21

BHXH cao, lẽ đương nhiên sẽ phải đóng phí cao hơn, phần chi cho đời sốnghàng ngày lại phải giảm đi Nếu người tham gia BHXH đóng phí BHXH thấp

mà hưởng trợ cấp BHXH cao, sẽ ảnh hưởng đến mức độ an toàn của quỹBHXH Tính chất lâu dài của chính sách BHXH sẽ ít có khả năng thực thi,còn nếu buộc Nhà nước phải bù đắp toàn bộ chênh lệch đó, thì ảnh hưởng đếnNgân sách Nhà nước Đặc biệt là ở nước ta hiện nay đang trong tình trạng bộichi Ngân sách Nếu Nhà nước không có trách nhiệm đối với quỹ BHXH tựnguyện thì ảnh hưởng đến quyền lợi của người tham gia BHXH tự nguyện,bởi lẽ tiền lương hưu và trợ cấp BHXH thực tế sẽ thấp hơn danh nghĩa do đótính hấp dẫn của chính sách cũng như khả năng thực thi của chính sáchBHXH tự nguyện về lâu dài là không thể thực hiện được

Thực tiễn BHXH thủ công nghiệp trong giai đoạn 1983 đến 1989 làminh chứng cụ thể cho vấn đề này Vì vậy trong nghiên cứu xây dựng cácthiết chế hoặc trong điều hành BHXH cụ thể cần phải tìm ra giải pháp để kếthợp hài hòa lợi ích lâu dài của người lao động, cũng như đảm bảo kết hợp hàihòa giữa lợi ích của người tham gia BHXH và lợi ích của Nhà nước

Để có thể chi trả trợ cấp BHXH cho người lao động thì phải có quỹ tàichính BHXH độc lập và tập trung Nguồn cơ bản để hình thành quỹ này làđóng góp của người lao động và Nhà nước, muốn tăng quỹ thì phải tăngnguồn thu cơ bản, nhưng nguồn thu cơ bản này lại có những giới hạn khôngcho phép vượt qua Vì vậy phải tích cực đi tìm kiếm các nguồn thu khác để bổsung, như đầu tư tiền nhàn rỗi của quỹ BHXH vào hoạt động sinh lợi, hợp tácquốc tế về BHXH để có thêm nguồn thu cho quỹ BHXH do tái bảo hiểm sinh

ra như nhiều nước đã làm

1.2.3.6 Nguyên tắc mức hưởng tiền lương hưu tỷ lệ thuận với mức đóng góp bảo hiểm xã hội

Là hình thức tự nguyện, không bao hàm chính thức trợ cấp ưu đãi nênBHXH tự nguyện phải được xây dựng trên nguyên tắc mức hưởng tiền lương

Trang 22

hưu phải tỷ lệ thuận với mức đóng góp BHXH, đồng thời cũng là nguyên tắcđảm bảo quỹ BHXH an toàn, khuyến khích người lao động tham gia BHXH

tố vốn bằng tiền và vốn dưới hình thức các máy móc thiết bị hiện đại, chúng

ta chỉ có vốn chủ yếu dưới dạng đất Bên cạnh đó cũng cần phải nhận thấyrằng, hoạt động BHXH tự nguyện phải đảm bảo tính an toàn cao, rủi ro thấptrong khi đó các khoản đóng góp và hưởng thụ bằng hiện vật dẽ bị ảnh hưởngbởi tác động tăng giá của một vài mặt hàng nào đó (tài sản của quỹ bao gồmnhững mặt hàng đó), còn các khoản đóng góp và hưởng thụ được tiền tệ hóathì chỉ chịu tác động bởi sự tăng giá của các sản phẩm thiết yếu, do đó tính rủi

ro trong bảo toàn quỹ thấp hơn Ngoài những lý do trên, việc tiền tệ hóakhoản đóng góp và hưởng thụ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xác định mứcđóng, mức hưởng, mối quan hệ giữa đóng góp và hưởng thụ, đồng thời đảmbảo tính bình đẳng cho những người tham gia BHXH tự nguyện Tuy nhiênmối quan hệ giữa đóng góp và hưởng thụ cũng cần được xem xét trong mốiquan hệ với giá cả của các sản phẩm thiết yếu trong cuộc sống, sinh hoạt hàngngày Giải quyết được vấn đề này đảm bảo cho chính sách BHXH tự nguyệnmang tính thực thi cao

Trang 23

1.2.3.7 Bảo hiểm xã hội phải được phát triển dần từng bước phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong từng giai đoạn phát triển

BHXH của một nước gắn rất chặt với trạng thái kinh tế, với các điềukiện kinh tế - xã hội, với cơ chế và trình độ quản lý, đặc biệt là với sự đồng

bộ, hoàn chỉnh của nền pháp chế nước đó Trong khi nền kinh tế thị trườngtheo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta đang hình thành, nhiều lĩnh vực kinh

tế - xã hội đang chuyển mạnh Vì vậy việc xây dựng và phát triển BHXH tựnguyện phải đảm bảo chắc chắn, tính toán thận trọng và phải có bước đi phù hợp

Sự phát triển của BHXH nói chung biểu hiện trên nhiều mặt: cơ cấucác bộ phận của hệ thống, số lượng và cơ cấu các chế độ trợ cấp, mức trợ cấp,thời gian nghỉ việc để hưởng trợ cấp, mức đóng phí BHXH… Nếu không cânnhắc thận trọng và lựa chọn bước đi hợp lý sẽ có thể phát sinh trục trặc khôngthể kiểm soát được

1.3 MÔ HÌNH BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN THẾ GIỚI

Hình thức BHXH tự nguyện không phải quốc gia nào cũng tiến hành.Tuy nhiên ở hầu hết các quốc gia có hình thức BHXH này, đều thực hiện theohai mô hình sau:

- Bảo hiểm xã hội tự nguyện theo một hệ thống độc lập tồn tại songsong với hệ thống BHXH bắt buộc Mô hình này được thực hiện ở các nướcnhư CHLB Đức, Trung Quốc, Philippine, Mỹ, Australia… được áp dụng chocác đối tượng là nông dân, lao động nông thôn, lao động trong các hộ giađình, các nông trại có quy mô nhỏ, những người tự tạo việc làm (nói chungcác đối tượng này không thuộc đối tượng của hệ thống BHXH bắt buộc) vàphần nhiều được tiến hành cho các chế độ BHXH dài hạn (hưu trí tuổi già, tàntật và tử tuất) Điều đáng quan tâm là ở hầu hết các quốc gia tiến hành BHXH

tự nguyện theo mô hình này phần lớn mang tính thí điểm hoặc mới áp dụng

Trang 24

nên chưa có những tổng kết về thành tựu cũng như những bài học kinhnghiệm rút ra qua quá trình thực hiện Riêng đối với hệ thống BHXH của Mỹ,việc khống chế mức thu nhập trần để đóng BHXH bắt buộc và mức này đượcđiều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ (hiện nay mứcthu nhập trần đóng BHXH là 84.900USD/năm), người lao động có mức thunhập cao hơn mức trần này có thể tham gia vào hệ thống BHXH tự nguyện,

hệ thống này độc lập với hệ thống BHXH bắt buộc và do tư nhân đảm nhiệm.Quỹ BHXH tự nguyện được thành lập trên cơ sở đóng góp của người laođộng và người sử dụng lao động trên cơ sở tự nguyện Sau khi đã đạt được sựthỏa thuận giữa hai bên về sự nhất trí tham gia BHXH tự nguyện và có cơ chếđóng góp cho loại hình bảo hiểm này (thỏa thuận này được ghi nhận trongthỏa ước lao động tập thể của doanh nghiệp, ở đây vai trò đại diện của tập thểngười lao động - tổ chức công đoàn là hết sức quan trọng) Như vậy việc thamgia vào hệ thống BHXH tự nguyện không phải là mỗi cá nhân người lao động

mà là cả tập thể của người lao động

- BHXH bổ sung tự nguyện được thực hiện trên cơ sở nền tảng củaBHXH bắt buộc Đây là hình thức phổ biến hiện nay, đặc biệt ở các nước cónền kinh tế phát triển như ở Đức Điểm mấu chốt trong thực hiện hình thứcBHXH này là những người tham gia BHXH bắt buộc có mức thu nhập bìnhquân (được tính toán) theo quy định có thể tham gia BHXH tự nguyện bổsung tự nguyện để có mức trợ cấp cao hơn khi về hưu Mặc dù ở mỗi nướckhác nhau vẫn quy định về nội dung, phương thức và tổ chức thực hiệnBHXH bổ sung tự nguyện cũng khác nhau song đều có những đặc điểmchung đó là:

+ BHXH tự nguyện được áp dụng đối với các chế độ dài hạn

+ Đối tượng tham gia BHXH tự nguyện là những người lao động vàdoanh nghiệp đăng ký tham gia BHXH bắt buộc tự nguyện đóng góp phần thunhập của mình vào quỹ BHXH theo chế độ tự nguyện Cũng có quốc gia quy

Trang 25

định mức thu nhập của những người tham gia BHXH bổ sung tự nguyện đểđảm bảo duy trì việc đóng góp như ở Cộng hòa dân chủ Đức trước đây quyđịnh chỉ những người có thu nhập trên 600 mác/tháng hay trên 7.200mác/năm (thời điểm năm 1977) mới được quyền tham gia BHXH bổ sung tựnguyện, mức đóng bằng 10% số thu nhập vượt quá mức thu nhập quy địnhtrên Tuy nhiên, cũng có quốc gia không khống chế mức thu nhập này (chẳnghạn như BHXH tự nguyện của Úc) [21, tr 19] Việc không quy định mức thunhập bình quân của người lao động để có quyền tham gia BHXH bổ sung tựnguyện là dựa trên quan điểm cho rằng người lao động có thể hạn chế chi tiêuhiện tại để tích lũy cho về già hoặc mặc dù thu nhập thấp hơn nhưng ngườilao động vẫn có khả năng tham gia BHXH bổ sung tự nguyện do họ được sựtrợ giúp nào đó (chẳng hạn của gia đình, của người thân ) Chính việc khôngkhống chế mức thu nhập này càng khuyến khích nhiều người lao động có khảnăng tham gia vào BHXH bổ sung tự nguyện.

+ Do dựa trên nền tảng là BHXH bắt buộc nên độ tuổi quy định đượcnhận trợ cấp hưu trí bổ sung tự nguyện cũng trùng với độ tuổi nhận trợ cấphưu trí theo quy định trong BHXH bắt buộc Ở Đức, nam được nhận trợ cấpbảo hiểm hưu trí tự nguyện khi tròn 65 tuổi và nữ khi tròn 60 tuổi Chính vìvậy, khi nghỉ hưu bên cạnh trợ cấp hưu trí theo BHXH bắt buộc người thamgia BHXH bổ sung tự nguyện còn được nhận một khoản trợ cấp hưu trí bổsung tự nguyện [21, tr 25]

+ Việc tham gia BHXH bổ sung tự nguyện là do người lao động hoàntoàn tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của mình Tham gia vào BHXH

bổ sung tự nguyện mức đóng góp lại được chia cho các bên là người lao động

và người sử dụng lao động, song tỷ lệ đóng góp của các bên khác nhau cũngkhác nhau ở mỗi quốc gia, thậm chí không có tỷ lệ đóng cố định chung mà tùythuộc vào sự thỏa thuận khi tham gia BHXH tự nguyện của người lao động vàngười sử dụng lao động Ở cộng hòa dân chủ Đức trước đây mức đóng góp

Trang 26

này được chia đều cho mỗi bên 10% thu nhập trên mức 600 mác/tháng Mặtkhác, để khuyến khích người lao động có thu nhập tham gia BHXH tự nguyệnluật pháp còn quy định người lao động sau khi đóng BHXH bổ sung tựnguyện liên tục được 25 năm trên cơ sở thu nhập thực tế của mình thì đượcmiễn tiền đóng góp bảo hiểm hưu trí bổ sung tự nguyện bắt đầu từ năm thứ

26 Trong trường hợp này, các doanh nghiệp vẫn phải tiếp tục nghĩa vụ đónggóp của mình ở mức quy định (10% thu nhập trên 600 mác/tháng) cho ngườilao động tham gia BHXH bổ sung tự nguyện ở những năm tiếp theo Nhànước có trách nhiệm hỗ trợ bổ sung cho quỹ BHXH khi gặp khó khăn về cáckhoản chi [21, tr 23]

Theo cơ chế tự nguyện nên trong điều kiện hưởng của loại hình bảohiểm này không quy định thời gian tối thiểu tham gia BHXH như khi thamgia BHXH bắt buộc Song cũng như BHXH bắt buộc mức trợ cấp hưu trí bổsung tự nguyện phụ thuộc vào thời gian tham gia đóng góp bảo hiểm hưu trí

bổ sung tự nguyện và thu nhập trung bình hàng tháng trên mức thu nhập quyđịnh được quyền tham gia BHXH bổ sung tự nguyện Chẳng hạn như ở Đứclương hưu trí bổ sung tự nguyện được tính bằng 2,5% thu nhập trung bìnhhàng tháng vượt 600 mác mà người được bảo hiểm đóng bảo hiểm hưu trí bổsung tự nguyện [21, tr 16] Với phương thức này năm 1979 cứ 2 người laođộng về hưu thì có 1 người bên cạnh tiền BHXH bắt buộc còn có tiền hưu trí

bổ sung tự nguyện, trong số họ nhiều người có tiền hưu trí gần ngang bằngvới thu nhập của họ khi còn làm việc Chính vì vậy mức sống của người vềhưu nói chung có phần được đảm bảo hơn

+ BHXH bổ sung tự nguyện thực sự là sự tiếp nối của BHXH bắt buộc,trên cơ sở BHXH bắt buộc Do đó thực hiện sự nghiệp BHXH bổ sung tựnguyện vẫn là cơ quan BHXH quốc gia Quỹ BHXH hạch toán chung cho cảhình thức bắt buộc và bổ sung tự nguyện Những quy định về BHXH bổ sung

tự nguyện cũng được luật pháp hóa bằng các văn bản pháp luật của Nhà nước

Trang 27

BHXH luôn là một chính sách lớn trong hệ thống ASXH của mỗiquốc gia, đồng thời luôn là một công cụ hữu hiệu được các quốc gia sử dụngrất hiệu quả để phát triển nền kinh tế, từ đó góp phần ổn định và phát triển xãhội Phát triển các hình thức BHXH, xây dựng loại hình BHXH tự nguyệnđược xác định là một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển hệ thốngBHXH ở nước ta trong giai đoạn tới nhằm "không ngừng mở rộng mạng lưới

an sinh xã hội" như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã đề ra

Thực hiện loại hình BHXH tự nguyện ngày nay như một tất yếu kháchquan bởi sau công cuộc đổi mới, nền kinh tế đã thu được những thành tựuđáng khích lệ, đời sống người dân có phần được nâng cao, một bộ phận doanhnghiệp sản xuất phát triển, người lao động có thu nhập cao hơn chắc chắn sẽphát sinh nhu cầu tham gia và khả năng tham gia BHXH tự nguyện Việc thiết

kế loại hình BHXH này sẽ mở thêm một cơ hội mới cho các doanh nghiệpcũng như người lao động

Trang 28

Chương 2

THỰC TRẠNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN

KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC Ở VIỆT NAM

2.1 THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC

2.1.1 Dân số và lao động khu vực phi chính thức

Năm 2007, dân số cả nước có khoảng 85,2 triệu người, lực lượng laođộng có khoảng 46,6 triệu người Lao động có việc làm trong nền kinh tếquốc dân khoảng 45,6 triệu người, trong đó đối tượng tham gia BHXH bắtbuộc (lao động làm công ăn lương hay còn gọi là lao động khu vực chínhthức) có khoảng 12,3 triệu người (27% lực lượng lao động) Còn lại 33,3 triệulao động (73%) làm việc trong nông nghiệp (nông dân), khu vực phi nôngnghiệp trong nông thôn, lao động tự do hành nghề (kể cả lao động nhập cư),lao động trong hộ gia đình sản xuất kinh doanh cá thể ở thành thị…[26, tr 6]

Đó là khu vực phi chính thức, chưa được điều chỉnh của Bộ luật lao động, và

do đó chưa được tham gia BHXH bắt buộc Từ ngày 1/1/2008, đối tượng laođộng làm việc trong khu vực phi chính thức mới thuộc phạm vi điều chỉnhcủa Luật BHXH Đến thời điểm này, người lao động đầu tiên làm việc trongkhu vực phi chính thức mới được tham gia

Theo số liệu điều tra lao động và việc làm hàng năm của Tổng cụcThống kê, đến tháng 9/2009 dân số cả nước có khoảng 86,1 triệu người, lựclượng lao động có khoảng 49,2 triệu người (57,4%) Lao động có việc làmtrong nền kinh tế quốc dân khoảng 47,7 triệu người, trong đó lao động làmcông ăn lương (khu vực chính thức) có khoảng 18.2 triệu người (38,2% lựclượng lao động), cũn lại 29,5 triệu lao động (61,8%) làm việc trong nôngnghiệp (nông dân), khu vực phi nông nghiệp trong nông thôn, lao động tự dohành nghề (kể cả lao động nhập cư), lao động trong hộ gia đình sản xuất kinh

Trang 29

doanh cá thể ở thành thị…(lao động khu vực phi chính thức) [28, tr 6] Vềmặt cơ cấu tỷ trọng lao động trong khu vực phi chính thức đã giảm đi 12% sovới năm 2007 Điều này cũng phù hợp với chủ trương, đường lối phát triểnkinh tế của Đảng và Nhà nước.

Như vậy, có thể thấy lực lượng lao động tham gia vào khu vực phi chínhthức chiếm một phần khá lớn Họ gồm những người lao động làm việc trongcác doanh nghiệp phi chính thức (quy mô sản xuất nhỏ); làm việc trong cácdoanh nghiệp chính thức nhưng công việc không được sự bảo vệ của xã hội,luật lao động; người làm việc trong hộ gia đình (giúp việc nhà) và lao động ănlương trong nhiều khu vực, kể cả khu vực Nhà nước, nhưng công việc không

ổn định Dễ nhận ra nhất là những người làm việc tự do (buôn bán, khuân vác,dịch vụ đơn giản) hay tự nguyện làm công cho người khác mà không hề được

ký kết hợp đồng Phần lớn lao động trong khu vực phi chính thức đều phảichấp nhận điều kiện làm việc kém, thu nhập thấp, không được hưởng quyền,nghĩa vụ lao động, quỹ phúc lợi xã hội, dịch vụ công ích, BHXH Đơn giảnbởi vì họ ít được sự bảo vệ của công đoàn, pháp luật Các hoạt động tương trợ

xã hội, pháp lý cũng chưa tiếp cận sát với những đối tượng này Họ hoạt độnggần như đơn độc, mối liên kết gần nhất, bền nhất chính là giữa những ngườiđồng cảnh ngộ "phi chính thức" với nhau

2.1.2 Trình độ học vấn của lao động khu vực phi chính thức

Như trên đã nêu, lao động khu vực phi chính thức gồm những ngườilàm việc trong các doanh nghiệp quy mô sản xuất nhỏ, tự tạo việc làm, làmthuê nên có trình độ đào tạo rất thấp Trình độ học vấn là một trong nhữngnguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến lao động, việc làm và thu nhập củalao động khu vực phi chính thức Do công việc làm không yêu cầu phải quađào tạo cao và không có điều kiện để được đào tạo Mặt khác, thực tế ở cácthành phố lớn nước ta cho thấy, có nhiều xuất phát điểm khác nhau để ngườilao động tham gia vào khu vực kinh tế này, nhưng những hạn chế về năng

Trang 30

lực, kiến thức và vật chất là nguyên nhân chính buộc người lao động phảibước vào con đường này Từ xuất phát điểm của sự nghèo đói, thất học, ngườilao động lại tiếp tục gia nhập vào một thị trường lao động mà cơ hội để họchỏi, hòa nhập với sự phát triển xã hội dường như không có Song song với nó

là một mức thu nhập thấp, rủi ro tai nạn lao động và khả năng không đượcđền bù rất cao Vì nghèo nên nhiều người phải tham gia khu vực kinh tế phichính thức và sau một thời gian làm việc ở đó, chưa chắc gì họ thoát khỏicảnh nghèo Cứ thế, như một vòng luẩn quẩn, người lao động khu vực kinh tếphi chính thức đối mặt với hết rủi ro này đến thiệt thòi khác Những số liệu ởsau sẽ minh chứng cho vấn đề này:

Bảng 2.1: Trình độ học vấn của lao động khu vực phi chính thức

Tốt nghiệp tiểu học trở xuống 8.90Tốt nghiệp trung học cơ sở 39.94Tốt nghiệp phổ thông trung học 31.23

Sơ cấp/ công nhân kỹ thuật 4.11

đó có 7,53% được tạo tạo ở trình độ cao đẳng/ đại học trở lên, đại đa số laođộng khu vực này chủ yếu có trình độ học vấn từ phổ thông trung học trởxuống, chiếm 80,07% tổng số lao động đã được điều tra Đặc biệt số lao động

có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống chiếm 48,84% tổng số người đượcđiều tra Chính do trình độ hạn chế nên dẫn tới khả năng nhận thức của người

Trang 31

lao động về các chính sách kinh tế xã hội nói chung và chính sách BHXH nóiriêng rất hạn chế.

Trình độ hạn chế dẫn đến người lao động khó có thể tìm được côngviệc làm tốt, thu nhập không cao và thiếu ổn định Bảng 2.2 dưới đây phảnánh mối quan hệ giữa trình độ học vấn và mức thu nhập của người lao động:

Bảng 2.2: Trình độ học vấn ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng

của người lao động

n v : %.Đơn vị: % ị: %

Trình độ Tổng

số

< 540.000 VNĐ

540.000 đến 1.080.000

1.080.000 đến 1.620.000

1.620.000 đến 2.160.000

> 2.160.0 00

Nhìn vào bảng trên, ta thấy đại đa số lao động khu vực phi chính thức

có mức thu nhập dưới 1,6 triệu đồng/ tháng, trong đó 33,49% số lao độngđược điều tra nhận được mức thu nhập hàng tháng từ 540.000 đồng đến dưới1.080.000 đồng, đặc biệt có đến 12,59% lao động nhận được mức thu nhậpdưới 540.000 đồng/ tháng Chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy trình độ văn hóa

tỷ lệ thuận với thu nhập mà người lao động nhận được

Trang 32

2.1.3 Việc làm và thu nhập của lao động khu vực phi chính thức

BHXH trong kinh tế thị trường thực hiện theo nguyên tắc đóng hưởng và một phần chia sẻ rủi ro, cho nên người lao động trong khu vực phichính thức có việc làm mới có cơ hội và khả năng tham gia BHXH tự nguyện.Tuy nhiên, tình trạng việc làm của khu vực phi chính thức đang là vấn đềđáng quan tâm Số liệu điều tra về nhu cầu và khả năng của đối tượng thamgia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) tự nguyện khu vực phi chính thức năm 2008của Viện Khoa học BHXH cho thấy tính chất công việc của lao động khu vựcphi chính thức chủ yếu là tự tạo việc làm (54,1%) và làm thuê (26,87%)

-Bảng 2.3: Hình thức làm việc của lao động phi chính thức

n v : %Đơn vị: % ị: %

Tên đơn vị Tổng

Tự tạo việc làm

Làm việc trong hộ gia đình không hưởng lương

Kinh doanh có thuê lao động ngoài

Thành viên hợp tác xã

Lao động làm thuê

Trang 33

sử dụng lao động nên mức độ công việc có được trong năm cũng không đượcđầy đủ:

Bảng 2.4: Mức độ công việc đầy đủ thời gian và công việc bán thời gian

theo số lượng tuần làm việc trong năm

n v : %Đơn vị: % ị: %

Thời gian

48 tuần đến 51 tuần Dưới 48 tuần

- Luôn luôn đủ thời gian

- Không bao giờ đủ thời gian

- Thỉnh thoảng đủ thời gian

34,4 9,2 56,4

24,0 9,9 66,1

23,6 8,4 68,0

Nguồn: [29, tr 17].

Kết quả khảo sát cho thấy, nhìn chung, người lao động khu vực phichính thức luôn đủ thời gian làm việc trong năm chỉ chiếm 34,4%, còn lại,56,4% thỉnh thoảng mới đủ thời gian làm việc Đây là yếu tố kinh tế rất quantrọng đối với người lao động để tham gia BHXH

Hình thức làm việc, thời gian có việc làm là những nguyên nhân chínhảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Phân tích bảng 2.5 cho thấy mốiquan hệ giữa loại hình công việc và tần suất thu nhập như sau:

Bảng 2.5: Tần suất được nhận thu nhập theo loại hình công việc

Trang 34

Cộng 100,0 100,0 100,0

Nguồn: [29, tr 20].

Bảng trên cho thấy, tần suất được nhận thu nhập theo loại hình côngviệc khác nhau là khác nhau và nói chung là thấp Phần lớn hộ gia đình nhậnthu nhập theo mùa vụ hoặc thất thường theo cả ba hình thức việc làm (làmcông ăn lương, kinh tế hộ gia đình, tự làm) Trong số lao động làm công ănlương khu vực phi chính thức có 34,2% nhận tiền công không ổn định và31,7% được thanh toán theo tháng hoặc quý Có tới 91,8% lao động làm việctrong kinh tế hộ gia đình là thu nhập không ổn định

Ngoài ra, theo kết quả điều tra năm 2008 của Viện Khoa học BHXHViệt Nam, cũng cho thấy chỉ có khoảng 8% kê khai là chỉ tham gia duy nhấthình thức việc làm được trả công trong 12 tháng qua, 14% đối tượng điều travừa làm thuê, vừa tham gia hoạt động kinh tế gia đình hoặc tự làm Phần lớn(77,6%) chỉ có một hình thức công việc hoặc là lao động tự làm hoặc là hoạtđộng kinh tế hộ gia đình [31]

Trong số những người có việc làm được trả công, 21% có từ 2 hoặc 3chủ sử dụng lao động trong năm vừa qua, và 36% có từ 4 chủ sử dụng laođộng trở lên Chỉ có 58% đối tượng điều tra trả lời cảm thấy có khả năng chủ

sử dụng lao động lâu nhất của họ trong năm vừa qua sẽ tiếp tục thuê họ làmviệc trong năm tới Khoảng 93% cho biết họ không có hợp đồng lao động,hoặc chỉ có hợp đồng miệng [31]

2.1.4 Sự thay đổi việc làm và nơi cư trú của lao động

Người lao động khu vực phi chính thức có ngành nghề đa dạng vàthường xuyên thay đổi việc làm Theo khảo sát, có khoảng 8% trả lời họkhông có hộ khẩu thường trú tại địa phương hiện đang sinh sống, làm việc, sốcòn lại có hộ khẩu và ổn định nơi cư trú, nhưng công việc lại không ổn định.Điều này cho thấy công việc của người lao động khu vực phi chính thức rất

Trang 35

không ổn định và luôn thay đổi chỗ làm việc nên việc tham gia BHXH là rấtkhó khăn Do công việc làm không ổn định nên người lao động tự do thường

có thói quen di chuyển đến những nơi có khả năng tìm được việc làm để tạmtrú và làm việc Nhưng đến khi công việc không còn thích hợp nữa hoặc thunhập thấp, họ lại tìm cơ hội cho những công việc mới ở nơi này, nơi khác, nênviệc theo dõi đối tượng này là rất khó

2.2 THỰC TRẠNG BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN KHU VỰC PHI CHÍNH THỨC

2.2.1 Thực trạng bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức giai đoạn trước năm 2008

BHXH cho lao động khu vực phi chính thức trong cơ chế kế hoạchhóa tập trung đã được nhà nước quan tâm và tổ chức thực hiện dưới hình thứcBHXH cho xã viên hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và xã viên hợp tác xãnông nghiệp Nhưng vào những năm 80 của thế kỷ XX, khi bắt đầu đổi mớichuyển sang kinh tế thị trường, các hình thức BHXH và quỹ BHXH theo kiểu

cũ đã bị tan rã Đến năm 1995 khi xây dựng Bộ luật Lao động và Điều lệBHXH trong nền kinh tế thị trường, chúng ta mới chỉ quan tâm đến khu vựclàm công ăn lương, nhất là khu vực có quan hệ lao động mà chưa chú ý nhiềuđến đối tượng lao động khu vực phi chính thức Theo quy định của Điều lệBHXH ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995 của Chínhphủ, phạm vi và số lượng đối tượng tham gia BHXH đã mở rộng đến ngườilao động trong các thành phần kinh tế tư nhân bao gồm: Người lao động làmviệc trong các doanh nghiệp nhà nước, trong các doanh nghiệp thuộc cácthành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên; ngườilao động làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chếxuất, khu công nghiệp, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc quốc tế tại ViệtNam; người lao động làm việc trong các doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ thuộc

Trang 36

lực lượng vũ trang; người giữ chức vụ dân cử, bầu cử làm việc trong các cơquan quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể; công chức, viên chức nhà nước làmviệc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp từ Trung ương đến địa phương.Sau đó, Chính phủ còn mở rộng cho một số đối tượng khác như những ngườihoạt động trong lĩnh vực văn hóa, xã hội, thể dục, thể thao, y tế…

Năm 2003, theo một số Điều đã quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung vềthực hiện chính sách BHXH mà Quốc hội đã thông qua ngày 2/4/2002, Chínhphủ đã ban hành Nghị định số 01/2003/NĐ-CP ngày 9/1/2003 bổ sung và mởrộng đối tượng bắt buộc tham gia BHXH bao gồm: Người lao động làm việc

có hợp đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng không xác định thờihạn phải tham gia BHXH Theo quy định của Nghị định 01/2003/NĐ-CP thìcác đối tượng bắt buộc tham gia BHXH, BHYT mới được bổ sung phần lớn làngười lao động hoạt động kinh tế không ổn định về thu nhập, điều kiện, hoàncảnh và nơi làm việc cũng thường xuyên thay đổi

Luật BHXH có hiệu lực từ tháng 1/2007, trong đó quy định loại hìnhBHXH tự nguyện có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2008 Như vậy, trước năm

2008 khu vực phi chính thức chưa được tham gia BHXH, mà mới chỉ thamgia được các hình thức khác như bảo hiểm nhân thọ, BHYT và một số môhình mang dáng dấp của BHXH tự nguyện

Bảng 2.6: Sự tham gia các loại hình bảo hiểm của hộ gia đình

Loại hình Có tham

gia (%)

Trong đó Nhà nước hiểm trong nước Công ty bảo hiểm nước ngoài Công ty bảo

Trang 37

Nguồn: [2, tr 12].

Theo kết quả điều tra của Viện Khoa học Lao động và Xã hội - BộLao động Thương binh và Xã hội năm 2007, tại 12 tỉnh đại diện cho các vùngkinh tế cho thấy, trong các loại hình bảo hiểm, có khoảng 15,4% hộ gia đìnhtham gia BHXH bắt buộc, thường là hộ gia đình có người trước đây làm chokhu vực nhà nước hoặc doanh nghiệp, nay về hưu; chỉ có 1% tham gia BHXHnông dân; 53,3% tham gia BHYT, trong đó chủ yếu là hộ nghèo và BHYTcho trẻ em dưới 6 tuổi, đối tượng người có công và người già từ 90 tuổi trởlên (theo chính sách xóa đói giảm nghèo và bảo trợ xã hội) Nhưng có 36,2%tham gia BHXH tự nguyện khác và 7% tham gia bảo hiểm nhân thọ; đó là các

hộ gia đình khá giả hoặc giàu, hoặc có chồng con công tác trong khu vực nhànước và doanh nghiệp mua BHXH cho người thân trong gia đình

Một số liệu điều tra khác của đề tài "Cơ sở khoa học của việc xâydựng, hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở nước ta giai đoạn 2007-2015",

mã số KX 02.02/07-10 đã tiến hành điều tra năm 2007 tại 8 tỉnh, thành phố vềtình hình tham gia BHXH khu vực phi chính thức cũng cho kết quả gần tương

tự như điều tra của Viện KHLĐXH, nói chung mức bao phủ ở khu vực này làrất thấp:

Bảng 2.7: Tỷ lệ tham gia các loại hình BHXH của khu vực phi chính th cức

Tỷ lệ và thời gian tham gia BHXH

bắt buộc

BHXH

tự nguyện

BHYT bắt buộc

BHYT

tự nguyện

1, Tỷ lệ số người tham gia

trong đó:

- Tham gia từ 1-5 năm

- Tham gia từ 6-10 năm

- Tham gia trên 10 năm

2, Tỷ lệ số người chưa tham gia

14,95

12,15 2,80 - 85,05

3,74

1,87 1,87 96,26

-15,89

14,02 1,87 - 84,11

3,74

1,87 1,87 - 96,26

Tổng cộng 100,00 100,00 100,00 100,00

Trang 38

Nguồn: [11].

Bảng 2.7 cho thấy, tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức tham giaBHXH bắt buộc khoảng 14,95%, chủ yếu là làm trong lĩnh vực phi nôngnghiệp ở nông thôn; tham gia BHXH tự nguyện 3,74%, BHYT bắt buộc là15,89% và BHYT tự nguyện là 3,74% Lao động trong số tham gia BHXHbắt buộc và BHYT bắt buộc chủ yếu là những năm gần đây (1-5 năm)

Mặc dù tỷ lệ lao động khu vực chính thức làm công ăn lương trongkinh tế tư nhân rất thấp, nhưng về nguyên tắc, theo Bộ luật lao động nếu cóhợp đồng từ 3 tháng trở lên phải tham gia BHXH bắt buộc Song trên thực tế

tỷ lệ tham gia rất ít do phần lớn không có hợp đồng lao động hoặc hợp đồnglao động bằng miệng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc người lao động thuộc khu vực phichính thức ít tham gia vào các loại hình bảo hiểm, trong đó việc làm không ổnđịnh và thu nhập thấp là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tỷ lệ của hộ gia đìnhkhu vực phi chính thức tham gia các loại hình bảo hiểm (BHXH và bảo hiểm

tự nguyện khác) khá thấp

Trong giai đoạn trước năm 2008 có một loại hình bảo hiểm cho ngườinông dân đã được tổ chức và thực hiện trong một thời gian khá dài và cũng đãđạt được một số kết quả nhất định Đó là BHXH nông dân của tỉnh Nghệ An.BHXH nông dân Nghệ An được thành lập từ ngày 28/4/1998, đến nay đượchơn 9 năm Đây là một loại hình bảo hiểm có nhiều nét tương đồng so với chế

độ BHXH tự nguyện hiện nay BHXH nông dân Nghệ an do chủ trương củatỉnh ủy và UBND tỉnh quyết định thành lập Đối tượng tham gia là người laođộng tại tỉnh Nghệ An không thuộc diện tham gia BHXH bắt buộc Nguồnquỹ của BHXH nông dân Nghệ an do người lao động tham gia đóng góp, sự

hỗ trợ của các tổ chức kinh tế xã hội, sự hỗ trợ, bảo trợ của nhà nước và đầu

tư sinh lời

Trang 39

BHXH nông dân Nghệ An quy định các chế độ được hưởng của ngườilao động tham gia gồm chế độ hưu trí và chế độ tử tuất Hệ thống tổ chức do

ủy ban nhân dân tỉnh quy định

Trong 9 năm, BHXH nông dân Nghệ An đã đi vào hoạt động và đạtkết quả nhất định Tính đến ngày 30 tháng 9 năm 2007, hệ thống này đã đượctriển khai tại 314/476 xã thuộc 11/19 huyện/thành phố với sự tham gia của86.769 nông dân Tổng quỹ huy động được 112 tỷ đồng, lợi nhuận thu được

từ hoạt động đầu tư của quỹ là 23 tỷ đồng Có 204 nông dân đó được nhậnlương hưu hàng tháng cùng với thẻ BHYT; 11.236 nông dân được trợ cấp mộtlần; số người đang tham gia đóng BHXH nông dân là 75.329 người [30, tr 9]

Tuy nhiên do hoạt động mang tính cục bộ, bộ máy hoạt động nằm trong

bộ máy hành chính của tỉnh, số lượng người tham gia không đủ lớn khôngđảm bảo nguyên tắc số đông bù số ít, nên không mở rộng và phát huy đượchiệu quả Ngày 16/3/2009 Chính phủ có Quyết định số 41/2009/QĐ-TTg vềchuyển BHXH nông dân Nghệ An sang hệ thống BHXH tự nguyện quốc gia

do BHXH Việt Nam quản lý

2.2.2 Thực trạng bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức từ khi có Luật Bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện

2.2.2.1 Hệ thống văn bản pháp quy về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Năm 2006, Luật BHXH đã được thông qua tại kỳ họp thứ 9, Quốc hộikhóa XI và có hiệu lực thi hành từ 1/1/2007 Trong đó, có 1 chương (chương 4)với 9 điều quy định chế độ BHXH tự nguyện áp dụng cho lao động làm việckhông thuộc đối tượng thực hiện BHXH bắt buộc Để triển khai thực hiện,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 190/2007/NĐ-CP hướng dẫn một sốđiều của Luật BHXH về BHXH tự nguyện Bộ Lao động Thương binh và Xã

Trang 40

hội và BHXH Việt Nam đã ban hành một loạt các văn bản hướng dẫn vềBHXH tự nguyện cho người lao động, gồm:

- Thông tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH ngày 31/01/2008 hướng dẫnthực hiện một số điều của Nghị định số 190/2007/NĐ-CP

- Nghị định số 134/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 của Chính phủ vềđiều chỉnh thu nhập tháng đó đóng BHXH đối với người lao động tham giaBHXH tự nguyện

- Thông tư số 02/2009/TT-BLĐTBXH ngày 15/01/2009 hướng dẫnđiều chỉnh thu nhập tháng đã đóng BHXH đối với người lao động tham giaBHXH tự nguyện theo Nghị định 134/2008/NĐ-CP ngày 31/12/2008 củaChính phủ

- Thông tư số 04/2010/TT-BLĐTBXH ngày 29/01/2010 điều chỉnh thunhập tháng đó đóng BHXH đối với người lao động tham gia BHXH tự nguyện

- Quyết định 41/2009/QĐ-TTg ngày 16/3/2009 về chuyển BHXH nôngdân Nghệ An sang BHXH tự nguyện (Thông tư 12/2009/TT-BLĐTBXH ngày28/4/2009 hướng dẫn thực hiện)

- Công văn số 1564/BHXH- BT ngày 2/6/2008 của BHXH Việt Nam

về việc Hướng dẫn thủ tục tham gia và giải quyết hưởng các chế độ BHXHđối với người tham gia BHXH tự nguyện

2.2.2.2 Quản lý nhà nước về bảo hiểm xã hội tự nguyện

Theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 190/2008/NĐ-CP thì Bộ Laođộng Thương binh và Xã hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiệnquản lý nhà nước về BHXH tự nguyện Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcchính phủ phối hợp với Bộ Lao động Thương binh và xã hội trong việc xâydựng pháp luật, chính sách liên quan đến BHXH tự nguyện

Ngày đăng: 07/04/2013, 23:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo hiểm Xã hội Việt Nam - IOS Partners (2005), Báo cáo kết quả điều tra nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm xã hội của lao động khu vực phi chính thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả điều tra nhu cầu và khả năng tham gia bảo hiểm xã hội của lao động khu vực phi chính thức
Tác giả: Bảo hiểm Xã hội Việt Nam - IOS Partners
Năm: 2005
2. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2007), Điều tra hộ gia đình khu vực phi chính thức tại 12 tỉnh, thành phố, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra hộ gia đình khu vực phi chính thức tại 12 tỉnh, thành phố
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2007
3. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2008), Bảo hiểm xã hội các nước trên thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội các nước trên thế giới
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2008
4. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2009), Báo cáo quyết toán năm 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quyết toán năm 2008
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2009
5. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo quyết toán năm 2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo quyết toán năm 2009
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2010
6. Bảo hiểm xã hội Việt Nam (2010), Báo cáo đánh giá kết quả 15 năm thực hiện bảo hiểm xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá kết quả 15 năm thực hiện bảo hiểm xã hội
Tác giả: Bảo hiểm xã hội Việt Nam
Năm: 2010
7. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Ngân hàng Thế giới (2007), Khảo sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát về triển vọng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách
Tác giả: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội - Ngân hàng Thế giới
Năm: 2007
8. Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2002) (2006) Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bộ luật Lao động của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2002)
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
9. Chính phủ (2007), Nghị định số 190/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 190/2007/NĐ-CP hướng dẫn một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo hiểm xã hội tự nguyện
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2007
11. Mai Ngọc Cường (Chủ nhiệm đề tài), Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2007-2015, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2007-2015
12. Nguyễn Hữu Dũng (1999), "Bảo hiểm xã hội cho lao động nông thôn", Bảo hiểm xã hội, (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội cho lao động nông thôn
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 1999
13. Trần Công Dũng (2007), "Một số vấn đề về quyền lựa chọn và khả năng kết nối của loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện", Bảo hiểm xã hội, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về quyền lựa chọn và khả năng kết nối của loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện
Tác giả: Trần Công Dũng
Năm: 2007
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
16. Bùi Văn Hồng (Chủ nhiệm đề tài) (2002), Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người lao động tự tạo việc làm và thu nhập
Tác giả: Bùi Văn Hồng (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2002
17. Hồ Xuân Hùng (1999), "Bảo hiểm xã hội cho nông dân là cần thiết trong tình hình hiện nay", Bảo hiểm xã hội, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo hiểm xã hội cho nông dân là cần thiết trong tình hình hiện nay
Tác giả: Hồ Xuân Hùng
Năm: 1999
18. Luật Bảo hiểm xã hội và những quy định pháp luật hiện hành về chế độ bảo hiểm xã hội (2006), Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Bảo hiểm xã hội và những quy định pháp luật hiện hành về chế độ bảo hiểm xã hội
Tác giả: Luật Bảo hiểm xã hội và những quy định pháp luật hiện hành về chế độ bảo hiểm xã hội
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2006
19. Kiều Văn Minh (Chủ nhiệm đề tài) (2003), Giải pháp mở rộng đối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp mở rộng đối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước
Tác giả: Kiều Văn Minh (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2003
20. Lưu Bích Ngọc (2008) "Người lao động với bảo hiểm xã hội tự nguyện", Tạp chí Kinh tế và phát triển Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lao động với bảo hiểm xã hội tự nguyện
21. Đào Thị Hải Nguyệt (Chủ nhiệm đề tài) (2007), Mô hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mô hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam
Tác giả: Đào Thị Hải Nguyệt (Chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2007

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Trình độ học vấn của lao động khu vực phi chính thức - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.1 Trình độ học vấn của lao động khu vực phi chính thức (Trang 30)
Bảng 2.2: Trình độ học vấn ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng  của người lao động - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.2 Trình độ học vấn ảnh hưởng đến thu nhập hàng tháng của người lao động (Trang 31)
Bảng 2.3: Hình thức làm việc của lao động phi chính thức - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.3 Hình thức làm việc của lao động phi chính thức (Trang 32)
Bảng 2.4: Mức độ công việc đầy đủ thời gian và công việc bán thời gian theo  số lượng tuần làm việc trong năm - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.4 Mức độ công việc đầy đủ thời gian và công việc bán thời gian theo số lượng tuần làm việc trong năm (Trang 33)
Hình thức làm việc, thời gian có việc làm là những nguyên nhân chính  ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Hình th ức làm việc, thời gian có việc làm là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động (Trang 33)
Bảng 2.6: Sự tham gia các loại hình bảo hiểm của hộ gia đình - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.6 Sự tham gia các loại hình bảo hiểm của hộ gia đình (Trang 36)
Bảng 2.7 cho thấy, tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức tham gia  BHXH bắt buộc khoảng 14,95%, chủ yếu là làm trong lĩnh vực phi nông  nghiệp ở nông thôn; tham gia BHXH tự nguyện 3,74%, BHYT bắt buộc là - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.7 cho thấy, tỷ lệ lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH bắt buộc khoảng 14,95%, chủ yếu là làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp ở nông thôn; tham gia BHXH tự nguyện 3,74%, BHYT bắt buộc là (Trang 37)
Bảng 2.8: Số người tham gia và số tiền đóng BHXH tự nguyện  năm 2008, 2009 - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.8 Số người tham gia và số tiền đóng BHXH tự nguyện năm 2008, 2009 (Trang 46)
Bảng 2.9: Mức tích lũy của người lao động khu vực phi chính thức - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.9 Mức tích lũy của người lao động khu vực phi chính thức (Trang 52)
Bảng 2.10: Một số lựa chọn về tiết kiệm tích lũy và tiêu dùng của lao động  trong khu vực phi chính thức - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.10 Một số lựa chọn về tiết kiệm tích lũy và tiêu dùng của lao động trong khu vực phi chính thức (Trang 53)
Bảng 2.11: Nguyên nhân không tham gia BHXH theo nhóm thu nhập - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.11 Nguyên nhân không tham gia BHXH theo nhóm thu nhập (Trang 54)
Bảng 2.13: Nguyên nhân không tham gia bảo hiểm  phân theo loại bảo hiểm - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 2.13 Nguyên nhân không tham gia bảo hiểm phân theo loại bảo hiểm (Trang 55)
Bảng số liệu trên cho thấy trong tổng số 3.305 người thì có đến 2.793  người (chiếm 84,5% số người) mong muốn được tham gia chế độ BHXH tự  nguyện - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng s ố liệu trên cho thấy trong tổng số 3.305 người thì có đến 2.793 người (chiếm 84,5% số người) mong muốn được tham gia chế độ BHXH tự nguyện (Trang 67)
Bảng 3.5: Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân/ tháng và khả năng đóng góp  của lao động khu vực phi chính thức có mong muốn tham gia BHXH tự nguyện - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 3.5 Mối quan hệ giữa thu nhập bình quân/ tháng và khả năng đóng góp của lao động khu vực phi chính thức có mong muốn tham gia BHXH tự nguyện (Trang 67)
Bảng 3.6: So sánh mức phí sẵn sàng đóng góp và mức tiết kiệm  có thể của người lao động - Phát triển bảo hiểm xã hội tự nguyện khu vực phi chính thức ở Việt Nam
Bảng 3.6 So sánh mức phí sẵn sàng đóng góp và mức tiết kiệm có thể của người lao động (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w