Nho giáo và sự ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Triết học là hệ thống tri thức lí luận chung nhất của con người về thế giới, về
vị trí và vai trò của con người trong thế giới đó Triết học là hình thái ý thức xã hội
ra đời từ khi chế độ cộng sản nguyên thuỷ được thay thế bằng chế độ chiếm hữu nô
lệ Triết học ra đời ở cả phương Đông và phương Tây gần như cùng một thời gian
(từ thế kỉ VIII đến thế kỉ VI trước Công nguyên ) tại một số trung tâm văn minh
của nhân loại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp Những thời kì lớn của lịch sử triết
học là: triết học của xã hội chiếm hữu nô lệ, triết học của xã hội phong kiến, triết
học của giai đoạn chuyển tiếp từ xã hội phong kiến sang chủ nghĩa tư bản, triết học
của xã hội tư bản chủ nghĩa, triết học Mác-Lênin
Có nhiều nguồn gốc về các thuật ngữ triết học như: ở ấn Độ cổ đại là darshana
có nghĩa là chiêm ngưỡng thế giới bằng lý trí, ở Hy Lạp là philosophia có nghĩa là
yêu mến sự thông thái, ở Trung Quốc triết là tranh luận bằng miệng để đi đến chân
lý Đến giữa thế kỉ XIX, triết học Mác - Lênin xuất hiện, triết học Mác kết tinh tất
cả những giá trị cao quí của tư duy triết học, văn học, khoa học của lịch sử nhân
loại, phát triển thành học thuyết triết học đỉnh cao mà cho đến nay chưa có một học
thuyết nào phản bác được
Theo Ăngghen :”Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học đặc biệt là triết học hiện đại
là vấn đề về mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại “.Lịch sử triết học nghiên cứu sự
phát sinh, phát triển và sự kế tiếp nhau của các trường phái, học thuyết, phương
pháp triết học trong lịch sử Việc nghiên cứu lịch sử triết học không thể bỏ qua
những tiền đề về kinh tế, chính trị xã hội khoa học, tôn giáo và nghệ thuật trong
lịch sử có liên quan đến triết học Trong triết học luôn có sự đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật từ thời cổ đại đến đương đại, song đó là đấu
tranh và thống nhất giữa các mặt đối lập trong sự phát triển của lịch sử triết học
triết học tư tưởng triết học.Phương Đông là một trong những chiếc nôi lớn của nền
Trang 2văn minh nhân loại Từ thế kỷ thứ VIII trước Công nguyên, Ấn độ và Trung Quốc
cổ đại đã trở thành trung tâm văn minh lớn của xã hội loài người lúc bấy giờ.Những
tư tưởng triết học phương Đông ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần tuý mà
thường được trình bày dưới dạng xen kẽ hoặc ẩn sâu các vấn đề chính trị-xã hội,
đạo đức, nghệ thuật trong lịch sử triết học phương Đông,ít thấy có những bước phát
triển nhảy vọt về chất có tính vạch thời đại:Nho giáo, Phật giáo, được hình thành từ
những năm trước Công nguyên nhưng đến cuối thế kỷ XIX vẫn giữ nguyên tên gọi
và hình thức biểu hiện
Triết học phương Đông nhấn mạnh mặt thông nhất trong mối quan hệ giữa
con ngườivàvũ trụ.Những tộc người cổ đại phương Đông như: Hạ Vũ, Ấn Thương,
Chu Hán ở Trung Quốc; Lạc Việt ở Việt Nam, sớm định cư canh tác nông
nghiệp, nguồn sống là nông nghiệp quanh năm xanh tươi hoa lá đã hoà quyện con
người và đất trời Cái cơ sở ban đầu biểu hiện ấy dần dần khái quát thành tư tưởng
thiên nhân hợp nhất, con người chỉ là một tiểu vũ trụ
Trung Quốc là một trong những cái nôi của triết học phương Đông, chịu nhiều
ảnh hưởng sâu sắc của triết học phương Đông đặc biệt là tư tưởng Nho giáo.Việt
Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc của trường phái triết học này Do vậy trong bài tiểu
luận triết học của em, em xin chọn đề tài: “Nho giáo và sự ảnh hưởng của Nho
giáo ở Việt Nam”
Trang 3PHẦN I NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA TRIẾT NHO GIÁO
Trung hoa cổ đại là một quốc gia rộng lớn có hai miền khác nhau Miền Bắc
có lưu vực sông Hoàng Hà, xa biển, khí hậu lạnh đất đai khô khan, cây cỏ thưa thớt
sản vật hiếm hoi Miền Nam có lưu vực sông Dương Tử khí hậu ấm áp cây cối
xanh tươi sản vật phong phú Lịch sử Trung Hoa chia làm hai thời kì lớn: thời kì từ
thế kỉ IX (trước Công nguyên ) về trước, thời kì thứ hai từ thế kỉ XIII đến cuối thế
kỉ III trước Công nguyên, thời kì Xuân Thu- Chiến Quốc là thời kì chuyển biến từ
chế độ chiếm hữu nô lệ sang chế độ phong kiến đã phát sinh ra các hệ thống, các
dòng tư tưởng triết học bao gồm: Nho gia, Đạo gia, Mặc gia, Danh gia, Pháp gia,
Âm dương gia, Nông gia ,Tung hoành gia,Tạp gia Trong đó Nho giáo là học
thuyết lớn nhất trong lịch sử chính trị, đạo đức của dân tộc Trung hoa và có ảnh
hưởng rất lớn ở Á Đông (Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản )
Nho giáo là một trường phái do Khổng Tử, tên thật là Khâu, hay gọi là Trọng
Ni, người nước Lỗ (551- 479 trước Công nguyên, thời Xuân Thu- Chiến Quốc)sáng
lập Không Tử là người mở đường vĩ đại của lịch sử tư tưởng Trung Quốc cổ đại
Ông là nhà triết học, nhà chính trị và là nhà giáo dục nổi tiếng ở Trung Quốc cổ
đại Ông đã hệ thông tri thức tư tưởng đời trước và quan điểm của ông thành học
thuyết đạo đức chính trị riêng, gọi là Nho giáo Sau khi ông chết Nho giáo chia làm
tám phái, quan trọng nhất là phái Mạnh Tử (từ năm 327 đến năm 289 trước Công
nguyên)và Tuân Tử (từ năm 313 đến năm 238 trước Công nguyên) Học thuyết của
ông được hai nhà tư tưởng là Mạnh Tử và Tuân Tử hoàn thiện và phát triển Mạnh
Tử theo hướng duy tâm ,Tuân Tử theo hướng duy vật Trong lịch sử sau này dòng
Khổng Tử có ảnh hưởng lâu dài nhất Từ nhà Hán trở đi, Nho giáo được nhiều nhà
tư tưởng phát triển và sử dụng theo môi trường xã hội của nó Trong đó có ba đại
biểu: Đổng Trọng Thư, Lưu Hâm, Lưu Hướng, Bang Cố đã đưa học thuyết âm
Trang 4dương ngũ hành vào nho giáo làm cho nhân dân thời kì này mang tính thần bí ,về
xã hội mang tính khắc nghiệt một chiều Đến thời nhà Tống đã đưa phạm trù:
lý(tinh thần), khí(vật chất) vào Nho giáo Thời kì này gồm có các đại biểu: Chu
Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy
Hoàn cảnh ra đời của Nho giáo:
- Về kinh tế: có nhiều bước tiến lớn, nhiều ngành nghề mới ra đời Trong xã
hội xuất hiện sở hữu tư nhân về đất đai, xuất hiện giai cấp địa chủ
- Về chính trị: suốt thời Xuân Thu, mệnh lệnh của “Thiên Tử nhà Chu’’ không
còn được tuân thủ; trật tự lễ nghĩa, cương thường xã hội đảo lộn; đạo đức suy đồi
Triết học tại thời điểm này xã hội nảy sinh mâu thuẫu giữa giai cấp địa chủ và tầng
lớp thống trị quí tộc nhà Chu và mâu thuẫu trong nội bộ giai cấp địa chủ, thế lực
nào cũng muốn bá chủ Trung Nguyên, dẫn tới cuộc chiến tranh giữa các dòng họ,
đẩy xã hội vào thời kỳ loạn lạc
- Về văn hoá: người Trung Hoa đã sáng tạo ra tri thức về nhiều lĩnh vực, đạt
được kiến thức vượt thời đại Trong thời đại đó đã đặt ra một loạt những vấn đề xã
hội và triết học mới, buộc các nhà tư tưởng phải quan tâm lý giải và làm nảy sinh
một loạt các trường phái triết học đa dạng Các dòng tư tưởng triết học thời này đều
có chung một đặc trưng là quan tâm giải quyết các vấn đề chính trị - đạo đức - xã
hội và không quan tâm tới tôn giáo Khổng Tử lập ra học thuyết mở trường dạy
học, đi chu du khắp nước chư hầu làm thuyết khách mong làm sáng đạo của mình
trong thiên hạ Ông chủ trương xây dựng mẫu người quân tử dùng “đức trị, lễ trị”để
đưa xã hội từ chỗ hỗn loạn trở nên ổn định Nho giáo là những vấn đề về chính trị,
đạo đức của con người và xã hội
I Quan Điểm Về Xã Hội
Xã hội lí tưởng của nhà nho là xã hội hoà Nhà nho cho rằng xã hội như một
dàn nhạc có nhiều nhạc cụ cho nên con người phải làm thế nào sống hoà hợp với
nhau giống như các nhạc cụ hài hoà với nhau để tạo ra một bản nhạc hay: “Lễ chi
dụng, hoà vi quí” Nho giáo đứng trên quan điểm duy tâm để giải quyết những vấn
Trang 5đề xã hội bởi vì khi giải quyết những vấn đề xã hội, Nho giáo không xuất phát từ
việc phân tích cơ sở kinh tế của xã hội như triết học Mác, mà xuất phát từ những
quan hệ chính trị - đạo đức, coi đó là quan hệ nền tảng của đời sống xã hội Nho
giáo quy tất cả những quan hệ xã hội về quan hệ chính trị - đạo đức Xã hội phải có
cương thường trung hiếu đây chính là mối quan hệ cơ bản của xã hội Khổng Tử
cho rằng xã hội có hai mối quan hệ:
- Quân-thần
- Phụ-tử
Nho giáo khái quát những quan hệ chính trị - đạo dức ấy vào ba mối quan hệ
giường cột, gọi là tam cương, bao gồm:
_Quan hệ vua- tôi
_Quan hệ cha-con
_Quan hệ chồng-vợ
Quan hệ thứ nhất thuộc quan hệ quốc gia, còn hai quan hệ sau thuộc quan hệ
gia đình Điều này nói lên rằng trong quan niệm về xã hội, Nho giáo đặc biệt quan
tâm tới những quan hệ nền tảng của là quan hệ gia đình Quan hệ gia đình ở đây
mang tính chất tông tộc, dòng họ Xã hội trị hay loạn trước hết thể hiện ở chỗ có
giữ vững được ba quan hệ ấy hay không Xã hội là tam cương - tam cương là quốc
gia
Mạnh Tử cho rằng xã hội có năm mối quan hệ (ngũ luân):
- Phụ- tử
- Quân - thần
- Phu - phụ
- Trưởng - ấu
- Bằng - hữu
Trong xã hội phải có lễ đóng vai trò trung tâm trong học thuyết Nho giáo:
“Hứng ư thi, Lập ư lễ, Thành ư nhạc”
Lễ có nhiều nội dung khác nhau:
Trang 6- Tế lễ theo Khổng Tử tế lễ có từ trước ông chỉ phô cái lễ của nhà Chu, theo
ông thiên tử nhà Chu mới có quyền tế trời, tế đất Khi tế phải có lễ: “Lễ nhạc, chinh
phạt, tự thiên tử xuất”
- Lễ là nguyên tắc hoạt động của thời đại cũng như thần dân:
“Tề chi dĩ lễ, Vi quốc dĩ lễ” để đưa ra tư tưởng “chính danh” mỗi người có
một danh phận hoàn thành nhiệm vụ, trách nhiệm cũng như nghĩa vụ của danh
phận đó
- Lễ là hệ thống các quan hệ nghĩa vụ đạo đức:
“Quân sử thần dĩ lễ, Quân sử thần dĩ chung”
- Lễ còn là nề nếp, nếp sống có văn hoá
II.Quan Điểm về con người:
- Tính người:
Khổng Tử và Mạnh Tử đều cho rằng con người sinh ra vốn thiện Thiện ở đây
là rộng lượng, lòng nhân ái, yêu thương con người Xuất phát từ quan niệm
Khổng Tử đã xây dựng phạm trù “nhân” là phạm trù trung tâm trong triết học của
ông Theo ông một triều đại muốn hưng thịnh thì người cầm quền phải có đức
nhân Theo Khổng Tử người muốn đạt được đức nhân phải có “Trí” và “Dũng” Có
trí con người mới sáng suốt thông minh, phân biệt được phải trái, thiện ác Dũng ở
đây là có sức mạnh, xả thân vì nghĩa Khổng Tử cho rằng “Tính tương cận, tập
tương viễn” con người gần nhau do cuộc sống và hoàn cảnh Tuân Tử cho rằng
“Bản chất con người là ác” tuy không đúng nhưng cũng có phần đúng, hành vi đạo
đức của con người là do thói quen mà tạo thành, phẩm chất con người là do xã hội
tác động vào và do giáo dục lâu ngày mà nên Do vậy ông cho rằng giáo dục có thể
cải hoá con người từ ác thành thiện để trở thành người quân tử Ông còn khẳng
định trời không quyết định được vận mệnh của con người, mọi việc đều do con
người làm ra Ông còn đề ra học thuyết con người có thể cải tạo được thiên nhiên
Trang 7Tuy có nhiều quan điểm khác nhau về tính người nhưng đều thống nhất với
nhau ở chủ trương giáo dục tính thiện cho con người để nhằm duy trì trật tự xã hội
phục vụ lợi ích của giai cấp phong kiến
- Mối quan hệ giữa con người với con người,
Khổng Tử cho rằng có hai mối quan hệ:
+ Quân-thần
+ Phụ-tử
Mạnh Tử cho rằng có năm mối quan hệ:
+ Phụ-tử
+ Quân-thần
+ Phu-phụ
+ Trưởng-ấu
+ Bằng-hữu
Hán nho có tam cương:
+ Quân-thần
+ Phụ-tử
+ Phu-phụ
Đạo làm người:
Con người sống phải có lễ và nhân, đạo sống của con người là phải “Trung
dung, trung thứ” có nghĩa là sống đúng với mình và sống phải với mọi người, muốn
thành đạt phải giúp người thành đạt Khổng Tử cho rằng nhân là cái gốc đạo đức
của con người và để trở thành con người hoàn thiện là phải “hiểu biết mệnh trời”
nhưng không trông chờ vào trời đất thần thánh Nhân là nhân giả ái nhân, nhân là
cái gì mình muốn làm cho người khác: “Kỷ sơ bất dục, vật thi ư nhân”, “Kỷ dục lập
nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” Lễ là cơ sở của nhân
Theo Mạnh Tử đạo là người có bốn phẩm chất là: nhân, nghĩa, lễ, trí
Trang 8Hán nho làm người phải có tam cương và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín
là năm giá trị đạo đức lớn của con người) Ngũ thường là có sẵn
III Quan Điểm Về Giáo Dục
Theo quan điểm của Khổng Tử cũng như các tác giả sau này của Nho giáo là
xây dựng một xã hội “Đại Đồng”, xã hội đại đồng của Nho giáo không phải là một
xã hội đặt trên nền tảng của nền sản xuất phát triển cao mà là một xã hội “an hoà”,
trong đó sự an hoà được đặt trên nền tảng của sự công bằng xã hội Xã hội an hoà ở
đây là xã hội bao gồm nhiều quốc gia lớn nhỏ, mạnh yếu khác nhau, trong đó quốc
gia nhỏ yếu thờ phụng quốc gia lớn mạnh và ngược lại, quốc gia lớn mạnh che chở
cho quốc gia nhỏ yếu Xã hội mà mọi người sống hoà thuận giữa trong ngoài, trên
dưới, trưởng thứ, trong đó người bề trên vui vẻ mà trị, không ỷ thế quyền lực;
người dưới vui vẻ mà nhận sự trị, không oán hờn Một xã hội lấy hoà thuận, khoan
thứ làm đầu; không cần có một nền kinh tế phát triển mà chỉ cần công bằng xã hội
Để thực hiện xã hội đó Nho giáo đã quan tâm đến giáo dục Khổng Tử là người đầu
tiên lập ra trường học để giáo dục cho toàn dân
Đối tượng đào tạo: thì không phân biệt địa vị giai cấp, giàu nghèo nhưng
phân biệt nam nữ, phụ nữ không thể đào tạo Mục đích học là tạo lập ý chí hoàn
thiện nhân cách Nhưng sau khi học xong đều phục vụ cho giai cấp thống trị phản
bội lại giai cấp xuất thân
Nội dung: đào tạo đó là những kiến thức chính trị của nhà nho, không chú ý
đến kiến thức về tự nhiên, sản xuất về vật Lĩnh vực đào tạo của Nho giáo chủ yếu
đi vào đạo( là những tư tưởng cơ bản chính thống của giai cấp thống trị ), văn (thơ
ca ), sử
Đào tạo của Nho giáo đã đưa ra quan niệm về một con người lí tưởng: kẻ sĩ,
kẻ đại trượng phu, quân tử
IV Quan Điểm Về Chính Trị
Trang 9Tình hình xã hội thời Xuân - Thu - Chiến Quốc đã xuất hiện những vấn đề
lớn Do không hiểu nguyên nhân sâu xa của các sự kiện lịch sử và những quyền lợi
của giai cấp quy định nên những kế sách chính trị của Khổng Tử chỉ dừng lại ở tính
chất cải lương và duy tâm chứ không bằng cách mạng hiện thực Nho giáo đã đưa
ra các nguyên tắc quản lý xã hội:
+ Thực hiện nguyên tắc tập quyền cao độ, toàn bộ quyền lực tập trung vào một
người là Hoàng đế
+ Đưa ra quan niệm “chính danh” trong xã hội Chính danh có nghĩa là một
vật trong thực tại cần phải cho phù hợp với cái danh của nó mang Nếu mọi người
không chính danh thì xã hội sẽ loạn lạc
+ Thực hiện Văn trị - Lễ trị - Nhân trị Văn trị là đề cao bằng hiểu biết; Lễ trị
dùng tổ chức thiết chế để trị nước; Nhân trị là trị quốc bằng lòng nhân ái
Để trị quốc được tốt chủ yếu dựa vào Vua Vua phải tự mình làm thiện, làm
phải trước thiên hạ để nêu gương và phải chịa khó lo liệu giúp đỡ dân Có thể bỏ
những việc không quan trọng nhưng không thể bỏ lòng tin của dân đối với vua, nếu
không thì chính quyền xã tắc sẽ sụp đổ Ngược lại, dân và bề tôi đối với cha mẹ
mình, phải tỏ lòng trung thành của mình đối với vua Theo Mạnh Tử: “Dân vi quí,
quân vi khinh, xã tắc thứ vi”, vì theo ông, có dân mới có nước, có nước với có vua
Thậm chí ông cho rằng dân có khi quan trọng hơn vua Kẻ thông trị nếu không
được dân ủng hộ thì chính quyền sớm muộn cũng sẽ phải sụp đổ, nếu vua tàn ác,
không hợp với lòng dân và ý trời thì sẽ có thể bị truất phế
+Đề cao nguyên lý công bằng xã hội
Trang 10PHẦN II
SỰ ẢNH HƯỞNG CỦA NHO GIÁO Ở VIỆT NAM
Việt Nam là một đất nước nhỏ nằm ở phía nam của Trung Quốc Với hơn
1000 năm Bắc Thuộc, Việt Nam đã bị ảnh hưởng trực tiếp từ đời sống văn hoá,
chính trị của Trung Hoa Đặc biệt là tư tưởng nho gíáo đã có ảnh hưởng sâu sắc
trong đời sống mọi mặt của nhân dân Việt Nam Nho giáo tin tưởng vào bản tính
thiện của con người do vậy nó rất đề cao giáo dục Nho giáo có tác dụng ổn định
quan hệ chính trị - xã hội, gia đình Tuy vậy Nho giáo cũng có nhiều tưởng về kinh
tế, quân sự, ngoại giao nhưng không quán xuyến sâu sắc
I ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC CỦA NHO GIÁO VIỆT NAM
Ảnh hưởng tích cực của Nho giáo thể hiện ở những điểm sau:
+ Nho giáo đã có công lao to lớn là góp phần xây dựng các triều đại phong
kiến vững mạnh và bảo vệ chủ quyền của dân tộc Cụ thể đó là Nho giáo đã đào tạo
nhiều tầng lớp nho sĩ Việt Nam, giáo dục của Nho giáo đã tạo ra nhiều nhân tài kiệt
xuất như Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Những nhân tài đó đã làm cho đất nước
được phồn vinh, hoà bình tránh được nhiều kẻ thù xâm lược Những người học Nho
giáo trở nên tu dưỡng đạo đức, các tư tưởng trượng phu, quân tử, tam tòng tứ đức,
nhiều thủ tục từ cưới xin cho đến ma chay đều chụi ảnh hưởng sâu sắc từ Nho giáo
Nho giáo bắt đầu thống trị và trở thành hệ tư tưởng chính thống của chế độ phong
kiến Nho giáo hướng con người vào con đường ham tu dưỡng đạo đức theo Nhân -
Nghĩa - Lễ -Trí, ham học để phò Vua giúp nước Nhiều ý nghĩa giá trị của những
chuẩn mực đạo đức Nho giáo đã được quần chúng nhân dân sử dụng trong nền đạo
đức của mình Thể hiện như các mặt: giáo dục có nhiều khẩu hiệu (như cần, kiệm,
liêm, chính, chí công vô tư
+ Ảnh hưởng chính Nho giáo là thiết lập được kỉ cương và trật tự xã hội Nho
giáo với các tư tưởng chính trị - đạo đức như “Chính danh”, “Nhân trị”, “Nhân
chính” luôn luôn là bài học quí giá và được vận dụng trong suốt lịch sử Việt Nam