Gooc ki viết: “Sức mạnh giàu có của một dân tộc không phải là ở chỗ nhiều đất đai
Trang 1Mở đầu
1 Lí do chọn đề tài
Gooc ki viết: “Sức mạnh giàu có của một dân tộc không phải là ở chỗ nhiều đất đai, rừng, gia súc và các loại quặng quý mà ở số lượng và chất lượng những con người có học thức, ở sự nhạy bén năng động và khả năng sáng tạo của trí tuệ” Sức mạnh trí tuệ có thể giúp cá nhân con người trở nên tự tin hơn, độc lập hơn và có khả năng giải quyết được những vấn
đề đầy thách thức mà cuộc sống vốn dĩ luôn ẩn chứa Giáo dục là biện pháp hữu hiệu nhằm tăng cường sức mạnh cho mỗi cá nhân Không có quốc gia tiên tiến nào trên thế giới, để đạt tới những thành tựu kinh tế xã hội như ngày nay, mà không có sự đầu tư vào giáo dục ở nước ta tầm quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển kinh tế xã hội đã được Đảng và Nhà nước xác định rất rõ Đảng ta đặt con người ở vị trí trung tâm, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển Nghị quyết trung ương
4, khoá VII của Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi rõ: “…Cùng với khoa học
và công nghệ, giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng câo dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”, và coi “Giáo dục và đào tạo là chìa khoá để mở cửa tiến vào tương lai” Nghị quyết trung ương 2, khoá VIII của Đảng, văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và hội nghị trung ương 6 khoá IX đã khẳng định: “ phát triển giáo dục - đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, là điều kiện để phát huy, nguồn lực con người – yếu tố cơ bản phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Giáo dục tiểu học được coi là bậc học nền tảng, nền móng cho ngôi nhà giáo dục, và tất nhiên chúng ta sẽ không thể xây lên được những ngôi nhà cao, đẹp, chắc chắn, bền vững trên một nền móng yếu ớt Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ về các kĩ năng cơ
Trang 2bản để học sinh tiếp tục học lên Quản lí trường tiểu học, một vấn đề nhạy cảm mang dấu ấn đặc trưng của quá trình lao động sư phạm, mà người hiệu trưởng là hạt nhân chủ yếu ứng dụng khoa học quản lí, cải tiến các biện pháp quản lí để thực hiện mục tiêu giáo dục và đồng thời là người chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của trường mình Công tác quản lí của người hiệu trưởng trong các nhà trường nói chung và trường tiểu học nói riêng chủ yếu là quản lí hoạt động dạy học Hiệu quả công tác quản lí phụ thuộc phần lớn vào các biện pháp quản lí Nếu người hiệu trưởng có các biện pháp quản
lí đúng đắn thì sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục của nhà trường Công tác quản lí hoạt động dạy học ở tiểu học có nhiều điểm khác với quản lí hoạt động dạy học ở các cấp học khác Từ khi Bộ GD - ĐT quyết định bỏ kì thi tốt nghiệp tiểu học, công tác quản lí hoạt động dạy học ở tiểu học càng có ý nghĩa quan trọng Tuy vậy, việc nghiên cứu các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trưởng tiểu học nói chung, ở địa bàn miền núi nói riêng, nhất là sau khi bỏ thi tốt nghiệp chưa được quan tâm nghiên cứu đúng mức Điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng ở cấp tiểu học
Là một người trực tiếp làm công tác quản lí trường tiểu học nhiều năm ở miền núi, chúng tôi thấy đây là một vấn đề cấp thiết vừa có ý nghĩa
lí luận vừa có ý nghĩa thực tiễn Vì vậy, chúng tôi chọn nghiên cứu vấn đề:
“Biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường Tiểu học huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc” làm đề tài luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Đề tài góp phần hoàn thiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tiểu học ở huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
2
Trang 3Công tác quản lí trường học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học
4 Giả thuyết khoa học
Hiện nay, việc quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo đã góp phần nâng cao chất lượng giáo dục song trong quá trình thực hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế Hiệu quả giáo dục có thể được nâng lên nếu người hiệu trưởng thực hiện đồng bộ, sáng tạo các biện pháp quản lí hoạt động dạy học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lí luận về quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường tiểu học
5.2 Nghiên cứu thực trạng về các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc
5.3 Hoàn thiện các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của huyện Tam Đảo - Vĩnh Phúc
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ đi sâu nghiên cứu biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc trong giai đoạn từ 2005 đến 2010
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết
- Phương pháp hệ thống hoá lí thuyết
- Phương pháp mô hình hoá lí thuyết
- Phương pháp giả thuyết
Trang 4- Phương pháp quan sát
- Phương pháp điều tra
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
- Phương pháp khảo nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp chuyên gia
7.3 Nhóm các phương pháp hỗ trợ khác
- Phương pháp thống kê toán học để xử lí số liệu
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm ba chương
Chương 1 Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu
Chương 2 Thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3 Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo
4
Trang 5Chương 1
Cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Việc nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường nói chung
và nhà trường tiểu học nói riêng từ lâu đã trở thành vấn đề quan tâm của các nước trên thế giới trong đó có Việt Nam, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội Để nâng cao chất lượng dạy học, vai trò đóng góp của các biện pháp quản lí là hết sức quan trọng Đây cũng là vấn đề luôn được các nhà quản lí giáo dục quan tâm nghiên cứu ở nước ta, vấn đề quản lí nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học cũng là một vấn đề được giới nghiên cứu quan tâm trong nhiều năm qua Có thể kể đến các công trình của các tác giả Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Ngọc Quang, Hoàng Chúng, Hà Sĩ
Hồ, Lê Tuấn…Trong những công trình này các tác giả đã nghiên cứu và nêu lên những nguyên tắc chung của việc quản lí hoạt động dạy học của người giáo viên như sau:
- Khẳng định trách nhiệm của mỗi giáo viên bộ môn là chịu trách nhiệm về chất lượng giảng dạy học sinh trong lớp mình phụ trách
- Đảm bảo định mức lao động với các giáo viên
- Giúp đỡ thiết thực và cụ thể để cho các giáo viên hoàn thành tốt các trách nhiệm của mình
Từ các nguyên tắc chung đó các tác giả đã nhấn mạnh các vai trò quản lí trong việc thực hiện mục tiêu giáo dục tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn cho rằng: “Trong việc thực hiện mục tiêu đào tạo việc quản lí dạy và học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường” Đặc biệt với sự tâm huyết của mình đối với công tác giáo dục, các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng phải là người “luôn luôn biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lí dạy và học (theo nghĩa rộng) với sự quản lí các quá trình bộ phận Hoạt động dạy học của
Trang 6các bộ môn và các hoạt động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy học nhằm làm cho tác động giáo dục được hoàn chỉnh trọn vẹn”.
- Biện pháp giáo dục chính trị tư tưởng cho giáo viên và bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để xây dựng tiềm lực giảng dạy cho đội ngũ giáo viên cũng là một bộ phận được tác giả Nguyễn Văn Lê chú trọng trong các biện pháp quản lí của hiệu trưởng [21; 5]
- Tác giả Nguyễn Thị ẩn đánh giá cao công tác thi đua và khen thưởng trong quá trình quản lí Bởi thi đua là động lực cho mọi thành viên phát huy hết khả năng, trí tuệ ,động viên lẫn nhau dạy thật tốt, học thật tốt, làm cho chất lượng và hiệu quả giáo dục ngày một nâng cao hơn [1; 3]
Tác giả Lê Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thanh cũng đã nhấn mạnh trong tài liệu “Giáo dục tiểu học – Những vấn đề đặt ra ở các nước trong khu vực Châu á - Thái Bình Dương” như sau: “Các nhà quản lí làm công tác giáo dục phải không ngừng cải tiến, nâng cao chất lượng điều hành và quản lí của mình để qua đó tác động một cách có hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các biện pháp của hệ thống giáo dục ở cấp vi
mô cũng như vĩ mô” [33]
Như vậy, vấn đề nâng cao chất lượng dạy học, từ lâu đã được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khác nhau, nhưng điểm chung mà ta thấy trong các công trình nghiên cứu của họ là: Khẳng định vài trò quan trọng của công tác quản lý của người hiệu trưởng trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ở các cấp học, bậc học Đây cũng chính là một trong những tư tưởng mang tính chiến lược về phát triển giáo dục của Đảng ta “Đổi mới mạnh mẽ nội dung – phương pháp giao dục và quản lí giáo dục - đào tạo” Trong Hội nghị gặp gỡ các nhà giáo tiêu biểu ngày 12/02/2003 tại văn phòng chính phủ, Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch Hội đồng giáo dục quốc gia đã nói: “Nâng cao chất lượng giáo dục
là nhiệm vụ cấp bách, mà yếu tố quan trọng hàng đầu là giáo viên và cán bộ quản lí” Thủ tướng còn nhấn mạnh “Khâu quan trọng nhất để nâng cao chất
6
Trang 7lượng giáo dục là người thầy Chương trình, sách giáo khoa có cải tiến, cơ sở vất chất và trang thiết bị có đầu tư bao nhiêu mà không có thầy dạy giỏi, thầy dạy tốt, người quản lí giỏi, người quản lý tốt thì cũng vô ích” (trích dẫn theo báo Giáo dục và thời đại số 20 ra ngày 15 /2/ 2003) [2].
Huyện Tam Đảo là một huyện miền núi mới thành lập Biện pháp quản lý nói chung và QLHĐDH nói riêng của hiệu trưởng tiểu học còn rất nhiều hạn chế Việc tìm ra các BPQLHĐDH của hiệu trưởng vừa có tính cấp bách vừa có tính lâu dài bởi đó là công việc phải làm thường xuyên và liên tục
Gần đây, đã có một số luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục, chuyên ngành quản lí và tổ chức công tác văn hoá, giáo dục nghiên cứu về BPQLHĐDH của hiệu trưởng như đề tài: Một số biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở trường THCS huyện Đông Sơn – Thanh Hoá; Các biện pháp tăng cường quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường THPT thành phố Hải Phòng; Một số biện pháp nâng cao quản lí hoạt động giảng dạy của hiệu trưởng các trường THCS vùng ven đô quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng; Các BPQLHĐDH của hiệu trưởng trường THPT ở tỉnh Thái Nguyên… Nhưng các đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một số biện pháp quản lí nói chung của một cấp học, chưa có đề tài nào đề cập tới các BPQLHĐDH của hiệu trưởng tiểu học miền núi Việc chỉ ra những BPQLHĐDH của hiệu trưởng trường tiểu học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục ở huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc, chính là vấn đề mà chúng tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lí
Quản lí là một hiện tượng xã hội xuất hiện rất sớm, nó xuất hiện từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ
Trang 8không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, nó là một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung
Con người trải qua bao nhiêu giai đoạn phát triển với những hình thái
xã hội khác nhau thì cũng có bấy nhiêu kiểu quản lí Quản lí vừa là biện pháp hành chính, vừa là nghệ thuật, sau này khi khoa học phát triển, quản lí thành khoa học ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội
K Marx đã viết: “Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào được thực hiện ở một quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lí Quản lí xác lập sự tương hợp giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [20; 9] Như vậy, bản chất của quản lí là một loại lao động để điều khiển lao động Xã hội ngày càng phát triển, các loại hình lao động phong phú, phức tạp thì hoạt động quản lí càng có vai trò quan trọng
Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan niệm về quản lí dưới các góc độ khác nhau:
Các nhà nghiên cứu lí luận liên bang Nga cho rằng: Quản lí một hệ thống xã hội, là khoa học, là nghệ thuật tác động (của chủ thể quản lí) vào
hệ thống, chủ yếu là vào con người, nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định.[ 20; 9]
Hoặc: “Quản lí là tính toán sử dụng hợp lí các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài chính) nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ bởi kết quả tối ưu về kinh tế – xã hội” [20 ; 9]
Các tác giả nghiên cứu quản lí phương Tây cũng có những định nghĩa quả lí rất cụ thể như: “Quản lí chính là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [12; 25]
“Quản lí là một hoạt động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được những mục tiêu của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lí là hình thành một môi trường mà con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất
8
Trang 9Với tư cách thực hành thì quản lí là nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức thì quản lí là khoa học [12 ; 25]
ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng đưa ra nhiều khái niệm khác nhau về quản lí: theo Từ điển tiếng Việt (1992) thì “Quản lí là hoạt động của con người tác động vào tập thể người khác để phối hợp, điều chỉnh, phân công thực hiện mục tiêu chung” [32]
Tác giả Nguyễn Minh Đạo cho rằng: “Quản lí là sự tác động liên tục
có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lí (người quản lí, tổ chức quản lí) lên khách thể (đối tượng quản lí) về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá,
xã hội … bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng [10; 7]
Theo tác giả Hà Sĩ Hồ: “Quản lí là một quá trình tác động có định hướng, có tổ chức nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định
và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định” [16; 61]
Theo tác giả Bùi Trọng Tuân: “Quản lí là chức năng của những hệ thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sự vật, xã hội) thực hiện những chương trình mục đích hành động” [30; 5]
Theo tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: “Quản lí một hệ thống
là quá trình tác động đến nó nhằm đạt được những mục tiêu nhất định những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản
lí mong muốn” [ 15; 225]
Theo tác giả Hoàng Chúng và Phạm Thanh Liêm: “Quản lí là tác động có mục đích đến tập thể những con người nhằm tổ chức và phối hợp hoạt động của họ, động viên kích thích họ trong quá trình lao động [4]
Từ những định nghĩa trên ta rút ra một số điều khái quát là:
- Quản lí là hoạt động tất yếu của những hệ thống có tổ chức, chủ yếu là tập thể người (nhóm)
Trang 10- Quản lí bao giờ cũng hướng đích: có mục tiêu, có tổ chức, có các tác động tương ứng phù hợp nhằm hướng dẫn điều khiển những đối tượng quản lí để đạt tới những mục tiêu định sẵn.
- Quản lí bao giờ cũng tồn tại với tư cách là một hệ thống gồm các thành phần
+ Chủ thể quản lí (người quản lí, tổ chức quản lí) đề ra mục tiêu dẫn dắt điều khiển các đối tượng quản lí để đạt tới mục tiêu đã định sẵn
Khách thể quản lí (đối tượng quản lí) con người (được tổ chức thành một tập thể, một xã hội …); thế giới vô sinh (các trang thiết bị kĩ thuật), thế giới hữu sinh (vật nuôi, cây trồng…)
- Cơ chế quản lí: Những phương thức mà nhờ đó hoạt động quản lí được thực hiện và quan hệ tương tác giữa chủ thể quản lí và khách thể quản lí được vận hành điều chỉnh
- Mục tiêu chung: Cho cả đối tượng quản lí và chủ thể quản lí là căn
cứ để chủ thể quản lí tạo ra các hoạt động quản lí
* Quản lí là khoa học, là nghệ thuật sử dụng các nguồn lực sao cho hiệu quả cao nhất mà chi phí thấp nhất
* Quản lí tạo ra mối quan hệ hữu cơ giữa chủ thể quản lí và khách thể quản
lí Chủ thể quản lí tạo ra các tác động quản lí, còn khách thể quản lí tạo ra các sản phẩm có giá trị sử dụng, hiện thực hoá mục tiêu đã định và thoả mãn mục đích của nhà quản lí
Như vậy, quản lí là quá trình tác động có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lí lên đối tượng quản lí thông qua các cơ chế quản lí, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển, đạt những mục tiêu đã định
Để đạt được những mục tiêu đã định, quản lí phải thông qua các chức năng quản lí Chức năng quản lí chính là những nội dung, những phương thức hoạt động cơ bản mà trong quá trình quản lí, chủ thể quản lí
sử dụng nó tác động đến đối tượng quản lí để thực hiện mục tiêu quản lí
10
Trang 11Quản lí có bốn chức năng cơ bản, các chức năng này luôn luôn có mối quan hệ mật thiết, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong quá trình quản lí, bao gồm: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra.
Kế hoạch hoá: là căn cứ vào thực trạng ban đầu của tổ chức và căn
cứ vào nhiệm vụ được giao mà vạch ra mục tiêu của tổ chức trong từng thời kì, từng giai đoạn, từ đó tìm ra con đường, biện pháp, cách thức đưa tổ chức đạt được mục tiêu đó
Tổ chức: là những nội dung phương thức hoạt động cơ bản trong việc thành lập cấu trúc của tổ chức mà nhờ cấu trúc đó chủ thể quản lí tác động lên các đối tượng quản lí một cách có hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu kế hoạch
Chỉ đạo: là phương thức tác động của CTQL nhằm điều hành tổ chức, nhân lực đã có của tổ chức (đơn vị) vận hành theo đúng kế hoạch để thựuc hiện mục tiêu quản lí
Kiểm tra: là những hoạt động của công tác quản lí tác động đến khách thể quản lí nhằm đánh giá và sử lí các kết quả vận hành của tổ chức
Như vậy: chức năng quản lí là một trong những vấn đề cơ bản của lí luận quản lí, nó giữ vai trò to lớn trong thực tiễn quản lí, chức năng quản lí
và chu trình quản lí thể hiện đầy đủ nội dung hoạt động của chủ thể quản lí đối với khách thể quản lí Chính vì vậy, việc thực hiện đầy đủ các giai đoạn quản lí trong một chu trình quản lí là cơ sở đảm bảo cho hiệu quả của toàn
bộ hệ thống được quản lí
1.2.2 Quản lí hoạt động dạy học trong nhà trường tiểu học
Trong quản lí nhà trường, quản lí hoạt động dạy học là nhiệm vụ hàng đầu Quản lí hoạt động dạy học là quản lí các hiệu quả thành tố cấu trúc của hoạt động dạy học, cần phải tạo điều kiện và tác động cho sự cộng tác tối ưu giữa giáo viên và học sinh, nhằm xác định đúng mục tiêu, lựa chọn nội dung chương trình thích hợp, thực hiện đúng kế hoạch, áp dụng hài hoà các phương pháp, tận dụng các phương tiện và điều kiện có tổ chức
Trang 12quả dạy học đáng tin cậy Để quản lí hoạt động dạy học có hiệu quả cần tuyệt đối chú ý đến những vấn đề cơ bản sau:
+ Chỉ đạo nội dung chương trình dạy học: Nội dung chương trình dạy học thường xuyên được cụ thể hoá bằng môi trường dạy học trong từng
bộ môn, thông qua nôi dung đó mà người học sinh tiếp tục hoàn thiện, phát triển những năng lực trí tuệ và nhân cách của mình theo mục tiêu đó
+ Quản lí việc sử dụng sách giáo khoa là pháp chế trong quản lí tài liệu, hướng dẫn dạy và học Tính linh hoạt trong quản lí nội dung, trong trình dạy học thể hiện ở chỗ tinh giản, mở rộng, bổ sung những nôi dung đặc thù trong phạm vi cần thiết đối với từng loại trường
+ Chỉ đạo hoạt động dạy học trên lớp: Chỉ đạo phương hướng chính trị tư tưởng bài giảng, vì phương hướng chính trị của bài giảng là yếu tố hàng đầu góp phần hình thành sự phát triển nhân cách người học
+ Chỉ đạo việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh: kiểm tra, đánh giá là một khâu không thể thiếu được trong hoạt động dạy học Chỉ đạo việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh nhằm tác động trực tiếp đến giáo viên để họ thực hiện đầy đủ và khoa học quá trình kiểm tra, đánh giá trên cơ sở công bằng, khách quan nhằm thúc đẩy quá trình học tập của học sinh và quá trình giảng dạy của giáo viên đáp ứng ngày càng đầy đủ và vững chắc các yêu cầu do mục tiêu đã đề ra
Trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, sự tăng trưởng vượt bậc khối lượng và tính phức tạp của sản xuất đời sống, người quản lí nói chung
và quản lí giáo dục nói rtiêng, giữ vai trò đặc biệt quan trọng Để đạt được những yêu cầu về hoạt động dạy học thì phải có sự chỉ đạo đúng hướng của người hiệu trưởng
1.2.3 Biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng trường tiểu học
1.2.3.1 Khái niệm biện pháp quản lí hoạt động dạy học
Theo từ điển tiếng Việt “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể” Như vậy biện pháp là cách làm cụ thể được chủ thể sử dụng
12
Trang 13trên cơ sở các phương pháp đã được xác định Muốn hiểu rõ khái niệm biện pháp quản lí giáo dục, trước hết chúng ta xem xét các phương pháp quản lí giáo dục Phương pháp quản lí giáo dục là một bộ phận đồng nhất linh hoạt trong hệ thống quản lí, phương pháp quản lí cũng thể hiện rõ nhất tính năng động, sáng tạo của công tác quản lí trong mỗi tình huống, mỗi đối tượng nhất định Người cán bộ phải biết cách sử dụng phương pháp quản lí thích hợp Tính hiệu quả của quản lí phụ thuộc một phần quan trọng vào việc lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh hoạt nhất các biện pháp quản lí Biện pháp quản lí chính là các cách thức cụ thể để thực hiện phương pháp quản lí.
Trong giáo dục biện pháp quản lí là tổ hợp nhiều cách thức tiến hành của chủ thể quản lý nhằm tác động đến đối tượng quản lý để giải quyết những vấn đề trong công tác quản lý làm cho hệ vận hành đạt mục tiêu mà chủ thể quản lý đã đề ra phù hợp với quy luật khách quan
Như vậy, biện pháp quản lý HĐDH của hiệu trưởng trường tiểu học
là những cách thức tiến hành của hiệu trưởng để tác động đến những lĩnh vực trong quản lý HĐDH nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này và nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục của cấp học
1.2.3.2 Hoạt động dạy
Lịch sử phát triển của loài người gắn liền với giáo dục, giáo dục là một nhu cầu không thể thiếu được của nhu cầu xã hội loài người Nó duy trì và bảo tồn những kinh nghiệm xã hội mà loài người đã tích luỹ được, nó thựuc hiện các chức năng xã hội hết sức quan trọng đó là chức năng kĩ thuật sản xuất, chức năng chính trị xã hội, chức năng văn hoá tư tưởng V.I Lênin coi giáo dục là hiện tượng tất yếu và vĩnh hằng của xã hội loài người
Vì ở đâu có con người thì ở đó có giáo dục, có dạy học, ở đâu còn con người ở đó còn sự truyền đạt những kinh nghiệm của xã hội loài người và như vậy giáo dục được thực hiện bằng nhiều con đường, trong đó có con đường quan trọng nhất là tổ chức dạy học, đó là con đường ngắn nhất để
Trang 14động dạy học sẽ cung cấp cho con người hệ thống kiến thức khoa học, bồi dưỡng phương pháp tư duy sáng tạo và kĩ năng thực tiễn nhằm nâng cao trình độ học vấn, hình thành lối sống văn hoá Mục đích cuối cùng là hình thành cho người học được trang bị những kiến thức mới tiếp thu một cách năng động tự chủ, sáng tạo và vận dụng trong thực tế cuộc sống Như vậy, thực hiện được chức năng nâng cao dân trí cho toàn xã hội.
Dạy học được thực hiện trong môi trường thuận lợi là nhà trường Nội dung chương trình liên hoàn, phù hợp với từng lứa tuổi, thích ứng với từng môi trường nghề nghiệp của địa phương ở nhà trường phổ thông, đặc biệt là trường tiểu học thì hoạt động dạy học là hoạt động trọng tâm, nó giúp cho học sinh nắm vững kiến thức một cách có hệ thống qua hoạt động dạy của thầy giáo Theo Babanxky: chỉ có tác động qua lại giữa thầy và trò thì mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học – nếu không có mối liên hệ tác động qua lại giữa dạy và học sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó Theo Đặng Vũ Hoạt thì: Hoạt động của thầy là hoạt động điều khiển,’.hoạt động cuảt trò là hoạt động tự điều khiển của quá trình dạy
Hoạt động dạy là hoạt động của thầy với vai trò là người tổ chức, điều khiền chỉ đạo,hướng dẫn hoạt động nhận thức nói riêng và hoạt động học tập của học sinh nói chung nhằm thực hiện các mục đích và nhiệm vụ dạy học.Hoạt động học là quá trình nhận thức, đóng vai trò chủ động, tích cực , tự giác và sáng tạo trong nhận thức và rèn luỵên nhân cách Như vậy, hoạt động dạy học được hiểu một cách đầy đủ là bao gồm toàn bộ việc giảng dạy, của thầy điều khiển việc học tập rèn luyện của trò theo nội dung giáo dục toàn diện nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành người làm chủ đất nước,
có giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hoá, kĩ thuật, có sức khoẻ, là những người phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu xây dựng xã hội mới
1.3 Vị trí của trường tiểu học trong hệ thống giáo dục quốc dân
1.3.1 Vị trí trường tiểu học
14
Trang 15Trường tiểu học do nhà nước đặt ra và xây dựng nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học Do đó trường tiểu học có vị trí, chức năng và nhiệm
vụ đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp “ trồng người”
Trong điều 2 của điều lệ trường tiểu học xác định rõ: “Trường tiểu học
là cơ sở giáo dục của bậc tiểu học, bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân Trường tiểu học có tư cách pháp nhân và con dấu riêng [ 7; 5]
Trong cuốn chuyên khảo “Công tác quản lí hành chính và sư phạm của trường tiểu học” JeanValerien có ghi ý kiến của UNESCO như sau:
“Tiểu học không cần phải bàn cãi gì nữa, là cấp đào tạo chính để cung cấp nền giáo dục cơ bản mà mọi trẻ em có quyền được hưởng” [19]
Giáo sư Phạm Tất Dong đã từng khẳng định “giáo dục tiểu học là một bộ phận nền tảng để trên đó chúng ta xây dựng toà nhà học vấn cho toàn dân”
Đây là bậc học bắt buộc đối với mọi trẻ em từ 6 đến 14 tuổi, thực hiện trong 5 năm học từ lớp 1 đến lớp 5 Bậc học này nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS
Đối với mỗi con người trong quá trình trưởng thành, trường tiểu học
là nơi con người chính thức được tổ chức học tập, rèn luyện một cách
“chính quy” nghiêm túc nhất Trường tiểu học lần đầu tiên tác động đến trẻ
em bằng phương pháp nhà trường (bao gồm cả nội dung, phương pháp và
tổ chức giáo dục) nơi đầu tiên tổ chức một cách tự giác hoạt động học tập với tư cách là một hoạt động chủ đạo cho trẻ em, nơi diễn ra cuộc sống thực của trẻ em và là nơi tạo cho trẻ em có hạnh phúc đi học
Như vậy, với tư cách là bậc học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, giáo dục tiểu học có vững chắc thì mới đảm bảo được nhiệm vụ xây dựng toàn bộ nền móng không những chỉ đạo cho giáo dục phổ thông
mà còn cho cả sự hình thành và phát triển nhân cách con người
Điều 3 - luật phổ cập giáo dục tiểu học quy định mục tiêu của giáo
Trang 16các kĩ năng nói, đọc, viết, tính toán, có những hiểu biết cần thiết về thiên nhiên, xã hội, con người, có lòng nhân ái, hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, yêu quý anh chị em, kính trọng thầy cô giáo, lễ phép với người lớn tuổi, giúp
đỡ bạn bè, em nhỏ; yêu lao động, có kỉ luật, có nếp sống văn hoá; có thói quen rèn luyện thân thể và giữ vệ sinh; yêu quê hương đất nước, yêu hoà bình”
Trong điều 27 khoản (2) của luật giáo dục cũng đã ghi rõ: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học THCS” [ 24; 20]
Mục tiêu chung của giáo dục tiểu học trong giai đoạn mới là: “Xây dựng cấp tiểu học lành mạnh, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển bền vững
và về cơ bản đạt trình độ tiến triển” [ 6; 21]
Như vậy, mục tiêu của giáo dục tiểu học đã khẳng định:
+ Phát triển toàn diện con người là mục tiêu chung và lâu dài của giáo dục phát triển Giáo dục tiểu học chỉ hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triển đó
+ Con người phát triển toàn diện phải có đầy đủ các phẩm chất và năng lực về đạo đức trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và phải có các khái niệm cơ bản để tiếp tục học lên, sẵn sàng tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc
+ Học xong bậc tiểu học, học sinh phải tiếp tục học THCS
Từ mục tiêu trên, nội dung giáo dục tiểu học phải “bảo đảm cho học sinh có hiểu biết đơn giản, cần thiết về tự nhiên, xã hội và con người;có thói quen rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh, có hiểu biết ban đầu về hát, múa, âm nhạc, mĩ thuật.” [ 24; 21]
Chúng ta biểu diễn mục tiêu giáo dục tiểu học bằng sơ đồ sau:
gi lên l pờ ớ
Ch ng trình ươ
các môn b t ắ
bu c và t ch nộ ự ọ
Trang 17Sơ đồ: Mục tiêu giáo dục Tiểu học
Từ mục tiêu chung, có thể nêu đặc trưng của mục tiêu quản lí trường tiểu học như sau:
Thứ nhất: Phải chỉ đạo để thực hiện tất cả các công tác:
- Công tác phổ cập và phát triển giáo dục
- Công tác giáo dục trong nhà trường
- Công tác quá trình quản lí dạy học
- Công tác quản lí lao động kĩ thuật
- Công tác quản lí giáo dục thể chất và vệ sinh
- Công tác quản lí các hoạt động xã hội và sinh hoạt tập thể của học sinh, các tác động của môi trường và nhà trường
Thứ hai: Để đạt được môi trường giáo dục, mục tiêu quản lí trường tiểu học còn phải quan tâm đến mặt khác như:
+ Mục tiêu xã hội + Mục tiêu kinh tế+ Mục tiêu cải tiến quản lí
Trong đó mục tiêu cải tiến quản lí chiếm vị trí khá quan trọng, đặc biệt trong tình hình hiện nay, việc thực hiện các mục tiêu cải tiến quản lí có tác dụng quyết định đối với việc thực hiện các mục tiêu quản lí của nhà trường
1.4 Người hiệu trưởng trong nhà trường tiểu học
1.4.1 Vai trò của người hiệu trưởng
Các ho t ng GD ạ độtrong và ngoài
gi lên l pờ ớ
Ch ng trình ươ
các môn b t ắ
bu c và t ch nộ ự ọ
Trang 18Hiệu quả giáo dục, đào tạo của nhà trường nói chung phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau đây:
+ Đội ngũ giáo viên, công nhân viên
+ Cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học
+ Trình độ được giáo dục (đầu vào) của học sinh
+ Tổ chức quản lí trường học, đứng đầu là hiệu trưởng
Khi xác định vai trò, vị trí của người hiệu trưởng – người được giao quyền hạn và nhiệm vụ lớn lao đối với hoạt động quản lí nhà trường, luật giáo dục ban hành năm 2005 ở điều 54 khoản 1 quy định “Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm quản lí các hoạt động của nhà trường, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền bổ nhiệm, công nhận” [24; 45]
Nhà trường thực hiện được mục tiêu nhiệm vụ của mình hay không một phần quyết định là phụ thuộc vào những phẩm chất và năng lực của người hiệu trưởng Trong những hoàn cảnh thực tiễn gần nhau, có trường với hiệu trưởng giỏi đã trở thành trường tiên tiến, đạt nhiều thành tích về dạy học và giáo dục; nhưng với hiệu trưởng kém thì trường không phát triển, chất lượng dạy học và giáo dục thấp Vai trò tổ chức, quản lí của hiệu trưởng có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với mọi hoạt động của nhà trường
Người hiệu trưởng trong nhà trường XHCN không phải chỉ cần biết
tổ chức việc dạy và học theo yêu cầu của xã hội mà điều quan trọng hơn là phải biến nhà trường thành một “công cụ cúa chuyên chính vô sản” (Lê nin – Bàn về giáo dục) Vì vậy ,người hiệu trưởng phải có sự giác ngộ sâu sắc
về chính trị, có những hiểu biết sâu về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về đường lối giáo dục XHCN, có tinh thần cách mạng cao, có tinh thần đoàn kết …
Người hiệu trưởng tổ chức thực hiện những chủ trương chính sách, đường lối giáo dục thông qua nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục phù hợp Người hiệu trưởng phải hiểu rõ mục tiêu giáo dục, am hiểu sâu sắc nội dung giáo dục, nắm chắc các phương pháp giáo dục, các
18
Trang 19nguyên tắc tổ chức giáo dục XHCN có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín
về chuyên môn, là con chim đầu đàn của tập thể giáo viên Người hiệu trưởng có chức năng tổ chức mọi hoạt động giáo dục trong trường, làm sao cho các chủ trương, đường lối các nội dung, phương pháp giáo dục giáo dục được thực hiện một cách có hiệu quả Do vậy, năng lực tổ chức thực tiễn của người hiệu trưởng quyết định hiệu quả của QLGD Trong công tác
tổ chức thực tiễn, người hiệu trưởng phải có tri thức cần thiết về khoa học
tổ chức, đặc biệt phải biết quản lý quản lý con người, có những kỹ năng cần thiết làm việc với con người Chính vì vậy, lao động quản lí của hiệu trưởng vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật
1.4.2 Chức năng của người hiệu trưởng
Công tác quản lí nhà trường trước hết phải nhằm thực hiện nghiêm túc các nhiệm vụ theo luật định, nó thể hiện ở chức năng quản lí Để thực hiện tốt nhiệm vụ của chủ thể quản lí, hiệu trưởng phảI làm tốt 4 chức năng cơ bản trong mọi khâu của quá trình quản lí giáo dục Đó là chức năng lập kế hoạch, chức năng tổ chức thực hiện, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra trong quá trình giáo dục
1.4.2.1 Lập kế hoạch
Là tập hợp các MTGD có quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau bởi MTGD chung và hệ thống các biện pháp thích hợp, được xây dựng trước cho mọt giai đoạn nhất định, nhằm thực hiện nhiệm vụ giáo dục đã được xác định, là chương trình hoạt động của tập thể sư phạm, được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ giáo dục đã được xác định, là chương trình hành động của tập thể sư phạm, được xây dựng trên cơ sở những nhiệm vụ chung của nhà trường, những chỉ thị của Đảng, Nhà nước về giáo dục - đào tạo được vận dụng vào điều kiện cụ thể, phù hợp với đặc điểm của nhà trường
Điều quan trọng nhất trong lập kế hoạch là xác định đúng dắn các
Trang 20soạn thảo ra các quyết định quản lí để các mục tiêu, nhiệm vụ đó từng bước được thực hiện trong từng thời điểm, từng giai đoạn cụ thể.
Giai đoạn đầu của lập kế hoạch có ý nghĩa quan trọng và mất nhiều thời gian, công sức vì phải tổng hợp, nghiên cứu tư liệu của năm học trước, phải phân tích một cách khoa học các mặt thành công cũng như tìm ra nguyên nhân của những mặt còn yếu kém Trên cơ sở mục tiêu đã hoạch định, nghiên cứu các văn bản hướng dẫn, thông tư, chỉ thị, kế hoạch của cấp trên, đồng thời tiến hành xử lí một cách khoa học hệ thống các thông tin về thực tế nhà trường, về đội ngũ giáo viên, học sinh, điều kiện CSVC,
về thực trạng kinh tế – xã hội của địa phương đưa ra thảo luận trong bộ máy lãnh đạo nhà trường để có sự thống nhất cao trong thực hiện
Giai đoạn 2 là lập kế hoạch về từng bộ phận công tác của nhà trường, bao gồm các tổ chuyên môn, các bộ phận tham mưu, các tổ chức đoàn thể (công đoàn, đoàn thanh niên, đội thiếu niên) trong trường Hiệu trưởng cần
có biện pháp chỉ đạo sao cho kế hoạch của các bộ phận đảm bảo tính đồng
bộ, có khả năng phối hợp cao, cùng hướng vào thực hiện mục tiêu và các nhiệm vụ công tác kế hoạch chung Từng bộ phận cần tổ chức xây dựng kế hoạch một cách nghiêm túc, chi tiết, cụ thể, hợp lí, sát với điều kiện thực tế của mình và của trường, phải sắp xếp nhân lực, công việc phù hợp để mỗi thành viên trong tập thể phát huy được điểm mạnh của họ trong HĐSP
20
Trang 21giáo viên tạo điều kiện cho họ được áp dụng những biện pháp thích hợp trong từng trường hợp cụ thể.
Hiệu trưởng tổ chức tốt hoạt động của bộ máy nhà trường, tức là làm công tác tổ chức cán bộ Hiệu trưởng phải nắm vững đội ngũ CBCNV trong trường mình, không những về năng lực chuyên môn mà còn cần phải hiểu được tâm tư, hoàn cảnh riêng của từng người để từ đó có sự phân công hợp lí, tạo điều kiện cho mỗi cá nhân phát huy tối đa năng lực bản thân, tạo thành sức mạnh to lớn của đơn vị
1.4.2.3 Chỉ đạo
Bên cạnh tổ chức, hiệu trưởng phải thường xuyên nắm chắc vai trò chỉ đạo toàn diện của mình Người lãnh đạo giỏi là người tạo ra được sự đồng bộ về mọi phương diện, chủ động và sáng tạo trong tập hợp, xử lí các nguồn thông tin một cách chính xác, kịp thời, để điều chỉnh trong quá trình quản lí, nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Trong quản lí trường học, rất nhiều tình huống có thể xảy ra từ nhiều nguyên nhân đòi hỏi sự chỉ đạo, lãnh đạo đúng đắn, nhạy bén, sâu sắc, kịp thời của người hiệu trưởng
1.4.2.4 Kiểm tra
Chức năng cơ bản của hiệu trưởng trường tiểu học là kiểm tra toàn diện các hoạt động sư phạm diễn ra trong trường do mình phụ trách, phải lấy các mục tiêu trong kế hoạch, mục đích cuối cùng của giáo dục làm tiêu chí để đánh giá các khâu hoạt động Hiệu trưởng cắn cứ vào kết quả kiểm tra cụ thể mà đánh giá từng khâu cho tới toàn bộ hoạt động giáo dục trong nhà trường, kịp thời phát hiện những điểm sai lệch cần điều chỉnh để có biện pháp phù hợp, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra Phương pháp tiến hành kiểm tra cần thiết thực, phù hợp và hiệu quả
Trang 22Các chức năng quản lí của hiểu trưởng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau phối hợp với nhau, bổ xung cho nhau cùng thực hiện một chức năng chung là quản lí tốt hoạt động của nhà trường theo sơ đồ sau:
Sơ đồ: Mối quan hệ giữa các chức năng quản lí của hiệu trưởng
1.4.3 Nhiệm vụ của người hiệu trưởng
Điều 18 của Điều lệ trường tiểu học xác định rõ: Hiệu trưởng trường tiểu học có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
- Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học
- Tổ chức bộ máy của trường: Thành lập và cử các tổ trưởng chuyên môn, tổ hành chính – quản trị, thành lập và cử chủ tịch các hội đồng trong nhà trường
- Phân công, quản lí, kiểm tra công tác của giáo viên, nhân viên; đề nghị với trưởng phòng GD và ĐT về quyết định tuyển dụng, thuyên chuyển, đề bạt giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước
- Quản lí hành chính, tài chính, tài sản của nhà trường
- Tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong nhà trường
- Quản lí học sinh và các hoạt động của học sinh do nhà trường tổ chức; nhận học sinh vào học, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỷ luật học sinh, xét duyệt kết quả đánh giá, xếp loại học sinh, dánh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp, danh sách học sinh được dự thi tốt nghiệp tiểu học
22
L p k ho chậ ế ạ
Ch ỉ đạo
Trang 23- Được dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn và nghiệp vụ quản lí trường học, được hưởng các quyền lợi của hiệu trưởng theo quy định.
Tóm lại: hiệu trưởng là người có trách nhiệm chủ yếu, có tính quyết
định đến kết quả phấn đấu của nhà trường, là nhân tố cơ bản quyết định sự thành bại của nhà trường
1.5 Nội dung quản lí hoạt động dạy học của người hiệu trưởng trong nhà trường
1.5.1 Quản lí hoạt động dạy của giáo viên
Quá trình dạy học là tập hợp những hành động của hai chủ thể là giáo viên và học sinh Trong đó, giáo viên giữ vai trò chủ đạo, tổ chức, hướng dẫn và điều khiển, còn học sinh giữ vai trò chủ động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo rèn luyện thái độ và hành vi tốt đẹp Quá trình dạy học chỉ có thể đem lại kết quả cao khi cả hai chủ thể cùng cố gắng, cùng cộng tác Trong trường học, HĐDH là một hoạt động trung tâm, quản lí HĐDH chính là quản lí quá trình dạy học Nguyễn Ngọc Quang trong tác phẩm “Những khái niệm cơ bản về lí luận quản lí giáo dục đã nói: “Về thực chất, quản lí trường học là quản lí quá trình dạy học” [28; 52]
Nhiệm vụ của giáo viên là giảng dạy, truyền tải tri thức tới học sinh cùng với việc giáo dục đạo đức hình thành nhân cách cho các em Nhiệm
vụ của hiệu trưởng là quản lí đội ngũ giáo viên để giúp cho giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy học của mình Trong phạm vi của đề tài này chúng tôi tập trung vào việc quản lí hoạt động dạyhọc Về quản lí hoạt động dạy của hiệu trưởng trước hết phải nói đến là: Quản lí kế hoạch giảng dạy và việc thực hiện chương trình của giáo viên
Xây dựng kế hoạch giảng dạy và việc xác định mục tiêu công tác giảng dạy của mỗi giáo viên phải dựa trên cơ sở trình độ tay nghề và kết quả phân tích tình hình học tập của học sinh Hiệu trưởng phải hướng dẫn giáo viên quy trình xây dựng kế hoạch, giúp họ biết cách xác định mục tiêu
Trang 24Trong công tác quản lí nhà trường, hiệu trưởng phải coi việc giáo viên thực hiện tốt kế hoạch giảng dạy là một điều quan trọng để đảm bảo chất lượng dạy học Vì vậy, hiệu trưởng phải biết sử dụng nhiều phương pháp quản lí phù hợp với tình hình đội ngũ giáo viên nhà trường giúp họ hoàn thành kế hoạch một cách tốt nhất.
* Quản lý việc thực hiện chương trình của giáo viên
Chương trình dạy học quy định nội dung phương pháp, hình thức dạy học các môn một cách thống nhất, nhằm thực hiện những yêu cầu mục tiêu cấp học Chương trình dạy học là pháp lệnh của Nhà nước do
Bộ giáo dục - đào tạo ban hành Trong chương trình quy định về mục đích, nhiệm vụ, phạm vi, số tiết, hệ thống cấu trúc và nội dung của từng môn học, cho từng khối lớp, tới từng bài cụ thể Chương trình dạy học
là một căn cứ pháp lí để tiến hành chỉ đạo thực hiện kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động dạy học của nhà trường Đồng thời đây cũng là căn
cứ có tính pháp lí để hiệu trưởng quản lí giáo viên, thực hiện theo đúng chương trình quy định Người hiệu trưởng phải thực hiện nghiêm chỉnh không được tuỳ tiện thay đổi, thêm bớt làm sai lệch chương trình dạy học Vì vậy, hiệu trưởng phải nắm vững và tổ chức cho toàn thể giáo viên nghiên cứu nắm vững chương trình, mục tiêu giáo dục của cả cấp học vào đầu các năm học, hoặc khi có sự điều chỉnh của Bộ giáo dục - đào tạo Có nắm vững chương trình dạy học giáo viên mới có cơ sở thực hiện tốt các khâu trong quá trình dạy học: soạn bài, lên lớp, tổ chức thực hành, ôn tập, kiểm tra, cho điểm Nắm vững chương trình dạy học giáo viên mới chủ động và tổ chức có hiệu quả giờ lên lớp mới có khả năng đổi mới về phương pháp, khai thác tốt mọi điều kiện chuẩn bị cho HĐDH đạt hiệu quả Để quản lí giáo viên dạy đúng và dạy đủ chương trình dạy học, hiệu trưởng cần thực hiện các việc sau: Kiểm tra kế hoạch dạy học bộ môn của giáo viên, trong đó kế hoạch thực hiện chương trình
24
Trang 25Hiệu trưởng cùng với phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn, phân công nhau theo dõi nắm tình hình thực hiện hàng tuần, hàng tháng Điều quan trọng là hiệu trưởng phải tiến hành phân tích tình hình thực hiện chương trình sau mỗi lần tổng hợp để có những biện pháp quản lí tốt chương trình dạy học.
Sử dụng các biểu bảng sổ sách như: sổ báo giảng, giáo án, sổ điểm, lịch kiểm tra học tập, sổ dự giờ … để nắm tình hình có liên quan đến việc thực hiện hàng ngày
* Quản lí giáo viên soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp:
Việc chuẩn bị lên lớp của giáo viên bao gồm việc chuẩn bị dài hạn cho toàn năm học và từng học kì hoặc chuẩn bị cho từng tiết lên lớp cụ thể:
Chuẩn bị dài hạn: giáo viên cần xây dựng được kế hoạch dạy học cho cả năm hay từng học kì dựa trên cơ sở nghiên cứu kỹ chương trình dạy học, SGK, tài liệu tham khảo, tình hình học tập của học sinh
Trong quá trình xây dựng kế hoạch cần tính đến khả năng của nhà trường trong việc cung ứng những điều kiện vất chất kỹ thuật cho hoạt động dạy học, khả năng tự làm đồ dùng dạy học Từ đó lựa chọn phương pháp giảng dạy, hình thức lên lớp cho phù hợp
Chuẩn bị từng tiết lên lớp: đó là công tác soạn giáo án Đây là sự chuẩn bị quan trọng nhất của giáo viên trong giờ lên lớp Giáo án là bản thiết
kế cụ thể cho giờ lên lớp, trong đó trình bày trong giáo án phải rõ ràng, khoa học nội dung mà học sinh cần nắm, các hoạt động với những hình thức cụ thể, thời gian phân phối trong tiết học Để quản lí tốt công tác soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên, hiệu trưởng cần thực hiện các biện pháp
- Hướng dẫn giáo viên lập kế hoạch soạn bài
- Thống nhất (cơ bản) về nội dung và hình thức thể hiện các loại bài
ôn với tính chất chỉ dẫn
Trang 26- Hướng dẫn việc sử dụng sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng bài, bài soạn mẫu trong việc soạn bài.
- Quy định về việc dùng các bài soạn đã có
- Phân tích họp nhóm chuyên môn để thảo luận thống nhất nội dung phương pháp soạn bài, những thay đổi cần bổ sung, đổi mới phương pháp hay cải tiến giờ dạy
- Giữa hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, các tổ trưởng chuyên môn có sự phân công: kiểm tra, theo dõi nắm bắt tình hình soạn bài của giáo viên thông qua các buổi thảo luận, kiểm tra giáo án, tổng hợp tình hình biên bản sinh hoạt nhóm chuyên môn, phiếu báo giảng, các báo cáo thống kê học kì, tiến độ thực hiện các chương trình bộ môn
* Quản lí giờ lên lớp của giáo viên:
Hoạt động dạy học ở trường phổ thông là hoạt động cơ bản được thực hiện chủ yếu bằng giờ dạy trên lớp với những giờ lên lớp và hệ thống bài học
Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học, vì vậy cả hiệu trưởng và giáo viên phải tập trung mọi cố gắng để nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp
Quản lí tốt giờ lên lớp của giáo viên giúp họ lên lớp có kết quả là trách nhiệm của hiệu trưởng
Nhiệm vụ cơ bản của giáo viên khi lên lớp là thực hiện nghiêm túc, linh hoạt, sáng tạo bản thiết kế giờ lên lớp Sau khi lên lớp, giáo viên căn
cứ vào giáo án, tự đánh giá và tự rút kinh nghiệm về kết quả của tiết học
Để quản lí tốt giờ lên lớp của giáo viên, hiệu trưởng cần quán triệt quan điểm chỉ đạo là:
Hiệu trưởng cần tạo khả năng điều kiện để giáo viên lên lớp có hiệu quả và cùng với người giúp việc tìm mọi biện pháp tác động càng trực tiếp càng tốt đến giờ lên lớp của giáo viên Đồng thời cần quan tâm đến giáo viên mới vào nghề bằng cách phân công giáo viên giỏi, có kinh nghiệm
26
Trang 27giúp đỡ để uốn nắn kịp thời những sai lệch trong dạy học, hướng dẫn về nghiệp vụ sư phạm, phương pháp dạy học v.v…
* Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp để quản lí giờ lên lớp
Xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp hết sức cần thiết để kiểm tra, để hướng đích đối với các loại giờ lên lớp, từng bước nâng cao chất lượng toàn diện giờ lên lớp
Quản lí giờ lên lớp là biện pháp quản lí trực tiếp của hiệu trưởng Hiệu trưởng cần xây dựng thời khoá biểu một cách khoa học hợp lí để quản
lí giờ lên lớp – thời khoá biểu có vai trò duy trì nền nếp dạy học, điều khiển nhịp điệu dạy học trong ngày, trong tuần, điều tiết giờ lên lớp của giáo viên
Kiểm tra giờ dạy của giáo viên trên lớp bằng hình thức dự giờ là chủ yếu, đồng thời kết hợp việc trao đổi trực tiếp với giáo viên về trình độ học tập của học sinh, chất lượng toàn diện của giờ lên lớp
Hiệu trưởng phải thường xuyên đánh giá hiệu quả của những biện pháp quản lí giờ lên lớp đã đề ra, nguyên nhân của tình hình và những vấn
đề đặt ra
* Tổ chức công tác thi đua khen thưởng
Thi đua là đòn bẩy trong hoạt động dạy học va giáo dục, là một biện pháp quan trọng để động viên tính tích cực hoạt động của cá nhân và tập thể Khi lôi cuốn mọi người vào phong trào thi đua thì họ sẽ cảm thấy rõ ràng vị trí của mình trong công việc mà tập thể đề ra cho họ, từ đó nâng cao trách nhiệm của họ đối với công việc
Trong thi đua có danh hiệu: lao động giỏi, chiến sĩ thi đua, giáo viên giỏi, tập thể xuất sắc, tập thể lao động giỏi và có các phần thưởng tương ứng kích thích mọi người vươn lên Hiệu trưởng cần lãnh đạo tư tưởng quần chúng sao cho họ không quy về sự cố gắng để lập thành tích cá nhân, ganh đua, báo cáo sai sự thật, chạy đụa theo thành tích, mà phải hướng
Trang 28động mới, trao đổi công tác nâng cao tay nghề … Vì vậy phải làm cho mọi người tham gia thi đua hiểu rõ về quan hệ hữu cơ giữa việc đạt danh hiệu thi đua, phần thưởng với lợi ích tập thể, xã hội Người hiệu trưởng cần tiến hành công tác thi đua bằng nhiều hình thức phong phú: trao đổi kinh nghiệm, tổ chức phong trào thi đua, các hội thi thao giảng … tổ chức phong trào thi đua thì người hiệu trưởng cần đảm bảo tính công khai và tính tập thể, đề cao phong trào thi đua thì người hiệu trưởng cần xây dựng mối liên
hệ hành động của cá nhân với sự đánh giá của tập thể Vì vậy, người hiệu trưởng cần làm tốt công tác bình bầu khen thưởng, cần làm cho mọi người
có ý thức noi theo gương điển hình tiên tiến, nhưng đồng thời nhắc nhở, động viên khuyến khích người chậm tiến nay đã có chuyển biến tốt
1.5.2 Quản lí hoạt động học của học sinh
Hoạt động học tập của học sinh là hoạt động đồng thời với hoạt động giảng dạy của thầy Quản lí hoạt động học của học sinh rất quan trọng để tạo ý thức, động cơ đúng đắn trong học tập Người hiệu trưởng căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường thống nhất yêu cầu và biện pháp giáo dục
tư tưởng, thái độ và động cơ học tập của học sinh trong tất cả giáo viên và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường Giáo dục tinh thần và thái độ học tập phải được cụ thể hoá trong nội quy nhà trường để học sinh rèn luyện thường xuyên, thành những thói quen tự giác Thực tiễn, nội dung quản lí hoạt động của học sinh của hiệu trưởng tập trung vào những vấn đề cơ bản sau:
Trang 29+ Hàng tháng hiệu trưởng thu thập tình hình, phân tích đánh giá kết quả học tập của học sinh theo các mặt:
- Tình hình thực hiện nền nếp học tập, tinh thần thái độ đối với học tập , sự chuyên cần, kỷ luật trong học tập
- Kết quả học tập các môn học: Điểm số, tình hình kiểm tra, nhận xét, đánh giá của giáo viên về học tập của học sinh, chú ý đến kết quả học tập của hai đối tượng học sinh kém và giỏi
+ Phối hợp với các lực lượng giáo dục để quản lí hoạt động học của học sinh, đồng thời phát huy vai trò làm chủ của học sinh trong hoạt động học tập, bao gồm:
- Tổ chức sự phối hợp gắn với giáo viên bộ môn và GVCN lớp với tổ chức đoàn thành niên, gia đình học sinh để quản lí được chặt chẽ hoạt động học tập của học sinh từ trường, lớp đến gia đình
- Đề cao vai trò của tổ chức đoàn thành niên, thông qua đoàn thanh niên phát huy vai trò làm chủ tập thể của học sinh, để học sinh tự giác, tích cực tự quản các hoạt động học tập
1.5.3 Quản lí kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học
Kiểm tra, đánh giá là nhiệm vụ rất quan trọng của quá trình quản lí.Kiểm tra, đánh giá để tìm hiểu việc thực hiện các mục tiêu, các quy định nhằm phát hiện kịp thời sự trục trặc, sự trì trệ và các nguyên nhân của chúng để đề ra các biện pháp khắc phục
Phải có kiểm tra, đánh giá để nhằm phát hiện ra các mối liên hệ ngược, phản ánh hiệu quả của các quy định, các nội dung, phương pháp, các kế hoạch để trả lời câu hỏi có khả năng thực thi hay không?
Kiểm tra, đánh giá tác động kịp thời đúng lúc đến hành vi con người nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, qua kiểm tra, đánh giá để khen thưởng động viên, khích lệ tính tích cực của con người làm cho bộ máy nhà trường vận hành tốt hơn
Trang 30Để kiểm tra, đánh giá chính xác phải nắm bắt thông tin nhiều chiều một cách có hệ thống, chính xác, khách quan, bộc lộ được các dấu hiệu bản chất và kết quả đã đạt được trong hoạt động của nhà trường.
Kiểm tra bao giờ cũng đi cùng đánh giá Kiểm tra mà không đánh giá được coi như không có kiểm tra mà như vậy cũng là thiếu sự quản lí lãnh đạo
Kiểm tra, đánh giá nhằm giúp cho hiệu trưởng nắm được hiệu quả, chất lượng từng bộ phận, từng cá nhân trong quá trình hoạt động của nhà trường thấy rõ những phần cần khắc phục, khẳng định được kết quả lao động của nhà trường, từ đó vạch ra được hướng phát triển tốt hơn
Khi kiểm tra, đánh giá phải dựa vào tiêu chí, nguyên tắc, có tính chất pháp quy, có thể tiến hành kiểm tra từng bộ phận hoặc đồng bộ
* Quản lí kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy của giáo viên
Kiểm tra, đánh giá được tiến hành trong cả quá trình quản lí hoạt động dạy của nhà trường Kiểm tra, đánh giá có thể diễn ra trong một thời điểm nhất định nào đó hay đã thành hệ thống Kiểm tra thường đi liền với đánh giá Đánh giá đã khẳng định chất lượng hiệu quả cho quá trình giảng dạy Với từng cá nhân, từng bộ phận đánh giá để họ tự nhận thấy khả năng khắc phục những hạn chế để vươn lên hoàn thành nhiệm vụ như mục tiêu
đã đề ra Chỉ có thông qua kiểm tra, đánh giá thường xuyên và định kỳ mới
có thể thu nhận được thông tin đầy đủ, chính xác từ đó hiệu trưởng mới có những quyết định chính xác, kịp thời mới đảm bảo thực hiện kế hoạch và mục tiêu của nhà trường Với những yêu cầu và nội dung cụ thể của kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy, đó là các quy định, các tiêu chuẩn mang tính pháp quy, chế độ kiểm tra nằm trong kế hoạch chung của năm học, thông qua hoạt động giảng dạy của nhà trường, của tổ chuyên môn Nếu thấy cần thiết yêu cầu cơ quan chuyên môn cấp trên cử các chuyên viên cốt cán để đảm bảo để đảm bảo tính khách quan, công bằng và phát huy hết hiệu lực của kiểm tra, đánh giá Trong kiểm tra, đánh giá tránh nhầm giữa kiểm tra, đánh giá một công việc cụ thể với đánh giá về một con người cụ thể Cần
30
Trang 31tôn trọng những cá tính nhưng phải đảm bảo nguyên tắc, tiến hành đầy đủ thủ tục về hành chính, có các quyết định kiểm tra ghi chép đầy đủ hồ sơ biên bản Qua đó so sánh kết quả của từng thời gian nhất định để đánh giá, cũng có thể từ kết luận đó để có kế hoạch đào tạo lại, bồi dưỡng … để khắc phục tồn tại của chính cá nhân được kiểm tra cũng như kế hoạch quản lí, chỉ đạo và phân công nhiệm vụ của hiệu trưởng trong quá trình quản lí Vì vậy kiểm tra, đánh giá không chỉ là giúp cho hoàn thiện một cá nhân mà còn có tác dụng giúp nhà trường có các biện pháp tích cực trong quản lí quá trình giảng dạy Căn cứ vào điều kiện cụ thể của nhà trường từ kết quả của những năm trước, từ đội ngũ giáo viên hiện có và khả năng phát triển trong những năm tiếp theo làm kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để giáo viên đạt chuẩn, phục vụ cho nhiệm vụ giảng dạy của nhà trường.
* Quản lí việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh:
Quản lí HĐDH thông qua việc quản lí hoạt động kiểm tra, đánh giá quá trình lĩnh hội kiến thức, kỹ năng, hình thành thái độ, phát triển trí tuệ của học sinh Kiểm tra và đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ sảo của học sinh là khâu quan trọng của quá trình dạy học Nó có tác dụng phát hiện và điều chỉnh thực trạng hoạt động học và hoạt động dạy, củng cố và phát triển trí tuệ của học sinh cũng như giáo dục phẩm chất và nhân cách cho các em
- Do việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
có vai trò quan trọng như vậy nên hiệu trưởng cần:
+ Tổ chức cho giáo viên nghiên cứu sâu sắc những văn bản hướng dẫn việc đánh giá - xếp loại học sinh của Bộ giáo dục - đào tạo
+ Tổ chức, đôn đốc và kiểm tra việc thực hiện đánh giá cho điểm của giáo viên
+ Chỉ đạo việc rút kinh nghiệm đánh giá, xếp loại học sinh
+ Duyệt các kết quả đánh giá – xếp loại cuối học kỳ và cuối năm học của các lớp trong toàn trường
Trang 32+ Xây dựng mối quan hệ thông tin hai chiều giữa nhà trường và gia đình thông qua việc tổ chức các cuộc họp giữa nhà trường với phụ huynh
có con em học sinh yếu, kém
+ Tiếp nhận và giải quyết các khiếu nại của học sinh, cha mẹ học sinh về việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong phạm vi quyền hạn của hiệu trưởng
+ Tổ chức các kỳ thi lên lớp theo đúng quy chế vè hướng dẫn của Bộ giáo dục - đào tạo
- Cụ thể hiệu trưởng cần nắm được giáo viên thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các nội dung:
+ Thực hiện đúng chế độ kiểm tra, chế độ cho điểm theo quy định.+ Chấm bài và trả bài đúng hạn, có nhận xét chung và lời phê cụ thể cho từng bài để học sinh rút kinh nghiệm cho mình
+ Vận dụng đúng tiêu chuẩn cho điểm
+ Báo cáo tình hình kiểm tra theo đúng quy định của nhà trường và lưu trữ kết quả kiểm tra trong sổ điểm để sử dụng cho việc tổng kết, phân loại, đánh giá học sinh cuối mỗi kỳ và cuối mỗi năm
- Hiệu trưởng cần phân tích tình hình giáo viên thực hiện việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh từ những số liệu và kết quả thu được để có sự điều chỉnh uốn nắn kịp thời
- Hiệu trưởng quản lí việc giáo viên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh là quản lí quá trình thực hiện quy chế cho điểm số từng môn học do Bộ giáo dục - đào tạo quy định, quản lí việc ra đề của giáo viên, đánh giá xếp loại học sinh trên cơ sở công bằng, khách quan thông qua việc quán triệt và vận dụng đầy đủ các văn bản hướng dẫn về đánh giá, xếp loại của Bộ GD - ĐT
Tóm lại: Những nội dung quản lí HĐDH của hiệu trưởng có mối
quan hệ hữu cơ, gắn bó mật thiết hỗ trợ nhau trong suốt năm học với cùng một mục đích là tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình dạy học
32
Trang 33Kết luận chương 1
Quá trình giảng dạy được tổ chức trong nhà trường bằng phương pháp
sư phạm đặc biệt nhằm trang bị cho học sinh hệ thống kiến thức khoa học và hình thành kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Kết quả của quá trình giảng dạy phụ thuộc vào cả người dạy và người học, trong đó người dạy giữ vai trò quyết định Mặc dù đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính chủ động, tích cực của người học song vai trò quản lí, tổ chức, điều khiển các hoạt động trí tuệ và hướng dẫn thực hành cho học sinh không ai có thể thay thế được những người trực tiếp làm nhiệm vụ giảng dạy
Trong nhà trường, hiệu trưởng là nhân tố quyết định hiệu quả quản lí giáo dục Trong đó quản lí hoạt động dạy học có vài trò rất quan trọng, là tiền đề để nâng cao chất lượng dạy học Hiệu trưởng trường tiểu học cũng như hiệu trưởng các cấp học khác phải nắm chắc những nội dung, nguyên tắc quản lí nhà trường, quản lí giảng dạy, có sự hiểu biết sâu sắc về quản lí hoạt động dạy học ở trường tiểu học Các biện pháp quản lí HĐDH của hiệu trưởng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Cơ sở nghiên cứu các biện pháp quản lí HĐDH ở trường tiểu học được thực hiện ở mối quan hệ biện chứng của các mặt, định hướng chiến lược GD - ĐT trong giai đoạn mới, định ra sứ mạng của trường tiểu học Quản lí nhà trường tiểu học nói chung, quản lí HĐDH nói riêng là tính tất yếu, phù hợp với sự phát triển của xã hội Người hiệu trưởng cần có các biện pháp quản lí HĐDH hữu hiệu, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường để duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục
Trên đây là cơ sở lí luận của việc xác định các biện pháp quản lí HĐDH của hiệu trưởng các trường tiểu học Các biện pháp cụ thể của người hiệu trưởng còn được xác định trên cơ sở thực tiễn tìm hiểu thực trạng của việc quản lí HĐDH của hiệu trưởng các trường tiểu học huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc sẽ được trình bày ở các chương sau
Trang 35Chương 2 Thực trạng các biện pháp quản lí hoạt động dạy học của hiệu trưởng các trường tiểu học
huyện Tam Đảo – Vĩnh Phúc 2.1 Khái quát đôi nét về điều kiện kinh tế – xã hội và giáo dục huyện Tam Đảo
2.1.1 Tình hình về sự phát triển kinh tế xã hội
Thực hiện nghị định số 153/203/ NĐ - CP ngày 9 tháng 12 năm 2003 của Chính Phủ, huyện Tam Đảo được thành lập Tam Đảo là một huyện miền núi của tỉnh Vĩnh Phúc chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/2004 Huyện Tam Đảo nằm trên tuyến đường quốc lộ 2b và tỉnh lộ 314 đi khu du lịch Tam Đảo và Tây Thiên, cách thị xã Vĩnh Yên 10 km, phía Bắc giáp huyện Lập Thạch, Phía Tây giáp huyện Tam Dương, phía Đông giáp huyện Bình Xuyên
Huyện Tam Đảo được chia thành 9 đơn vị hành chính gồm 8 xã và một thị trấn với số dân là 67.591 người, diện tích tự nhiên là 235,73km2 Trong đó có ba xã thuộc diện đặc biệt khó khăn đã được hưởng chế độ 135 Huyện có hai dân tộc sinh sống là Kinh và Sán Dìu, trong đó đồng bào dân tộc chiếm phần lớn và sống chủ yếu bằng nghề nông Dân cư trong huyện phân bố không đồng đều, tập trung rải rác dưới chân núi Tam Đảo và Tây Thiên Giao thông đi lại rất khó khăn, đường hẹp, có nhiều suối, mùa mưa các con suối nước ngập tràn trắng xoá ở các xã thuộc diện đặc biệt khó khăn đời sống của đồng bào dân tộc thấp và còn rất lạc hậu
Với đặc thù là một huyện miền núi dân tộc, mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của huyện Tam Đảo đã được xác định là phát triển du lịch, dịch vụ – lâm nông nghiệp Tam Đảo coi đây là tiềm năng và thế mạnh rất quan trọng,
mở ra một triển vọng lớn cho việc phát triển kinh tế – xã hội của huyện nhà
Về phát triển kinh tế, năm 2004 – 2005 tình hình kinh tế – xã hội của huyện phát triển tương đối toàn diện, nhịp độ tăng trưởng bình quân đạt 14,23%, thu nhập bình quân đầu người đạt 3.495.000đ
Trang 36Về sản xuất nông – lâm – thuỷ – sản: ngành trồng trọt chuyển dịch theo hướng tích cực, cây trồng có giá trị kinh tế cao đã thay thế dần cây trồng có giá trị kinh tế thấp Sản lượng cây lương thực năm 2005 đạt 26,312 tấn.
Các tiến bộ kĩ thuật được áp dụng rộng rãi trong chăn nuôi Đã xuất hiện một số mô hình chăn nuôi gia súc, gia cầm có quy mô lớn
Từ năm 2004 đến nay, các dịch vụ nông nghiệp có chiều hướng phát triển Sản xuất CN – TTCN và xây dựng cơ bản năm 2005 đạt 21, 36 tỷ đồng Đầu tư xây dựng cơ bản như: xây dựng trụ sở làm việc, sân Gold, nâng cấp, làm mới các tuyến đường đang được triển khai Hoạt động thương mại – du lịch và dịch vụ năm 2005 đạt 83,076 tỷ đồng Thương mại tương đối đa dạng, dịch vụ phát triển tương đối toàn diện trên các lĩnh vực, nhất là vận tải, bưu chính viễn thông, điện sinh hoạt, sản xuất ….Du lịch đã
có bước chuyển biến tích cực, bước đầu hình thành 2 cụm du lịch: khu nghỉ mát Tam Đảo và khu di tích danh thắng Tây Thiên
Tuy vậy, đời sống của nhân dân Tam Đảo còn nhiều khó khăn, trình
độ dân trí thấp Hoạt động dịch vụ – du lịch chất lượng thấp thiếu tính chuyên nghiệp Du lịch phát triển chưa tương xứng với tiềm năng Công tác quy hoạch và thu hút đầu tư được triển khai song tiến độ chậm Quy hoạch ngành và các xã phần lớn vẫn chưa được thực hiện
Đảng bộ huyện Tam Đảo đã xác định phát triển kinh tế – xã hội nhiệm kì 2005 – 2010 là: tập trung mọi nguồn lực, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng lấy kinh tế du lịch làm mũi nhọn, làm động lực thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế khác Nhanh chóng khắc phục tình trạng kinh tế thuần nông, tạo tiền đề cho phát triển bền vững Phấn đấu đến năm 2010 Tam Đảo cơ bản trở thành huyện
du lịch, đến năm 2020 trở thành huyện du lịch trọng điểm, tạo động lực phát triển kinh tế của tỉnh và khu vực Phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục - đào tạo, đặc biệt là đào tạo nguồn nhân lực, chăm
36
Trang 37sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của nhân dân, nhất là nhân dân các dân tộc thiểu số Xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở hoạt động có hiệu lực, hiệu quả Cụ thể tập trung phát triển du lịch, dịch vụ, thương mại nhằm không ngừng tăng giá trị sản xuất trên địa bàn, tạo nhiều việc làm mới, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu ngân sách để có điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội.
Gắn du lịch với bảo vệ môi rừng, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc trong huyện Phát triển công nghiệp chủ yếu là chế biến nông lâm thuỷ sản thực phẩm, khôi phục phát triển các làng nghề phục vụ cho tiêu dùng và du lịch Chủ động quỹ đất để phát triển công nghiệp khi có điều kiện Phát triển nông nghiệp theo hướng
đa cạnh tranh Tập trung phát triển các cây trồng có năng suất, giá trị kinh
tế cao Hình thành các vùng sản xuất tập trung
Huyện có thế mạnh là du lịch nên tăng cường đầu tư cơ sở vật chất cho khu thương mại – du lịch Tam Đảo và khu di tích danh lam thắng Tây Thiên trở thành trung tâm du lịch của tỉnh và cả nước Khai thác triệt để các loại hình du lịch, kết hợp với vui chơi giải trí đa dạng hoá các loại hình dịch vụ và sản phẩm du lịch, khuyến khích các nhà đầu tư vào các lĩnh vực thương mại – du lịch- dịch vụ, vui chơi giải trí tại Tam Đảo, Tây Thiên
Huyện mới còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhân dân các dân tộc trong huyện vốn có truyền thống cần cù, sáng tạo, đoàn kết nhất trí tin tưởng vào
sự lãnh đạo của Đảng Vì vậy, nền kinh tế của huyện Tam Đảo trong tương lai sẽ theo kịp đà phát triển chung của tỉnh Vĩnh Phúc Tam Đảo sẽ là nơi thu hút lượng lớn khách du lịch
2.1.2 Tình hình phát triển giáo dục
Huyện Tam Đảo thành lập là sự kiện có ý nghĩa to lớn, phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình phát triển, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo nhân dân các dân tộc khu vực miền núi Tam Đảo cùng với các
Trang 38theo quyết định số 54/13/2003/ QĐ - UB ngày 30/12/2003 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc bao gồm 32 đơn vị trường học, 15.247 học sinh từ mầm non đến THCS và đã chính thức đi vào hoạt động từ 01/01/2004.
Là huyện miền núi mới thành lập, xuất phát điểm mọi mặt của ngành giáo dục Tam Đảo còn rất thấp so với các đơn vị giáo dục trong tỉnh, nhất là về chất lượng giáo dục - đào tạo Đa số các trường trong huyện đều
là những đơn vị giáo dục có nhiều yếu kém, đứng trong tốp cuối của ngành giáo dục các huyện thị có liên quan chuyển về hệ thống giáo dục phát triển chưa đa dạng Mạng lưới các trường lớp ngoài công lập chưa có, các trường đạt chuẩn quốc gia còn ít, còn thiếu trường THCS chất lượng cao và trường dân tộc nội trú cho con em dân tộc học tập Công tác phổ cập và giáo dục THCS của huyện chưa hoàn thành
Các điều kiện phục vụ cho giáo dục còn nhiều hạn chế, bất cập như Quản lý nhà nước về giáo dục còn hạn chế Một số CBQL còn yếu về năng lực quản lý và trình độ chuyên môn nghiệp vụ Hiệu lực công tác quản lý thấp Một bộ phận giáo viên chưa đạt chuẩn về trình độ, chưa đáp ứng được yêu cầu về đổi mới chương trình, cảnh quan môi trường sư phạm của đa số các trường còn nghèo, khó khăn và chậm thay đỏi Công sở làm việc của phòng giáo dục chưa có, hiện còn phải đi thuê Bộ máy lãnh đạo, chuyên viên còn mới mẻ, chưa đủ kinh nghiệm công tác Công tác xã hội văn hoá giáo dục chưa có chiều sâu Mâu thuẫn giữa phát triển nhanh về số lượng trong khi các điều kiện đảm bảo còn nhiều bất cập Việc khuyến khích các nguồn lực đầu tư
từ các tổ chức xã hội và đóng góp của nhân dân chưa có giải pháp thu hút hiệu quả Sự đầu tư ngân sách cho giáo dục chưa tương xứng với yêu cầu phát triển theo quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”
Song, ngay sau khi huyện nhà được thành lập, sự nghiệp GD - ĐT Tam Đảo đã nhanh chóng đi vào hoạt động, tiếp tục thực hiện tốt các nhiệm vụ chính trị của ngành theo tinh thần nghị quyết Đại Hội Đảng các cấp, chiến lược phát triển giáo dục của chính phủ và của tỉnh
38
Trang 39Dưới sự lãnh đạo của huyện uỷ, HĐND, UBND huyện, được sự chỉ đạo của cơ sở GD - ĐT Vĩnh Phúc, sự phối hợp giúp đỡ của các ban ngành, đoàn thể, các cấp uỷ Đảng và chính quyền địa phương, sự ủng hộ giúp đỡ của đông đảo nhân dân và phụ huynh học sinh trong huyện, bằng sự nỗ lực quyết tâm của cán bộ giáo viên toàn ngành, sự nghiệp GD - ĐT Tam Đảo đã từng bước tạo được sự ổn định và đạt được một số thành tích bước đầu quan trọng.
Trang 40
Nhìn chung, mạng lưới trường, lớp toàn huyện đang được củng cố, hoàn thiện hợp lí, thoả mãn nhu cầu học tập của con em nhân dân.
Thực hiện kế hoạch phát triển số lượng học sinh cơ bản tốt Số trẻ ra trường mầm non ngày càng tăng , đạt mức tương đương tỷ lệ chung toàn tỉnh Số lượng học sinh phổ thông đi dần vào ổn định Tuy nhiên, điểm còn yếu trong loại hình trường lớp còn chuyển biến chậm Cả huyện chỉ có loại hình trường là công lập
Bảng 2a Đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên (2005 -2006)
Nhâ
n viên
Nữ Dân
tộc Trình độ chuyên môn
Sơ cấp
Trun
g cấp
Cao đẳn g
Đại học
Nguồn: Phòng giáo dục huyện Tam Đảo
Bảng 2b Số giáo viên, nhân viên hợp đồng (2005 -2006)
Nguồn: Phòng giáo dục huyện Tam Đảo
Đội ngũ giáo viên trong huyện tương đối đủ, tính riêng số giáo viên trong biên chế thì: tiểu học đạt 1,14 giáo viên/ lớp, THCS đạt 1,85 giáo viên/ lớp THCS đạt 1,97 giáo viên/ lớp Số lượng trên đã đáp ứng đủ yêu cầu giảng dạy cả hai bậc học, được bố trí tương đối hợp lí, cân đối giữa các
40