1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa

95 2,5K 8
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Trường học Cao đẳng sư phạm Nha Trang
Chuyên ngành Giáo dục
Thể loại đề tài
Thành phố Nha Trang
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 701,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xã hội hiện đại có những thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội và lối sống với tốc độ nhanh

Trang 1

Mở ĐầU

1 Lý do chọn đề tài

Xã hội hiện đại có những thay đổi toàn diện về kinh tế, văn hóa, xãhội và lối sống với tốc độ nhanh đã làm nảy sinh những vấn đề mà trước đâycon người chưa gặp, chưa trải nghiệm, chưa phải ứng phó, đương đầu hoặc

có những vấn đề đã xuất hiện trước đây nhưng nó chưa phức tạp, khó khăn

và đầy thách thức như trong xã hội hiện đại nên con người dễ hành độngtheo cảm tính và không tránh khỏi rủi ro Nói cách khác, để đến bến bờthành công và hạnh phúc trong cuộc đời, con người sống trong xã hội trướcđây ít gặp những rủi ro và thách thức như con người sống trong xã hội hiệnđại Chính vì vậy, con người trong xã hội hiện đại cần phải có kỹ năng sống

để đáp ứng những thách thức và thời cơ trong quá trình toàn cầu hóa màmục đích chính là nâng cao chất lượng con người và chất lượng cuộc sống

Người ta đã dùng hình ảnh cây cầu và dòng sông để diễn tả sự cầnthiết của kỹ năng sống đối với mỗi người Con người sống trong xã hội hiệnđại muốn sang được bến bờ của thành công và hạnh phúc thì phải vượt quacon sông chứa đầy những rủi ro, nguy cơ, thách thức như AIDS, mang thaingoài ý muốn, nghiện rượu, ma túy, bệnh lây nhiềm qua đường tình dục,chết vì bạo lực, vi phạm pháp luật, thất bại học đường… Khi đó những kỹnăng sống như những nhịp cầu tạo thành cây cầu giúp cho con người chuyểntải những điều đã biết làm thay đổi được hành vi, nhờ đó mà sang bờ bên kiacủa lối sống lành mạnh đảm bảo chất lượng cuộc sống (xin xem sơ đồ dưói)

Tiến hành giáo dục kỹ năng sống là tiếp cận giáo dục quốc tế, đó làgiáo dục con người về môi sinh, giáo dục con người vì hòa bình nhân loại,giáo dục vì cuộc sống chung, vì ngôi nhà chung là thế giới Do đó mà mỗi

cá nhân, mỗi dân tộc phải cố gắng để một mặt chấp nhận người khác có thểsuy nghĩ và xử lý khác mình và mặt khác còn tin rằng cách sống của mình

Trang 2

không có sự cao siêu hơn người khác Sự cố gắng nói trên là cần thiết khikhông gian cuộc sống ngày càng xích lại gần nhau hơn, sự phụ thuộc vàonhau tăng lên trên thế giới, bắt buộc chúng ta phải “nhìn vào” người khác dùrằng chúng ta không muốn làm như vậy đi chăng nữa thì đó vẫn là điều cầnthiết

Trong số 15 nội dung cơ bản về giáo dục vì sự phát triển bền vững

đã được UNESCO xác định có nhiều nội dung thống nhất với nội dunggiáo dục kỹ năng sống như: quyền con người, hòa bình và an ninh, bìnhđẳng giới, đa dạng văn hóa và hiểu biết về giao thoa văn hóa, sức khỏe,

Quy t ếpđoán

Trách nhi mện

T ựctin

Tính quy t ếp

đ nhịnh

Trang 3

HIV/AIDS, các nội dung về môi trường như tài nguyên thiên nhiên, đadạng sinh học, sự thay đổi khí hậu, sự phòng chống và giảm nhẹ thiên tai,kinh tế thị trường

Xét dưới góc độ giáo dục, kỹ năng sống là một biểu hiện của chấtlượng giáo dục Cho nên trong mục tiêu 6 của kế hoạch hành động Dakar(2000) về giáo dục cho mọi người, kỹ năng sống được coi là một khía cạnhcủa chất lượng giáo dục, đánh giá chất lượng giáo dục cần tính đến nhữngtiêu chí đánh giá kỹ năng sống của người học UNESCO đã nêu: “Đánh giáchất lượng giáo dục phải bao hàm đánh giá mức độ đạt được các kỹ năngsống và tác động của kỹ năng sống đối với xã hội và cá nhân Thế hệ trẻ nóichung, sinh viên nói riêng còn một khoảng cách khá xa so với những yêucầu về con người trong thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.Mặc dầu về học thuật, chúng ta có rất nhiều học sinh, sinh viên học rất giỏi,thậm chí đạt được nhiều thành tích rất cao trong các kỳ thi học sinh giỏiquốc tế, song kỹ năng sống còn quá non Mặc dù chúng ta đã tiến hành giáodục kỹ năng sống qua lồng ghép một môn học từ tiểu học đến phổ thôngtrung học và triển khai hàng loạt dự án, một số dự án được nước ngoài tàitrợ, được thực hiện ở một số địa phương như: Chương trình xóa mù chữ vàtăng thu nhập cho phụ nữ năm 1996 – 2000 do UNICEF tài trợ nhằm giáodục kỹ năng sống cho phụ nữ miền núi Dự án dân số và sức khỏe sinh sản

do PDI (tổ chức dân số phát triển quốc tế) tài trợ đã triển khai trên nhiều địaphương (Quảng Ninh, Nghệ An, Thanh Hóa, Đà Nẵng, Khánh Hòa, BìnhPhước) Sự lồng ghép kỹ năng sống được kiểm định bằng sự nhận thứcthông qua thi cử, chưa chú trọng đến hành vi đạt được đến mức thói quen,nhu cầu của con người Các dự án chủ yếu hướng vào các đối tượng ít có cơhội hoặc nguy cơ cao Chúng ta đã và đang bước đầu giáo dục kỹ năng sốngcho cá nhân, cho cộng đồng nhưng chừng đó vẫn chưa đủ so với yêu cầu

Trang 4

chung của giáo dục kỹ năng sống và còn một khoảng cách rất lớn mới đápứng được những đòi hỏi của thời kỳ hội nhập.

Ký túc xá của các trường CĐ, ĐH là nơi ở của sinh viên, là một xãhội thu nhỏ, nơi đó đã và đang diễn ra học tập, nghiên cứu, giao lưu, vuichơi, giải trí và cả những điều không tốt như uống rượu, cờ bạc, thậm chí cả

ma túy v.v… Có thể nói cuộc sống ở ký túc xá đa dạng, không ít phức tạp vàcạm bẫy Dân cư của xã hội đó là sinh viên, một thế hệ đầy triển vọng của

sự thành công đều xuất thân từ vùng nông thôn (hiện nay ký túc xá chủ yếugiải quyết cho sinh viên vùng sâu, vùng xa, con em thương binh, liệt sĩ) Cácnhà quản lý đã và đang đau đầu với vấn đề sinh viên nội trú, mặc dù đã đưa

ra nhiều biện pháp giáo dục nhưng kết quả chưa được như mong đợi Mộttrong những nguyên nhân gây nên tình trạng trên là sinh viên chưa có những

kỹ năng sống phù hợp với môi trường sống ở ký túc xá

Với tất cả lý do trên nên tôi nghiên cứu đề tài: “Biện pháp giáo dục

kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa” để thực hiện luận văn thạc sĩ.

2 Mục đích nghiên cứu

Xác định hệ thống kĩ năng sống và các biện pháp giáo dục kỹ năngsống đó cho sinh viên nội trú thông qua công tác giáo viên chủ nhiệm ởtrường Cao đẳng sư phạm

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Hoạt động giáo dục sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm NhaTrang - Khánh Hòa

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú ở trường Caođẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa

Trang 5

4 Giả thuyết khoa học

Các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú sẽ manglại hiệu quả nếu giáo viên chủ nhiệm biết dựa vào những kỹ năng sống cơbản, phù hợp với đặc điểm tâm lý và xã hội của sinh viên, với môi trườngsống ở ký túc xá và kết hợp tác động này với nhiệm vụ giáo dục sinh viênnói chung

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Xác định cơ sở lý luận và thực trạng giáo dục kỹ năng sống chosinh viên nội trú trường cao đẳng sư phạm trong công tác giáo viên chủ nhiệm

5.1.2 Xác định hệ thống kỹ năng sống phù hợp với đặc điểm sinhviên trường Cao đẳng sư phạm trong môi trường nội trú

5.1.3 Xây dựng các biện pháp giáo dục kỹ năng sống cho sinh viênnội trú trong công tác giáo viên chủ nhiệm

5.1.4 Thực nghiệm sư phạm

5.2 Phạm vi nghiên cứu

- Giới hạn kỹ năng sống ở lứa tuổi sinh viên cao đẳng

- Nghiên cứu trong điều kiện sống nội trú của sinh viên Cao đẳng sưphạm Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Các phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tổng quan lý thuyết

- Khái quát hóa

- Phân tích logic – lịch sử

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra giáo dục

Trang 6

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

- Phương pháp thực nghiệm

6.3 Các phương pháp khác

- Phương pháp chuyên gia

- Phương pháp sử dụng toán thống kê

Chương 1

Cơ sở lý luận của giáo dục kỹ năng sống trong công tác giáo viên chủ nhiệm 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

Kỹ năng sống và vấn đề giáo dục kỹ năng sống cho con người đã cómầm mống từ lâu như học ăn, học nói, học gói, học mở, học dăm ba chữ đểlàm người, học để đối nhân xử thế, học để ứng phó với thiên nhiên Đó lànhững kỹ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đờisống lúc bấy giờ Thuật ngữ “kỹ năng sống” được người Việt Nam biết đếnbắt đầu từ chương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo

vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thiếu niên trong và ngoài nhàtrường.” Trong chương trình này chỉ giới thiệu những kỹ năng cơ bản như:

kỹ năng nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị và kỹ năng raquyết định

Khái niệm “kỹ năng sống” thực sự được hiểu với nội hàm đa dạng sauhội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” do UNICEF và Viện chiếnlược và chương trình giáo dục tổ chức từ ngày 23 - 25 tháng 10 năm 2003tại Hà Nội Từ đó người làm công tác giáo dục ở Việt Nam đã hiểu đầy đủhơn về kỹ năng sống Từ năm học 2002 – 2003 ở Việt Nam đã thực hiện đổimới giáo dục phổ thông (Tiểu học và Trung học cơ sở) trong cả nước Trong

Trang 7

chương trình Tiểu học đổi mới đã hướng đến giáo dục kỹ năng sống thôngqua lồng ghép một số môn học có tiềm năng như : Giáo dục đạo đức, Tựnhiên – Xã hội (ở lớp 1 – 3) và môn Khoa học (ở lớp 4 – 5) Kỹ năng sốngđược giáo dục thông qua một số chủ đề: “Con người và sức khỏe”.

Thông qua đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp giáo dục,các dự án phát triển giáo dục trung học đều nhấn mạnh việc hình thành cácnăng lực cơ bản như: năng lực thích nghi, năng lực hành động, năng lực ứng

xử, chuyển từ quan điểm “ lấy thầy và kiến thức làm trung tâm” sang quanđiểm “lấy trò và năng lực cần đào tạo làm trung tâm” Giáo dục kỹ năngsống căn bản được thực hiện lồng ghép và dựa vào một số bộ môn có tiềmnăng như: môn công nghệ, môn giáo dục công dân Một số chương trình

và dự án như chương trình thực nghiệm “Giáo dục sống khỏe mạnh và kỹnăng sống” do UNICEF hỗ trợ đã được triển khai thí điểm ở 20 trườngthuộc 5 quận, huyện của tỉnh: Lạng Sơn, Hà Nội, Hồ Chí Minh, An Giang

Trong đổi mới giáo dục đại học, kỹ năng đã được chú ý trong mụctiêu dạy học của mỗi bài, mỗi chương trong một số giáo trình Tuy nhiênmức độ đạt được còn nhiều hạn chế, hướng vào kỹ năng nghề (chuyênngành) là chủ yếu, còn kỹ năng sống chưa được chú trọng Một số dự án đãtriển khai nhằm hình thành cho sinh viên những kỹ năng sống như: kỹ năngbảo vệ môi trường, kỹ năng phòng chống HIV chỉ mới đạt được mức độnhận thức và thái độ còn hành vi thì chưa thể đạt được như mong muốn.Như vậy ở Việt Nam, việc giáo dục kỹ năng sống đã và đang tiến hành trênphạm vi rộng vừa theo chuyên đề, dự án vừa có tính chất lồng ghép vào cácmôn học Đối tượng được hưởng hết sức đa dạng, từ trẻ em đến người lớnnhưng chủ yếu chỉ tập trung vào những nhóm đối tượng có nguy cơ cao (xóa

mù chữ, những đối tượng lây nhiễm HIV ) bước đầu đã thu được những kếtquả tương đối khả quan Tuy nhiên ở các bậc học, cấp học chưa có môn giáodục kỹ năng sống nhưng hiện nay đã có giáo trình giáo dục kỹ năng sống

Trang 8

của dự án đào tạo giáo viên Trung học cơ sở Một số đại học đã tiến hànhdạy môn giáo dục kỹ năng sống cho một số chuyên ngành Tâm lý học.

Dưới góc độ luận án tiến sĩ, luận văn cao học thì giáo dục kỹ năngsống chưa được nghiên cứu nhiều Đặc biệt giáo dục kỹ năng sống cho sinhviên ở nội trú chưa thấy xuất hiện công trình nghiên cứu nào Đề tài: “Giáodục một số kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ thông” - Mã số B2005-75-126, (Nguyễn Thanh Bình chủ nhiệm) cho thấy rằng: học sinh trung họcphổ thông có nhu cầu rất cao về kỹ năng sống; (THPT Nguyễn Tất Thành,Đinh Tiên Hoàng (Hà Nội) và THPT Mỹ Hào (Hưng Yên) Trong đó có 4

kỹ năng được học sinh xác định là rất cần được giáo dục như: kỹ năng tựnhận thức, kỹ năng xác định mục tiêu, kỹ năng ra quyết định, giải quyết vấn

đề và đã thiết kế một số chủ đề cốt lõi như:

- Kỹ năng tự nhận thức

- Kỹ năng xác định mục tiêu cho cuộc sống

- Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề

- Kỹ năng kiên định

1.2 Những vấn đề lí luận về kỹ năng sống

1.2.1 Khái niệm kĩ năng sống

Một số tổ chức quốc tế đã định nghĩa khái niệm kĩ năng sống tương tựnhau Kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng

và tham gia vào cuộc sống hàng ngày (UNESCO) Tổ chức y tế thế giới(WHO) cho rằng, kỹ năng sống là những kỹ năng thiết thực mà con ngườicần để có cuộc sống an toàn khỏe mạnh Đó là những kỹ năng mang tínhtâm lý xã hội và kỹ năng về giao tiếp được vận dụng trong những tình huốnghàng ngày để tương tác một cách hiệu quả với người khác và giải quyết cóhiệu quả những vấn đề, những tình huống trong cuộc sống hàng ngày Theo

Trang 9

Chương trình giáo dục kĩ năng sống của Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc(UNICEF, 1996), kỹ năng sống bao gồm những kỹ năng cốt lõi như : kỹnăng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng raquyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu Các nhà giáo dục

Thái Lan xem kỹ năng sống là thuộc tính hay năng lực tâm lý xã hội giúp cá

nhân đương đầu với tất cả tình huống hàng ngày một cách có hiệu quả và cóthể đáp ứng với hoàn cảnh tương lai để có thể sống hạnh phúc, bao gồm:

1 Kĩ năng ra quyết định một cách đúng đắn

2 Kỹ năng sáng tạo

3 Kĩ năng giải quyết xung đột

4 Kĩ năng phân tích và đánh giá tình hình

5 Kĩ năng giao tiếp

6 Kĩ năng quan hệ liên nhân cách

là những năng lực thích ứng và tính tích cực của hành vi giúp cho cá nhân cóthể đối phó một cách hiệu quả với những yêu cầu, những thay đổi, những trảinghiệm và tình huống của đời sống hàng ngày, gồm 11 kỹ năng sau:

Trang 10

1 Kỹ năng tự nhận thức.

2 Kỹ năng đồng cảm

3 Kỹ năng giao tiếp có hiệu quả

4 Kỹ năng quan hệ liên nhân cách

5 Kỹ năng ra quyết định

6 Kỹ năng giải quyết vấn đề

7 Kỹ năng tư duy sáng tạo

8 Kỹ năng tư duy phê phán

9 Kỹ năng ứng phó

10 Kỹ năng làm chủ xúc cảm và căng thẳng

11 Kỹ năng làm doanh nghiệp

ở Bhutan người ta hiểu kỹ năng sống là bất kỳ kỹ năng nào góp phầnphát triển xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, tinh thần và tạo quyền cho cánhân trong cuộc sống hàng ngày của họ và giúp xóa bỏ nghèo đói dẫn đếnphẩm cách và cuộc sống hạnh phúc trong xã hội Đó là:

Trang 11

- Đào tạo kỹ năng nghề nghiệp.

- Hệ thống tín dụng nhỏ

- Hợp tác

- Những hoạt động thúc đẩy văn hóa

- Trao đổi giữa những nền văn hóa

- Văn hóa địa phương

- Tính đồng nhất và cái riêng biệt về văn hóa

Thuật ngữ kỹ năng sống được người Việt Nam biết đến nhiều từchương trình của UNICEF (1996) “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sứckhỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên trong và ngoài nhà trường”.Khái niệm kỹ năng sống được giới thiệu trong chương trình này bao gồmnhững kỹ năng sống cốt lõi như : kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp,

kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹnăng đạt mục tiêu Tham gia chương trình đầu tiên này có ngành Giáo dục

và Hội chữ thập đỏ Sang giai đoạn 2 chương trình này mang tên: “Giáo dụcsống khỏe mạnh và kỹ năng sống” Ngoài ngành giáo dục còn có Trungương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh và Hội liên hiệp phụ nữ ViệtNam Hội liên hiệp phụ nữ đã định nghĩa như sau: Kỹ năng sống là các kỹnăng thiết thực mà con người cần đến để có cuộc sống an toàn, khỏe mạnh

và hiệu quả Theo họ những kỹ năng cơ bản như: kỹ năng ra quyết định, kỹnăng từ chối, kỹ năng thương thuyết, đàm phán, kỹ năng lắng nghe, kỹ năngnhận biết… ở đây kỹ năng giao tiếp được phân nhỏ để chị em phụ nữ dễhiểu hơn Khái niệm kỹ năng sống được hiểu với nội hàm đầy đủ và đa dạnghơn sau hội thảo “Chất lượng giáo dục và kỹ năng sống” được tổ chức từngày 23 đến 25 tháng 10 năm 2003 tại Hà Nội Đó là:

Trang 12

- Năng lực thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sốnghàng ngày.

- Hành vi làm cho cá nhân thích ứng và giải quyết có hiệu quả cácthách thức của cuộc sống

- Những kỹ năng liên quan đến tri thức, những giá trị

- Năng lực đáp ứng và những hành vi tích cực giúp con người có thểgiải quyết có hiệu quả những yêu cầu và thách thức của cuộc sống

- Bốn trụ cột trong giáo dục là cách tiếp cận kỹ năng sống

Từ những quan niệm trên có thể thấy các quốc gia đều dựa trên quanniệm về kỹ năng sống của các tổ chức quốc tế (WHO, UNESCO, UNICEF)nhưng có tính khác biệt do điều kiện chính trị, kinh tế văn hóa của từngquốc gia Nội dung giáo dục kỹ năng sống vừa đáp ứng những cái chung cótính chất toàn cầu vừa có tính đặc thù quốc gia Một số quốc gia coi trọngmột số kỹ năng như: kỹ năng tư duy, kỹ năng thích ứng, kỹ năng giao tiếp,

kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năng luân chuyển công việc Một số nướckhác lại chú trọng đến kỹ năng xóa đói giảm nghèo, kỹ năng phòng chốngHIV/AIDS Trong đề tài này chúng tôi hiểu khái niệm kĩ năng sống như sau:

Kĩ năng sống từ quan điểm giáo dục là tất cả những kĩ năng cần thiếttrực tiếp giúp cá nhân sống thành công và hiệu quả, trong đó tích hợp nhữngkhả năng, phẩm chất, hành vi tâm lí, xã hội và văn hóa phù hợp với và đươngđầu được với những tác động của môi trường Những kỹ năng sống cốt lõicần nhấn mạnh là kỹ năng tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyết định,

kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năng thích ứng cao, kỹ năng làm chủ bảnthân

1.2.2 Phân loại kỹ năng sống

1.2.2.1 Các nhóm kĩ năng sống từ góc độ xã hội

Trang 13

- Kỹ năng nhận thức bao gồm các kỹ năng cụ thể như tư duy phêphán, tư duy sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, ra quyết định, xác địnhmục tiêu, định hướng giá trị.

- Kỹ năng đương đầu với cảm xúc, bao gồm: ý thức trách nhiệm, camkết, kiềm chế căng thẳng, kiểm soát được cảm xúc, kỹ năng tự điều chỉnh…

- Kỹ năng xã hội hay kỹ năng tương tác như: giao tiếp thương thuyết,

từ chối, hợp tác, chia sẻ, khả năng nhận thấy sự chia sẻ của người khác

1.2.2.2 Các nhóm kĩ năng sống từ góc độ giáo dục giá trị (UNESCO)

- Vệ sinh, thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng

- Các vấn đề về giới tính, sức khỏe sinh sản

- Ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS

- Phòng tránh rượu và thuốc lá

- Ngăn ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro

- Hòa bình và giải quyết xung đột

- Gia đình và cộng đồng

- Giáo dục công dân

- Bảo vệ thiên nhiên, môi trường

- Phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ

1.2.2.3 Các nhóm kĩ năng sống từ góc độ giáo dục hành vi xã hội (UNICEF)

- Các kỹ năng nhận biết và sống với chính mình (Kĩ năng tự nhậnthức, Kĩ năng tự trọng, Kĩ năng kiên định, Kĩ năng ứng xử với cảm xúc, Kĩnăng đương đầu với căng thẳng)

Trang 14

- Những kỹ năng nhận biết và sống với người khác (Kỹ năng quan hệ/tương tác liên nhân cách, Kĩ năng cảm thông, Kĩ năng đứng vững trước áplực một cách nhanh chóng nhất, Kĩ năng thương lượng).

- Các kỹ năng ra quyết định một cách có hiệu quả (Tư duy phê phán,

Tư duy sáng tạo, Giải quyết vấn đề, Ra quyết định…)

1.2.2.4 Các nhóm kỹ năng sống theo những quan điểm khác

- Kỹ năng giao tiếp liên nhân cách như : giao tiếp bằng lời nói, giaotiếp không lời, kỹ năng biểu hiện cảm xúc, kỹ năng lắng nghe và kỹ năngxin lỗi

- Kỹ năng thương lượng và từ chối bao gồm: kỹ năng thương lượng

và kiềm chế xung đột, kỹ năng từ chối, kỹ năng hợp tác và làm việc theonhóm

- Kỹ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề gồm: kỹ năng thu thậpthông tin, kỹ năng phân tích, kỹ năng thực hành để đạt được kết quả

- Các kỹ năng tư duy tích cực: kỹ năng nhận biết thông tin và lĩnh hộinguồn thông tin thích ứng

- Các kỹ năng phát triển và kiểm soát nội tâm gồm: kỹ năng xây dựng

tự tin và lòng tự trọng, các kỹ năng tự nhận thức bản thân bao gồm: nhậnthức về quyền lợi, nghĩa vụ, điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, các kỹ năng

ấn định mục tiêu

- Các kỹ năng kiềm chế cảm xúc: Sự kiềm chế tức giận, xử lý trạngthái bồn chồn, kỹ năng xử lý với trạng thái mệt mỏi, các kỹ năng kiềm chếtrạng thái căng thẳng như : tư duy tích cực, lạc quan và các phương pháp thưgiãn

Việc phân loại kỹ năng sống chỉ mang tính tương đối, tùy thuộc vàokhía cạnh xem xét và đặc thù của từng quốc gia Qua một số cách phân loại

Trang 15

trên thấy rằng cách phân loại của tổ Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc(UNICEF) dễ hiểu hơn cả, phù hợp với việc tổ chức giáo dục kỹ năng sống.

1.3 Giáo dục kỹ năng sống

1.3.1 Định nghĩa giáo dục kỹ năng sống

Giáo dục kỹ năng sống là giáo dục cách sống tích cực trong xã hội hiệnđại, là xây dựng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thóiquen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các

kỹ năng thích hợp Giáo dục kĩ năng sống có những tính chất cơ bản sau:

- Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình giáo dục có mục đích, có kếhoạch và biện pháp cụ thể

- Nhà giáo dục đóng vai trò là cố vấn, nhà tổ chức và hướng dẫn,khuyến khích và động viên người học

- Người được hưởng giáo dục kỹ năng sống phải chủ động, tích cực

và đòi hỏi tính tự giác rất cao

- Quá trình giáo dục kỹ năng sống có tính năng động cao, mục đíchcuối cùng là hành vi lành mạnh và một phần nhỏ về lợi ích kinh tế cho cánhân và xã hội, quá trình này không quá coi trọng vấn đề tri thức, nhưng lạirất chú trọng kỹ năng cụ thể

- Giáo dục kỹ năng sống là một quá trình lâu dài, phức tạp, đòi hỏinhiều lực lượng tham gia

1.3.2 Nội dung giáo dục kỹ năng sống

1.3.2.1 Giáo dục khả năng thích ứng của con người trước những thayđổi liên tục của cuộc sống hàng ngày để họ chủ động và sáng tạo trong mọihành động

1.3.2.2 Giáo dục năng lực tư duy sáng tạo, phê phán và năng lực tựđánh giá bản thân, tự khẳng định mình

Trang 16

1.3.2.3 Giáo dục cách sống với người khác mình.

1.3.2.4 Giáo dục về bảo vệ môi trường và sự an toàn của trái đất.1.3.2.5 Giáo dục về sức khỏe và phòng chống các tệ nạn xã hội

1.3.2.6 Giáo dục lối sống lạc quan yêu đời

Việc xác định nội dung giáo dục kỹ năng sống căn cứ vào đối tượng,đặc thù của nghề nghiệp, khu vực địa lý v.v…

1.3.3 Một số nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống

1.3.3.1 Nguyên tắc bảo đảm tính mục đích của giáo dục kỹ năng sống

Đây là nguyên tắc có tính xuyên suốt, nó chỉ đạo mọi hoạt động củagiáo dục kỹ năng sống Giáo dục kỹ năng sống bao giờ cũng hướng tới mụcđích đã đề ra, trong mục đích thì có mục đích ngắn hạn và mục đích dài hạn.Mục đích ngắn hạn là những mục tiêu cụ mà con ngưồi cân đạt trong thờigian ngắn, là phương tiện để đạt được mục đích dài hạn Mục đích dài hạntrong giáo dục kỹ năng sống thường hướng tới cách làm, cách ứng phó vớinhững thách thức trong cuộc sống tương lai Mục đích ngắn hạn là cơ sở, làphương tiện để đạt được mục đích dài hạn

1.3.3.2 Nguyên tắc phù hợp với đối tượng giáo dục kỹ năng sống

Đối tượng được hưởng lợi từ giáo dục kỹ năng sống là hết sức đadạng, từ lứa tuổi mẫu giáo cho đến người lớn tuổi Từ những người pháttriển bình thường và cả nhóm người có nguy cơ cao Căn cứ vào đặc điểmtâm sinh lý ,nghề nghiệp và môi trường sống của đối tượng mà đưa ra nộidung và phương pháp cũng như hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp

1.3.3.3 Nguyên tắc cung cấp thông tin cơ bản

Thiếu thông tin sẽ khó hình thành được kỹ năng sống cho con người.Giáo dục kỹ năng sống không quá coi trọng việc cung cấp thông tin mà coitrọng việc hình thành hành vi cho đối tượng Nếu đi sâu vào tri thức uyênbác thì sẽ rơi vào tình trạng hàn lâm, lý thuyết, người học sẽ ít hứng thú và

Trang 17

tất nhiên hiệu quả rất thấp Việc cung cấp thông tin chỉ là những thông tin cơbản để đối tượng biết và để làm.

1.3.3.4 Nguyên tắc khuyến khích động viên, cổ vũ người học và hướng

họ đến tương lai sáng hơn.

Nguyên tắc này đòi hỏi trong giáo dục kỹ năng sống, lấy phương phápđộng viên khuyến khích là chính, không nên dọa nạt, trách phạt bởi vì mụcđích của giáo dục kỹ năng sống là hình thành kỹ năng sống cho người học,

và nó chỉ đạt được điều đó khi người học tự giác, mọi biện pháp mang tínhchất hành chính sẽ không mang lại hiệu quả

1.3.3.5 Nguyên tắc hình thành kỹ năng để có hành vi lành mạnh

Muốn có hành vi thì phải trang bị kiến thức cơ bản, thời gian dành choviệc cung cấp tri thức không nhiều, phương pháp đơn giản, chủ yếu làphương pháp động não nên dành nhiều thời gian cho việc lĩnh hội cách làm

để có kỹ năng sống Kỹ năng sống là cơ sở, là nền tảng để có hành vi lànhmạnh

- Yêu cầu, động viên mọi người tham gia chấp nhận những hành vi mới

- Dạy và luyện các kỹ năng cần thiết để đạt được những hành vi đó

- Tiếp tục củng cố những kỹ năng mới cho đến khi người tham giacảm thấy có thể thực hiện được những hành vi lành mạnh

1.3.3.6 Nguyên tắc phát huy óc phê phán và khả năng lựa chọn phương

Trang 18

1.3.3.7 Nguyên tắc phối hợp các lực lượng giáo dục kỹ năng sống

Kỹ năng sống là một khái niệm rộng, vì thế trong giáo dục kỹ năngsống cần phải phối hợp với các lực lượng khác như: cha mẹ , Đoàn thanhniên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh, Hộiphụ huynh học sinh và Hội người cao tuổi, v.v…

1.3.3.8 Nguyên tắc giáo dục đồng đẳng

Tuổi trẻ thường tìm kiếm thông tin từ bạn bè trước khi thảo luận vấn

đề mà họ quan tâm với người lớn Tập huấn cho những em có ảnh hưởngđến bạn bè, để các em đó có thể đóng vai trò mẫu trong nhóm của mình.Môi trường chia sẻ thường có hiệu quả cao trong nhóm đồng đẳng

1.3.3.9 Nguyên tắc thực hiện giáo dục kỹ năng sống kiên trì, thường xuyên và lâu dài

Bất kỳ một chương trình nào cần tìm đến sự thay đổi hành vi, cầnđược xây dựng theo con đường duy trì những hành vi lành mạnh và giúpngười tham gia đi theo đúng hành lang của những hành vi tích cực sau khi

họ đã tái phạm

1.3.4 Phương pháp giáo dục kỹ năng sống

1.3.4.1 Phương pháp động não (Công não)

Động não là phương pháp giáo dục để cho người học trong một thờigian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào

đó Đây là một phương pháp để “lôi ra” một danh sách thông tin và ý tưởng.Cách tiến hành thường như sau:

- Giáo viên nêu câu hỏi hoặc vấn đề cho cả lớp hoặc nhóm suy nghĩ và trả lời

- Khích lệ người học phát biểu ý kiến và đóng góp càng nhiều ý kiến càng tốt

- Ghi các ý kiến lên bảng hoặc giấy

- Phân loại các ý kiến

Trang 19

- Làm rõ những ý kiến chưa rõ ràng.

- Tổng hợp các ý kiến

Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp động não là:

- Tất cả ý kiến đều được giáo viên hoan nghênh mà không phê phán,nhận định đúng sai

- Cuối giờ thảo luận giáo viên nên nhấn mạnh kết luận này là sảnphẩm chung của cả lớp, nhóm

- Yêu cầu người tham gia đưa ra ý kiến ngắn gọn và chính xác, tránhdài dòng, chung chung

1.3.4.2 Phương pháp thảo luận nhóm

Thực chất của phương pháp này là để học sinh tham gia trao đổi vềmột vấn đề nào đó theo nhóm Thảo luận nhóm nhỏ được sử dụng rộng rãinhằm giúp cho người học tham gia một cách chủ động vào quá trình học tập,nhằm tạo cơ hội cho người học tham gia chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ýkiến để giải quyết một vấn đề nào đó Cách tiến hành như sau:

- Tổ chức: phân chia nhóm, mỗi nhóm 5 đến 6 người, giao nhiệm vụcho nhóm

- Các nhóm thảo luận: các thành viên nhóm trao đổi để đi đến thốngnhất cách làm

- Giáo viên tổng kết các ý kiến trên

Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp thảo luận là:

- Quy mô nhóm có thể lớn hoặc nhỏ, không nên để nhóm quá đônghoặc quá ít

- Nội dung thảo luận ở các nhóm có thể giống hoặc khác nhau

- Các nhóm phải cử người làm thư ký

- Cần quy định thời gian thảo luận và trình bày ý kiến

Trang 20

- Giáo viên bao quát toàn bộ nhóm.

- Chia lớp thành nhóm, mỗi nhóm 5 – 7 người

- Lần lượt các vai thể hiện

- Người ngồi dưới ghi nhận xét

- Mỗi nhóm cử đại diện thể hiện

- ý kiến của đại diện các nhóm khác

- Giáo viên nhận xét và kết luận

Yêu cầu khi thực hiện phương pháp đóng vai là:

- Chọn chủ đề phù hợp (do giáo viên gợi ý hoặc nhóm đề xuất)

- Mỗi nhóm tìm ra phương án chung nhất, hiệu quả nhất của nhómmình trình bày

- Yêu cầu cả về nội dung và hình thức thể hiện

1.3.4.4 Phương pháp nghiên cứu tình huống

Nghiên cứu tình huống thường xuất phát từ một câu chuyện được viết

ra nhằm tạo ra tình huống “thật” để minh chứng cho một hoặc một loạt vấn

đề Đôi khi có thể nghiên cứu tình huống trên một đoạn video, hay một băngcát xét, hoặc dưới dạng hình vẽ Cách tiến hành như sau:

- Chọn tình huống (có thể một hoặc nhiều tình huống)

- Chia nhóm (mỗi nhóm 1 tình huống càng tốt)

- Đọc (xem, nghe) tình huống

- Suy nghĩ về tình huống đó (đưa ra một vài câu hỏi)

Trang 21

- Cả nhóm thảo luận và thống nhất ý kiến.

- Trình bày ý kiến của nhóm

- ý kiến của các nhóm về những vấn đề đặt ra

- Giáo viên kết luận

Một số yêu cầu khi thực hiện phương pháp tình huống là:

- Yêu cầu lựa chọn tình huống

- Tìm ra được phương án tối ưu cho mỗi tình huống

- Động viên người học tham gia phát biểu ý kiến

1.3.4.5 Các phương pháp khác: phương pháp trò chơi, phương pháp chơi

quân bài, phương pháp thuyết trình, phương pháp diễn kịch…

1.3.5 Các con đường giáo dục kỹ năng sống

1.3.5.1 Xây dựng và thực hiện các chương trình giáo dục kỹ năng sống chuyên biệt với những mục tiêu cụ thể.

- Theo con đường này sẽ mang lại kết quả nhanh nhưng cần phải cóquỹ thời gian và kinh phí

- Nội dung phải phù hợp với đặc điểm đối tượng và nhu cầu của xãhội

- Mỗi chủ đề về giáo dục kỹ năng sống phải xác định được mô hình(các bước) và được thực hành chúng trong việc giải quyết những tình huốnggiả định

- Hình thức hoạt động mang tính chất cộng đồng, tập thể

- Trong nhà trường nên tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp

1.3.5.2 Tiếp cận kỹ năng sống trong quá trình dạy học và giáo dục

Tiếp cận kỹ năng sống đề cập đến quá trình tương tác giữa dạy học vàhọc tập trung vào kiến thức, thái độ và kỹ năng cần đạt được để có nhữnghành vi giúp con người có trách nhiệm cao đối với cuộc sống bằng cách lựa

Trang 22

chọn cuộc sống lành mạnh, kiên định từ chối sự ép buộc tiêu cực và hạn chếtối đa những hành vi có hại Như vậy đổi mới nội dung, phương pháp dạyhọc là cách tiếp cận với kỹ năng sống trong giai đoạn hiện nay Đi học làniềm vui của con người, đi học để hưởng lợi từ giáo dục, học là để sống tốtvới thời đại Thông qua lồng ghép, tích hợp kỹ năng sống vào chương trình

ở các cấp học từ tiểu học đến trung học phổ thông và giáo dục chuyênnghiệp là cách tiếp cận giáo dục kỹ năng sống khá phổ biến hiện nay

1.4 Đặc điểm học tập và sinh hoạt của sinh viên nội trú

1.4.1 Những đặc điểm học tập của sinh viên nội trú

1.4.1.1 Đặc điểm nhận thức của sinh viên trong học tập

Lứa tuổi sinh viên nổi bật ở độ chín của những điều kiện tâm lí tronghoạt động trí tuệ và nhận thức Các em thể hiện tính độc lập và logic trong

tư duy, các lập luận, phân tích, so sánh và khái quát hóa cũng tương đối địnhhình, có định hướng khá rõ nét Sinh viên có kinh nghiệm nhận thức khá hệthống nhờ đã trải qua trường phổ thông và đang học tập ở trình độ cao tạicao đẳng Về phương diện nhận thức thuần túy, các em hoàn toàn tiếp nhậnđược và hiểu sâu sắc những vấn đề của cuộc sống cá nhân và xã hội, trong

đó có những vấn đề giá trị và lối sống, quan hệ của đời sống cá nhân với đờisống kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức và văn hóa của cộng đồng

Đa số sinh viên có khát vọng nhận thức và học tập, rèn luyện để pháttriển Nếu chương trình và môi trường học tập ở trường thiếu hấp dẫn thìcác em tuy thiếu động lực học tập song không phải là yếu về nhu cầu họctập và phát triển Các em vẫn khát khao học tập nhưng sẽ học tự phát, chủyếu học những gì từ cuộc sống, thậm chí trong đó có cả những điều khôngtốt, sai lầm và có hại Số đông sinh viên thường biểu hiện lập trường dunghòa, vừa cố gắng học vừa không say mê học lắm, dẫn đến tình trạng họchành đối phó Cần lưu ý rằng sinh viên rất quan tâm đến việc học tập

Trang 23

những điều ngoài chương trình đào tạo, nhất là quan hệ xã hội, tình cảm vàgiao tiếp nhóm

Do có kinh nghiệm khá phong phú về giao tiếp nên nhận thức củasinh viên không chỉ hạn hẹp ở hoạt động học tập cá nhân miệt mài, biệt lập,đọc và nghiên cứu sách vở, mà còn diễn ra rất mạnh trong các hình thức hợptác, chia sẻ, trao đổi với bạn bè Đây là điểm ưu thế của lứa tuổi Các em rấtthích chia sẻ ý tưởng, tài liệu học tập và thể hiện lí trí phê phán cao Tư duyphê phán cũng là nét đặc trưng của lứa tuổi sinh viên, nhất là khi tiếp nhậnnhững vấn đề xã hội như đạo đức, văn hóa, chính trị, kinh tế và quan hệ bạn

bè (nhất là tình yêu – quan hệ luyến ái), và phần nào về những vấn đề họcthuật, nghề nghiệp tương lai Về nghề nghiệp với nghĩa chuyên môn tuy các

em chưa quan tâm sâu sắc, song việc làm và vị trí kinh tế của nó luôn là vấn

đề nóng bỏng trong ý thức và tình cảm của sinh viên hiện nay

1.4.1.2 Đặc điểm xã hội của sinh viên trong học tập

Sinh viên có sự phát triển tự ý thức rất cao trong quan hệ xã hội Các

em có khả năng đánh giá được những mặt mạnh, mặt yếu của bản thân, khảnăng tự điều chỉnh bản thân theo hướng phù hợp với yêu cầu xã hội khá rõnét Sinh viên rất coi trọng cái đẹp bên trong (tâm hồn) nhưng cũng rấtngưỡng mộ vẻ đẹp hình thức và những hành vi xã hội thời thượng, sôi nổi,

có tính công chúng, và những gì có liên quan đến sự nổi tiếng, công danh,tình cảm, quan hệ xã hội rộng, các phong trào và sinh hoạt cộng đồng Một

bộ phận không nhỏ sinh viên tỏ ra nhiệt thành với công tác xã hội, hoạt độngnhân đạo, từ thiện, hoạt động văn hóa-nghệ thuật và thể thao quần chúng.Các em tham gia không hẳn là để vui, để giải trí hay vụ lợi mà có ý thức rõràng nhằm học hỏi kinh nghiệm mọi người, rèn luyện bản lĩnh sống (kĩ năngsống) và giá trị xã hội cần thiết cho mình

Nhu cầu giao tiếp xã hội của sinh viên rất cao và đa dạng Học tập làbổn phận, nhưng giao tiếp với mọi người mới thực sự là nhu cầu nổi bật của

Trang 24

các em Thường là giao tiếp cũng lứa, nhưng nhiều sinh viên vẫn thích giao

du với các em nhỏ hơn Phần lớn sinh viên chưa thể hiện được nhu cầu giaotiếp với người lớn tuổi hơn, nhất là các thầy cô giáo, các bậc phụ huynh, cáccông chức và người lao động ngoài xã hội Tuy về nhận thức khá đầy đủ,nhưng kĩ năng giao tiếp với người lớn tuổi hơn vẫn là chỗ yếu của đa số sinhviên, chủ yếu là thái độ thiếu tự tin, cách ứng xử thiếu hài hòa, ngôn ngữthiếu mạch lạc và nhất là hành vi giao tiếp lúng túng

Khát vọng muốn trở thành người thành đạt trong công việc là một nétđặc trưng ở lứa tuổi này, song trong học tập rất nhiều sinh viên thực hiệnthiếu kiên trì, thiếu phương pháp nên kết quả chưa cao Cố gắng học tập để

có kết quả cao, sau khi ra trường có việc làm ổn định và được ở gần nhà làđặc điểm chung của họ Có một vấn đề rất mừng nhưng rất lo là sinh viên rấttrung thành với nghề mình đã chọn, trong khi đó cơ hội có việc làm khôngphải là 100% Các em đánh giá cao những nghề và việc làm có ý nghĩa xãhội và có môi trường giao tiếp xã hội phong phú, phong cách hiện đại

1.4.2 Những đặc điểm sinh hoạt của khu nội trú sinh viên

Ký túc xá là nơi ở của sinh viên, được xem như một xã hội thu nhỏ

Cư dân của xã hội đó là thanh niên của vùng nông thôn là chủ yếu Nghềnghiệp của sinh viên là lao động trí óc, công việc chính là học tập Mặc dầu

có đội ngũ cán bộ quản lí, song sinh viên tự quản là chính, giờ giấc làm việc

và sinh hoạt không chặt chẽ Tuy quản lí hành chính và nội qui kí túc xã cóphần khe khắt, tương đối khác biệt với môi trường quanh đó, nhưng thực tếcác điều kiện sinh hoạt bên trong không đáp ứng được nhu cầu của sinh viênnên không duy trì được đúng các chế độ Cho nên khu nội trú luôn có tínhchất nửa vời, vừa nghiêm vừa không nghiêm

Trang thiết bị phục vụ cuộc sống và học tập tuy có nhưng không đủ.Chế độ giường tầng là muôn thuở, cơm ăn, nước uống cậy vỉa hè Xét vềphạm vi thì mọi ký túc xá đều được quy hoạch tương đối độc lập nhưng mọi

Trang 25

quan hệ xã hội hàng ngày, hàng giờ xâm nhập vào đời sống sinh viên, trong

đó có cả tệ nạn xã hội như nghiện hút, cờ bạc, rượu chè… Đôi khi nội qui kítúc xá có những điều chưa hợp lí nên xảy ra những vi phạm không đáng có(lẽ ra không nên qui định đó là vi phạm, chẳng hạn tiếp khách, liên hoan…)

Sự khép kín nửa chừng của cuộc sống nội trú hiện đang gây khó khănnhiều hơn là thuận lợi cho sinh viên Những em muốn ở nội trú hầu hết là vì

lí do kinh tế, không có cách nào khác để tìm chỗ ở Sinh hoạt ở khu nội trúkhá phức tạp và dễ xảy ra những tệ nạn xã hội khó kiểm soát và ngăn ngừa.Phần lớn tệ nạn xảy ra rồi nhà trường mới biết và giải quyết hậu quả Nhữnghiện tượng tiêu cực trong sinh hoạt nội trú rất nhiều vẻ, từ quan hệ nam nữthiếu lành mạnh cho đến đánh nhau, cãi nhau, trộm cắp tài sản, bỏ bê họchành, bê tha trong ăn uống và vui chơi…

Chỗ mạnh căn bản nhất của đời sống nội trú là ảnh hưởng chung củatập thể, của cộng đồng Bất kì hành vi sinh hoạt cá nhân nào của sinh viênnhư tắm giặt, ăn uống, kết bạn, giờ giấc, trang phục, trang điểm, tiêu xài…cũng gắn bó mật thiết với cộng đồng gần gũi nên dễ dàng trở nên công khai

Dư luận xã hội trong khu nội trú có tác dụng điều chỉnh cá nhân rất nhiều và

đó là sức mạnh giáo dục mà nhà trường rất cần quan tâm trong giáo dục kĩnăng sống cho sinh viên

1.5 Giáo viên chủ nhiệm ở trường Cao đẳng sư phạm

1.5.1 Định nghĩa khái niệm giáo viên chủ nhiệm

Người giáo viên chủ nhiệm ở Trường cao đẳng là cán bộ giảng dạyđược nhà trường giao cho trách nhiệm tổ chức, quản lý mọi hoạt động củacác thành viên trong lớp mà mình chủ nhiệm Tiêu chí đầu tiên là cán bộgiảng dạy hay nói cách khác giảng dạy là công việc chính Công tác chủnhiệm là công tác kiêm nhiệm được phân công đồng thời là trách nhiệm củamọi thầy cô giáo Sự khác biệt về công tác chủ nhiệm ở Trường cao đẳng sovới trường phổ thông là ở chỗ:

Trang 26

- Trong tuần không có giờ sinh hoạt chủ nhiệm.

- Đề cao vai trò tự quản của tập thể lớp và ban cán sự

- Người giáo viên chủ nhiệm quản lý lớp từ năm đầu cho đến nămcuối và không nhất thiết có giờ để dạy ở trên lớp đó

1.5.2 Chức năng và nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm

1.5.2.1 Chức năng của người giáo viên chủ nhiệm

- Chức năng người quản lý giáo dục toàn diện sinh viên một lớp

Giáo viên chủ nhiệm cần không chỉ nắm được tên, tuổi, số lượng,trình độ, lực học và phẩm chất của sinh viên… mà còn dự báo được xuhướng nhân cách của sinh viên Trên cơ sở đó có phương hướng tổ chứchoạt động dạy học và giáo dục phù hợp với người học Muốn thực hiện đượcchức năng này, người giáo viên chủ nhiệm phải có những kiến thức về tâm

lý học, giáo dục học như kỹ năng tiếp cận đối tượng, kỹ năng nghiên cứutâm lý lứa tuổi, kỹ năng lập kế hoạch chủ nhiệm, kỹ năng tổ chức hoạt độngngoài giờ lên lớp Trong chức năng quản lý giáo dục, giáo viên chủ nhiệmcần đặc biệt quan tâm tới kỹ năng quản lý thời gian học tập và quản lý sựhình thành và phát triển nhân cách

- Chức năng lãnh đạo và động viên tập thể sinh viên hoạt động tựquản nhằm phát huy tính tích cực của mọi thành viên trong tập thể lớp

Đây là chức năng đặc trưng của giáo viên chủ nhiệm ở các trường caođẳng và đại học Để thực hiện tốt chức năng này người giáo viên chủ nhiệmcần phải:

+ Luôn luôn giữ vai trò cố vấn trong mọi hoạt động của lớp

+ Phải thường xuyên bồi dưỡng năng lực tự quản cho toàn lớp Đặcbiệt là đội ngũ cán bộ từ tổ trưởng trở lên, đội ngũ cán bộ lớp phải xuất phát

từ đặc điểm, nhiệm vụ năm học và tính chất phát triển của tập thể lớp Ví dụ:

ở giai đoạn đầu (tập thể mới hình thành) rất cần có một lớp trưởng, bí thư

Trang 27

chi đoàn (thủ lĩnh) có uy tín, biết cảm hóa các bạn, không nhất thiết là ngườihọc giỏi nhất lớp, khi tập thể sinh viên đã phát triển thì có cần có 1 thủ lĩnhnăng động, sáng tạo, luôn luôn tìm tòi nội dung, phương pháp và hình thức

tổ chức hoạt động để lôi kéo mọi thành viên của lớp tham gia

+ Vai trò “cố vấn” đòi hỏi phải sâu sát với mọi hoạt động của tập thểlớp, nếu có thể trực tiếp được thì càng tốt, nếu không thì hãy bằng mọi cách

để trao đổi thông tin giữa giáo viên chủ nhiệm - ban cán sự lớp, giữa giáoviên chủ nhiệm – các thành viên của lớp Không nắm bắt được thông tin,không biết được những diễn biến của tập thể cũng như từng cá nhân tronglớp thì vai trò “cố vấn” không được phát huy Vai trò “cố vấn” không cónghĩa là khoán trắng cho tập thể lớp, cố vấn là tham mưu, là chỉ đạo, là cổ

vũ để mọi thành viên lớp phát huy được tính năng động, sáng tạo của bảnthân

- Chức năng làm cầu nối giữa tập thể lớp với các tổ chức xã hội trong

và ngoài nhà trường, tổ chức và phối hợp các lực lượng giáo dục

Giáo viên chủ nhiệm là nhà quản lý, nhà sư phạm đại diện cho Hiệutrưởng truyền đạt đầy đủ nghị quyết của nhà trường tới sinh viên Giáo viênchủ nhiệm là người đại diện cho quyền lợi chính đáng của sinh viên trong lớp,bảo vệ sinh viên về mọi mặt một cách hợp lý, phản ánh với Hiệu trưởng, giáoviên bộ môn, gia đình và các đoàn thể trong và ngoài trường về nguyện vọngchính đáng của sinh viên, để có giải pháp kịp thời và phù hợp Trong hoàncảnh hiện nay, do tác động của nền kinh tế thị trường, sinh viên sống trongcác mối quan hệ xã hội rất đa dạng và vô cùng phức tạp Tuổi trẻ rất nhạy cảmvới cái mới, cái lạ, trong đó có cả cái tốt lẫn cái xấu Giáo viên chủ nhiệm cầngiúp các em thiết lập mối quan hệ đúng đắn, lành mạnh Đây là nhiệm vụkhông đơn giản nhưng rất cần thiết đối với công tác giáo viên chủ nhiệm

Trang 28

- Chức năng giám sát và người đánh giá khách quan kết quả rèn luyệncủa mỗi sinh viên và phong trào chung của lớp

Giám sát và đánh giá khách quan kết quả rèn luyện của từng sinh viên

là một việc làm hết sức quan trọng và có ý nghĩa rất lớn đối với quá trìnhhoàn thiện nhân cách của sinh viên Giáo viên chủ nhiệm cần vạch ra nhữngtiêu chí cụ thể và chi tiết để đánh giá sinh viên và có thể thông qua trên lớp.Muốn xây dựng được bộ tiêu chí đánh giá cần dựa vào mục tiêu đào tạo, kếhoạch chương trình năm học, khóa học và căn cứ vào các điều kiện khác.Thực tiễn việc đánh giá sinh viên hiện nay còn nhiều vấn đề phải kiện toàn,tiêu chí duy nhất là dựa vào điểm số môn học, mà kết quả học tập chỉ là mộtphần nhỏ trong quá trình hình thành nhân cách, mặt khác điểm chưa phải làkhách quan

Đánh giá là sự thừa nhận những cố gắng, những tiến bộ của ngườiđược đánh giá, cùng với nó là việc vạch ra phương hướng mới để sinh viênphấn đấu rèn luyện là việc làm cần được coi trọng Như vậy đánh giá, nhậnđịnh và yêu cầu là 2 mặt của quá trình hình thành nhân cách cho sinh viên,yêu cầu càng cao và phù hợp là thể hiện sự tôn trọng nhân cách con người

1.5.2.2 Nhiệm vụ của người giáo viên chủ nhiệm lớp

- Nắm vững mục tiêu giáo dục nói chung, mục tiêu đào tạo của lớp

mà mình chủ nhiệm, nắm vững chương trình giáo dục, dạy học của trường

Đây là nhiệm vụ đầu tiên, vì chỉ trên cơ sở nắm vững điều đó, giáoviên chủ nhiệm mới xây dựng được kế hoạch hoạt động cho từng tháng,quý, năm và cả khóa học cho lớp Nắm vững các văn bản, các nội quy củanhà trường để quán triệt toàn thể lớp

- Tiếp nhận sinh viên lớp chủ nhiệm, nghiên cứu và phân tích mọi đặcđiểm tâm lý và hoàn cảnh sống của từng sinh viên

Trang 29

Đây là nhiệm vụ trọng tâm của công tác giáo viên chủ nhiệm, nhằmthực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện cho sinh viên Việc nắm vững đốitượng sẽ giúp cho người giáo viên chủ nhiệm phác họa được mô hình nhâncách cụ thể của từng sinh viên, qua đó xây dựng mô hình nhân cách trongtương lai cho sinh viên Việc xây dựng mô hình nhân cách sinh viên là côngviệc không đơn giản chút nào nhưng không phải là không làm được Nếukhông xây dựng được mô hình nhân cách sinh viên cần đạt được thì công tácgiáo viên chủ nhiệm dễ rơi vào tình trạng tùy tiện, mơ hồ.

- Không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức người thầy

Đầu tiên phải nói đến lòng yêu thế hệ trẻ và cùng với nó lòng yêu nghề,đây là hai tiêu chí hàng đầu về đạo đức của người thầy nói chung và ngườigiáo viên chủ nhiệm nói riêng Không quý mến học trò thì người thầy khó màhết lòng vì sự nghiệp Khi nhà giáo dục ôm học trò vào lòng, chăm lo cho tròtừng li, từng tí thì lẽ nào trò lại không tiến bộ Tình cảm dành cho sinh viên làđộng lực để giúp giáo viên chủ nhiệm vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổcủa nghề dạy học nói chung và công tác giáo viên chủ nhiệm nói riêng

Người giáo viên chủ nhiệm là người phải gương mẫu trong cuộc sống,không chỉ ở trường lớp, mà trong cả gia đình, làng xóm, từ trang phục chođến việc làm, là người thường xuyên nêu gương về học tập, nghiên cứu cũngnhư các hoạt động xã hội v.v… Mặc dù sinh viên đã trưởng thành, tính độclập và khả năng lựa chọn rất cao những việc làm mẫu mực của giáo viên chủnhiệm luôn tác động một cách tích cực đến sự hình thành những phẩm chấtcần thiết cho đối tượng trong cuộc sống hiện tại và tương lai sau này Nếugiáo viên chủ nhiệm thờ ơ với những biến đổi phong phú của thời đại toàncầu hóa đã và đang diễn ra trong nước và toàn thế giới thì không thể làmcông tác chủ nhiệm đạt kết quả cao được

Trang 30

- Không ngừng học tập để nâng cao chuyên môn và nghiệp vụ sưphạm nhằm đổi mới công tác tổ chức giáo dục, dạy học, góp phần nâng caochất lượng giáo dục toàn diện ở nhà trường

Chưa bao giờ trong lịch sử dân tộc, đội ngũ thầy giáo tất cả các bậchọc, cấp học đang đứng trước thử thách lớn lao như hiện nay, vì học là lựclượng chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực, là của cải “nội sinh” cho đấtnước bước vào thế kỉ XXI, nhưng trình độ chung của đội ngũ thầy cô giáochưa đáp ứng tốt những yêu cầu ngày càng cao của xã hội, thực tế đó đòi hỏiđội ngũ thầy cô giáo phải tự hoàn thiện và phải được chăm lo bồi dưỡng vềmọi mặt Đội ngũ thầy cô giáo nói chung và giáo viên chủ nhiệm nói riêngcần bồi dưỡng thường xuyên về một số nội dung sau:

+ Những tri thức mới và khả năng vận dụng tri thức khoa học đanggiảng dạy vào cuộc sống

+ Những tri thức khoa học công cụ: tin học, ngoại ngữ

+ Những tri thức về khoa học có tính phương pháp luận như triết học,phương pháp tiếp cận các vấn đề tự nhiên, xã hội

+ Những tri thức về lịch sử, văn học, nghệ thuật, pháp luật v.v…Ngoài những nội dung đã nêu, người giáo viên chủ nhiệm khôngngừng nâng cao bồi dưỡng nghiệp vụ sự phạm Trước hết nắm vững lý luận

về giáo dục như :xã hội hóa giáo dục, giáo dục suốt đời, giáo dục về môitrường, giáo dục về sức khỏe v.v… Và biết phát huy mọi lực lượng tham gia

và giáo dục sinh viên trong mọi điều kiện có thể có

1.6 Công tác giáo dục của giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú

1.6.1 Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Trang 31

1.6.1.1 Giáo viên chủ nhiệm là người trực tiếp chịu trách nhiệm quản lý mọi hoạt động giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Giáo viên chủ nhiệm không chỉ quản lý về số lượng mà trước hết làquản lý về nội dung giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên Kỹ năng sống là kháiniệm rất rộng nhưng rất cần thiết đối với mọi người, đặc biệt là đối tượng sinhviên đang ở nội trú vì sinh viên ở nội trú chủ yếu là tự quản trong môi trườngrất phức tạp Do vậy việc lựa chọn những nội dung giáo dục kỹ năng sống cho

họ là vấn đề cần đặt lên hàng đầu Căn cứ vào đặc điểm sinh viên và môitrường nội trú giáo viên chủ nhiệm cần quan tâm đến những nội dung sau:

- Kỹ năng học phương pháp học

- Kỹ năng giao tiếp

- Kỹ năng giải quyết mâu thuẫn

Trong điều kiện kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống chưa đượcquan tâm đúng mức như bản thân vốn có của nó thì việc lựa chọn nội dung

và vạch kế hoạch thực hiện phải có tính năng động rất cao, tránh tình trạnggiáo dục kỹ năng sống “hút hết” thời gian của sinh viên, làm sao nhãng đếnviệc học và rèn luyện chuyên môn

1.6.1.2 Giáo viên chủ nhiệm giữ vai trò “cố vấn” trong tổ chức giáo dục

kỹ năng sống cho sinh viên

Trang 32

Vai trò này có ý nghĩa hết sức quan trọng vừa phát huy được năng lựccủa tập thể lớp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ, vừa giảm bớt tính trực tiếp khôngcần thiết trong quản lý giáo dục sinh viên Vai trò cố vấn không có nghĩa làkhoán trắng cho sinh viên, cho cán bộ lớp mà ngược lại tăng cường sự chỉ đạo

có hiệu quả qua các “kênh” có thể có như: các tổ chức, đoàn thể, phụ huynh, bạn

bè, đồng nghiệp và chính sinh viên của lớp

Cố vấn là chỉ đạo, là tham mưu, là đề nghị, là giám sát một cách tinh

tế mà hiệu quả Trong vai trò “cố vấn” người giáo viên chủ nhiệm khôngnên “chặt được vác được” mà nên bằng mọi phương pháp, bằng mọi cách đểphát huy được năng lực tiềm tàng của tập thể lớp, của đội ngũ cốt cán Vaitrò “cố vấn” của người giáo viên chủ nhiệm trong giáo dục kỹ năng sốngcho sinh viên vừa đòi hỏi cả chiều rộng lẫn chiều sâu

1.6.1.3 Giáo viên chủ nhiệm có vai trò vận động cộng đồng thực hiện Thông điệp “ Hình thành kỹ năng sống cho con người là bổn phận, là trách nhiệm của mỗi người và mọi tổ chức xã hội”

Giáo viên chủ động phối hợp với một số tổ chức xã hội để giáo dục

kỹ năng sống cho sinh viên như: Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh,Hội liên hiệp phụ nữ địa phương, Hội bảo vệ phụ nữ, trẻ em Trong sự phốihợp đó có những vấn đề cơ quan giáo dục chịu trách nhiệm về tổ chức vàlực lượng, còn vấn đề chuyên môn do nhà chuyên môn chịu trách nhiệm.Cần tranh thủ các chương trình, các dự án về giáo dục kỹ năng sống của các

tổ chức xã hội để giáo dục sinh viên lớp mình

1.6.1.4 Giáo viên chủ nhiệm là người động viên, cổ vũ mọi thành viên của lớp rèn luyện kỹ năng sống qua sự gương mẫu của mình

Trong điều kiện chưa có chính sách thỏa đáng về giáo dục kỹ năngsống thì người giáo viên chủ nhiệm phải gương mẫu đi đầu, để làm gương

Trang 33

cho tập thể sinh viên noi theo, mặt khác biết động viên cổ vũ mọi thành viêncủa lớp tham gia vào việc giáo dục kỹ năng một cách tích cực và tự giác.

1.6.2 Nhiệm vụ giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm

1.6.2.1 Nhận thức đúng đắn về kỹ năng sống và sự cần thiết giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên nội trú

Khái niệm về kỹ năng sống tương đối mới mẻ và mang tính quốc tế,mới phổ biến trong giáo dục Việt Nam từ năm 1996, tài liệu nghiên cứu về

kỹ năng sống không nhiều Vì vậy hiểu cho đúng về kỹ năng sống và giáodục kỹ năng sống cho sinh viên là nhiệm vụ tương đối phức tạp đối vớingười giáo viên chủ nhiệm trong giai đoạn hiện nay Muốn giáo dục kỹnăng sống có hiệu quả, người giáo viên chủ nhiệm phải xác định được hệthống kỹ năng cần có cho tập thể và từng cá nhân Để có được điều đó giáoviên chủ nhiệm phải điều tra, nghiên cứu về kỹ năng sống của sinh viênmột cách khoa học

1.6.2.2 Nắm vững mục tiêu giáo dục và thông qua mục tiêu đó để giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ này giáo viên chủ nhiệm có thể tiếnhành một số hoạt động sau:

- Tiến hành lồng ghép kỹ năng sống vào bộ môn mình đang giảngdạy, động viên cán bộ giảng dạy ở lớp mình chủ nhiệm lồng ghép một sốchủ đề về kỹ năng sống theo gợi ý của giáo viên chủ nhiệm

- Thông qua các hoạt động khác để giáo dục kỹ năng sống

- Chủ động phối hợp với các tổ chức như : Đoàn thanh niên Cộng sản

hồ Chí Minh, Hội sinh viên, Ban chủ nhiệm kí túc xá v.v… để xây dựngchương trình giáo dục kỹ năng sống cho sinh viên

Trang 34

1.6.2.3 Không ngừng nâng cao tầm hiểu biết của bản thân, ý thức được những hy vọng và mối đe dọa của thời đại toàn cầu hóa, tìm tòi những giải pháp giúp sinh viên rèn luyện kỹ năng sống

Con đường duy nhất đúng là tự học, tự nghiên cứu, cập nhật thông tinqua tài liệu, qua các bản tin thời sự, qua mạng Internet Bên cạnh đó việchọc hỏi, chia sẻ kinh nghiệm với đồng nghiệp, với sinh viên và các chuyêngia là con đường quan trọng để nâng cao hiệu quả tự học, tự bồi dưỡng.Giáo viên chủ nhiệm cần thâm nhập vào cuộc sống thực tế của sinh viên, đểtìm hiểu, để nghiên cứu, để đưa ra những giải pháp phù hợp với đối tượngthanh niên nói chung, sinh viên đang sống ở ký túc xá nói riêng

1.6.2.4 Giáo viên chủ nhiệm là tấm gương rèn luyện kỹ năng sống để sinh viên noi theo

Kỹ năng sống được thể hiện hết sức đa dạng trong cuộc sống của giáoviên chủ nhiệm như: kỹ năng thống nhất giữa lời nói và việc làm, kỹ năngquan hệ với mọi người, kỹ năng giải quyết mâu thuẫn, kỹ năng làm chongười khác tin tưởng và ủng hộ bản thân, kỹ năng xây dựng gia đình hạnhphúc v.v…Tất cả những kỹ năng sống của người giáo viên chủ nhiệm sẽ ảnhhưởng trực tiếp đến việc hình thành kỹ năng sống cho sinh viên Tuy nhiêncần phải tránh khuynh hướng áp đặt những kĩ năng của mình cho sinh viên.Lứa tuổi và đời sống sinh viên có đặc điểm riêng, khác những kĩ năng bảnthân giáo viên cần Các em cần những kĩ năng thiết thực với chính mình

1.7 Những yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống của sinh viên trong môi trường nội trú

1.7.1 Điều kiện học tập và sinh hoạt của kí túc xá

Đây rõ ràng là yếu tố trực tiếp tác động đến việc học và sinh hoạt củasinh viên Nếu điều kiện của khu nội trú tương đối đáp ứng được nhu cầucủa các em thì đó là nhân tố thuận lợi để các em sống cởi mở, thân thiện, có

Trang 35

nhiều hoạt động bổ ích, giảm thiểu những thói xấu trong sinh hoạt, tăngcường hứng thú học tập và trách nhiệm xã hội, nâng cao tính kỉ luật và tựquản trong đời sống cá nhân.

1.7.2 Công tác quản lí toàn diện kí túc xá và quản lí sinh viên

Đây cũng là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến kĩ năng sống của sinh viên

và công tác giáo dục kĩ năng sống của nhà trường, của giáo viên chủnhiệm.Từ chế độ giờ giấc học tập, qui định sinh hoạt và giải trí, cho đến côngtác kiểm tra, giám sát thực hiện toàn hộ hoạt động trong kí túc xá và đội ngũnhân sự tham gia quản lí sinh viên đều tác động rất mạnh đến kĩ năng sốngcủa các em, tạo thuận lợi hay gây khó khăn cho giáo dục kĩ năng sống

1.7.3 Các hoạt động tập thể trong nhà trường và tại khu nội trú

Các hoạt động này làm nền cho việc rèn luyện kĩ năng sống của sinhviên và các biện pháp giáo dục kĩ năng sống do nhà trường tiến hành Nếuchúng đủ sức thu hút tâm tư, tình cảm và nhu cầu của sinh viên thì đó lànhân tố ngăn ngừa rất tích cực các ảnh hưởng xấu nảy sinh bên trong và dộivào từ bên ngoài kí túc xá Các hoạt động bổ ích có vai trò mạnh mẽ địnhhướng cho quá trình rèn luyện kĩ năng sống của sinh viên và tạo ra môitrường, cơ hội thuận lợi để các em học hỏi lẫn nhau, giáo dục lẫn nhau và tựgiáo dục

1.7.4 Chất lượng học tập chính khóa trên lớp của sinh viên

Các môn học và các hoạt động đào tạo của trường ảnh hưởng căn bản

và lâu dài đến sự hình thành và rèn luyện kĩ năng sống của sinh viên, tạothuận lợi hoặc cản trở giáo dục kĩ năng sống Nếu học tập xa rời cuộc sống

và hoạt động nghề nghiệp, trong đó nảy sinh những tiêu cực về đánh giá, cư

xử lẫn nhau giữa giảng viên và sinh viên, giữa sinh viên với nhau, và nếu cónhững hiện tượng giảng viên chưa gương mẫu trong lối sống và trách nhiệm

Trang 36

nhà giáo… thì sinh viên sẽ mất tin tưởng, thiếu động lực phấn đấu và mấtphưong hướng rèn luyện kĩ năng sống.

1.7.5 Nề nếp quản lí và văn hóa chung của nhà trường

Đây là yếu tố chi phối lâu dài đến chất lượng kĩ năng sống của sinhviên và hiệu qủa giáo dục kĩ năng sống của nhà trường Khi nề nếp quản lí

ổn định, hợp lí, nhân văn, dân chủ và cởi mở với những qui tắc nghiêm minhcần thiết thì tự nó đã giúp sinh viên rất nhiều về phương hướng và nhu cầurèn luyện, tự hoàn thiện Văn hóa nhà trường lại càng có vai trò quan trọng.Nếu các truyền thống, quan điểm, tầm nhìn chung của trường cũng như vănhóa giao tiếp, văn hóa giảng dạy, văn hóa học tập, văn hóa giải trí, văn hóasinh hoạt… sáng sủa, lành mạnh, có triển vọng tốt, tự chúng thúc đẩy sinhviên rèn luyện tích cực

1.7.6 Môi trường kinh tế-xã hội địa phương bên cạnh trường

Môi trường bên ngoài trường và kí túc xá luôn có ảnh hưởng hai mặtđồng thời Mặt tích cực là giúp sinh viên có những cơ hội thực tế để thửthách mình, để trải nghiệm và thực hành hành vi lối sống năng động, cởi

mở, hiệu quả, thoát khỏi những hạn chế do nhận thức sách vở và những giátrị hạn hẹp trong nhóm sinh viên Mặt tiêu cực là tác động của môi trườngthường kèm theo nhiều thứ xô bồ, hỗn độn và méo mó về nhận thức, giá trị

và lối sống Những tác động này lại thường mang lại hậu quả nhanh chóngvới những sinh viên non kém bản lĩnh, thiếu kĩ năng sống đúng đắn, thiếuhiểu biết pháp luật và thiếu nguyên tắc đạo đức

1.7.7 Hiệu quả công tác giáo dục của giáo viên chủ nhiệm

Lớp nội trú do giáo viên chủ nhiệm phụ trách, đặc biệt về cuộc sốngtập thể Hoạt động của giáo viên chủ nhiệm trực tiếp tác động đến kết quảgiáo dục kĩ năng sống của sinh viên lớp mình Tại sao có lớp gọi là “tốt” và

có lớp lại là “chưa tốt” chính là vì vậy Giáo viên chủ nhiệm qua trách

Trang 37

nhiệm và nỗ lực của mình có thể ngăn cản rất nhiều ảnh hưởng xấu từ ngoài,phát huy rất hiệu quả những ưu điểm của lớp, xây dựng cốt cán và môitrường nội trú tích cực cho lớp mình.

Kỹ năng sống vừa là mục tiêu vừa là phương tiện cho mỗi người,không phải tự nhiên mà có Vì vậy nên xem giáo dục kĩ năng sống như làmột tiêu chí của nền giáo dục hiện đại và có chất lượng tốt Và đó cũng cầnđược xem như yêu cầu nghề nghiệp đối với giảng viên

Kĩ năng sống từ quan điểm giáo dục là tất cả những kĩ năng cần thiếttrực tiếp giúp cá nhân sống thành công và hiệu quả Những kỹ năng sống cốtlõi cần nhấn mạnh là kỹ năng tư duy, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng ra quyếtđịnh, kỹ năng hợp tác và cạnh tranh, kỹ năng thích ứng cao, kỹ năng làmchủ bản thân

Giáo dục kĩ năng sống cần trở thành mục tiêu và nhiệm vụ giáo dụcnói chung ở trường cao đẳng, của giáo viên chủ nhiệm trong môi trường nộitrú nói riêng Học tập và sinh hoạt ở khu nội trú là thách thức đối với sinhviên, đòi hỏi các em phải rèn luyện kĩ năng sống ngay tại môi trường này

Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường cao đẳng có vai trò, nhiệm vụ quantrọng và trực tiếp trong giáo dục kĩ năng cho học sinh thông qua công tácquản lí, lãnh đạo lớp, cố vấn và khuyến khích sinh viên nhận thức, rèn luyện

và thực hành kĩ năng sống ngay trong đời sống tập thể ở kí túc xá

Trang 38

2.1.1 Kĩ năng sống của sinh viên cao đẳng sư phạm

Kỹ năng sống của sinh viên Cao đẳng vừa thiếu lại vừa yếu nên chưa

đủ để đáp ứng với những yêu cầu của thời hội nhập quốc tế, thời bùng nổthông tin Thậm chí một số kỹ năng thiếu một cách nghiêm trọng nếukhông muốn dùng từ “chưa có” như : kỹ năng sống với người khác mình,khác quốc gia, khác nền văn hóa bởi kỹ năng ngoại ngữ rất hạn chế Trướcnhững mối đe dọa hết sức nghiêm trọng đối với sự tồn tại của loài ngườinhư năng lượng nguyên tử, thảm họa sinh thái treo lơ lửng cận kề, sựnhiễm khuẩn và khan hiếm về nguồn nước, thực phẩm nhưng họ vẫn thờ ơ,thiếu một thái độ tích cực

Sự bùng nổ thông tin đã làm cho thế giới thay đổi với một tốc độchóng mặt, đòi hỏi tính năng động ở con người rất cao Sinh viên đã nhậnthức điều đó nhưng thiếu sự nỗ lực phấn đấu, thiếu giải pháp để đối phó vớitình huống đó Thậm chí một bộ phận sinh viên tỏ ra không quan tâm, họvẫn bình thản, an phận với những gì mình có được Phải chăng trở thànhsinh viên Cao đẳng, Đại học “là cái mốc, cái chuẩn” và sau cái chuẩn đó tâm

lý xả hơi, cảm giác bằng lòng đã ảnh hưởng không nhỏ đến sự nỗ lực củasinh viên Đã đến lúc và ngay bây giờ phải có một cuộc cách mạng đầu racủa sinh viên Vào được Cao đẳng, Đại học đã là khó, tốt nghiệp để ratrường lại càng khó hơn, bởi chúng ta đang sống trong thế giới dựa vào tàinăng và năng lực chứ không phải một thế giới dựa vào thân nhân con người

Trang 39

Thời đại đang cần và rất cần những con người tay nghề cao, có khả năngthay đổi nghề nghiệp theo tốc độ của sự phát triển toàn cầu.

Một số kỹ năng sống mang tính chất cá nhân như: kỹ năng tự nhậnthức, kỹ năng giao tiếp với người khác, kỹ năng làm chủ bản thân, kỹ năngphòng chống các tệ nạn xã hội … đang phát triển ở sinh viên, nhưng chưa

đủ để họ bước vào cuộc sống thời hiện đại Tuy nhiên vẫn có một số sinhviên kỹ năng làm chủ bản thân còn rất kém nên đã dính vào các tệ nạn xãhội như :cờ bạc, cá độ bóng đá, nghiện hút, thậm chí gây ra cả án mạng, gây

ra hậu quả nghiêm trọng cả về cá nhân và xã hội

Kỹ năng sống đầu tiên và quan trọng nhất mà sinh viên phải có trongthế giới hội nhập là kỹ năng “học phương pháp học” nghĩa là thường xuyêntiếp thu và học hỏi những phương pháp mới để làm những công việc cũ haynhững phương pháp mới để làm công việc mới Trong một thế giới mà hầuhết các công việc đang đứng trước nguy cơ bị số hóa, tự động hóa hoặc chothuê bên ngoài làm Khi mà việc làm mới, ngành nghề mới xuất hiện rấtnhanh chóng thì kỹ năng học phương pháp học lại càng có ý nghĩa quyếtđịnh Một điều đáng buồn là kỹ năng này ở sinh viên rất hạn chế Thực tếcho thấy rằng hết học kỳ I năm thứ nhất, sinh viên vẫn thường sử dụngphương pháp học ở cấp học trước đó

Một đặc điểm chung nữa là sinh viên có nhu cầu rất cao về giáo dục

kỹ năng sống thời hiện đại, đây là một điều đáng mừng, nhưng sinh viên lạikhông biết làm thế nào và không biết dựa vào ai để có kỹ năng sống Những

kỹ năng sống mà họ đã có chỉ đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu củamột xã hội khép kín, chưa thể đáp ứng được những thách thức và cơ hội củathời đại toàn cầu hóa Để cho sinh viên tự nghiên cứu, tự học về kỹ năngsống hay là định hướng về giáo dục kỹ năng sống của cơ quan chức năng?

Có lẽ chúng ta đang cần cả hai và ngay lúc này

Trang 40

2.1.2 Đặc điểm của trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang Khánh Hòa

Trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang Khánh Hòa được thành lậpngày 01-04-1976 Trường có 170 giảng viên và cán bộ, công nhân viên,trong số 120 giảng viên có 7 tiến sĩ, 10 nghiên cứu sinh và 65 thạc sĩ Giảngviên của trường được bồi dưỡng về chuyên môn bằng cách cử đi học tậptrung tại các trường đại học trong và ngoài nước

Trường có 6 khoa: Tự nhiên, Xã hội, Ngoại ngữ, Tiểu học, Khoa quản

lí giáo dục, Giáo dục thể chất nhạc họa và Công tác đội Tổng số sinh viêngồm 1500 sinh viên ngành sư phạm và 3000 sinh viên ngoài sư phạm Cơ sởvật chất hiện có: các khu nhà học, nhà làm việc, nhà thí nghiệm, nhà thựchành trong khuôn viên 3 hecta và khu thực nghiệm ứng dụng công nghệ sinhhọc 10 hecta Ký túc xá vừa rộng lại vừa đẹp có trên 1000 chỗ ở, có bếp ăn,căng tin, câu lạc bộ bóng bàn, cầu lông, có phòng xem ti vi, phòng vi tính…

Hơn 30 năm qua, trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang thực hiệnnhiệm vụ đào tạo giáo viên THCS, tiểu học và bồi dưỡng cán bộ quản lí giáodục cho tỉnh Khánh Hòa và một số tỉnh lân cận như: Phú Yên, Đaklak, NinhThuận, Bình Thuận Tính đến nay, trường đã đào tạo được 16000 giáo viên

có trình độ cao đẳng trở lên và bồi dưỡng nâng cao hơn 6000 giáo viên choKhánh Hòa và khu vực

Hiện nay trường đang liên kết với nhiều trường đại học như: Đại học

Đà Lạt, Đại học kinh tế TPHCM, Đại học khoa học xã hội và nhân vănTPHCM, Đại học giao thông vận tải HN…đào tạo được gần 7000 cử nhâncác chuyên kỹ sư xây dựng cầu đường… Trường Cao đẳng sư phạm NhaTrang đang tập trung đào tạo:

- Cử nhân các ngành sư phạm tiểu học, THCS

- Cử nhân các ngành hướng dẫn và quản trị du lịch

Ngày đăng: 07/04/2013, 23:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo (2001), Kinh tế giáo dục: Một số vấn đề lý luận giáo dục và những ứng dụng vào việc xây dựng chiến lược giáo dục, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế giáo dục: Một số vấn đề lý luận giáo dục và những ứng dụng vào việc xây dựng chiến lược giáo dục
Tác giả: Đặng Quốc Bảo
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2001
2. Cân Hi Bân (2005), Kinh tế giáo dục, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế giáo dục
Tác giả: Cân Hi Bân
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2005
3. Nguyễn Thanh Bình (2007), Giáo trình giáo dục kỹ năng sống, Dự án đào tạo giáo viên THPT, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2007
4. Nguyễn Thanh Bình (2006), Chuyên đề giáo dục kỹ năng sống, Viện nghiên cứu giáo dục học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề giáo dục kỹ năng sống
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2006
5. Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn (2003), Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam, Viện chiến lược và chương trình giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu và thực hiện chương trình giáo dục kỹ năng sống ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình, Nguyễn Kim Dung, Lưu Thu Thủy, Vũ Thị Sơn
Năm: 2003
6. Lê Thị Bừng, Hải Vang (1997), Tâm lí học ứng xử, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học ứng xử
Tác giả: Lê Thị Bừng, Hải Vang
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
7. Hồ Ngọc Đại (2003), Cái - cách. Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái - cách
Tác giả: Hồ Ngọc Đại
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2003
9. Nguyễn Kế Hào – Nguyễn Quang Uẩn (2004), Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Kế Hào – Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
10. Phạm Minh Hạc (2001), Về phát triển toàn diện con người thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển toàn diện con người thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
11. Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm (2003), Về phát triển văn hóa và xây dựng con người trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về phát triển văn hóa và xây dựng con người trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Nguyễn Khoa Điềm
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003
12. Nguyễn Văn Hồng (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
13. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại – Lí luận biện pháp kỹ thuật, Nxb ĐH Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – Lí luận biện pháp kỹ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: Nxb ĐH Quốc Gia
Năm: 2002
14. Đặng Thành Hưng (2004), Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại, Tạp chí giáo dục số 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống kỹ năng học tập hiện đại
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Năm: 2004
15. Thái Duy Tuyên (1997), Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, Viện Khoa học Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Năm: 1997
16. Hà Nhật Thăng (1998), Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông
Tác giả: Hà Nhật Thăng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
17. Thomas – L.Friedman (2006), Thế giới phẳng, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới phẳng
Tác giả: Thomas – L.Friedman
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006
18. Trần Kiều (2003), Giáo dục các vấn đề quốc tế, Viện chiến lược và chương trình giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục các vấn đề quốc tế
Tác giả: Trần Kiều
Năm: 2003
19. Trần Kiểm (2001), Lí luận quản lí giáo dục, Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận quản lí giáo dục
Tác giả: Trần Kiểm
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2001
20. Raja – Goy singl (1994), Nền giáo dục thế kỉ 21: Những triển vọng của Châu á trừ Thái Bình Dương, Nxb Viện khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nền giáo dục thế kỉ 21: Những triển vọng của Châu á trừ Thái Bình Dương
Tác giả: Raja – Goy singl
Nhà XB: Nxb Viện khoa học giáo dục Việt Nam
Năm: 1994
21. Nguyễn Thị Oanh (2006), 10 cách thức rèn luyện kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: 10 cách thức rèn luyện kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Cơ sở của việc xác định mục tiêu - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.1. Cơ sở của việc xác định mục tiêu (Trang 43)
Bảng 2.2a. phản ánh các khía cạnh của kĩ năng này ở sinh viên trên  phương diện tích cực (câu hỏi 8) và tiêu cực (câu hỏi 15) - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.2a. phản ánh các khía cạnh của kĩ năng này ở sinh viên trên phương diện tích cực (câu hỏi 8) và tiêu cực (câu hỏi 15) (Trang 44)
Bảng 2.2b. Các hành vi cần loại bỏ - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.2b. Các hành vi cần loại bỏ (Trang 45)
Bảng 2.3. Kỹ năng kiên định của sinh viên nội trú - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.3. Kỹ năng kiên định của sinh viên nội trú (Trang 46)
Bảng 2.5. Kỹ năng ra quyết định - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.5. Kỹ năng ra quyết định (Trang 47)
Bảng 2.6. cho thấy có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn với bạn bè. - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.6. cho thấy có nhiều cách giải quyết mâu thuẫn với bạn bè (Trang 48)
Bảng 2.7 phản ánh cách giải tỏa Stress của sinh viên qua xung đột. - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.7 phản ánh cách giải tỏa Stress của sinh viên qua xung đột (Trang 49)
Bảng 2.8. Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.8. Kĩ năng tìm kiếm sự giúp đỡ (Trang 50)
Bảng 2.9. Mức độ cần thiết của giáo dục kỹ năng sống - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.9. Mức độ cần thiết của giáo dục kỹ năng sống (Trang 52)
Bảng 2.10. Mức độ cần thiết của những kĩ năng sống đối với sinh viên - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.10. Mức độ cần thiết của những kĩ năng sống đối với sinh viên (Trang 52)
Bảng 2.11 cho thấy 31 kĩ năng có mức độ cần thiết và cần được giáo  dục đối với sinh viên nội trú, căn cứ theo lựa chọn của chính các em hiện  đang sống ở kí túc xá của trường. - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.11 cho thấy 31 kĩ năng có mức độ cần thiết và cần được giáo dục đối với sinh viên nội trú, căn cứ theo lựa chọn của chính các em hiện đang sống ở kí túc xá của trường (Trang 54)
Bảng 2.12. Những kỹ năng sống chưa cần đối với sinh viên nội trú - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 2.12. Những kỹ năng sống chưa cần đối với sinh viên nội trú (Trang 55)
Bảng 3.1. Tác dụng của chủ đề kĩ năng tự nhận thức - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 3.1. Tác dụng của chủ đề kĩ năng tự nhận thức (Trang 86)
Bảng 3.3. Tác dụng của chủ đề kĩ năng giải quyết mâu thuẫn - Biện pháp giáo dục kỹ năng sống của giáo viên chủ nhiệm lớp cho sinh viên nội trú ở trường Cao đẳng sư phạm Nha Trang - Khánh Hòa
Bảng 3.3. Tác dụng của chủ đề kĩ năng giải quyết mâu thuẫn (Trang 87)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w