1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI TẬP NHÓM-LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN MÔN KẾ TOÁN KIỂM TOÁN

24 1,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 771,9 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cần xây dựng các chỉ tiêu theo dõi chất lượng, đưa vào khung kế hoạch cần hoàn thành hàng năm thay vì chỉ tiêu tăng GDP, ví dụ như chỉ số lao động mới tăng trong cách ngành ngoài nông ng

Trang 1

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÀI TẬP NHÓM

LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN

Môn: Kiểm toán tài chính Giảng viên: Phạm Thị Bích Ngọc

6 Nguyễn Thị Tâm Hoa

7 Lê Thảo Tiên

8 Nguyễn Hà Phương

Trang 2

I LẬP KẾ HOẠCH KIỂM TOÁN

1 Phạm vi công việc và yêu cầu dịch vụ khách hàng

Kiểm toán báo cáo tài chính cho niên độ kết thúc ngày 31/12/2004 của BTL và đề xuất

những giải pháp để cải tiến hệ thống kiểm soát nội bộ của BTL

2 Mô tả DN, môi trường KD và các thay đổi lớn trong nội bộ DN

- Môi trường kinh doanh chung

Kinh tế Việt Nam năm 2004 nói chung là khởi sắc, nhưng cũng đầy những mất quân bình lớn, cần điều chỉnh Do đó, vấn đề đặt ra cho những năm tới là hướng chính sách kinh tế đi vào phát triển có chất lượng Việc chạy theo thành tích tốc độ cao qua đầu tư tràn lan vừa tạo thêm tình trạng thiếu hiệu quả, gian dối và tham nhũng Cần xây dựng các chỉ tiêu theo dõi chất lượng, đưa vào khung kế hoạch cần hoàn thành hàng năm thay vì chỉ tiêu tăng GDP, ví dụ như chỉ số lao động mới tăng trong cách ngành ngoài nông nghiệp và ngoài khu vực dịch vụ nhà nước, năng suất lao động trong khu vực quốc doanh, chỉ số tham nhũng, chỉ số dự án nhà nước hoàn thành đúng thời hạn, chỉ số các công trình xây dựng dở dang so với tổng đầu tư trong năm, chỉ

số lợi nhuận trên một đồng vốn trong khu vực quốc doanh, chỉ số về sự hài lòng của dân đối

với dịch vụ nhà nước, …

- Tăng trưởng GDP: GDP, theo cùng sự suy thoái của cả khu vực Đông Nam Á từ năm

1997, giảm tốc độ tăng, từ hơn 9% xuống mức thấp nhất là 4, 8% năm 1998 Năm 2004 đạt mức cao nhất là 7, 5% từ khi tốc độ tăng phục hồi Như vậy là 3 năm qua, kinh tế đạt mức tăng trên 7% một năm Mức tăng trên cơ bản là do đầu tư của nhà nước Chưa thấy có lý do

gì cho thấy tốc độ tăng sẽ chậm lại những năm tới, nhưng nếu nhà nước không tập trung giải quyết các mất quan bình kinh tế đã quá rõ hiện nay thì việc chạy đua lập thành tích tốc

độ phát triển cao sẽ làm cho những mất quân bình ngày càng trầm trọng tạo cơ hội cho khủng hoảng khi thời cơ tới

- Đầu tư: Năm 2004, đầu tư đạt trên 35% GDP, khoảng gần 16 tỷ USD, một tỷ lệ đầu tư ở mức cao nhất thế giới hiện nay, nhưng lại tràn lan, thiếu chất lượng và hiệu quả đến mức

mà ngay bản thân Bộ Kế hoạch Đầu tư cũng phải kêu ca Tham nhũng theo đánh giá của các

tổ chức quốc tế tăng chính là con đẻ của việc nhà nước đầu tư tràn lan này

Đầu tư của nhà nước đã nằm trong chiến lược kích cầu nhằm tăng tốc độ tăng GDP sau khủng hoảng năm 1997 – một điều dễ hiểu và dễ đồng tình, nhưng chính sách chỉ có thể có tác dụng giai đoạn Nhưng đầu tư tăng kéo dài, trung bình tăng 12% năm kể từ 1997 và tiếp tục ở mức cao Thành công lúc đầu, có vẻ đã đẩy các nhà chiến lược “thừa thắng xông lên” tiếp tục con đường kích cầu Ngân sách thu không cung cấp đủ thì ngân hàng cấp vốn Vốn của ngân hàng cấp cho quốc doanh qua tín dụng tăng đột biến năm 2003 và 2005, tăng hơn 30% năm Việc tăng tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước và các công trình xây dựng khác không thể không coi là đầu mối của lạm phát đột biến vào năm 2004, ở mức 9, 5%

Đầu tư vào khu vực nhà nước trước năm 1997 ở mức dưới 50% tổng mức vốn đầu tư xã hội Sau năm 1997, đầu tư vào khu vực nhà nước tăng mạnh như đã nói ở trên đã đưa tỷ lệ trên lên cao, năm cao nhất là 58.7%, và hiện nay Đầu tư của tư nhân dù tăng nhanh, do

Trang 3

chính sách mở rộng cho tư nhân đầu tư, hiện nay vẫn chỉ chiếm 26% tổng đầu tư xã hội Còn đầu tư của nước ngoài tính chung cho 6 năm vừa qua gần như không tăng Do đó, tỷ lệ vốn đầu tư nước ngoài đã giảm từ cao điểm 30% xuống khoảng 17% hiện nay Tốc độ tăng vốn đầu tư của tư nhân đang có xu hướng giảm mạnh sau hồ hởi lúc đầu

- Tín dụng và lạm phát: 80% tín dụng ngân hàng là nhằm vào doanh nghiệp quốc doanh Như đã nói, mức tăng đầu tư của nhà nước đã đẩy tỷ lệ tổng đầu tư của cả nước so với GDP tăng nhanh chóng, lên tới 35% năm 2003 Đầu tư của nước gần như không tăng, thậm chí giảm so với trước năm 1997, đầu tư tư nhân tăng nhưng tỷ lệ còn nhỏ bé, tăng đầu tư của

cả nước chủ yếu là từ nhà nước, trong đó nguồn vốn từ ngân sách và tín dụng lên tới 70%

Khi khả năng cấp vốn từ ngân sách xuống thấp thì nguồn vốn tín dụng tăng để bù đắp Tín dụng ngân hàng bơm ra đáng kể để đáp ứng với chính sách kích cầu qua việc phát triển doanh nghiệp quốc doanh Mức tăng tín dụng cao đến 32% vào năm 2003 và năm trước đó cũng ở mức 25%, trong khi nền kinh tế không cho phép tăng quá 15% một năm Năm 2003

và 2004 là năm tín dụng tăng đột biến, có lẽ để đạt chỉ tiêu kế hoạch tăng GDP Sau nhiều năm tín dụng tăng ở mức cao nhưng giá không tăng, thậm chí có năm giảm, đến năm 2004 giá tăng đột biến, ở mức 9, 5

Lạm phát cao xảy ra ở năm mà giá sắt thép và nhất là giá dầu trên thế giới tăng mạnh Chính vì lý do này mà các nhà làm chính sách ở Việt Nam từ chối chấp nhận nguyên nhân giá tăng là lạm phát tín dụng Ở Việt Nam, nếu không có biện pháp hành chính kìm giá vào hai tháng cuối năm, kể cả việc bù lỗ giá xăng, để giữ lạm phát thấp hơn 10% mà để thị trường tự do quyết định thì giá đã lên cao hơn 10% Ngay cả giá xăng dầu theo Tổng cục Thống kê cũng chỉ tăng 5, 4% khi so tháng 11 năm 2004 với tháng 12 năm trước, rõ ràng là

do kìm giá và bù lỗ

- Tình hình thị trường hàng kim khí điện máy

Trong năm 2004, thị trường hàng kim khí điện máy không có nhiều biến động lớn, ngoại trừ việc ngày càng xuất hiện nhiều mặt hàng với giá thấp nhắm vào đối tượng người tiêu dùng có thu nhập thấp và trung bình Một số mặt hàng điện lạnh có xu hướng tăng tốc độ tiêu thụ rất nhanh do thời tiết nóng, đặc biệt tăng rất đáng kể vào các tháng hè

Các sản phẩm giá rẻ của thị trường kim khí điện máy có xu hướng lỗi thời ngày càng nhanh Mỗi mẫu mã mới được đưa ra thị trương nếu không được tiêu thụ nhanh chóng sẽ có nguy cơ phải giảm giá hoặc áp dụng kèm theo các biện pháp khuyến mãi để giải quyết số lượng tồn kho mỗi khi các mẫu mã mới khác được tung ra Tuy nhiên, nguy cơ này là không cao đối với những nhãn hiệu nỗi tiếng đã có chỗ đứng trong thị trường Các sản phẩm của những thương hiệu lớn canh tranh nhau chủ yếu qua chất lượng và kiểu dáng sản phẩm Các nhà phân phối hàng kim khí điện máy ngày càng nắm vững hơn tình hình thị trường,

họ liên tục tung ra các đợt khuyến mãi, giảm giá tặng quà vào dịp lễ lớn Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ chủ yếu được áp dụng tại các thành phố lớn do một số nhà phân phối lớn thực hiện thông qua hệ thống siêu thị kim khí điện máy

Trang 4

Người tiêu dùng cũng ngày càng khó tình hơn trong việc lựa chọn sản phẩm do thu nhập thực tế của phần lớn người tiêu dùng nhìn chung là giảm khi giá tăng cao, đặc biệt là xăng dầu, cùng với việc ngày càng có nhiều sản phẩm hơn để người tiêu dùng lựa chọn

Các dự báo của những chuyên gia về thị trương kim khí điện máy và tình hình thị trường trong năm 2005 nhìn chung là khả quan, đặc biệt là khả năng tiêu thụ rất mạnh của khu vực hàng giá rẻ Tuy nhiên, nếu muốn tồn tại, các nhà phân phối hàng kim khí điện máy cần có chính sách đa dạng hóa mặt hàng để tạo thêm sự lựa chọn cho khách hàng và cũng để phân tán rủi ro

2.1 Hiểu biết về môi trường kiểm soát:

Công ty TNHH BTL Việt Nam là một công ty 100% vốn nước ngoài, hoạt động trong lĩnh vực thương mại, chuyên nhập khẩu hàng kim khí điện máy để tiêu thụ ở thị trường Việt Nam Doanh nghiệp có sơ đồ tổ chức hợp lý đảm bảo công tác quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát) được triển khai chính xác, kịp thời, hiệu quả Doanh nghiệp đã sử dụng “Bảng mô tả công việc” quy định rõ yêu cầu kiến thức và chất lượng nhân sự cho từng vị trí trong tổ chức Doanh nghiệp có hệ thống văn bản thống nhất quy định chi tiết việc tuyển dụng, đào tạo, đánh giá nhân viên, đề bạt, trả lương, phụ cấp để khuyến khích mọi người làm việc liêm chính, hiệu quả cụ thể như việc tất cả các nhân viên làm việc tại phòng kế toán đều có trình độ đại học

Bên cạnh những mặt tốt thì môi trường kiểm soát của doanh nghiệp cũng tồn tại mặt yếu kém đó là doanh nghiệp không có bộ phận kiểm toán nội bộ hay một phòng ban nào có chức năng tương tự hoạt động theo các chuẩn mực của kiềm toán Nhà nước và kiểm toán quốc tế

2.2 Hiểu biết về đánh giá rủi ro:

Doanh nghiệp đã đề ra mục tiêu tổng thể cũng như chi tiết để mọi nhân viên có thể lấy đó làm cơ sở tham chiếu khi triển khai công việc cụ thể trong cuộc họp hội đồng quản trị

đã thảo luận về khả năng và những biện pháp cần thực hiện để trở thành đại lý độc quyền tại Việt Nam của Rotus, ngoài ra trong cuộc họp này Hội đồng quản trị cũng thống nhất thông qua kế hoạch thành lập thêm một cửa hàng ở quận Tân Bình nhằm nâng cao hơn nữa doanh

đề ra được các biện pháp, kế hoạch, quy trình hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác hại rủi

ro đến một giới hạn chấp nhận nào đó hoặc doanh nghiệp đã có biện pháp để toàn thể nhân viên nhận thức rõ ràng về tác hại của rủi ro cũng như giới hạn rủi ro tối thiểu mà tổ chức có thể chấp nhận được

Trang 5

2.3 Hiểu biết về hoạt động kiểm soát:

Doanh nghiệp đã ban hành văn bản quy định rõ ràng những ai có quyền hoặc được uỷ quyên phê duyệt toàn bộ hay một loại vấn đề tài chính nào đó cụ thể như khi có nhân viên cần tạm ứng tiền, nhân viên này phải lập phiếu yêu cầu tạm ứng trình trưởng bộ phận xét duyệt Sau khi được xét duyệt, phiếu yêu cầu tạm ứng được gửi cho cô Mơ để lập phiếu chi, sau đó phiếu chi sẽ được gửi cho kế toán trưởng duyệt và sau đó mới được chuyển cho thủ quỹ để chi tiền Bên cạnh đó cũng có bất cập trong việc phân chia trách nhiệm quyền hạn của cô Thanh đồng thời ghi nhận tài sản cố định và cũng là người trích khấu hao tài sản cố định, cách thức phân định quyền hạn này có thể dẫn đến sai sót, gian lận trong doanh nghiệp

Qua các nghiệp vụ chi tiền, thu tiền thì có thể nhận thấy quyền hạn, trách nhiệm và nghĩa vụ trong ba lĩnh vực: Cấp phép và phê duyệt các vấn đề tài chính, Kế toán và Thủ kho được phân định độc lập rõ ràng

Đối với nghiệp vụ mua hàng thì sau khi đã phê duyệt bảng báo giá, phòng mua hàng

sẽ thông báo bằng email cho cô Mơ – kế toán thanh toán – để chuyển tiền mở LC từ đó nhận thấy trong nghiệp vụ này doanh nghiệp đã không lưu giữ các chứng cứ dưới dạng văn bản

để tạo điều kiện phân định rõ ràng phần thực hiện công việc với phần giám sát tại bất kỳ thời điểm nào, kể cả việc xác định những cá nhân có trách nhiệm về các sai phạm xảy ra

Doanh nghiệp đã tổng hợp và thông báo kết quả sản xuất đều đặn và đối chiếu các kết quả thu được với các định mức, chỉ số định trước để điều chỉnh, bổ sung kịp thời cụ thể như cuối mỗi ngày thủ quỹ và cô Mơ phải cùng đối chiếu sổ sách, kiểm kê quỹ tiền mặt và lập Biên bản kiểm quỹ

Giữa Quý I hàng năm, Ban giám đốc họp với các trưởng phòng để lập dự toán, bao gồm dự toán doanh thu, dự toán chi phí thường xuyên cho các bộ phận và dự toán mua sắm

và thanh lí tài sản cố định trong năm cho thấy rằng doanh nghiệp đã đề ra các định mức xác định về tài chính và các chỉ số căn bản đánh giá hiệu quả hoạt động như những chỉ số quản

lý khi lập kế hoạch và kiểm soát để điều chỉnh hoạt động sản xuất phù hợp với mục tiêu đề

ra

2.4 Hiểu biết về hệ thống thông tin và truyền thông:

Đối với nghiệp vụ chi tiền tạm ứng, khi chi tiền thủ quỹ và người nhận tiền phải kí tên trên phiếu chi Phiếu chi được gửi đến cho cô Thanh – kế toán tổng hợp – để cập nhật hồ

sơ tạm ứng (một file excel được tổ chức độc lập với hệ thống Auto Balancing, có cài password nên chỉ cô Thanh mở được) cho thấy rằng doanh nghiệp đã lắp đặt hệ thống bảo

vệ số liệu phòng ngừa sự truy cập, tiếp cận của những người không có thẩm quyền

Hệ thống truyền thông của doanh nghiệp đảm bảo cho nhân viên ở mọi cấp độ đều có thể hiểu và nắm rõ các nội quy, chuẩn mực của tổ chức, đảm bảo thông tin được cung cấp kịp thời, chính xác đến các cấp có thẩm quyền theo quy định

2.5 Hiểu biết về hệ thống giám sát và thẩm định:

Trang 6

Việc không lập phòng kiểm toán nội bộ trong công ty là 1 yếu kém dẫn đến không

có người am hiểu chi tiết về tình hình của công ty để phát hiện ra các sai phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ công ty và giúp cải thiện nó

Doanh nghiệp không có hệ thống báo cáo cho phép phát hiện các sai lệch so với chỉ tiêu, kế hoạch đã định Khi phát hiện sai lệch, doanh nghiệp đã không triển khai các biện pháp điều chỉnh thích hợp cụ thể như việc doanh nghiệp sử dụng phần mềm kế toán Auto Balancing với tính năng tự điều chỉnh để làm cân đối các báo cáo tài chính (nếu có sai sót)

Với phần mềm kế toán Auto Balancing thì nhân viên kế toán có thể sửa, xoá, thêm bớt nội dung các nghiệp vụ kể cả sau khi đã chuyển sổ Cái chứng tỏ doanh nghiệp đã không yêu cầu các cấp quản lý trung gian báo cáo ngay với lãnh đạo về mọi trường hợp gian lận, nghi ngờ gian lận, về các vi phạm nội quy, quy định của doanh nghiệp cũng như quy định của luật pháp hiện hành có khả năng làm giảm uy tín doanh nghiệp và gây thiệt hại về kinh

tế

Kết luận: Qua quá trình tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty BTL thì

chúng tôi nhận thấy rằng ngoài những mặt tích cực mà công ty đã đạt được thì vẫn còn tồn tại một số mặt hạn chế Để tuân thủ nguyên tắc thận trọng, với vai trò là kiểm toán viên độc lập, chúng tôi đánh giá rủi ro kiểm soát của đơn vị ở mức cao nhất

3 Phân tích sơ bộ và xác định sơ bộ khu vực rủi ro cao

3.1 Phân tích bảng cân đối kế toán

Trang 7

151 305,112 63,204 (241,908) -79.28 0.15

609,492 471,876 (137,616) -22.58 1.12

biến động tương đối

tỷ trọng các khoản mục so với tổng tài sản năm 2004

A- TÀI SẢN NGẮN HẠN (100=110+120+130+140+150)

I Tiền và các khoản tương đương tiền

2 tiền gửi ngân hàng

1 tạm ứng

5.các khoản cầm cố, ký cược và ký quỹ ngắn hạn

TÀI SẢN

1 Tiền mặt tại quỹ( gồm cả ngân quỹ)

2 Trả trước cho người bán

5 Các khoản phải thu khác

6 Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi (*)

1

II Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn

III Các khoản phải thu

1 Phải thu của khách hàng

2 Dự phòng giảm giá hàng tồn kho (*)

- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)

- Giá trị hao mòn luỹ kế (*)

2 Tài sản cố định thuê tài chính

II Tài sản cố định

V Tài sản dài hạn khác

III Bất động sản sản đầu tư

IV Các khoản đầu tư tài chính dài hạn

TỔNG CỘNG TÀI SẢN (270 = 100 + 200)

Trang 8

Số cuối năm Số đầu năm

biến động tương đối

tỷ trọng các khoản mục so với tổng tài sản

11 Nguồn vốn đầu tư XDCB

II Nguồn kinh phí và quỹ khác

10 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối

2 Phải trả người bán

3 Người mua trả tiền trước

4 Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước

9 Các khoản phải trả, phải nộp ngắn hạn khác

5 Phải trả người lao động

I Vốn chủ sở hữu

1 Vốn đầu tư của chủ sở hữu

1 chi phí phải trả

Trang 9

Phân tích báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BÁO CÁO KQKD 31/12/2011 Trước KT

Tỷ lệ trên DTT

31/12/2010 Sau KT

Biến động % Biến động (Gtrị) Nhập tỷ lệ và giá trị mức trọng yếu chi tiết vào g3 và h4 ≥ 0.0 % ≥ 26,570,487

9 Chi phí quản lý doanh nghiệp (13,458,048) -24.37% (9,637,032) 39.6% (3,821,016)

10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh 4,972,518 9.01% 1,655,322 200.4% 3,317,196

11 Thu nhập khác 208 2,456 -91.5% (2,248)

12 Chi phí khác (2) 0.00% (1,926) -99.9% 1,924

13 Lợi nhuận khác 206 0.00% 530 -61.1% (324)

14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế 4,972,724 9.01% 1,655,852 200.3% 3,316,872

15 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành - 0.00% - -

16 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại - 0.00% - - -

17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp 4,972,724 9.01% 1,655,852 200.3% 3,316,872

Qua phân tích sơ bộ thông tin từ tài liệu có được, nhóm tập trung kiểm tra các khoản mục

4.1Kiểm toán khoản mục hàng tồn kho

sinh

- Kiểm tra dấu vết trên phiếu xuất kho, phiếu nhập kho

- Khảo sát việc ghi

sổ nhật kí của bảo

vệ khi xuất kho hàng hóa hay nhập kho có được ghi chép đầy đủ không?

- Quan sát việc kiểm kê hàng tồn kho

- Xem xét tính độc lập giữa thủ kho,

nhận hàng và kế toán khoản mục hàng tồn kho

Trang 10

- Xem xét quy trình luân chuyển chứng

từ và việc ghi nhận hàng tồn kho của

kế toán

- Thu thập chứng từ

khoản mục hàng tồn kho, đối chiếu

sổ sách

- Trình bày và công

bố

Xem xét việc trình bày của hàng tồn kho

4.2 Kiểm toán khoản phải thu

Thủ tục

phân tích

Tính các tỷ số:

- Nợ phải thu khách hàng/Doanh thu

- Nợ phải thu khách hàng/Tổng tài sản ngắn hạn

- Chi phí dự phòng nợ khó đòi/Doanh thu bán chịu

Hiện hữu, Đầy đủ, Đánh giá,

số dư cuối kỳ năm trước

- Thu thập bảng số dư chi tiết phân tích theo tuổi

-Kiểm tra mẫu một số nghiệp vụ bán hàng đã ghi

trên sổ xem có chứng từ hay không ?

Trang 11

-Xem xét về các khoản nợ phải thu bị cầm cố thế

Thử nghiệm kiểm soát

+ Đối chiếu với đơn đặt hàng, lệnh bán hàng, chứng từ chuyển hàng về chủng loại, quy cách, giá cả, ngày gửi hàng, chữ ký…nhằm thu thập bằng chứng chứng minh rằng các hóa đơn được lập trên cơ sở các nghiệp vụ bán hàng thực sự xảy ra và quá trình

thực hiện nghiệp vụ đã tuân thủ đúng quy định nội bộ của đơn vị

+Kiểm tra chữ ký xét duyệt bán chịu và cơ sở xét duyệt để xem có tuân thủ các thủ tục bán chịu hay không

+ Xem xét tổng cộng của từng loại hàng, tổng cộng từng hóa đơn, so sánh bảng giá trên hóa đơn với bảng giá được xét duyệt tại mỗi thời điểm Thử nghiệm này nhằm chứng minh rằng các hóa đơn được tính với giá chính xác và kiểm tra chúng khi gửi đi được thực hiện có hiệu quả

+ Kiểm tra việc ghi chép chép các hóa đơn trên sổ sách kế toán

+ Đối chiếu số tổng cộng trên nhật ký với tài

khoản trên sổ cái

4.3 Kiểm toán tiền

Cơ sở dẫn liệu cần tập trung thu thập bằng chứng kiểm toán

Cơ sở dẫn liệu hiện hữu được xem là CSDL quan trọng nhất trong kiểm toán khoản mục

này Tương tự như khi kiểm toán các tài sản khác, KTV thường phải quan tâm đến khả năng doanh nghiệp đã trình bày số dư tiền vượt quá số thực tế để che giấu tình hình tài chính thực sự hoặc sự thất thoát của tài sản Do vậy mục tiêu hiện hữu là mục tiêu được quan tâm nhiều nhất Trong một số trường hợp doanh nghiệp có thể cố tình không ghi nhận đầy đủ các khoản tiền thu được để che giấu doanh thu, vì vậy mục tiêu đầy đủ cũng cần được chú

ý

Thử nghiệm cơ

bản

Thủ tục kiểm toán Mục tiêu kiểm toán

Thủ tục phân tích - So sánh số dư tài khoản tiền

năm hiện hành với số liệu kế

hoạch, số dư năm trước

- Tính toán tỉ lệ giữa tiền với tổng tài sản ngắn hạn và so sánh với số liệu dự kiến

Hiện hữu, đầy đủ, đánh giá

Trang 12

năm trước

Phân tích bảng kê chi tiết của tài khoản tiền và đối chiếu với số dư trên sổ cái

nghĩa vụ Gửi thư xác nhận đến ngân hàng

Kiểm tra việc khóa sổ các nghiệp vụ thu chi tiền

Hiện hữu, đầy đủ

Kiểm tra các nghiệp vụ thu chi bất thường

Hiện hữu, trình bày và công bố

- Phân tích bảng kê chi tiết của tài khoản tiền và đối chiếu với số dư trên sổ cái

KTV yêu cầu đơn vị cung cấp một bảng kê chi tiết các tài khoản tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển theo từng loại bao gồm số dư đầu kỳ và số dư cuối kỳ theo sổ cái nhằm kiểm tra sự thống nhất giữa số liệu tổng hợp của các khoản mục trên BCTC với số liệu chi tiết của các tài khoản cấu thành

- Gửi thư xin xác nhận mọi số dư của tài khoản tiền gửi ngân hàng

Yêu cầu xác nhận các thông tin đáng quan tâm như là: số dư, mức lãi suất của các khoản tiền gửi có lãi, các khoản vay ngân hàng, các giới hạn trong việc sử dụng tiền, các khoản cầm cố, thế chấp, các thỏa thuận khác với ngân hàng v v Việc xác nhận này giúp KTV phát hiện được những khoản có giao dịch với ngân hàng nhưng đơn vị chưa khai báo đầy

đủ, rồi lần theo đó làm rõ nguyên nhân

- Kiểm kê tiền mặt tồn quỹ

Kiểm kê các quỹ cùng một thời điểm để tránh trường hợp hoán chuyển từ quỹ này sang quỹ khác Thủ quỹ phải kí vào biên bản kiểm kê để xác nhận Số liệu kiểm kê đó được dùng để đối chiếu với sổ chi tiết và tổng hợp của tài khoản tiền mặt

- Kiểm tra việc khóa sổ các nghiệp vụ thu, chi tiền

- Kiểm tra các nghiệp vụ thu chi bất thường

KTV chọn ra một số nghiệp vụ lớn, bất thường và kiểm tra các chứng từ liên quan để xem các nghiệp vụ này có được ghi chép đúng hay không?, có được công bố trên thuyết minh báo cáo tài chính hay không?

4.4 Kiểm toán khoản mục Nợ phải trả

Ngày đăng: 17/05/2015, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w