1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

lo¹i h×nh tæ chøc - lo¹i ho¹t ®éng cã liªn quan ®Õn an toµn cña hÖ thèng tÝn dông ng©n hµng

25 471 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Loại Hình Tổ Chức - Loại Hoạt Động Có Liên Quan Đến An Toàn Của Hệ Thống Tín Dụng Ngân Hàng
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 150,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kinh doanh tiÒn tÖ, tÝn dông lµ lo¹i h×nh kinh doanh ®Æc thï trong nÒn kinh tÕ

Trang 1

Lời mở đâu

Kinh doanh tiền tệ, tín dụng là loại hình kinh doanh đặc thù trong nền kinh

tế Tính đặc thù của loại hình kinh doanh này không chỉ đơn thuần vì sự đặcbiệt của đối tợng kinh doanh là - tiền tệ - loại hàng hoá khác hẳn với các loạihàng hoá thông thờng của thị trờng nói chung mà còn vì kinh doanh tín dụng

là kinh doanh “trên sự kinh doanh của ngời khác” Nói nh vậy không có nghĩa

là kinh doanh tín dụng hoàn toàn phụ thuộc vào khách quan, vào kết quả kinhdoanh của những ngời vay vốn của tổ chức tín dụng (TCTD) nhng đặc trnghiển nhiên và là thuộc tính của kinh doanh tín dụng là phụ thuộc rất nhiều vào

sự trung thực và hiệu quả kinh doanh của những ngời vay vốn của TCTD.Những cố gắng mang tính chủ quan của các tổ chức tín dụng cũng có vai tròquan trọng trong bảo đảm an toàn tín dụng song rõ ràng là những nỗ lực củaTCTD cũng sẽ trở nên ít ý nghĩa nếu rủi ro tín dụng ập đến từ sự không trungthực hay từ sự thua lỗ, thậm chí phá sản của ngời vay vốn Do vậy, kinh doanhtín dụng là loại hình kinh doanh có nhiều rủi ro Đặc trng khác của hoạt độngkinh doanh tín dụng là kinh doanh chủ yếu bằng vốn của ngời khác, tức làbằng tiền huy động đợc mà chúng ta vẫn thờng nói là đi vay để cho vay Và

đặc trng nữa của hoạt động kinh doanh tín dụng là tính liên quan lẫn nhautrong hệ thống tín dụng và mối quan hệ của các hoạt động tín dụng với toàn bộnền kinh tế Sự thành công, tính ổn định hay sự thất bại, đổ vỡ của một haymột số TCTD đều có tác động đến sự an toàn của cả hệ thống TCTD và cũngtwong tự nó tác động tích cực hay tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế

Để đảm bảo an toàn tín dụng Nhà nớc cũng nh các tổ chức tín dụng phảitìm kiếm và áp dụng nhiều biện pháp khác nhau, tôi tạm xếp chúng thành hainhóm là các biện pháp pháp lí và các biện pháp tổ chức Ngoài ra, cũng có thể

kể đến loại biện pháp nữa là các biện pháp nghiệp vụ của các TCTD Các biệnpháp pháp lí đợc thể hiện chủ yếu ở những quy định trong các đạo luật về ngânhàng và các tổ chức tín dụng ví dụ nh các quy định về mức vốn pháp định củacác tổ chức tín dụng; về dự trữ bắt buộc; lập dự phòng rủi ro; quy định về cáchạn chế tín dụng; về giới hạn cho vay, bảo lãnh; giới hạn góp vốn, mua cổphần; các biện pháp bảo đảm tiền vay Các biện pháp tổ chức nh quản lý nhànớc đối với sự hình thành và hoạt động của các tổ chức tín dụng; thành lập các

tổ chức bảo hiểm, bảo toàn tiền gửi Trong phạm vi bài viết này tôi xin đ ợc đềcập loại hình tổ chức - loại hoạt động có liên quan đến an toàn của hệ thống tíndụng ngân hàng, đó là bảo hiểm tiền gửi, thực tiễn áp dụng pháp luật tại cácngân hàng

1 Bảo hiểm tiền gửi và pháp luật bảo hiểm ở Việt Nam:

1.1.Mục đích, vai trò của BHTG:

Trang 2

BHTG đợc thành lập trớc hết là vì mục tiêu bảo vệ quyền lợi của ngời gửitiền khi có ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng nào đó bị phá sản Ngân hàngtham gia vào cơ chế bảo hiểm tiền gửi hoặc đợc chính phủ tuyên bố chi trảBHTG thì những ngời gửi tiền tại ngân hàng phá sản đó có cơ hội đợc trả mộtphần hoặc toàn bộ số tiền gửi của mình Tuy nhiên, điều quan trọng hơn làBHTG sẽ làm cho tâm lý ngời gửi tiền không bị hoang mang, mất lòng tin và

họ sẽ không nghĩ đến việc phải vội vã rút tiền từ ngân hàng khác Điều đótránh đợc sự đổ vỡ mang tính dây chuyền có thể xảy ra đối với hoạt động ngânhàng, TCTD Qua đó, BHTG hớng tới một mục tiêu lớn hơn, đó là sự ổn địnhcủa cả hệ thống tài chính, nền kinh tế của quốc gia

BHTG thông qua việc bảo hiểm số tiền gửi của ngời gửi tiền ở các tổ chứctín dụng đã tạo ra một công cụ đầu t có rủi ro thấp Nhờ vào công cụ này, hệthống ngân hàng thu hút đợc nguồn vốn tiết kiệm nhàn rỗi trong dân c để thựchiện đợc chức năng trung gian tài chính một cách tích cực

BHTG giúp cho sự ổn định của hệ thống tài chính và qua đó góp phần làm

ổn định , tăng trờng nền kinh tế Thông qua các quy định an toàn và cơ chếgiám sát hoạt động ngành ngân hàng, BHTG đã góp phần nâng cao khả năngquản trị rủi ro, khả năng điều hành ngân hàng nói riêng và ngành tài chính nóichung

Với nguồn lực là quỹ BHTG đủ khả năng can thiệp kịp thời khi tổ chứctham gia BHTG lâm vào tình trạng khó khă, BHTG đã giúp ngăn chặn hiệuứng rút tiền hàng loạt và sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng khi một vài tổ chứcngân hàng gặp rắc rối

BHTG cũng là một nhân tố cực kỳ quan trọng trong việc duy trì niềm tincủa công chúng vào hệ thống ngân hàng và đây cũng chính là một biện pháphữu hiệu trong việc giảm số lợng ngân hàng phá sản

1.2.Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam

Nhận thấy đợc tầm quan trọng của BHTG đối với hoạt động ngân hàngtrong thời kỳ mới, ngày 12 tháng 12 năm 1997 Quốc hội đã ban hành luật các

tổ chức tín dụng trong đó có quy đinh: “ Tổ chức tín dụng có trách nhiệm thamgia tổ chức bảo toàn hoặc bảo hiểm tiền gửi Mức bảo toàn hoặc BHTG dochính phủ quy định” (điều 17) Quy định này đã tạo cơ sở pháp lý quan trọngcho sự ra đời chế độ BHTG mới ở nớc ta

Ngày 01/09/1999 chính phủ ban hành nghị định số 89/1999/NĐ - CP vềbảo hiểm tiền gửi trong đó quy định rõ mục đích , tính chất của BHTG, cácloại tiền đợc bảo hiểm, phí bảo hiểm

Ngày 01/09/1999 thủ tớng chính phủ ký kết quyết định số 218/1999/QĐ TTG về việc thành lập tổ chức bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam - Một tổ chức

Trang 3

-thành lập chuyên thực hiện nghiệp vụ BHTG Ngày 07/10/2000 BHTG ViệtNam chính thức đi vào hoạt động.

Theo các quy định hiện hành về BHTG, BHTG là một loại hình bảo hiểmphi thơng mại, theo đó TCTD và các tổ chức khác có hoạt động ngân hàng cónhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam bắt buộc phải tham gia

đóng phí BHTG cho tổ chức BHTG Việt Nam theo quy định Khi xảy ra sựkiện bảo hiểm, tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có trách nhiệm thay tổchức tín dụng trả các khoản tiền gửi đợc bảo hiểm của các cá nhân gửi tiền ởTCTD tham gia bảo hiểm

BHTG ở nớc ta, xét về tính chấ là loại hình bắt buộc Pháp luật về BHTG

có quy định về điều kiện bảo hiểm, mức phí bảo hiểm mà các tổ chức tín dụngtham gia quan hệ bảo hiểm có nghĩa vụ phải thực hiện Việc áp dụng chế độbảo hiểm bắt buộc đối với tiền gửi không chỉ nhằm xử lý rủi ro đối với tổ chứcnhận tiền gửi, bảo vệ lợi ích của ngời gửi tiền mà còn bảo vệ sự an toàn cho cả

hệ thống TCTD, sự ổn định của tiền tệ quốc gia Đồng thời nó còn tạo ra sựbình đẳng công bằng cho các tổ chức có hoạt động ngân hàng, góp phần nângcao uy tín của các tổ chức tín dụng đối với ngời dân trong giai đoạn hiện naynhằm khai thác tối đa các nguồn vốn nhàn rỗi để tập trung cho đầu t phát triểnkinh tế Việc quy định bắt buộc tham gia BHTG đối với các tổ chức tín dụng

đợc áp dụng ở nhiều nớc

BHTG ở nớc ta là loại bảo hiểm trách nhiệm pháp lý dân sự Nếu xét về đốitợng bảo hiểm thì BHTG thuộc loại bảo hiểm trách nhiệm dân sự phát sinhtrong hợp đồng Đối tợng của BHTG chính là nghĩa vụ hoàn trả tiền gửi cả lãilẫn gốc của tổ chức nhận tiền gửi đối với ngời gửi tiền Pháp luật BHTG ở nớc

ta xác định rõ: Ngời tham gia bảo hiểm có nghĩa vụ đóng bảo hiểm là tổ chức

đợc phép nhận tiền gửi của các cá nhân bằng đồng Việt Nam; còn ngời đợc ởng quyền lợi bảo hiểm là ngời gửi tiền tại tổ chức tham gia bảo hiểm

h-Xét về bản chất, BHTG ở Việt Nam là loại hình bảo hiểm phi thơng mại

Nó không thuộc phạm vi điều chỉnh của luật kinh doanh bảo hiểm mà đợc điềuchỉnh bằng một quy chế pháp lý riêng Tính phi thơng mại của BHTG thể hiện

ở chỗ, bên bảo hiểm là tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam - đây là một tổchức tài chính nhà nớc, mục tiêu hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận

mà nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ngời gửi tiền, gópphần duy trì ổn định của các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn,lành mạnh hoạt động ngân hàng

Tổ chức bảo hiểm tiền gửi Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là DepositInsurance of Vietnam (DIV) là môt tổ chức tài chính nhà nớc, do nhà nớcthành lập, đợc nhà nớc cấp vốn, nhà nớc bổ nhiệm ngời quản trị điều hành

Trang 4

BHTG Việt Nam hoạt động không vì mục đích lợi nhuận nhng phải bảo đảm

an toàn vốn và sự bù đắp chi phí, đợc miễn nộp các loại thuế

Chế độ BHTG ở Việt Nam đợc quy định trong các văn bản pháp luật vớinhững nội dung chính: quy định về phạm vi áp dụng (chủ thể trong quan hệbảo hiểm; các loại tiền gửi đợc bảo hiểm; giới hạn số tiền bảo hiểm); về phíbảo hiểm tiền gửi; sự kiện bảo hiểm và việc chi trả các khoản tiền gửi đ ợc bảohiểm

Cơ sở pháp lý cho hoạt động của BHTG bao gồm:

- Nghị định số 89/1999/NĐ - CP ngày 01/09/1999 của Chính phủ về bảohiểm tiền gửi

- Quyết định số 218/1999/QĐ - TTG ngày 09/11/1999 của Thủ tớngChính phủ về thành lập bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

- Quyết định số 75/2000/QĐ - TTG ngày 28/06/2000 của Thủ tớng Chínhphủ về việc ban hành điều lệ tổ chức và hoạt động của BHTG Việt Nam

- Quyết định số 145/2000/QĐ - TTG ngày 19/12/2000 của Thủ tớngChính phủ về việc ban hành quy chế quản lý tài chính đối với BHTG ViệtNam

- Thông t số 03/2000/QĐ - NHNN ngày 16/03/2000 của Thống đốc Ngânhàng Nhà nớc hớng dẫn thi hành Nghị định số 89/1999/NĐ - CP ngày01/09/1999 của Thủ tớng Chính phủ về bảo hiểm tiền gửi

- Quyết định số 1077/2001/QĐ - NHNN ngày 27/08/2001 của Thống đốcNgân hàng Nhà nớc về việc sửa đổi Thông t số 03/2000/ QĐ-NHNN ngày16/03/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc về việc sửa đổi thông t số03/2000/QĐ-NHNN ngày 16/03/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc

2 Thực tiễn áp dụng pháp luật BHTG tại tại các ngân hàng thơng mại

2.1 Những u điểm của pháp luật về BHTG

Trớc đòi hỏi cấp bách của nền kinh tế thị trờng và thách thức của hộinhập quốc tế, với mục đích tăng cờng sự ổn định, an toàn và phát triển lànhmạnh hoạt động cảu hệ thống ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền,BHTG Việt Nam đợc ra đời trên cơ sở Nghị định 89/1999/NĐ - CP của Chínhphủ ngày 1/9/1999 và QUyêt sđịnh 218/QĐ - TTG của Thủ tớng Chính phủngày 9/11/1999 Ngày 7/10/2000 BHTG Việt Nam chính thức đi vào hoạt

động Xuất hiện đợc gần 9 năm, BHTG Việt Nam đã đạt đợc một số thành tựu

Trang 5

nổi bật, góp phần đầy lùi nguy cơ rủi ro trong hoạt động tài chính - ngân hàng,

đảm bảo quyền lợi của một số đông công chúng gửi tiền, tạo ra sự ổn định vàphát triển nền kinh tế xã hội

Những thành tựu của pháp luật về BHTG ở Việt Nam sau gần 9 năm đivào thực hiện có thể kể đến nh:

Thứ nhất, tổ chức BHTG Viêtn Nam mở rộng mạng lới và hoàn thiện cơ

chế quản lý

9 năm qua, cùng với việc ổn định bộ máy tổ chức và triển khai đầy đủcác nghiệp vụ về BHTG, BHTG Việt Nam đã mở rộng mạng lới hoạt động củamình trên phạm vi cả nớc, thành lập 6 chi nhánh BHTG tại những địa bàn kinh

tế trọng điểm, nơi tập trung nhiều tổ chức tài chính và TCTD Đó là chi nhánhtại thành phố Hồ Chí Minh, chi nhánh khu vực Hà Nội, chi nhánh khu vực

đồng bằng Sông Cửu Long tại Cần Thơ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên tại NhaTrang, Đông Bắc Bộ tại Hải Phòng và Bắc Trung Bộ tại Nghệ An, Bên cạnh

đó, BHTG Việt Nam tiến hành hoàn thiện hệ thống văn bản nghiệp vụ và quảntrị điều hành, bao gồm khảng 40 văn bản pháp lý, cùng Ngân hàng Nhà nớc dựthảo nghị định sửa đổi, bổ sung nghị định 89/1999/NĐ-CP của Chính phủ vềBHTG và đang dự kiến thay đổi về cơ chế hoạt động của tổ chức BHTG để đápứng các yêu cầu bổ sung, chỉnh sửa kịp thời cơ chế, chính sách cho phù hợpvới thực tiễn hoạt động

Thứ hai, về việc cấp giấy chứng nhận BHTG cho các tổ chức tham gia

97 TCTD Nh vậy đến nay, số lợng các tổ chức tham gia BHTG chỉ còn 977

đơn vị gồm: 5 Ngân hàng Thơng mại Nhà nớc, 34 Ngân hàng Thơng mại cổphần, 25 Ngân hàng nớc ngoài và Ngân hàng liên doanh, 4 Công ty tài chính

và 903 Quỹ tín dụng nhân dân và theo thống kê đến cuối năm 2005 số tổ chứctham gia BHTG là 990

Thứ ba, về thu phí BHTG và quản lý nguồn vốn:

BHTG Việt Nam luôn chú trọng đến công tác thu phí BHTG và quản lýnguồn vốn do pháp luật quy định, quỹ BHTG bổ sung từ nguồn vốn thu phí

Trang 6

này hàng năm và sử dụng vốn để bù đắp chi phí Số phí BHTG tăng năm sau sovới năm trớc luôn ở mức 25-30%/năm.

Đây chính là nguồn tài chính quan trong để tăng cờng năng lực xử lý cácrủi ro có thể xảy ra từ phía các tổ chức tham gia BHTG, hạn chế tới mức thấpnhất việc bao cấp từ ngân sách nhà nớc Với vốn điều lệ đợc cấp 1000 tỷ đồngkết hợp với nguồn thu phí, BHTG Việt Nam đã đầu t vào trái phiếu chính phủ,trái phiếu Kho bạc Nhà nớc, tiền gửi có kỳ hạn của các TCTD Nhà nớc theo

đúng quy định, đảm bảo an toàn, bảo tồn và bù đắp chi phí

Thứ tư, về chi trả bảo hiểm và giỏm sỏt quỏ trỡnh thanh lý tài sản củaTCTD bị phỏ sản

Vấn đề xỏc định vị trớ chủ nợ của tổ chức BHTG khi chi trả bảo hiểm

đó cú sự thay đổi tớch cực, cụ thể tại khoản 11 Điều 1 Nghị định 109/2005/NĐ– CP ngày 24/8/2005 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số89/1999/NĐ – CP ngày 1/9/1999 của Chớnh phủ về bảo hiểm tiền gửi Quyđịnh cũ chỉ qui định đến trường hợp tổ chức tham gia BHTG bị phỏ sản Trongthực tế, rất nhiều tổ chức huy động tiền gửi bị chấm dứt hoạt động và mất khảnăng thanh toỏn nhưng khụng cú nghĩa là cỏc tổ chức này bị phỏ sản Trướcđõy, khi BHTG Việt Nam chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền tại tổ chứctham gia BHTG bị giải thể thỡ sau đú trong quỏ trỡnh thanh lý, số tiền thu hồi

cú thể được trả trước cho cỏc thành viờn, cổ đụng gúp vốn trong khi vị trớ chủ

nợ của BHTG và trật tự ưu tiờn thanh toỏn chưa được qui định một cỏch rừràng Vậy nờn sự thay đổi này đó xỏc định được vị trớ đỳng đắn của tổ chứcBHTG trong quỏ trỡnh này và việc thu hồi phần lớn vốn (cú thể là toàn bộ) sẽ

dễ thực hiện hơn và nhà nước sẽ khụng phải đứng ra để hỗ trợ khi xảy ratrường hợp đổ vỡ cỏc TCTD

Trang 7

2.2 Những điểm cũn hạn chế trong phỏp luật về BHTG.

Thứ nhất, quy định về đối tượng được bảo hiểm

Theo ước tớnh của quỹ tiền tệ quốc tế, tốc độ tăng dự trữ ngoại hối củanước ta thời gian trước năm 2006 là khoảng hơn 10%/năm và đến năm 2006đạt mức 6341 triệu đụ la, gần gấp đụi mức dự trữ năm 2001 Tiền gửi ngoại tệchiếm một tỷ lệ lớn trong tổng số nguồn vốn huy động Những năm qua chớnhsỏch mở cửa của Đảng và Nhà nước đó đi vào thực tế thực hiện và cú hiệuquả, cỏc cỏ nhõn nước ngoài đầu tư vào càng nhiều nguồn nhõn lực xuất khẩulao động cũng gia tăng Chớnh vỡ vậy tỷ lệ tiền gửi ngoại tệ của cỏ nhõn trongnước và nước ngoài thường trỳ tại Việt Nam ngày một tăng cao Tuy nhiờnhiện nay phỏp luật cho phộp cỏ nhõn gửi tiền bằng ngoại tệ tại cỏc ngõn hàngđược phộp hoạt động ngoại hối, nhưng lại khụng qui định số tiền này sẽ đượcbảo hiểm Điều này chưa hợp lý khi người dõn ngày càng cú điều kiện và nhucầu muốn gửi tiền vào cỏc ngõn hàng

Thứ hai, các quy định về mức phí BHTG:

Theo nghị định 89/1999/NĐ - CP của Chính phủ và các văn bản hớngdẫn thi hành thì mức phí BHTG hiện nay ở nớc ta là 0,15%/năm tính trên tổng

số d tiền gửi bình quân của các loại tiền đợc bảo hiểm tại tổ chức tham giaBHTG Mức phí này đợc điều chỉnh theo quyết định của Thủ tớng Chính phủtrên cơ sở đề nghị của tổ chức BHTG và ý kiến cảu Ngân hàng Nhà nớc, Bộ tàichính Các yếu tố để xác định mức phí BHTG và ý kiến của Ngân hàng Nhà n-

ớc, Bộ tài chính Các yếu tố để xác định mức phí BHTG ở các quốc gia trên thếgiới phụ thuộc vào mức độ rủi ro của hoạt động ngân hàng, mức độ rủi ro của

tổ chức tham gia BHTG Theo thông lệ quốc tế, việc thu phí BHTG đợc thựchiện theo nguyên tắc: rủi ro càng cao thì mức phí càng cao và ngợc lại Hiệnnay mức phí BHGT ở nớc ta là 0,15%/năm, u điểm của mức phí này là mọi tổchức tham gia BHTG đều phải đóng góp một mức phí nh nhau nên nhu cầu

đánh gía chính xác tình hình hoạt động tổ chức này là không cần thiết Trớchết nó tạo ra tâm lý ỉ lại xét dới góc độ quản lý rủi ro trong hoạt động của tổchức tham gia BHTG, đồng thời không có tác dụng khuyến khích các ngânhàng thi đua hoạt động tốt, cạnh tranh lành mạnh để đợc áp dụng mức phí bảohiểm thấp Hơn nữa, với một mức phí bảo hiểm nh nhau vô hình chung đã

“đánh đồng” các tổ chức hoạt động tốt, độ an toàn cao với các tổ chức hoạt

Trang 8

động kém hiêu quả và có độ rủi ro lớn Mặt khác, nếu chỉ căn cứ vào một mứcphí bảo hiểm chung, ngời gửi tiền sẽ khó có sự lựa chọn hoặc có ý thức thậntrọng hơn trong việc giao dịch với ngân hàng và các tổ chức tín dụng.

Thứ ba, vấn đề xác định loại “tiền gửi là đối tợng đợc BHTG”:

Do khái niệm tiền gửi của cá nhân quy định trong luật các TCTD vàThông t 03/2000/TT – NHNN của Ngân hàng Nhà nớc không thống nhất vàthiếu chặt chẽ, nên việc xử lý của các TCTD cũng không đồng bộ Nh ợc điểmcủa định nghĩa tiền gửi đợc bảo hiểm theo phơng pháp liệt kê là không thể dựliệu đợc hết các trờng hợp phát sinh trong thực tế Chẳng hạn tiền gửi tiết kiệmdới mọi hình thức BHTG Tuy nhiên, tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn baogồm tiền gửi trên tài khoản của cá nhân vẫn là một khái niệm không thể định l-ợng đợc Có thể kể ra ở đây một số tình huống điển hình làm minh chứng.Tình huống thứ nhất, tiền gửi của doanh nghiệp t nhân, công ty hợp danh

có thuộc đối tợng đwocj bảo hiểm không? tiền thực tế, có hai trờng hợp xử lýkhác nhau

Trờng hợp thứ nhất, có TCTD hạch toán loại tiền gửi này vào tài khoảntiền gửi của cá nhân và nh vậy loại tiền gửi này thuộc diện đợc bảo hiểm Vớicác xử lý nh trên, có lẽ các TCTD đã căn cứ vào tiêu chí sở hữu theo các quy

định của pháp luật Bởi vì tiền gửi ở các TCTD của doanh nghiệp t nhân, công

ty hợp danh thuộc phạm trù sở hữu của cá nhân

Trờng hợp thứ hai, co TCTD lại hoạch toán tiền gửi của doanh nghiệp tnhân, công ty hợp danh vào tài khoản của tổ chức và không đợc bảo hiểm, rõràng là trờng hợp này các TCTD đã dựa trên tiểu chí chủ thể Mặc dù doanhnghiệp t nhân, công ty hợp danh không phải là tổ chức có t cách phap nhân nh-

ng lại đợc thành lập và hoạt động theo Luật Doanh Nghiệp Và khi họ tham giaquan hệ tiền gửi ở các TCTD cũng nh cấc quan hệ kinh tế khác thì không phải

t cách cá nhân mà là với t cách doanh nghiệp(tổ chức) Theo pháp luật dân sựthì cá nhân thì đợc hiểu là một con ngời cụ thể, còn doanh nghiệp t nhân, công

ty hợp danh lại là một tổ chức doanh nghiệp Do đó, tiền gửi trên tài khoản củaTCTD là tiền gửi của tổ chức và không thuộc đối tợng đợc bảo hiểm

Rõ ràng là sự thiếu khoa học và thiếu thông nhất trong các quy định củapháp luật về các loại tiền gửi của cá nhân đợc bảo hiểm đã dẫn đến tình trạng

xử lý thiếu đồng bộ của các TCTD nói trên nh vậy, cần thiết phải có các quy

định cụ thể của pháp luật điều chỉnh vấn đề này, không nên dựa vào yếu tố sởhữu ma fnên căn cứ vào yếu tố chủ thể để xác định tiền gửi của công ty cổphần (t nhân), công ty trách nhiệm hữu hạn hay doanh nghiệp 100% vốn nớcngoài cũng thuộc sở hữu t nhân và tiền gửi của doanh nghiệp t nhân, công tyhợp danh ở các TCTD là thuộc tiều gửi của tổ chức, không thuộc tiền gửi củacá nhân và không thuộc diên đợc bảo hiểm

Trang 9

Tình huống thứ hai, các khoản tiền ký quỹ của cá nhân tại TCTD có thuộc

Tình huống thứ ba, tiền gửi của đồng chủ tài khoản, là cá nhân ở cácTCTD có thuộc đối tợng BHTG không?

Thực tiễn khi gặp trờng hợp đồng chủ tài khoản, trong đó có bên đồngchủ tài khoản là cá nhân thì có TCTD bóc tách khoản tiền của cá nhân để chohởng bảo hiểm, có trờng hợp ATCTD coi đây là tiền gửi của tổ chức và khôngcho hởng bảo hiểm ở các trờng hợp nà các TCTD đã lúng tong vì không có sựhớng dẫn cụ thể và rõ ràng từ phía các cơ quan có thẩm quyền trong quản lýNhà Nớc về tiền tệ Tuy nhiên, nếu căn cứ vào nguyên tắc chung là: Tiền gửicủa cá nhân đợc bảo hiểm thì dù là cá nhân trong trờng hợp đồng chủ tài khoảnvẫn phải đợc bóc tách để hởng BHTG Tất nhiên là tài khoản đó có đồng chủtài khoản là tổ chức, còn nếu tất cả đồng chủ tài khoản là cá nhân thì toàn bộtiền gửi của tài khoản đó thuộc đối tợng của pháp luật liên quan đến tiền gửicủa cá nhân thuộc diện đợc BHTG

Tình huống thứ t, tiền gửi của tổ chức, tập thể, hộ gia đình, tổ hợp tác

nh-ng đứnh-ng tên cá nhân có thuộc diện BHTG khônh-ng?

Vấn đề đặt ra của tình huống này là xác định chủ thể – ngời đứng tênchủ tài khoản hay là sở hữu thực tế của số tiền trên tài khoản đó? Thực tế ởtrong hoàn cảnh này các TCTD rất có thể xác định đợc chủ thể thực hiện giaodịch tử tiền là cá nhân hya tỏê chức, chính vì thế có thể có những biến tớngxảy ra, nh việc ding tiền gửi của tập thể trên danh nghĩa cá nhân để hởng bảohiểm tuy nhiên, nếu TCTD không chứng minh đợc đó là tiền gửi của tổ chức,tập thể,khi số tiền trên tài khoản tiền gửi đó đứng tên một cá nhân cụ thể vàphải coi đó là tiền gửi của cá nhân và không nên từ chối bảo hiểm

2.3 Nguyên nhân của thực trạng pháp luật và thực tiền thi hành pháp luật về BHTG ở Việt Nam.

Có rất nhiều nguyên nhân, kể cả chủ quan và khách quan tác động đếnthực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG ở Việt Nam Nh-

Trang 10

ng nhìn chung ở góc độ tổng quát, có thể chỉ ra một số nguyên nhân chủ yếu

nh sau:

Thứ nhất, do BHTG là loại hình bảo hiểm khá mới mẻ ở Việt Nam, pháp

luật về BHTG đợc xây dung trên cở sở tham khảo kinh nghiệm của các nớc đitrớc mà không phải xuất phát từ thực tế khách quan, các văn bản pháp luật vềBHTG ban hành cha qua thực tế cuộc sống kiểm nghiệm Vì thế, pháp luậtBHTG còn sơ sài Thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG còn cho thấy sự thiếu

đồng bộ trong cơ chế, chính sách pháp luật của Nhà nớc, các quy định cha rõràng và thiếu ổn định Chẳng hạn, trong công tác chi trả tiền bảo hiểm và thuhồi nợ sau khi thanh lý các TCTD bị giải thể hay phá sản có nhiều vớng mắc

và không có sự thông nhất Đây là nguyên nhân dẫn tới những khó khăn nhất

định trong việc triển khai thực hiện nghiệp vụ BHTG ở nớc ta hiện nay Đểpháp luật về BHTG ở Việt Nam áp dụng có hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi íchhợp pháp của ngời gửi tiền một cách hữu hiệu, đồng thời duy trì sự an toàn, ổn

định trong hệ thống ngân hàng, cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về BHTGbảo đảm tính khoa học, đồng bộ, thống nhất phù hợp thực tiễn

Thứ hai, do nên kinh tế – xã hội có bớc phát triển mới, nhiều quy định

của pháp luật về BHTG đã trở lên lạc hậu so với thực tiễn cuộc sống Hơn nữa

do hệ thống pháp luật ở nớc ta đang trong quá trình hoàn thiện, thờng xuyênthay đổi dẫn đến sự mâu thuẫn thiếu đồng bộ trong các quy định của pháp luật

ở các văn bản pháp luật khác nhau

Thứ ba, còn nhiều quan điểm, ý kiến khác nhau về mô hình BHTG ở nớc

ta, sụ nhận thức về tầm quan trọng của BHTG ở một số cơ quan, cán bộ Nhà

n-ớc còn hạn chế nên lĩnh vực BHTG cha thực sự đợc chú ý và quan tâm đúngmức

Thứ t, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm hoạt động của tổ chức BHTG

còn hạn chế nên hiệu quản thu đợc không cao, việc chấp hành các quy địnhcủa pháp luật về BHTG còn cha nghiêm túc Cụ thể:

- Về công tác kiểm tra: Kiểm tra tổ chức tham gia BHTG là công tác thenchốt, quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa quyết định đến việc tổ chức BHTH có

đạt đợc mục tiêu đề ra hay không? Nghị định 89/1999/NĐ - CP của chính phủquy định rất rõ việc cảnh báo, kiểm tra, phát hiện sớm các TCTD có khả năngdẫn đến sự mất an toàn và có giải pháp, chán chỉnh là một trong những chứcnăng chủ yếu của tổ chức BHTG Tuy nhiên hiện nay, chức năng này cha đợcchú trọng thực hiện là nguyên nhân dẫn đến những yếu kém, sai phạm của tổchức tham gia BHTG trong hoạt động của mình Hạn chế trong công tác kiểmtra của BHTG Việt Nam trong thời gian qua thể hiện ở các khía cạnh: Số lợng

đợt kiểm tra còn ít, chất lợng kiểm tra cha cáo, tính chuẩn hoá về nội dung vàphơng thức kiểm tra cha kịp thời khoa học

Trang 11

Tính đến 30/9/2003 BHTG Viện nam đã tiến hành kiểm tra 826 tổ chứctham gia BHTG trong tổng số 1033 tổ chức Với tiến độ này, để kiểm tra hếtmột lần tất cả khách hàng của mình, tổ chức BHTG cần phải mất 4 năm cónhiều nguyên nhân lý giải cho thực trạng này.

Xét ở góc độ chủ quan, có thể nói công tác kiểm tra tang linh vực BHTG

là một nghiệp vụ khó, đòi hỏi phải có kiến thức và kinh nghiệm tổng hợp.Tring khi tổ chức BHTG Việt Nam ra đời không lâu, đội ngũ cán bộ nhân viêncha đợc đào tạo sâu về chuyên môn nên khả năng phân tích, đánh giá tình hìnhcũng nh kinh nghiệm quản lý còn nhiều hạn chế

ở góc độ khách quan, mặc dù nghị định 89/1999/NĐ - CP và các văn bảnhớng dẫn có quy định trách nhiệm kiểm tra của tổ chức BHTG Việt Nam Tuynhiên trong thời gian đầu còn nhiều ý kiến thiếu đồng thuận trong hoạt độngnày, vì vậy, BHTG Việt Nam đã thận trọng, không triển khai công tác kiểm tratheo tiến độ đã dự định

Về công tác giám sát: công tác giám sát các tổ chức tham gia BHTG hầu

nh cha đợc tiến hành trong hai năm đâu hoạt động BHTG, ngoại trừ việc giámsát nộp phí thông qua số liệu báo cáo của các tổ chức tham gia BHTG Đếnngày 08/03/2002, công tác giám sát của BHTG Việt Nam mới có báo cáo đầutiên về tình hình hoạt động của các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở Thực chất

đây cũng chỉ là báo cáo đợc tổng hợp dựa trên cơ sở báo cáo của ngân hàngnhà nớc chứ không hoàn toàn trên cơ sở số liệu thu thập từ khách hàng màBHTG Việt Nam có đợc Nguyên nhân chậm triển khai công tác giám sát cóthể kể tới nh: Mô hình và quy định khung cho hoạt động giám sát cha đợchoạch định và xây dựngkịp thời; cán bộ cơ quan BHTG Việt Nam còn hạn chế

về số lợng và khả năng phân tích, đánh giá tình hình; Các điều kiện về thôngtin cho hoạt động giám sát còn khó khăn

- Về việc chấp hành các quy định pháp luật về BHTG của các tổ chứctham gia BHTG cha nghiêm chỉnh Do trong giai đoạn đầu hoạt động BHTG,các đơn vị tham gia cha có ý thức chấp hành các quy định lập báo cáo gửi tổchức BHTG Việt Nam Đây là khó khăn cơ bản ảnh hởng đến chất lợng tiến độtriển khai hoạt động giám sát của BHTG Việt Nam trong thời gian qua Ví dụ,

từ khi tham gia BHTG Việt Nam ngày 01/08/2000 đến 30/04/2002, 187 kháchhàng tham gia BHTG Việt Nam chỉ gửi tới BHTG Việt Nam 42 bản báo cáocác loại không tính bản kê nộp phí, trong khi đó theo quy định tổng số báo cáonày phải là hơn 1400 bản

3 Phơng hớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo hiểm tiền gửi tại các Ngân Hàng Thơng Mại

3.1 Những định hớng cơ bản

Trang 12

Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG ở ViệtNam cho thấy, bên cạnh những thành tựu đã đạt đợc, pháp luật về BHTG cònnhiều hạn chế bất cập, có nhiều quy định không còn phù hợp với điều kiện nềnkinh tế - xã hội của đất nớc.

Trên cơ sở tổng kết đánh giá thực trạng pháp luật về thực tiễn thi hànhpháp luật về BHTG ở nớc ta trong 9 năm qua, từ đó rút ra những điểm mạnh,

điểm yếu để định ra hớng hoàn thiện pháp luật và các biện pháp bảo đảm thựchiện pháp luật, nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế đến mức thấp nhấtnhững điểm yếu của pháp luật về BHTG ở Việt Nam, đáp ứng những đòi hỏicủa thực tế khách quan Theo chúng tôi, trong thời gian tới việc hoàn thiện hệthống pháp luật về BHTG cần đi theo những định hớng cơ bản sau đây:

Hoàn thiện pháp luật về BHTG phải xuất từ thực tiễn và đòi hỏi khách quan của cuộc sống hiện nay.

Pháp luật chẳng qua chỉ là sự phản ánh dới hình thức pháp lý các quan

hệ xã hội Những biến đổi của xã hội, nhất là những biến đổi trong nền kinh tếtất yếu dẫn đến sự lỗi thời của pháp luật Do tác động từ nhiều yếu tố của nềnkinh tế thị trờng, các quy định pháp luật về BHTG ở Việt Nam hiện tại bộc lộnhiều hạn chế và bất cập Do vậy, trong quá trình hoàn thiện, cần thiết phải đa

ra các sửa đổi, bổ sung hợp lý để phù hợp với tình hình mới Bên cạnh việc xâydựng một cơ chế, chính sách pháp luật nhất quán, đồng bộ, vẫn cần thiết phảicủng cố, duy trì các quy định hợp lý khác Nghĩa là việc đổi mới, kiện toàn cơchế, chính sách về BHTG cần kết hợp giữa việc sửa đổi các nội dung pháp luậtkhông phù hợp và bổ sung kịp thời các quy định cần thiết để điều chỉnh Việchoàn thiện trong thời gian tới có phải tính đến những thay đổi của nền kinh tếthị trờng, các yếu tố mới phát sinh trong đời sống tác động vào thực trạng phápluật và thực tiễn thi hành pháp luật về BHTG ở Việt Nam Có nh vậy, Nhà nớcmới xây dựng đợc một cơ chế, chính sách nhất quán, đồng bộ trong lĩnh vựcBHTG

Hoàn thiện pháp luật về BHTG phải trên cơ sở đờng lối chính sách của

Đảng và Nhà nớc.

Về mặt lý luận, nguyên tắc Đảng lãnh đạo là nguyên tắc cơ bản củapháp luật nớc ta Vì thế pháp luật về BHTG phải đợc xây dựng, tổ chức thựchiện và hoàn thiện trên cơ sở đờng lối của Đảng; cụ thể là đờng lối kinh tế mà

Đảng và Nhà nớc đề ra, lãnh đạo và thực hiện

Hoàn thiện pháp luật về BHTG phải đặt trong mối quan hệ với việc hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Bởi vì, các quan hệ xã hội không tồn tại độc lập tách rời nhau, nên cácnhóm quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội khác nhau luôntồn tại trong mối quan hệ lẫn nhau Đó chính là cơ sở tạo nên tính hệ thống của

Ngày đăng: 07/04/2013, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w