Các tiếng chứa âm đệm trong tiếng Việt - Nguồn gốc và hướng giải quyết
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Từ trước đến nay, mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt, một vấn đề hết sức cơ
bản cho mọi nghiên cứu về Việt ngữ học vẫn chưa đạt được sự thống nhất giữa các
nhà ngôn ngữ Sự không đồng thuận này dẫn đến một thực trạng với mỗi quan
điểm, cái tạm gọi là “âm đệm”, một thành phần của cấu trúc âm tiết tiếng Việt
không tìm thấy một “chỗ đứng” ổn định của mình trong các mô hình kể trên Thành
phần âm đệm, có khi được xem như một đơn vị ngang hàng với âm chính, âm cuối
trong vần, có khi lại được phân tách ra khỏi cấu trúc chiết đoạn của âm tiết, trở
thành một đơn vị siêu đoạn với đầy đủ các tính chất của một thành tố mà phạm vi
hoạt động của nó có vùng chức năng lớn hơn một chiết đoạn Lựa chọn đề tài này,
trước tiên, chúng tôi muốn đưa ra kiến giải về vị trí và vai trò của âm đệm trong mô
hình cấu trúc âm tiết, làm cơ sở cho các nghiên cứu về âm vị học, ngữ âm học và
các chuyên ngành khác của ngôn ngữ học
Hiện nay, trong vốn từ vựng tiếng Việt, các tiếng có chứa âm đệm không
nhiều So với vốn từ của một ngôn ngữ, con số này bước đầu cho thấy âm đệm
trong tiếng Việt không có giá trị khu biệt lớn trong toàn hệ thống Nói cách khác,
so với hệ thống, các hình tiết, nhất là các hình tiết thực có chứa âm đệm chỉ là thiểu
số trong đa số Dù vậy, âm đệm với tất cả các đặc tính của mình khi biểu hiện ra
trên bề mặt chữ viết lại không hề đơn giản Sự tồn tại của nó gây rất nhiều khó
khăn trong việc học tiếng không chỉ với người nước ngoài mà còn với cả các trẻ em
bản ngữ Đề tài này đề cập đến vai trò của âm đệm và kiến giải về sự tồn tại của nó,
theo hướng một giải pháp âm vị học có tính tiết kiệm, tự nhiên
Tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất trong sự đa dạng của các phương
ngữ Kiến giải về âm đệm giúp chúng ta lý giải được sự khác biệt giữa các phương
ngữ, cụ thể là sự vắng mặt của âm đệm trong các phương ngữ Nam so với phương
ngữ Bắc, phương ngữ Trung và tiếng Việt toàn dân
Trang 2Hơn nữa, trong quá trình thu thập tư liệu, chúng tôi nhận thấy chưa có một
công trình, một tập chuyên khảo nào cho riêng âm đệm nhìn từ góc độ đồng đại và
cả lịch đại Nếu có đề cập, chúng chỉ là một phần nhỏ trong khi trình bày về cấu
trúc âm tiết tiếng Việt Xuất phát từ những bất cập như thế, chúng tôi chọn đề tài
“Các tiếng chứa âm đệm trong tiếng Việt - Nguồn gốc và hướng giải quyết” với hy
vọng tìm ra một giải pháp âm vị học hữu ích nhất
2 Mục đích nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi đã khảo sát tất cả các tiếng có chứa âm đệm trong
tiếng Việt và so sánh chúng qua các thời kỳ lịch sử nhằm mục đích:
- Mô tả các khả năng kết hợp của âm đệm trong âm tiết tiếng Việt
- Tìm những lý giải về nguồn gốc của âm đệm
- Đề ra một kiến giải về khả năng tồn tại của âm đệm trong tiếng Việt
3 Phương pháp và phạm vi nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu:
thống kê tư liệu, mô tả, phân loại, so sánh
Chúng tôi tạm chấp nhận thuật ngữ “âm đệm” như một khái niệm mang tính
chất công cụ Tư liệu dùng để khảo sát là tất cả các tiếng có chứa âm đệm trong từ
điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên - 2002) Ngoài ra chúng tôi cũng tham khảo
một số tư liệu về âm đệm được rút ra từ những công trình đã được công bố của các
tác giả khác cùng những điều tra bước đầu về thực trạng phát âm âm đệm của các
em học sinh tiểu học tại Hà Nội
4 Bố cục đề tài
Đề tài ngoài phần mở đầu và kết luận bao gồm những phần sau:
I Th ống kê và xử lý tư liệu
II Các quan ni ệm khác nhau về vị trí âm đệm trong cấu trúc âm tiết âm tiết
ti ếng Việt Nguồn gốc của âm đệm
III Ki ến giải về khả năng tồn tại của âm đệm tiếng Việt
Trang 3NỘI DUNG
I THỐNG KÊ VÀ XỬ LÝ TƯ LIỆU
Khảo sát tất cả các tiếng có chứa âm đệm trong Từ điển Tiếng Việt do Hoàng
Phê chủ biên tái bản năm 2002, chúng tôi có được những số liệu như sau:
1.Tổng số tiếng
Có tất cả là 575 tiếng có chứa âm đệm, trong đó:
- Số lượng phụ âm đầu C1 kết hợp được với âm đệm là: 20/23
Ba phụ âm đầu còn lại trong tiếng Việt không kết hợp với âm đệm là //, /f/
và /p/
Trong số 20 phụ âm có khả năng kết hợp với âm đệm, xuất hiện nhiều nhất là
các âm tiết bắt đầu bằng phụ âm:
Xuất hiện ít nhất là các phụ âm đầu /b/:1 tiếng (boa), /v/: 1 tiếng (voan), /m/:
1 tiếng (moay), /n/: 2 tiếng (noãn, nuy)
- Số lượng phụ âm cuối C2 kết hợp được với âm đệm là: 6/6 âm cuối (/m/,
/n/, /ŋ/, /j/, /w/ và / ?/, biểu hiện ra chữ viết là các chữ cái: c, i, n, ng, nh, ch, t, o, p,
m, u
- Số lượng nguyên âm V kết hợp được với âm đệm: 7/12 nguyên âm chính
(Theo hệ thống nguyên âm của Hoàng Cao Cương) Trong đó:
• a: 281 tiếng (48,87 %)
• ồ: 73 tiếng (12,69%)
• ơ: 51 tiếng (8,87%)
Trang 4• e: 44 tiếng (7,65%)
• ie: 52 tiếng (9,04%)
• i: 73 tiếng (12,69%)
• o: 1 tiếng (0,19%) (chỉ xuất hiện trong tiếng “quọ”)
Như vậy, tổng số vần (kết hợp với âm đệm) theo chính tả là: 64 vần Cụ thể
như sau:
- oa, oac, oai, oan, oanh, oach, oang, oac, oao, oap, oay (11 vần)
- oăt, oăc, oăm, oăn, oăng (5 vần)
- oe, oen, oeo, oet (4 vần)
- uăc, uăm, uăn, uăng, uăt, uăp (6 vần)
- uân, uất, uây, uâng (4 vần)
- ua, uai, uac, uan, uang, uanh, uach, uat, uao, uau, uay, (11 vần)
- ue, uen, ueo, uet (4 vần)
- uêch, uênh, uê, uên, uêt, uêu (6 vần)
- uo (1 vần)
- uơ (1 vần)
- uy, uyên, uyêt, uych, uynh, uyt, uya, uyp, uyu (9 vần)
- ui, uit (2 vần)
Còn nếu theo cách phiên âm thì còn 33 vần trong tiếng Việt có chứa yếu tố
tròn môi Đó là các vần: a, ak, aj, aŋ, at, aw, ap, aŋ+căng, ak+căng,
aj+căng, at+căng, am+căng,an+căng, ap+căng, Ɔ, i, ien, iet, ik, iŋ, it, ie,
-ip, -iw,-, -n+căng, -t+căng, -ŋ +căng, -j+căng, -, -n, -w, -t (đI kèm yếu
tố tròn môi)
2 Phân loại tiếng
Chúng tôi chấp nhận cách phân loại tiếng của G.S Nguyễn Tài Cẩn [3] như
sau:
Trang 5Nhóm I: Tiếng vừa có nghĩa vừa độc lập; bao gồm các từ gốc Việt, các từ
gốc Hán, gốc Âu đã được Việt hoá cao và các từ Hán Việt không có từ Việt cạnh
tranh
Nhóm II: Tiếng có nghĩa không độc lập: các từ Hán Việt
Nhóm III: Tiếng vô nghĩa; bao gồm các từ phiên âm, từ ngẫu hợp, tiếng đệm
trong từ láy và các tiếng không rõ nghĩa trong từ ghép
Theo tiêu chí này, chúng tôi có được kết quả thống kê phân loại tiếng từ
bảng các âm tiết chứa âm đệm trong tiếng Việt:
Nhóm I: 442 tiếng (76,87%)
Nhóm II: 38 tiếng (6,61%)
Nhóm III: 95 tiếng (16,52%)
3 Phân loại theo phạm vi sử dụng
Chúng tôi tạm chấp nhận cách phân loại tiếng theo phạm vi sử dụng của các
tác giả Phạm Đức Dương và Phan Ngọc [13] như sau:
- Trung hoà: 457 tiếng
- Khẩu ngữ: 36 tiếng
- Phương ngữ: 23 tiếng
- Ít dùng: 39 tiếng
- Văn chương: 36 tiếng
- Vay mượn: 2 tiếng
- Thông tục: 5 tiếng
Lưu ý: Một tiếng có thể tham gia đồng thời vào các nhóm khác nhau
4 Nhận xét
Qua các số liệu thống kê trên, chúng tôi có một vài nhận xét như sau:
• 575 từ trong vốn từ của một ngôn ngữ là một con số rất nhỏ, nếu xét
trên tổng số vốn từ của một ngôn ngữ Như vậy chứng tỏ rằng tần số
xuất hiện của âm đệm trong các văn bản của tiếng Việt sẽ có phần hạn
chế hơn
Trang 6• Các âm đệm thường xuất hiện trong các những đơn vị từ vựng như các
từ tượng thanh, tượng hình, các từ vay mượn trong tiếng Hán bắt đầu
bằng những âm đầu ngạc mềm như /k/: 124 tiếng (21,56 %) và âm họng
như /h/:: 57 tiếng (9,91%) vốn là những âm không phổ biến trong tiếng
Việt
• Trong 154 vần tiếng Việt chỉ có khoảng 64 vần theo chính tả (33 vần
theo ngữ âm) chứa yếu tố tròn môi Tuy nhiên, yếu tố tròn môi không
phải chỉ ảnh hưởng đến phần vần mà ảnh hưởng đến toàn bộ âm tiết,
nghĩa là nét tròn môI có từ khi bắt đầu cho đến lúc kết thúc âm tiết
• Trong tiếng Việt, sự xuất hiện yếu tố tròn môi là có điều kiện:
- Điệu vị tròn môi không xuất hiện khi C1 là các phụ âm [+môi] trong các
hình vị thuần Việt Điều này là kết quả của luật kết hợp theo tuyến tính của
các âm vị Một số trường hợp đặc biệt như /b/:1 tiếng (boa),/v/: 1 tiếng
(voan), /m/: 1 tiếng (moay ơ) Đây là các tiếng có nguồn gốc ngoại lai trong
tiếng Việt
- ĐIệu vị tròn môi ít xuất hiện trong các âm tiết tiếng Viêt có hạt nhân là các
nguyên âm sau, tròn môi Ngoại trừ nguyên âm /Ɔ/ trong từ “quọ” là một
trường hợp rất hi hữu
- Điệu vị tròn môi không xuất hiện trong các âm tiết có hạt nhân là nguyên âm
[+giữa, +cao]
- Điệu vị tròn môi xuất hiện ít và đặc biệt khi C2 là các phụ âm hoặc bán
nguyên âm có chứa yếu tố [+môi] (quắp, quắm, quào, ngoáo, ngoáp )
- Chúng tôi nhận thấy rằng có sự phân bố một cách đều đặn của thế đối lập
[+tròn môI]/ [- tròn môI] trong các âm tiết mở, nửa mở Có thể giải thích
điều này ở chỗ trong các âm tiết này, cơ chế tạo nên khuôn âm tiết là giản dị
nên về mặt tiềm năng có thể chứa thêm nhiều đIệu vị (hoặc [căng]/[lơI], hoặc
[+tròn môi]/ [- tròn môI])
Trang 7Trong hai vế đối lập [+tròn môI]/[- tròn môI] thì về [- tròn môI] là vế bình
thường, tự nhiên, không bị đánh dấu, có số lượng sản sinh cao Vế [+tròn môI] là
vế bị đánh dấu, không tự nhiên, cấu trúc phân lập, lực sản sinh yếu, nằm ở phần
biên của hệ thống âm vị học tiếng Việt
Từ những nhận xét trên, chúng tôi đề xuất kiến giải về khả năng tồn tại của
âm đệm trong những phần tiếp theo
II CÁC QUAN NIỆM KHÁC NHAU VỀ VỊ TRÍ ÂM ĐỆM TRONG CẤU
TRÚC ÂM TIẾT TIẾNG VIỆT NGUỒN GỐC CỦA ÂM ĐỆM
1 Những quan niệm khác nhau về vị trí âm đệm trong cấu trúc âm tiết tiếng
Việt
Thuật ngữ “âm đệm” như chúng tôi đã nói ở phần đầu chỉ là một sự quy ước
Hiện nay, vấn đề có hay không có âm đệm trong cấu trúc âm tiết Tiếng Việt vẫn
đang còn nhiều điều cần tranh luận Tuy nhiên, để tiện cho việc nghiên cứu, trong
tiểu luận này, chúng tôi tạm thời chấp nhận thuật ngữ “âm đệm” với tính chất quy
ước và có tính công cụ
Trước hết, để tiện cho việc phân loại các quan niệm khác nhau về âm đệm
trong tiếng Việt, chúng ta cần xác định rõ ràng và thống nhất một số thuật ngữ có
liên quan, trong đó có khái niệm đơn vị chiết đoạn (segmental) và đơn vị siêu đoạn
(suprasegmental) Đơn vị chiết đoạn và đơn vị siêu đoạn là một đối lập âm vị học
vô cùng quan trọng Một hiện tượng âm thanh được gọi là chiết đoạn khi phạm vi
hành chức của nó nằm trọn trong một chiết đoạn Khái niệm chiết đoạn trong ngôn
ngữ học được hiểu là: trong dãy thời gian liên tục, âm thanh lời nói được tuôn chảy,
“tạo nên ngữ lưu” Người ta tri nhận và cả phát âm ngữ lưu này bởi chuỗi các thời
điểm có trong dòng thời gian mà ngữ lưu đó choán Mỗi thời điểm là một chiết
đoạn Còn các đơn vị siêu đoạn tính thì ngược lại, có một thuộc tính quan trọng là
vùng chức năng của chúng (functional domain) không thể chứa trong một chiết
đoạn mà phải bao trùm lên nhiều chiết đoạn, có nghĩa là ít nhất vùng chức năng của
chúng chứa trên một chiết đoạn
Trang 8Từ cách hiểu như trên, chúng tôi tạm phân chia các quan điểm về âm đệm
của Tiếng Việt ra như sau:
- Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị chiết đoạn
- Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị siêu đoạn
1.1 Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị chiết đoạn
Khi khẳng định âm đệm là một đơn vị chiết đoạn, các tác giả đồng thời
khẳng định vị trí của âm đệm trong cấu trúc âm tiết Tiếng Việt Điều đó có nghĩa là
âm đệm tồn tại với tư cách một đơn vị riêng, ngang hàng với các đơn vị chiết đoạn
khác
Tiêu biểu cho quan điểm này có thể kể tên các tác giả như: Đoàn Thiện
Thuật (Ngữ âm tiếng Việt), Nguyễn Hữu Quỳnh (Giáo trình tiếng Việt hiện đại),
Cù Đình Tú - Hoàng Văn Thung - Nguyễn Nguyên Trứ (Khái quát về lịch sử tiếng
Việt và ngữ âm tiếng Việt hiện đại), Mai Ngọc Chừ - Vũ Đức Nghiệu - Hoàng
Trọng Phiến (Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt), Uỷ ban khoa học xã hội (Ngữ
pháp tiếng Việt), Hữu Đạt - Trần Trí Dõi - Đào Thanh Lan (Cơ sở tiếng Việt)
Các tác giả này về cơ bản chấp nhận mô hình cấu trúc âm tiết tiếng Việt như
sau:
Thanh điệu
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Chỉ có giáo trình Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại của các tác giả Cù Đình Tú
- Hoàng Văn Thung - Nguyễn Nguyên Trứ đưa ra một lược đồ khác, trong đó cấu
trúc âm tiết được xác định như sau:
Thanh điệu
Trang 9Sự khác biệt của giáo trình này là ở chỗ người viết cho rằng thanh điệu
không phải là thuộc tính của âm đầu mà là thuộc tính của phần vần
Tuy nhiên ở nhóm này, các tác giả đều xem âm đệm là một đơn vị chiết
đoạn, tương đương với các đơn vị chiết đoạn khác trong âm tiết Họ khẳng định:
âm đệm là một “thành phần có chức năng tu chỉnh âm sắc của âm tiết” [18, tr174]
Trong “Ngữ âm học tiếng Việt hiện đại”, các tác giả giải thích: âm đệm là một yếu
tố độc lập vì “sự tồn tại của các âm tiết trong đó có âm đệm mà không có phụ âm
đầu (VD: oan) cũng như khả năng có thể tách âm đệm ra khỏi âm giữa vần trong
cách nói lái (VD:: vinh quy/ quy vinh) chứng tỏ tính chất độc lập của âm đệm” [19,
tr54]
1.2 Quan điểm cho rằng âm đệm là một đơn vị siêu đoạn
Theo quan điểm này có các tác giả: Hoàng Cao Cương, Phan Ngọc, Nguyễn
Quang Hồng
Như chúng ta đã biết, đơn vị siêu đoạn có một thuộc tính hết sức quan trọng
là vùng chức năng (nơi một đơn vị chiết đoạn bộc lộ ra bằng tất cả những nội dung
chiết đoạn của nó) không thể chứa trong một chiết đoạn mà phải bao trùm lên nhiều
chiết đoạn
Tác giả Nguyễn Quang Hồng trong cuốn “Âm tiết và loại hình ngôn ngữ”
cho rằng: “Trong tất cả các cứ liệu có thể dùng làm cơ sở cho việc phân chiết âm vị
học đối với tiếng Việt ( ) không hề tìm thấy một cứ liệu nào minh chứng cho khả
năng chia tách âm tiết ra làm ba phần bình đẳng như vậy cả Sự thực là trong khi
một âm tiết bị tách đôi, yếu tố ngữ âm được gọi là “âm đệm” nếu có, thì chỉ có thể
hoặc là phụ thuộc vào âm đầu, hoặc là phụ thuộc vào âm vần cái, chứ không bao
giờ tự mình tách hẳn ra làm một phần riêng” [11, tr239] Mà theo ông “xét từ một
góc độ nào đó thì thanh điệu và âm đệm ( ) là những thực thể âm thanh khác nhau
Song về mặt chức năng thì cả hai đại lượng ngữ âm này đều không chiếm giữ một
vị trí tiếp nối với âm đầu và vần cái, do đó chúng đều không phải là những đơn vị
ngữ âm chiết đoạn mà là những thuộc tính chung của âm tiết, được hình dung như
Trang 10những đại lượng nằm song song với âm đầu và vần cái trong cấu trúc chung của âm
tiết tiếng Việt [11, tr241] Hay nói cách, theo ông, âm đệm là một đơn vi siêu đoạn
tính
Còn hai tác giả Phan Ngọc và Phạm Đức Dương, khi xác định các thành tố
cấu trúc âm tiết Tiếng Việt không chấp nhận giới âm (âm đệm) mà vẫn chủ trương
cấu trúc âm tiết tiếng Việt là CVC Họ chỉ coi yếu tố “âm đệm” (như nhiều tác giả
khác quan niệm) là “một tiêu chí đồng dạng với các yếu tố ngạc hoá, vang hoá, bên
hoá [13, tr107]
Tiêu biểu nhất cho quan điểm này là tác giả Hoàng Cao Cương Tác giả này
cho rằng nếu coi âm đệm là một đơn vị chiết đoạn như nhiều tác giả khác quan
niệm (tiêu biểu là Đoàn Thiện Thuật) là một quan niệm sai lầm vì những lý do sau:
- Nếu xét theo quan niệm hệ thống, âm đệm muốn trở thành một tiểu hệ
thống
trong hệ thống âm thanh tiếng Việt thì phải có ít nhất 3 đơn vị (vì có 3 đơn vị thì
mới có những mối quan hệ để trở thành hệ thống được) Trong khi đó, theo tác giả
Đoàn Thiện Thuật chỉ có 2 âm đệm /w/ và /zero/ Do đó mới chỉ có một quan hệ
nên chưa thể tạo thành một tiểu hệ thống tương đương với các tiểu hệ thống khác
(âm đầu, âm chính, âm cuối) trong hệ thống âm tiết tiếng Việt
- Xét về lịch sử, các yếu tố từ vựng tương ứng với các tiết vị chứa âm đệm
thường có phần tiền âm tiết (âm tiết một trong một cấu trúc âm tiết) Nét nổi trội
trong các yếu tố từ hình này là yếu tố/ đặc tính [+tròn môi]
Từ những lý do nêu trên, tác giả đi đến kết luận: Để tránh lối mòn trong tư
duy cổ điển, không nên coi âm đệm là một tiểu hệ thống ngang hàng với các tiểu hệ
thống khác như: âm đầu, âm chính, âm cuối mà nên coi nó là một điệu vị của toàn
âm tiết Các điệu vị có ưu thế so với các âm vị ở chỗ: các điệu vị có thể tồn tại như
một nét âm vị học do vùng chức năng của chúng trải dài trên một cấu trúc âm đoạn
được khảo cứu Hay nói cách khác, ông coi âm đệm như một đơn vị siêu đoạn tính
Trang 11Qua sự tổng hợp và đánh giá, chúng tôi nhận thấy rằng quan niệm cho âm
đệm là một yếu tố chiết đoạn là quan niệm chưa có sức thuyết phục cũng như chưa
đưa ra được những giải thích mang tính tự nhiên có trong ngôn ngữ Giả định tồn
tại cái gọi là “hệ thống” âm đệm trong tiếng Việt, chúng ta càng thấy rõ sự phi lý
của quan đIểm này Bởi lẽ, một hệ thống bao giờ cũng tồn tại ít nhất 3 đơn vị Nếu
tồn tại 2 đơn vị thì chúng ta không cần nhận thức chúng vì chỉ có một quan hệ và
nó tồn tại như một hiện thực “Hệ thống” âm đệm nếu được xem là tiểu hệ thống
trong một hệ thống âm tiết tiếng Việt thì phương pháp luận ở đây phải chứng minh
rằng: ngoài âm đệm và phi âm đệm còn phải có một yếu tố thứ ba nữa mới thoả
mãn được những định nghĩa về hệ thống Ví dụ như trong tiếng hán hiện đại, ngoài
giới âm {u} còn có giới âm {i} và trường hợp zero về giới âm Vậy trong tiếng Hán
hiện đại, tồn tại một hệ thống âm đệm một cách chính danh Còn trong tiếng Việt
lại không phải như vậy Chẳng những số âm vị ít mà xét về mặt lĩnh vực chức năng
mà các âm đệm dường như rơi về phần biên của hệ thống Các âm đệm thường xuất
hiện trong những đơn vị từ vựng: tượng thanh, tượng hình, các từ vay mượn tiếng
Hán bắt đầu bằng những âm đầu ngạc mềm hoặc họng, là những âm không phổ
biến trong tiếng Việt
Xét về lịch sử, các yếu tố từ vựng tương ứng với các tiết vị có âm đệm
thường có phần tiền âm tiết (âm tiết một trong một cấu trúc âm tiết) Nét nổi trội
trong các yếu tố từ hình này là yếu tố [+tròn môi] Đó có thể là nét khu biệt của một
âm môi, một nguyên âm dòng sau hoặc một âm đệm Vì vậy, trong âm vị học tiếng
Việt mở rộng để tránh lối mòn của một tư duy cổ điển không coi âm đệm là một
tiểu hệ thống ngang với các tiểu hệ thống: âm đầu, âm chính, âm cuối mà là một
đơn vị toàn âm tiết Các đơn vị có ưu thế hơn so với các âm vị ở chỗ: các đơn vị có
thể tồn tại như một nét âm vị học do vùng chức năng của chúng trải dài trên một
cấu trúc chiết đoạn được khảo cứu Chính do đặc tính này nên số lượng âm vị của
đơn vị thường hữu hạn và ít ỏi Nó tác động đến âm thanh theo kiểu cơ chế chứ
Trang 12không phảI theo kiểu yếu tố (Các chiết đoạn tác động theo kiểu yếu tố do xếp
chuỗi hình tuyến)
Như vậy, theo lý thuyết tâm biên, yếu tố tròn môi hay âm đệm phải được đối
xử một cách hoàn toàn khác so với âm vị chiết đoạn có ở trong khuôn của âm tiết
2 Nguồn gốc của âm đệm
Âm tiết tiếng Việt có một vị trí dành cho âm đệm_ đó là vị trí sau phụ âm
đầu và trước nguyên âm chính Ở vị trí này trong tiếng Việt chỉ có thể có một âm
-w- Âm đệm -w- là một bán nguyên âm cuối, có cấu tạo như nguyên âm /u/ nhưng
khác nguyên âm /u/ về chức năng, nó có thêm đặc điểm của phụ âm, vì thế được
gọi là bán nguyên âm Chữ viết ghi âm đệm bằng hai chữ: “u” và “o” (ví dụ: toàn
quân):
_ ghi là “o” khi trước nó không có phụ âm hoặc có phụ âm không phải là /k/
và sau nó là /a/, / /, /ă/ Ví dụ: oan, oa, hoa, hoen, hoàn,
_ ghi là “u” trong các trường hợp còn lại Ví dụ: uy, qua, tuế, uẩn,
Âm đệm -w- không đi sau các phụ âm tròn môi và trước các nguyên âm dòng
sau, nếu có cũng chỉ là một vài từ rất ít dùng hoặc từ vay mượn Nếu -w- vắng mắt
có thể cho đó là âm đệm zero, ví dụ: tàn
Có thể nói âm đệm -w- có mặt trong toàn quốc ( riêng phương ngữ Nam Bộ
có điểm khác biệt) Như trên đã thống kê, hiện nay trong tiếng Việt có tất cả 575
tiếng có chứa âm đệm Vậy âm đệm trong tiếng Việt từ đâu đến? nó vốn là một âm
vị thuần Việt hay là do một sự nhập hệ nào đó trong lịch sử tiếng Việt?
Đây là vấn đề liên quan đến nguồn gốc, đến mặt lịch đại của âm đệm trong
tiếng Việt.Giáo sư Nguyễn Tài Cẩn khi nghiên cứu về lịch sử ngữ âm tiếng Việt đã
tìm hiểu về lai nguyên của hệ thống phhụ âm đầu, nguyên âm, phụ âm cuối và cả
lai nguyên của âm đệm -w- Theo giáo sư, âm đệm -w- xuất hiện trong tiếng Việt
vào cuối thời kì Việt Mường chung( cách đây trên 1000 năm), do ảnh hưởng của
tiếng Hán vào tiếng Việt trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Chính vì thế
Trang 13chúng ta cần nhìn lại quá trình tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán trong lịch sử
để có thể tìm được những lí giải cho sự xuất hiện của âm đệm -w- trong tiếng Việt
Tiếng Việt thời thượng cổ đã có một kho từ vựng khá phong phú với những
từ cơ bản có nguồn gốc Nam á và Tày Thái cổ, hoàn toàn chưa có ảnh hưởng của
tiếng Hán Tiếng Hán chỉ bắt đầu ảnh hưởng đến tiếng Việt từ giai đoạn khoảng
đầu công nguyên trở đi
Sự tiếp xúc giữa tiếng Việt và tiếng Hán là rất cổ xưa và kéo dài hàng nghìn
năm Trước hết có sự tiếp xúc giữa người Lạc Việt thời tiền sử với những người
Việt phía Nam sông Dương Tử, trong giai đoạn xa xưa khi các bộ lạc Bách Việt
chưa chịu ảnh hưởng của phương Bắc và chưa nhập vào địa bàn của Trung Quốc
Tuy nhiên đó mới chỉ là những tiếp xúc lẻ tẻ Muốn nói tới một sự tiếp xúc quy mô,
lưu lại ảnh hưởng sâu đậm thì phải bắt đầu từ khi Triệu Đà xâm lược Âu Lạc (-
179) và nhất là từ lúc nhà Hán đặt nền đô hộ ở Việt Nam cho đến năm 938 khi Ngô
Quyền dành lại độc lập cho đất nước Đây là một giai đoạn tiếp xúc lâu dài, liên tục
và sâu rộng, nhưng đứng về mặt ảnh hưởng thì có thể chia thành hai giai đoạn: giai
đoạn từ đầu công nguyên đến đầu đời Đường và giai đoạn bao gồm hai thế kỉ VIII
và IX (cuối Đường) Thế kỉ VIII và IX là thời gian nền văn hoá Hán nói chung, nền
văn tự Hán nói riêng đã có một ảnh hưởng nhất định trên địa bàn Việt Nam Dễ
thấy là sự xuất hiện của hàng vạn từ Hán- Việt trong tiếng Việt- hiện tượng tiêu
biểu cho tiếng Việt từ khi tiếng Việt trở thành ngôn ngữ của một quốc gia độc lập
(năm 938)
Trước khi hình thành cách đọc Hán Việt, người Việt Nam đọc chữ Hán thực
chất là đọc tiếng Tàu, dùng chữ Hán như một ngoại ngữ, học chữ Hán là học một
sinh ngữ Tình trạng này kéo dài suốt gần nghìn năm Bắc thuộc, chắc chắn lối đọc
này sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ tới cách đọc Hán Việt hình thành sau này,
và những đặc điểm ngữ âm của tiếng Hán chắc chắn vân còn lưu lại Sau khi hình
thành cách đọc Hán Việt, viết chữ Hán về mặt từ vựng, ngữ pháp ta vẫn làm như cũ
nhưng về mặt ngữ âm dã có sự khác biệt: người Việt Nam đọc chữ Hán theo ngữ
Trang 14âm tiếng Việt, khác hẳn cách đọc của người Hán Như vậy xuất phát điểm của cách
đọc Hán Việt hiện nay chính là hệ thống ngữ âm tiếng Hán dạy lần cuối cùng ở
Giao Châu, trước khi Việt Nam dành được độ lập So với các phương ngôn Hán,
cách đọc Hán Việt có một số điểm chứng tỏ nó gần với âm Hán đời Đường hơn
Khi tiếng Hán Việt hình thành ở Việt nam vào thế kỉ IX- X thì tiếng Việt đã có hệ
thống chung âm và hệ thanh điệu của tiếng hán đời Đường và hai hệ này cho đến
nay vẫn giữ nguyên Cách đọc Hán Việt hiện nay, sau gần 10 thế kỉ diễn biến theo
quy luật ngữ âm lịch sử tiếng Việt đã có nhiều điểm khắc với hệ thống ngữ âm
tiếng Hán thế kỉ VIII- IX, nhưng so sánh giữa hai bên thì vẫn thấy có sự tương ứng
hết sức đều đặn và có hệ thống, trong đó tiếng Việt hiện đại vẫn còn lưu giữ yếu tố
âm đệm, là một yếu tố của tiếng Hán
Sở dĩ chúng tôi nói tới sự hình thành cách đọc Hán Việt và vấn đề cách đọc
Hán Việt chịu ảnh hưởng như thế nào từ tiếng Hán là vì hiện nay từ Hán Việt
chiếm tới 70% kho từ vựng tiếng Việt Hơn nữa âm đệm -w- xuất hiện nhiều nhất
là trong kho từ Hán Việt Tìm hiểu được nguồn gốc của âm đệm -w- trong cách đọc
Hán Việt cũng là chứng minh được nguồn gốc của âm đệm -w- trong tiếng Việt
hiện nay (vì trước khi tiếp xúc với tiếng Hán, tiếng Việt cổ không có yếu tố này)
Trong quá khứ cách đây hơn 1000 năm, âm đệm đã có mặt Như trên vừa
nói, điều này nổi rõ nhất trong kho từ Hán Việt, vì ở nguồn gốc của chúng- trong
tiếng Hán Trung cổ, số lượng từ có -w- rất nhiều Giới âm học Trung Quốc đã phải
đặt ra thuật ngữ “ hợp khẩu” để chỉ những trường hợp như vậy Việc so sánh Việt
-Mường cũng cho thấy có sự tương ứng -w- Việt / -w- -Mường:
- Số từ có âm đệm -w- sau phụ âm gốc lưỡi ( kh, k) chiếm tỉ lệ cao hơn cả
Và ở những từ này sự tương ứng giữa -w- Việt và -w- Mường tỏ ra đều đặn hơn cả
- Nguyên âm đôi /uo/ của Việt sang Mường đôi khi có thể ứng với -w- sau
phụ âm gốc lưỡi /v/ của Việt cũng có thể ứng với -w- Mường đặt sau / /
- Ngược lại sau phụ âm khác ( như “ thuyền”, “loan”), -w- Việt lại có thể ứng
Trang 15- Số lượng từ gốc Hán chiếm gần một nửa (quần, quen, quỳ, hoa, xuân,
thuyền, nguyệt, ) trong số những từ có -w- ở Mường
Từ đó có thể thấy:
Ở thời Việt Mường chung, nhất là hậu kì giai đoạn này, chắc chắn đã có
-w- và có thể tái lập âm đệm đó,căn cứ vào tương ứng đã thấy
- Sự xuất hiện của -w- chắc là do sự tiếp xúc với tiếng Hán đưa lại:lúc đầu
vay mượn từ Hán thuộc loại hợp khẩu, sau đó cách cấu âm có -w- lan truyền sang
cả các từ bản địa, nhất là ở từ có phụ âm sâu (gốc lưỡi, họng) Nhận định này đặt
trên cơ sở là:
* Càng ngược lên quá khứ càng thấy thưa dần những từ bản đại có âm đệm –
w- Trong bảng điều tra tiếng Rục [2] chỉ có 11 từ có -w- trong đó đã có tới 3 từ
gốc Hán và vài từ nữa có lẽ vay của Việt; trong bảng điều tra tiếng Thà vựng [2]
chỉ có 2 từ có -w- trong đó có một từ chắc chắn vay của Lào Thái
Như vậy là không đủ cơ sơ để tái lập một âm đệm -w- cho thời tiền Việt
Mường (chưa có sự tiếp xúc với tiếng Hán) Phải tới các giai đoạn sau, thì mới du
nhập đôi trường hợp lẻ tẻ qua con đường tiếp xúc, mà chủ yếu là tiếp xúc với tiếng
Hán Rồi sau đó, càng tiếp xúc lâu dài với tiếng Hán thì số lượng từ có âm đệm -w-
càng tăng dần
* Ở tiếng Hán trước Thiết vận( năm 601 của nhóm Lục Pháp Ngôn) có cả
một hệ thống phụ âm tròn môi rất phong phú: k, kh, g, gh, w, wh, h, ʔ (chủ yếu là
phụ âm sâu), chưa kể khả năng có thể có cả ŋ, ŋh và sự xuất hiện ngày càng nhiều
cách phát âm có âm đệm -w- sau các phụ âm khác, gọi là giới âm Tiếng Hán thời
Thiết vận có hai loại giới âm là giới âm dòng trước -i- và giới âm dòng sau, tròn
môi -w - (cộng thêm trường hợp giới âm là âm vị zero) Sự tồn tại của các loại giới
âm này đã đưa đến thế đối lập hợp khẩu/ khai khẩu thời trung cổ: hợp khẩu là
những âm có giới âm còn khai khẩu là không có giới âm, có trường hợp có cả hai
loại giới âm trên -iw- Ở trên chúng ta đã biết giai đoạn tiếng Hán đặt nền móng
cho cách đọc Hán Việt chính là giai đoạn cuối cùng người Việt học nó với tư cách
Trang 16là một ngoại ngữ, giai đoạn bao gồm hai thế kỉ VIII-IX Đây là một giai đoạn nhỏ
của giai đoạn tiếng Hán trung cổ trong lịch sử tiếng Hán Vậy muốn hiểu rõ về đặc
điểm ngữ âm của tiếng Hán Việt, cũng như qua đó thấy được quá trình diễn biến từ
ngữ âm tiếng Hán sang cách đọc Hán Việt, trong đó có quá trình diễn biến từ âm
đệm tiếng Hán thời trung cổ sang âm đệm trong các vần của cách đọc Hán Việt,
chúng ta cần nắm được một vài nét về tình hình ngữ âm của tiếng hán thời kì này
Khái niệm “tiếng Hán trung cổ” thường được dùng để chỉ tiếng Hán vào
khoảng thế kỉ thứ V đến thế kỉ thứ XII Cứ liệu về tiếng Hán trung cổ có khá nhiều,
trong đó để hiểu sâu về ngữ âm tiếng Hán thời kì này, các nhà nghiên cứu đều nhất
trí dựa vào hai loại tư liệu, trong đó có cách phiên thiết trong các vận thư, nhất là
trong Thiết vận Vận thư là một loại tự điển, căn cứ theo vận để sắp xếp chữ Chữ
thuộc cùng một vận thì phải giống nhau ở thanh điệu, nguyên âm và âm cuối, trong
một vận có thể có giới âm khác nhau Cuốn Thiết vận được tái bản nhiều lần và mỗi
lần tái bản đều có sự bổ sung Đến khoảng thế kỉ VIII- IX, hễ nói đến Thiết vận hay
nói đến vận thư thuộc hệ thống Thiết vận thì người ta chỉ dùng một cuốn là cuốn
Qu ảng vận của nhóm Trần Bành Niên Về hình thức, Quảng vận có tất cả 206 vận
(trừ thanh điệu ra, vận bao gồm 3 bộ phận: giới âm + nguyên âm chính + âm cuối)
Bỏ qua sự khác nhau về thanh điệu (bình, thượng, khứ, nhập), đem 206 vận quy
thành 61 loại, gọi là 61 vận bộ, lấy vận bình của loại ấy để đại diện và gọi tên toàn
vận bộ Các vận bộ có âm cuối như nhau, có nguyên âm giống hoặc gần giống nhau
tập hợp lại thành một nhiếp, Quảng vận có tất cả 16 nhiếp
Hệ thống vận bộ tiếng Hán thế kỉ VIII- IX đã có ảnh hưởng lớn tới sự hình
thành hệ thống ngữ âm của cách đọc Hán Việt Đa số phụ âm đầu, vần, phụ âm
cuối và cả thanh điệu của tiếng Hán Việt đều có nguồn gốc từ hệ thống vận bộ tiếng
Hán giai đoạn này Qua quá trình diễn biến từ hệ thống vận bộ tiếng Hán thế kỉ
VIII- IX đến hệ thống vần Hán Việt, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tìm hiểu được
nguồn gốc các vần Hán Việt, trong đó có 11 vần có chứa âm đệm Đó là các vần:
Trang 17của giáo sư là xuất phát từ vần Hán Việt, như đã được ghi ở chữ Quốc ngữ Ở mỗi
vần như vậy, sẽ đi ngược dòng lịch sử, truy nguyên lên , xem thử nó bắt nguồn từ
những vận bộ nào của tiếng Hán Sau đây là nguồn gốc của 11 vần có chứa âm đệm
kể trên:
UY:
Vần UY bắt nguồn chủ yếu từ ba vận bộ: CHI, chi, vi trong nhiếp “chỉ”
1 CHI /-j(w)(i)e/ > UY
Vận bộ CHI tạo thành vần UY trong 28 từ Hán Việt
VD: Nguy, quy, quỵ, quỹ, nguỵ, luỹ,
2 chi /-(w)i-/ > UY
Vận bộ chi tạo thành vần UY trong 49 từ
VD: suy, tuy, tuý, quỹ, thuỷ,
3 vi /-(w)ei-/ > UY
Vận bộ vi tạo thành vần UY trong 18 từ:
VD: huy, uy, qui, quỷ, quý, huý,
Nguyên âm I trong 3 vận bộ CHI, chi, vi cuối Đường là một nguyên âm
tương đối rộng và hơi lùi về phía sau, còn nguyên âm trong cách đọc Hán Việt lại
hẹp, nhích về phía trước mạnh hơn Nhưng nhìn chung, từ cuối Đường đến nay, I
Hán Việt vẫn được giữ nguyên
CHI
chi I I Hán- Việt
vi
Ở trường hợp hợp khẩu thì ta sẽ có : wi -> UY Hán – Việt
Từ cách làm tương tự như vậy, giáo sư Nguyễn Tài Cẩn đã tìm ra nguồn gốc
của 11 vần có chứa âm đệm như sau:
Trang 18Vần
H-V
Vận bộ Hán Phiên âm I Phiên âm II SLT Ví dụ
hoá,
đoá, khoá, quá,
thuận, nhuận, tuấn, chuẩn, tuất, xuất,
Văn -jun/ -iuan wén 26 huân, quần, uẩn, quận,
khuất, huấn,
Trang 19OAN Hoàn 91 quan, loạn, loan, khoan,
đoàn, quán, toán, noãn, khoản, loạn,
hoạn,
UYÊN
UYÊT
TIÊN -j(w)(i)en xian 62 khuyên, quyền,thuyền,
tuyển, quyển, suyễn, chuyển, xuyến,
tuyệt, thuyết, tuýet, duyệt,
khuyển, huyện, huyễn,
khuyết, quyết, quyệt, huyệt,
Nguyên -j(w)on yuan 32 nguyên, tuyên, nguyễn,
nguyện, khuyến, nguyệt, khuyết,
Trang 20_ Phiên âm II: phiên âm theo ngữ âm tiếng Trung Quốc phổ thông
_ SLT: số lượng tiếng có chứa vần đang xét trong cách đọc Hán Việt
Hệ thống nguyên âm tiếng Hán thời Thiết vận theo W H Baxter:
Qua những điều vừa trình bày, có thể khẳng định nguồn gốc của âm đệm trong
tiếng Việt là từ tiếng Hán Âm đệm trong tiếng Việt xuất hiện vào cuối thời kì Việt
Mường chung theo quan điểm của giáo sư Nguyễn Tài Cẩn [2] do sự tiếp xúc giữa
tiếng Việt và tiếng Hán
III KIẾN GIẢI VỀ KHẢ NĂNG TỒN TẠI CỦA ÂM ĐỆM TRONG TIẾNG
VIỆT HIỆN ĐẠI
1 Cơ sở cho kiến giải
1.1 Hiện trạng âm đệm của 3 vùng phương ngữ tiếng Việt
Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất Đó là một điều ai cũng thấy được trong
thực tiễn Về mặt khoa học, điều này cũng đã được chứng minh Tuy nhiên sự tồn
tại của một số phương ngữ trong Tiếng Việt( tức là sự tồn tại của những trạng thái
khác nhau về mặt ngữ âm, từ vựng có khi cả về ngữ pháp nữa của cùng một ngôn
ngữ) là một sự thật khách quan Nguyên nhân cơ bản khiến cho các phương ngữ
nảy sinh, theo các tác giả như Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn
Tu [16] là do:
- Sự tiếp xúc không thường xuyên , kém chặt chẽ giữa các vùng và sự giao
lưu bằng ấn phẩm quá ít ỏi trong một thời gian dài Và kết quả đưa tới của lối
sản xuất nhỏ, tự túc, tự cấp, khép kín trong làng xã là tình trạng giao thông không
thực hiện được
Trang 21- Việc chia cắt đất nước gây nên bởi sự cát cứ trong hai họ phong kiến phản
động Trịnh - Nguyễn và tiếp theo là sự đa tạp hóa của thành phần cư dân ở Đàng
Trong
- Tâm lý bảo thủ, ngại thay đổi phát âm và không muốn người trong nhà,
trong họ hàng, trong làng mạc mình thay đổi phát âm dù rằng thay đổi theo cách
phát âm của thủ đô hoặc của thành thị nói chung
Từ những nguyên nhân này khiến cho việc giao lưu về văn hóa nói chung
và ngôn ngữ nói riêng giữa các địa phương còn nhiều hạn chế, đặc biệt là về
ngôn ngữ Điều này đã dẫn đến tình trạng khác nhau giữa các vùng phương ngữ về
mặt ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp Trong tiểu luận này, chúng tôi chỉ xét mặt ngữ
âm mà cụ thể là xét yếu tố được các tác giả coi là âm đệm ở các vùng phương ngữ
khác nhau Việc chia TIếng Việt ra thành các vùng phương ngữ khác nhau cũng có
những quan điểm khác nhau, dựa trên những phương diện, những điểm nhìn khác
nhau giữa các tác giả
Theo tác giả Hoàng Thị Châu [5] thì Tiếng Việt được chia làm 3 vùng
phương ngữ là: Phương ngữ Bắc (PNB)
Phương ngữ Trung (PNT) Phương ngữ Nam (PNN)
Sự phân chia thành 3 vùng phương ngữ này dựa trên cơ sở khác nhau cả về
ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp giữa các vùng Nhưng ở đây chúng tôi chỉ xem xét
đặc điểm sử dụng âm đệm trong cấu trúc âm tiết Nếu theo quan điểm của Hoàng
Thị Châu, trong PNB và PNT âm đệm [w] có thể kết hợp với hầu hết các phụ âm
đầu, trừ một số phụ âm môi (Cách phiên âm của các tác giả này, chúng tôi giữ
nguyên)
Ví dụ : hoa xuân [hwa swân]
lòe loẹt [lwe: lwe:t]
đoàn [đwan]
khuya khoắt [xwie xwăt]
Trang 22Ngoài ra, trong các phương ngữ trên còn có thể bắt gặp [-w-] trong các âm
tiết vắng phụ âm đầu Ví dụ : oan, uyển, uỳnh uỵch những từ mà thường bắt đầu
bằng những âm tắc họng.Trường hợp này càng nêu bật được tính chất độc lập của
âm đệm [w] Nó không đóng vai trò phụ âm đầu bởi vì người ta có thể thêm vào
trước nó một phụ âm Và nó cũng không đóng vai trò là nguyên âm bởi vì sau nó
phải có nguyên âm Tình hình âm đệm của các âm tiết có ở PNN lại không giống
như vậy Trong PNN (từ đèo Hải Vân đến Cà Mau), âm đệm [-w-] tác động mạnh
mẽ đến những phụ âm hầu và mạc đứng trước nó, nhưng lại triệt tiêu hoàn toàn sau
những phụ âm còn lại Điều đó có nghĩa là sau các âm tiết được mở đầu bằng các
phụ âm không phải là phụ âm hầu và mạc thì không thấy sự xuất hiện của các âm
đệm
Ví dụ: tuyên truyền [tiêng tiềng]
xuân xanh [sưng săn]
lý luận [lí :lựng]
nhuần nhuyễn [nhừng nhiễng]
Âm đệm [w] tác động đến những phụ âm mạc và phụ âm hầu theo lối đồng
hóa ngược tạo nên 2 kiểu biến đổi:
- Thứ nhất, đó là kiểu đồng hóa hoàn toàn phụ âm đầu Kết quả là dẫn tới sự
biến mất hẳn của các phụ âm đầu để xuất hiện một phụ âm mới là [w] Hiện tượng
này chỉ thấy ở PNN mà không hề thấy có ở các phương ngữ khác Gọi là đồng hóa
hoàn toàn vì dù nó là phụ âm hầu hay âm mạc, vô thanh hay hữu thanh, tắc hay xát
đều không để lai dấu hiệu khu biệt nào Ngay cả trường hợp chính tả không ghi lại
phụ âm đầu thì sự biến đổi đó vẫn xảy ra Ví dụ từ “oan” trong PNB phát âm là
[qwan] khác với [wan] trong cách phát âm miền Nam Điều này chứng tỏ yếu tố tắc
họng đứng đầu âm tiết là một âm vị có thực
w -w: oan [wang]
uyên [wiêng]
Trang 23hw -w: hoa huệ [wa wuệ]
huy hoàng [wi: wàng]
huyêng hoang [wân wang]
- Thứ hai là kiểu đồng hóa bộ phận, tức là phụ âm chỉ bị môi hóa còn hnữug
tính chất khác được giữ lại Ví dụ:
xw -f: khoai lang [fai lang]
khuya khoắt [fia fắk]
w v f: bà góa [bà já]
Trong Tiếng Việt chỉ có mỗi một từ có kết hợp [Gw] là từ góa [Gw] biến
thành một phụ âm mới, tuy vẫn giữ phương thức cấu âm xát hữu thanh là [v],
nhưng rồi nó lại biến đổi thành một lần nữa thành [j] như tất cả các từ bắt đầu bằng
[v] trong PNN
Như vậy có thể tổng kết lại rằng, trong PNB có lẽ do xu hướng dị hóa mạnh
nên âm đệm [w] cũng không kết hợp với nguyên âm [ư] và [ươ] Vần [ưu] được
phát âm thành [iư] và vần [ươu] được phát âm thành [iêw] Còn kết hợp [-wâ-] ở
Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên được thay thế bằng [-wư] Ngoài ra ở một số thổ ngữ
vùng Bắc Bình Trị Thiên còn có hiện tượng âm đệm đồng hóa nguyên âm: “mùa
xuân” nói thành “mùa xun”, “áo quần ” nói thành “áo cùn” Còn ở PNN không có
âm đệm [w] Điều này khẳng định thêm vai trò của nó trong âm tiét Tiếng Việt
Việc mất âm đệm [w] đã làm cho PNN giảm mất một số kiểu âm tiết
Nếu như tác giả Hoàng Thị Châu chia Tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ
khác nhau là : Phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung và phương ngữ Nam thì các tác
Trang 24giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Văn Tu [16] lại chia Tiếng
Việt thành 4 vùng phương ngữ với tên gọi : Phương ngữ Bắc( PNB), phương ngữ
Trung Bắc, phương ngữ Trung Nam và phương ngữ Nam Các vùng phương ngữ
này có những đặc điểm khác nhau về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Tuy nhiên xét về
mặt ngữ âm mà cụ thể là đặc điểm sử dụng âm đệm, các tác giả có đưa ra một số
điểm đáng chú ý sau:
- Ở phương ngữ Trung Nam ,bên cạnh những đặc điểm về từ vựng và ngữ âm,
ngữ pháp còn có một vài đặc điểm về tình hình sử dụng âm đệm:
+ Thứ nhất là hiện tượng những tiếng có chứa âm đệm mà ở đầu là [x] bị biến
thành âm đầu [f] và không còn âm đệm như:
khuya khoắt -phia phắt
khoe khoang -phe phang
chìa khóa -chìa phá
khỏe khoắn -phẻ phắn
+ Thứ hai, trong một số âm tiết mở và cả ở những loại hình âm tiết khác có hiện
tượng thêm âm đệm [w] vào trước âm chính [a], tức là
+ Thứ ba, trong một số âm tiết có kết thúc bằng âm cuối[ j] mà trước nó là âm
chính [a] hoặc [o] có hiện tượng có hiện tượng thêm âm đệm [ w] và các âm chính
[a] và [ o] thành [e], tức là:
[aj] > [we]
cái tai - kóe toe
trai gái -troe góe
Trang 25[Ɔ] >[we]
coi bói - koe loe
chói lọi -chóe lóe
- ở PNN, cũng có một số đặc điểm về tình hình âm đệm đáng chú ý:
+ ở vị trí đầu âm tiết, các âm cuối lưỡi [k, n] và âm họng [ ʔ, h] khi đứng trước
âm đệm [w] đều biến thành []
qua quýt -goa guyc
hòa bình -gòa bìn
huy hoàng -guy goàng
ngoay ngoay -goay goay
Nói tóm lại, nếu xét về phương diện đặc điểm tình hình sử dụng âm đệm ở
các vùng phương ngữ còn nhiều điều cần lưu ý Mỗi phương ngữ lại có những đặc
điểm riêng về cách sử dụng âm đệm Do đó, nếu ta chung ta thống nhất được vấn
đề có hoặc không có âm đệm ở các vùng phương thì về một mặt nào đó chúng ta đã
góp phần vào việc đưa các phương ngữ xích lại gần nhau hơn Hay nói cách khác là
giúp cho việc thống nhất các vùng phương ngữ của Tiếng Việt
1.2 Ảnh hưởng của âm đệm đến sự tồn tại song song nhiều cách viết
tương tự trong hiện trạng chính tả tiếng Việt
Trang 26Tình hình sử dụng âm đệm ở các vùng phương ngữ trong Tiếng Việt đã phần
nào cho chúng ta thấy được sự thiếu thống nhất về cả mặt chữ viết lẫn phát âm các
tiếng có chứa âm đệm các vùng phương ngữ Một phần nào đó điều này đã thể hiện
hiện trạng thiếu thống nhất về mặt chính tả nói chung và chính tả của các tiếng
chứa âm đệm nói riêng Hiện nay, chúng tôi thấy có sự tồn tại song song 2 cách
viết của một số lượng không nhỏ các tiếng có chứa âm đệm Hiện tượng này không
phải là mới bắt đầu gần đây mà từ những năm trước đã có hiện tượng này rồi Theo
các tác giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Văn Tu, Nguyễn Trọng Báu “hiện tượng
rụng âm đệm [w] còn đang tiếp diễn ở cả hình thái nói cũng như ở hình thái
viết”[16,tr 49] Và họ đưa ra một loạt các tiếng có hiện tượng rụng âm đệm :
khoeo -kheo
khuỷu -khỉu
khuỵu -khịu
luẩn quẩn -lẩn quẩn
loăng quăng -lăng quăng
quàu quạu -cau cạu
Như vậy, xét về mặt thời gian hiện tượng rụgn âm đệm này không phải là
mới mà nó đã diễn ra từ rất lâu Nhưng trên thực tế, các tiếng chứa âm đệm mà bị
rụng mất âm đệm không phải hoàn toàn đã biến mất Chúng ta có thể tìm thấy trên
các văn bản khác nhau sự tồn tại của 2 tiếng (chứa âm đệm và không chứa âm đệm)
Trang 27Nói cách khác cả 2 cách viết này cùng tồn tại đồng thời với nhau Điều này thể
hiện tình không nhất quán về mặt chính tả
Hiện nay, hiện tượng rụng âm đệm vẫn đang tiếp tục diễn ra Chẳng hạn như
tồn tại song song các từ sau:
chuệch choạc -chệch choạc
chuệch choạng -chệch chạng
chuếnh choáng -chếnh choáng
choạng vạng -chạng vạng
bầu đoàn -bầu đàn
thỏa thuê -thỏa thê
đuểnh đoảng -đểnh đoảng
phá hoại -phá hại
sáng loáng -sáng láng
chua loét -chua lét hoạnh họe -hạnh họe
loay hoay -lay hoay
loanh quanh -lanh quanh
ngoắt ngoeo -ngoắt nghéo
ngoắc ngoải -ngắc ngoải
xúy xóa -xí xóa
xuề xòa -xề xòa
xuệch xoạc -xệch xạc
Hiện tượng rụng âm đệm này là một hiện tượng rất phổ biến trong lớp từ
vựng hiện nay Cái bất cập là sự tồn tại cả 2 cách viết chính tả như vậy Nhưng
ngoài hiện tượng rụng âm đệm theo các tác giả Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Trọng
Báu, Nguyễn Văn Tu, trong Tiếng Việt còn “có hiện tượng thêm âm đệm vào lời
nói do quy luật đồng hóa chi phối”[16, tr 49] Ví dụ: đàng hoàng đoàng hoàng
Trang 28Tuy nhiên hiện tượng thêm âm đệm không nhiều, chúng ta rất ít gặp Bởi vì
theo các tác giả này “hiện tượng rụng âm đệm thì được coi là vẫn phù hợp với
chuẩn mực phat âm, còn hiện tượng thêm âm đệm ấy vào thì không được coi là
chuẩn mực”[16, tr50] Điều này có nghĩa là hiện tượng rụng âm đệm là một hiện
tượng bình thường nhưng hiện tượng thêm âm đệm lại là một hiện tượng bất bình
thường của ngôn ngữ Đây là một điều hiển nhiên và dễ thấy Các tiếng rụng âm
đệm nếu xét về chính tả, nhờ không có âm đệm nên giảm đi một số lượng các vần
đáng kể Còn xét về mặt phát âm, các tiếng này phát âm dễ dàng hơn nhiều so với
các tiếng có chứa âm đệm Sự biến đổi này đi theo hướng: từ phức tạp đến đơn
giản Ngược lại với hiện tượng này, hiện tượng thêm âm đệm là một sự biến đổi
nghịch hướng: Từ đơn giản đến phức tạp Đây là một sự đi ngược đối với quy luật
tự nhiên nói chung và quy luật ngôn ngữ nói riêng
Qua sự phân tích trên đây có thể thấy được rằng: Vấn đề chính tả hiện nay
đang còn nhiều tranh luận Đặc biệt là sự tồn tại song song của 2 cách viết của cùng
một từ Điều này sẽ dẫn đến tính không nhất quán giữa các văn bản Một vấn đề
được đặt ra cho những nhà nghiên cứu nói chung và cho những nhà nghiên cứu
ngôn ngữ nói riêng là phải làm thế nào cho Tiếng Việt có một hệ thống chính tả
chuẩn Mà trước hết xét trong trường hợp này, các nhà nghiên cứu cần phải thống
nhất được với nhau cách viết nào đúng và cách viết nào sai Có nghĩa là cách viết
có âm đệm là chuẩn hay cách viết không có âm đệm là chuẩn Vấn đề này hiện nay
đang còn nhiều tranh luận Mặc dù hiện tượng rụng âm đệm và cuộc tranh luận về 2
cách viết này đã diễn ra từ lâu nhưng cho đến nay vẫn chưa thống nhất được
1.3 Khó khăn trong việc dạy phát âm ở bậc tiểu học
Xét về phương diện chính tả, còn nhiều các kiến giải khác nhau về vấn đề có
hay không có âm đệm Hoặc nói chính xác hơn là việc giữ ngưyên hoặc bỏ đi âm
đệm xét trên bề mặt chữ viết Về phương diện ngữ âm, một thực tế được đặt ra là
việc dạy phát âm các tiếng chứa yếu tố được gọi âm đệm cho học sinh tiểu học
Trang 29về các tiếng chứa âm đệm trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học năm
2002, chúng tôi thấy : Có rất nhiều tiếng nếu trong trường hợp dạy phát âm cụ thể,
chúng ta cũng rất khó đánh vần, nói gì đến việc dạy cho các cháu học sinh tiểu học
Chẳng hạn như một số từ sau:
chuếnh, chuệnh
duềnh, doành
hoắc, hoặc, hoắm, huếch, huênh
khoăm, khoằm, khoặm, khuếch, khuơ, khuýp
loắt, lúych, luýnh
ngoai, ngoay, ngoắc, ngoăn, ngoao, ngoap, ngoeo
quặm, quạu, quẹo, quơ, quỷnh, quỵp, quýu
tuếch, tuềnh, tuýp
Việc học đã khó, dạy cho học sinh tiểu học càng khó hơn Ngay bản thân
người giáo viên nếu không có kiến thức về ngôn ngữ học nói chung và ngữ âm nói
riêng, cũng rất khó phát âm các tiếng nêu trên Nhưng ngay cả khi người giáo viên
biết cách phát âm cũng rất khó mà truyền đạt được lại cho những học sinh (người
không có chút ít kiến thức ngôn ngữ học nào) mà đặc biệt là hoc sinh tiểu học
Người giáo viên không thể giảng giải cho hoc sinh rằng những chữ cái [o] trong
“hoắc, hoắm, ngoao, ngoap” hay [u] trong “chuếnh, chuệnh, quặm, ”là những chữ
biểu thị yếu tố trong ngôn ngữ học được gọi là “âm đệm” Với vốn hiểu biết ít ỏi
của học sinh tiểu học, chắc chắn các em sẽ không thể nắm bắt được lời giảng của
giáo viên Do đó các giáo viên tiểu học đã gán cho “u” và “o” một chức năng tương
đương vỡi chữ cái khác có trong từ và cùng với các nguyên âm khác tạo nên các
vần Đặc biệt là chữ cái “u” khi đi với “q”đã kết hợp với nó để tạo nên một âm
“qu” được đọc là /kw/
Mặc dù các giáo viên tiểu học đã gán cho “o”và “u” một chức năng mới
nhưng việc dạy cho học sinh phát âm những tiếng này vẫn gặp nhiều khó khăn
Thông thường các em không biểu hiện được sự tròn môi của các yếu tố “o” và
Trang 30“u”chẳng hạn khi phát âm các tiếng: chuếch, duềnh các em thường chỉ phát âm
được: chếnh, dềnh còn yếu tố “u” biểu thị sự tròn môi (theo quan niệm của Hoàng
Cao Cương, Phan Ngọc ) thì không được phát âm kèm theo
Đặc biệt là có một số từ rất khó phát âm thì các em đã phát âm lẫn sang các
âm khác
Ví dụ:
quạu -cạu quọ -cọ quyp -kịp
Từ những nhận xét ban đầu, chúng tôi đã tiến hành điều tra 15 học sinh ở lớp
5B trường Tiểu học Trung Văn, kết quả thu được như sau:
STT Tiếng chứa
âm đệm
Số học sinh điều tra
Trang 31Từ bảng số liệu thu được chúng tôi thấy rằng hiện tượng học sinh phát âm
không có âm đệm không phải là không có Khi được hỏi nguyên nhân tại sao lại
phát âm như vậy thì các em trả lời rằng: các em biết phát âm như vậy là sai nhưng
do phát âm như vậy thì dễ hơn là phát âm những tiếng mà chúng ta gọi là tiếng có
chứ yếu tố tròn môi Hơn nữa thấy nhiều người xung quanh phát âm như vậy nên
các em cũng phát âm theo Theo chúng tôi, điều đó là không phải là không có lí
Tâm lí chung của các em là thấy người xung quanh phát âm thế nào thì bắt chước
như vậy Hơn nữa trong những tiếng đưa ra, không phải tiếng nào cũng dễ đánh vần
để có thể phát âm đúng được Thậm chí trong tiếng Việt có những tiếng có chứa âm
đệm rất khó đánh vần như ngoeo, quào
Như vậy, nhìn từ thực tế dạy và học phát âm, chúng tôi thấy rằng các tiếng
chứa âm đệm đã gây nhiều khó khăn cho học sinh tiểu học Thông thường, các em
phát âm những tiếng này không có yếu tố mà được các nhà nghiên cứu gọi là âm
đệm Vấn đề được đặt ra là có nên giữ lại những yếu tố âm đệm này không?
1.4 Tính không quan yếu của âm đệm trong việc gieo vần ở thơ lục bát và
sự hoà phối ngữ âm trong từ láy tiếng Việt
Trang 32Trước hết là hiện tượng gieo vần trong thơ lục bát Quy luật gieo vần trong
thơ lục bát quy định: tiếng thứ 6 của câu sáu phải vần với tiếng thứ 6 của câu tám
tiếp theo sau nó và tiếng thứ 8 của câu tám ấy lại phải vần với tiếng thứ 6 của câu
sáu tiếp theo Cứ như vậy tạo nên một sự hiệp vần liên tiếp trong cả bài thơ Quy
luật này quy định rằng những vần nằm trong những vị trí hiệp vần như vậy sẽ phải
giống nhau Nhưng trên thực tế của việc gieo vần thì không như vậy Chúng ta sẽ
thấy đặc điểm này khi khảo sát những câu thơ sau:
(1)
Huế mình, đẹp nhất lòng dân Mùa thu khởi nghĩa, mùa xuân dậy thành (Nước non ngàn dặm - Tố Hữu) (2)
Nửa đời tóc ngả màu sương Nhớ quê, anh lại tìm đường thăm quê Đường vào như tỉnh như mê Đường ra phía trước, đường về tuổi xuân
Đã đi muôn dặm xa gần Nay về Nam cũng bước chân bồi hồi (Nước non ngàn dặm - Tố Hữu) (3)
Xe bay, nghiêng gió dạt cành
Đã quen lối tắt đường quanh hiểm nghèo (Nước non ngàn dặm - Tố Hữu) (4)
Diệt trừ phát xít dã man Việt Nam độc lập hoàn toàn tự do
(Đói! Đói - Tố Hữu)
Trang 33Giặc lùng giặc đốt xóm làng Xác xơ cây cỏ, tan hoang cửa nhà
(Vỡ bờ - Tố Hữu) Nhìn vào những vần được gạch chân trong các ví dụ trên, chúng ta có thể
nhận thấy một số điều sau:
- Các tiếng được gạch chân được coi là hiệp vần với nhau nhưng các vần của
chúng lại không hoàn thoàn đồng nhất, lí do là có sự tham gia của yếu tố được gọi
là âm đệm
- Người đọc cũng như người viết vẫn đương nhiên công nhận đấy là những
tiếng có sự hiệp vần với nhau Nguyên nhân có thẻ là do cả người đọc và người viết
đều không đề cao sự xuất hiện của yếu tố được gọi là âm đệm này Điều này thể
hiện tính không quan yếu của yếu tố được gọi là âm đệm trong cấu trúc âm tiết nói
chung hay hiện tượng gieo vần nói riêng
Bên cạnh hiện tượng gieo vần trong thơ lục bát, tính không quan yếu của âm
đệm tiếng Việt còn thể hiện ở sự hòa phối ngữ âm trong từ láy Khảo sát các tư láy
có chứa âm đệm trong “Từ điển từ láy tiếng Việt” (1995) của Viện Ngôn ngữ học,
chúng tôi có một số nhận xét sau:
_Các tiếng chứa âm đệm trong từ láy không nhiều
_Có hiện tượng tồn tại song song hai cách viết của cùng một từ láy Điều này
có nghĩa là trong một từ láy đôI có chứa các tiếng có âm đệm, chúng tôI thấy có
hiện tượng song song tồn tại hai cách viết từ này: một cáchviết có âm đệm và một
cách không có âm đệm trong các tiếng đó Cụ thể như sau:
Trang 34STT Cách viết có âm đệm Cách viết không có âm đệm
Nhìn vào bảng trên chúng ta dễ dàng nhận thấy sự thiếu nhất quán trong cách
viêt những từ láy này vì cách viết nào cũng đựoc coi là đúng Diều này cho thấy
rằng việc có hay không có âm đệm trong chúng đều không quan trọng
_Có những từ được coi là những từ láy vần nhưng phần vần của chúng
không giống nhau.Trong một từ láy vần thì một tiếng có chứa âm đệm trong phần
vần còn một tiếng không chứa Dù vậy chúng vẫn được coi là những từ láy vần
Chẳng hạn như:
Trang 35STT Từ láy STT Từ láy
Từ những cứ liệu này chúng tôi thấy rằng sự có mặt hay không của âm đệm
trong cấu tạo của từ láy là điều không quan trọng, không cần thiết Như vậy có thể
thấy được rằng nó không phải là một yếu tố quan yếu trong cấu tạo từ láy noi
chung và trong cấu tạo âm tiết nói riêng
1.5 Âm đệm và xu hướng tiết kiệm, đơn giản, tự nhiên về cấu trúc âm tiết
tiếng Việt
Hơn nữa, các nhà Việt ngữ học từ trước đến nay luôn tranh luận với nhau về
cương vị của âm đệm trong cấu trúc âm tiết của tiếng Việt Có người cho nó là đơn
vị đoạn tính, là một thành phần âm tiết như các thành phần khác như âm đầu, âm
chính, âm cuối (Đoàn Thiện Thuật, Nguyễn Hữu Quỳnh, Mai Ngọc Chừ )
Thanh điệu
Âm đệm Âm chính Âm cuối