1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

I. BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ TNDN THEO PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP HIỆN HÀNH

14 799 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bình luận các quy định về đối tượng nộp thuế tndn theo pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Luật Thuế
Thể loại bài viết
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 14
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật thuế nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung

Trang 1

A LỜI MỞ ĐẦU

Pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp là một bộ phận của pháp luật thuế nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung Tại Việt Nam, pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp được xuất phát từ các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật để thể chế hóa và thực hiện các chính sách này, qua đó thực hiện chức năng điều tiết với nền kinh tế, thu nhập và tiêu dùng

xã hội Sau đây bài viết xin được đề cập sâu đến đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

B NỘI DUNG

I BÌNH LUẬN CÁC QUY ĐỊNH VỀ ĐỐI TƯỢNG NỘP THUẾ TNDN THEO

PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP HIỆN HÀNH

1 Quy định chung của pháp luật về đối tượng chịu thuế thu nhập doanh

nghiệp

Đối tượng nộp thuế được xác định là các tổ chức hoặc cá nhân trực tiếp có nghĩa vụ nộp thuế theo quy định của luật thuế Mỗi loại thuế cố thể có đối tượng nộp thuế khác nhau, tùy thuộc vào đối tượng tính thuế Thực tế hoạt động lập pháp cho thấy việc xác định rõ đối tượng nộp thuế có ý nghĩa quan trọng, thể hiện sự đối xử, yêu cầu gánh chịu thuế và điều hòa thu nhập, luồng vốn đầu tư trong đời sống kinh

tế, xã hội

Xác định đối tượng nộp thuế cũng cần phân biệt với đối tượng chịu thuế, đối tượng không nộp thuế

Đối tượng chịu thuế là các tổ chức, cá nhân thực tế phải gánh chịu số tiền thuế

Họ có thể chính là đối tượng nộp thuế hoặc không phải đối tượng nộp thuế Đối tượng thường không được nêu rõ trong văn bản pháp luật thuế nhưng lại có mối quan tâm trong việc điều chỉnh thu nhập của các nhà lập pháp và các cơ quan thu

Trang 2

Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thường được pháp luật quy định rất cụ thể rõ rang từng trường hợp Đối tượng không thuộc diện nộp thuế là các tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện của đối tượng nộp loại thuế đó đống thời có các điều kiện khác

đi kèm Chính những điều kiện khác này đã loại trừ nghĩa vụ nộp một loại thuế nhất định Ở Việt nam, việc xác định đối tượng không thuộc diện nộp một loại thuế thường xuất phát từ chính sách khuyến khích,ưu đãi của nhà nước hoặc do cam kết của Việt nam với các quốc gia, tổ chức quốc tế

Luật các nước không có sự đồng nhất trong việc xác định phạm vi đối tượng nộp thuế Chẳng hạn, Luật thuế thu nhập công ty của Thụy Điển quy định :” các công ty, các chủ thể kinh doanh có vốn từ 50.000 Curon trở lên và có lao động làm thuê thì được coi là đối tượng nộp thuế thu nhập công ty” Còn bộ luật thuế thu nhập của Thái lan quy định :” Đối tượng nộp thuế thu nhập công ty chỉ bao gồm các công

ty và các tổ chức hùn vốn có tư cách pháp nhân” Pháp luật Mỹ, Nhật cũng quy định chủ thể kinh doanh là các tổ chức kinh tế thì phải nộp thuế thu nhập công ty Còn Pháp luật Việt Nam quy định đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp tại điều 2 Luật TTNDN 2008 là các chủ thể sau:

“1 Tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm:

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam;

b) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đây gọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam;

c) Tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã;

d) Đơn vị sự nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; đ) Tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập.

2 Doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

Trang 3

a) Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế doanh nghiệp đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam;

b) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó;

c) Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế doanh nghiệp đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú;

d) Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.

3 Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập, bao gồm:

a) Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu, khí hoặc địa điểm khai thác tài nguyên thiên nhiên khác tại Việt Nam;

b) Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp;

c) Cơ sở cung cấp dịch vụ, bao gồm cả dịch vụ tư vấn thông qua người làm công hay một tổ chức, cá nhân khác;

d) Đại lý cho doanh nghiệp nước ngoài;

đ) Đại diện tại Việt Nam trong trường hợp là đại diện có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài hoặc đại diện không có thẩm quyền ký kết hợp đồng đứng tên doanh nghiệp nước ngoài nhưng thường xuyên thực hiện việc giao hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ tại Việt Nam.”

Theo đó, việc quy định đối tượng nộp thuế TNDN thường có sự phân biệt đối tượng thường trú và đối tượng không thường trú Đối tượng được coi là thường trú

Trang 4

có nghĩa vụ nộp thuế TNDN đối với các khoản thu nhập mà không phân biệt thu nhập đó phát sinh ở nước sở tại hay nước ngoài Còn đối tượng được coi là không thường trú chỉ phải nộp thuế đối với khoản thu nhập phát sinh ở nước sở tại Chẳng hạn, trong pháp luật thuế của Thái Lan quy định: các công ty, tổ chức có tư cách pháp nhân thành lập theo Luật Thái Lan nếu có thu nhập từ nguồn Thái Lan hay từ nguồn nước ngoài đều phải kê khai và nôp thuế thu nhập cho chính phủ Thái Lan, không phân biệt thu nhập đó được mang vào lãnh thổ Thái Lan hay để ở nước ngoài

Tuy nhiên, căn cứ để xác định thế nào là thường trú và không thường trú ở mỗi nước khác nhau Ví dụ: ở các nước Mỹ, Nhật, Thái Lan… quy định đối tượng thường trú là đối tượng được thành lập hay hợp nhất tại nước đó Ở một số nước khác như Malaysia, Singapore…căn cứ để xác định đối tượng là thường trú là vai trò quản lý, điều hành của cơ sở đặt ở nước sở tại đối với toàn bộ hoạt động của đối tượng nộp thuế

Ở Việt Nam, các tổ chức kinh doanh được coi là đối tượng thường trú theo các tiêu chuẩn: hoặc thành lập hoặc đăng ký kinh doanh tại Việt Nam hoặc có cơ sở đặt tại Việt Nam đóng vai trò thực tế điều hành hoạt động kinh doanh

Như vậy so với Luật năm 2003, Luật Thuế TNDN năm 2008 đã có điểm mới về đối tượng nộp thuế đó là : Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008

(Luật năm 2008) không quy định đối tượng nộp thuế là cá nhân Vì trước đó, Quốc hội đã thông qua Luật Thuế thu nhập cá nhân, trong đó các cá nhân, hộ kinh doanh đang nộp thuế TNDN được chuyển sang nộp thuế theo Luật Thuế thu nhập cá nhân

Do đó, đối tượng nộp thuế TNDN theo Luật năm 2008 chỉ bao gồm các tổ chức, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế

2 Quy định cụ thể của pháp luật hiện hành liên quan đến đối tượng nộp thuế TNDN

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp được Quốc hội thông qua ngày 3/6/2008 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 đã đặt dấu ấn quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp nhằm đáp

Trang 5

ứng đòi hỏi thực tiễn phát sinh trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 ra đời là đòi hỏi tất yếu nhằm thống nhất các quy định giữa Luật thuế thu nhập doanh nghiệp với Luật thuế thu nhập cá nhân (cũng có hiệu lực từ ngày 01/01/2009) và Luật quản lí thuế Bên cạnh những điểm mới quan trọng đạt được, luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 còn bỏ ngỏ những nội dung cần thiết liên quan đến việc xác định đối tượng chịu thuế và thu nhập chịu thuế của các đối tượng chịu thuế Một trong những trường hợp cụ thể có thể đề cập đến là trong hoạt động chào bán cổ phần của công ty cổ phần:

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành xác định thu nhập chịu thuế ngoài

hoạt động sản xuất, kinh doanh như sau: “Thu nhập chịu thuế khác bao gồm thu

nhập từ chênh lệch mua, bán chứng khoán, quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất…” Theo khái niệm này có

thể hiểu chênh lệch do mua bán chứng khoán của doanh nghiệp dưới hai góc độ:

Thứ nhất, doanh nghiệp với tư cách là nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán,

thực hiện các hành vi mua bán chứng khoán và phát sinh thu nhập chịu thuế Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành cũng chưa làm rõ tư cách chủ thể của doanh nghiệp trong trường hợp này bằng những quy định

cụ thể Quy định này gây không ít khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật Giả định, doanh nghiệp với tư cách là tổ chức đầu tư chứng khoán, khi thực hiện các giao dịch thành công, họ đã phải trả khoản phí giao dịch cho công ti chứng khoán không phụ thuộc vào việc có lãi hay thua lỗ khi mua bán chứng khoán Luật thuế thu nhập doanh nghiệp quy định một trong những thu nhập thuộc diện chịu thuế của doanh nghiệp là thu nhập từ chênh lệnh mua bán chứng khoán Trên thực tế, chênh lệch này có thể là chênh lệch âm hoặc chênh lệch dương, trong trường hợp chênh lệch âm, căn cứ nào sẽ được xác định để tính thuế thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp trong trường hợp này?

Trang 6

Thứ hai, doanh nghiệp với tư cách là tổ chức phát hành thực hiện hành vi chào

bán chứng khoán, từ đó phát sinh thu nhập chịu thuế Thu nhập này phát sinh do chênh lệch giữa mệnh giá với giá bán của cổ phiếu và tổ chức phát hành được hưởng hoàn toàn vì họ có quyền xác định giá chào bán cổ phần Việc xác định thu nhập chịu thuế trong trường hợp trên là hợp lí Tuy nhiên, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định những trường hợp cụ thể xác định thu nhập chịu thuế dẫn đến tình trạng nhiều công ti cổ phần không nộp thuế thu nhập doanh nghiệp sau khi đã chào bán cổ phần thành công và đã thu được giá trị thặng dư trên tổng vốn huy động (bao gồm cả việc chào bán cổ phần cho nhà đầu tư chiến lược hoặc chào bán cổ phiếu rộng rãi ra công chúng)

Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 không xác định cụ thể thu nhập chịu thuế liên quan đến hoạt động mua bán chứng khoán Thu nhập chịu thuế trong

thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 được quy định như sau: “Thu nhập khác bao

gồm thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản; thu nhập từ quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; thu nhập từ chuyển nhượng, cho thuê, thanh lí tài sản….”

Nhìn chung, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 cũng có cách xác định thu nhập chịu thuế giống như Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003, tuy nhiên phần thu nhập khác trong thu nhập chịu thuế có một số bổ sung bao gồm: 1) Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, quy định này có phạm vi rộng hơn quy định về thu nhập từ chênh lệch mua, bán chứng khoán trước đây Với quy định này, các thu nhập

từ việc chuyển nhượng vốn khác không thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật chứng khoán cũng bị điều chỉnh như các vốn nếu phát sinh thu nhập cho công ti cổ phần thì phần thu nhập này hoàn toàn chưa được đề cập trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 Hệ quả là các công ti cổ phần chào bán cổ phiếu ra công chúng hoặc chào bán cổ phiếu cho các nhà đầu tư chiến lược với mức giá do công ti xác định cao hơn mệnh giá sẽ tạo ra lượng giá trị thặng dư vốn khá lớn tuỳ theo số lượng

cổ phiếu và giá trị cổ phiếu được đưa ra chào bán, thu nhập này mặc nhiên được hiểu

Trang 7

là không thuộc diện chịu thuế Nên chăng, để tránh hiểu sai các quy định pháp luật

và hiện tượng các doanh nghiệp “lách luật”, tránh thuế, Luật thuế thu nhập doanh nghiệp cần bổ sung loại thu nhập trên vào diện thu nhập chịu thuế

Mặt khác, có thể thấy rằng phần quy định về các chi phí được trừ trong Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 không có quy định nào đề cập những chi phí phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện chào bán cổ phiếu Trên thực tế, khi doanh nghiệp chào bán cổ phiếu, các chi phí để thực hiện hoạt động này khá lớn trong đó phải kể đến phí dịch vụ tư vấn phát hành, phí công bố thông tin, phí bảo lãnh phát hành (nếu doanh nghiệp lựa chọn tổ chức bảo lãnh phát hành), phí kiểm toán, phí

phân phối cổ phiếu… Ví dụ: Công ti cổ phần khu công nghiệp Tân Tạo đã chi cho

hoạt động chào bán 20 triệu cổ phiếu ra công chúng là 5.260.927.500 đồng Công ti

cổ phần sách giáo dục tại thành phố Hà Nội khi chào bán cổ phiếu ra công chúng đã chi hết 187.743.350 đồng trong đó phí bảo lãnh phát hành là 127.743.350 đồng, chi

tư vấn phát hành là 50.000.000 đồng.Qua một vài ví dụ có thể thấy chi phí thực hiện chào bán cổ phần mà doanh nghiệp phải bỏ ra là rất đáng kể Nhưng những chi phí này không phải là chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp vì nó không phải là “khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp” Khoản chi này cũng không thuộc diện những chi phí không được trừ theo khoản 2 Điều 9 Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 Do đó, đây là những chi phí nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp

II Ý KIẾN PHÁP LÝ NHẲM THỰC THI TỐT PHÁP LUẬT THUẾ

THU NHẬP DOANH NGHIỆP.

Có một hệ thống pháp luật hoàn hảo là điều mong muốn của tất cả các nước trên thế giới Vì vậy, nhà nước ta luôn từng bước dần hoàn thiện pháp luật thuế và thiết lập những điều kiện cần thiết để pháp luật thuế ấy được đảm bảo thi hành Hoàn thiện pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp là một trong những việc thiết thực, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế Việt nam

Trang 8

Đế nhằm thực thi luật thuế thu nhập doanh nghiệp một cách tốt hơn, khắc phục được những hạn chế còn tồn tại trong các quy định của pháp luật, sau đây em xin có một số ý kiến pháp lý sau:

1 Sửa đổi quy định về thu nhập chịu thuế.

Để thu nhập chịu thuế và lợi nhuận thực tế của doanh nghiệp đồng nhất với nhau là rất khó Muốn đạt được điều đó, nhà nước phải hi sinh một số quyền lợi nhất định như không đánh thuế đối với một số khoản chi nhất định Khi đó doanh nghiệp sẽ cảm thấy thoải mái hơn khi nộp thuế và sẽ không tìm cách hợp thức hóa các khoản chi không được trừ theo luật thuế thu nhập doanh nghiệp Ví dụ: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2008 cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn

về thu nhập chịu thuế, theo đó bổ sung thêm một số thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế mà điển hình là thu nhập phát sinh từ hoạt động chào bán cổ phiếu của các công ti cổ phần, quy định cụ thể hơn về các chi phí liên quan đến hoạt động chào bán cổ phần của công ti cổ phần có được trừ hay không được trừ khi tính thu nhập chịu thuế, xem xét bổ sung những ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp đối với những doanh nghiệp tiến hành chào bán cổ phiếu Một vài kiến nghị về việc xác định chi phí được trừ đối với những chi phí gắn với hoạt động chào bán cổ phiếu của công ti cổ phần như sau:

Thứ nhất, các chi phí được trừ bao gồm: chi phí tư vấn phát hành, chi phí

bảo lãnh phát hành, chi phí phân phối cổ phiếu, chi phí kiểm toán, chi phí công

bố thông tin và các chi phí khác liên quan đến hoạt động chào bán cổ phiếu

Thứ hai, điều kiện đặt ra đối với các loại chi phí này là phải là những chi

phí thực chi, phải có hoá đơn chứng từ đầy đủ

Thứ ba, những chi phí này yêu cầu phải có xác nhận của các tổ chức liên

quan, tổ chức tư vấn, bảo lãnh phát hành, ngân hàng nơi mở tải khoản phong toả nhận tiền mua cổ phiếu của các nhà đầu tư…

Trang 9

2 Sửa đổi quy định về thuế suất

Hiện nay, so với các quốc gia trong khu vực, mức thuế suất 25% ở nước ta là khá cao Singapore có thuế suất thu nhập doanh nghiệp là 19%, Hồng Kong là 17.5

% Vì vậy nên hạ mức thuế suất thuế TNDN của Việt Nam nhằm khuyến khích, động viên ý thức tự giác của doanh nghiệp nộp thuế, đảm bảo nguồn thu và phù hợp với thông lệ quốc tế; đồng thời giảm thiểu tần suất sửa đổi, bổ sung luật thế TNDN trong khoảng thời gian ít nhất là 5 năm, kể từ khi luật có hiệu lực

Việc xác định thuế suất cần phải được cân nhắc kỹ lưỡng để đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích giữa nhà nước và người nộp thuế, tính toán trên cơ sở tổng số tiền thuế phải trả của người dân ở hiện tại và tương lai, thu nhập của người dân trên tổng

số tiền thuế mà họ phải trả mà không chỉ đơn thuần xuất phát từ nhu cầu của chính phủ

3 Hoàn thiện các quy định về chế độ ưu đã, miễn giảm thuế

Một là thống nhất các quy định về miễn, giảm thuế bằng cách đưa các quy định về miễn giảm thuế vào trong nội dung của Luật thuế TNDN Ở các luật chuyên ngành khác chỉ nên ghi nguyên tắc ưu đãi, hoặc nêu danh mục các ngành nghề cần

ưu đãi khuyến khích Các quy phạm luật thuế phải rõ rang, giảm thiểu những quy định dẫn chiếu từ văn bản pháp luật này sang văn bản pháp luật khác hoặc hạn chế dẫn chiếu những quy định chung Các quy định phải được quy định cụ thể rõ rang,

dễ hiểu để đảm bảo tính minh bạch giúp đa số dân chúng đều có thể hiểu được quyền và nghĩa vụ thuế của mình

Hai là cần cân nhắc và chọn lựa nội dung miễn giảm thuế TNDN Miễn, giảm thuế là yếu tố hấp dẫn nhưng không phải yếu tố quyết định đầu tư Thay vì hỗ trợ các doanh nghiệp mới thành lập bằng biện pháp miễn, giảm thuế ta nên chuyển dần sang biện pháp hỗ trợ tài chính khác như ưu đãi theo tiêu chí ngành nghề, lĩnh vực Ví dụ: Trung Quốc bên cạnh việc hạ thuế suất TNDN từ 33% xuống 25%, đã mạnh dạn xòa

bỏ hầu hết các ưu đãi thuế, kể cả với doanh nghiệp nước ngoài trước đây

Trang 10

Ba là nâng cao sự phối hợp giữa cơ quan chức năng đặc biệt là cơ quan đăng

ký kinh doanh và cơ quan thuế trong việc kiểm soát các doanh nghiệp mới thành lập, tránh tình trạng lợi dụng quy định miễn thuế cho doanh nghiệp mới thành lập hoặc thành lập ở những vùng kinh tế ưu đãi nhưng thực tế mọi hoạt động lại diễn ra trên địa bàn các địa phương khác để tránh thuế

Bốn là các quy định về miễn, giảm thuế dành cho các đối tượng chính sách cần được đưa ra ngoài Luật TTNDN Hạn chế đến mức thấp nhất những chính sách

ưu đãi qua thuế TNDN Việc lồng ghép giữa chính sách thuế và chính sách xã hội không phù hợp với thông lệ quốc tế cũng như các cam kết của chính phủ với các tổ chức quốc tế về thuế Cùng một mức thu nhập như nhau thì không thể duy trì sự phân biệt đối xử: người phải nộp nhiều người phải nộp ít…Nếu cần giải quyết các vấn đề về chính sách xã hội, thể hiện tính nhân đạo, từ thiện trợ giúp…thì nhà nước nên giải quyết bằng các con đường khác Có như vậy mới tạo ra một sân chơi bình đẳng công khai cho mọi người cùng tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh

4 Hoàn thiện các quy định về quản lý thu nộp thuế

Thứ nhất, đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, đề cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan thuế các cấp, tăng cường công tác kiểm tra, chỉ đạo, thanh tra giám sát Xác định rõ chức năng nhiệm vụ của cơ quan thuế các cấp, thực hiện phân cấp tăng cường quyền hạn, trách nhiệm cho cơ quan thuế cấp dưới

Thứ hai, ban hành văn bản pháp luật quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý thuế theo hướng tự do hóa Theo đó cơ quan quản lý thuế hoạt động như một doanh nghiệp, tiến hành xác định lợi ích- chi phí trong hoạt động quản lý thuế của mình, chuyên nghiệp hóa đội ngũ cán bộ thuế, đánh kết quả căn cứ vào các chỉ số hoạt động của bộ máy dân sự: cán bộ, nhân viên được trả lương căn cứ vào thành tích của họ Đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý thuế bằng cách

áp dụng các nguyên tắc của thị trường giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan

Ngày đăng: 07/04/2013, 14:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w