Sự gia tăng liên tụcmức giá chung của nền kinh tế đã làm thay đổi mức sống, thu nhập thực tế và chitiêu mua sắm hàng hoá dịch vụ của một nước có thể bị suy giảm, nền kinh tế pháttriển ch
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lạm phát là một hiện tượng kinh tế vĩ mô phổ biến, "nóng bỏng" và có ảnhhưởng to lớn tới bề mặt của đời sống kinh tế xã hội hiện nay Sự gia tăng liên tụcmức giá chung của nền kinh tế đã làm thay đổi mức sống, thu nhập thực tế và chitiêu mua sắm hàng hoá dịch vụ của một nước có thể bị suy giảm, nền kinh tế pháttriển chậm bởi lạm phát Trên thế giới đã từng xảy ra những cuộc khủng hoảnglớn và ngay cả hiện nay cũng vậy Lạm phát cao, không kiểm soát được là mộtbất lợi đối với bất cứ nền kinh tế nào Trong lịch sử một số nước phát triển , lạmphát tăng đã tác động sâu rộng đến nền kinh tế của họ
Việt Nam cũng như phần lớn các nước khác khi vừa trải qua chiến tranh, luônphải đối mặt với tỷ lệ lạm phát rất cao, lên đến 3 con số Nhất là thời kỳ siêu lạmphát 1986 - 1989 Hiện nay nền kinh tế nước ta đã chuyển thành kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa, trải qua 20 năm , đối mặt với mức lạm phátcao, hiện nay nền kinh tế có mức lạm phát chỉ ở mức vừa phải, theo số liệu thống
kê của Cục thống kê thì năm 2007 nước ta đã có mức tăng trưởng kinh tế đạt kỉlục trong 10 năm nhưng lạm phát lại tăng ở mức 12,63% và do đó đã gây bất lợicho tăng trưởng kinh tế lẽ ra có thể cao hơn nữa, mặt khác đã làm xáo trộn đếnmặt bằng giá cả hàng hoá, ảnh hưởng xấu trực tiếp tới sản xuất và đời sống củanhân dân Để hiểu rõ hơn sự tác động của lạm phát tới đời sống kinh tế xã hội ởViệt Nam và từ đó đưa ra các giải pháp cho lạm phát tại Việt Nam nên em đã
chọn đề tài để nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể là "Tình hình lạm phát ở Việt Nam
hiện nay".
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu về lạm phát ở Việt Nam
- Thấy rõ được tác động của lạm phát tới nền kinh tế Việt Nam
- Đưa ra các giải pháp cho lạm phát tại Việt Nam
Trang 23 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu về tình hình lạm phát ở Việt Nam hiện nay
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phần 2: Thực trạng vấn đề lạm phát ở Việt Nam hiện nay
- Phần 3: Giải pháp cho lạm phát tại Việt Nam
Trang 3Trong một nền kinh tế lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức muacủa đồng tiền nội tệ.Tức là khi có lạm phát thì chúng ta sẽ phải chi ngày càngnhiều đồng nội tệ hơn để mua một giỏ hàng hoá và dịch vụ cố định Khi so sánhvới nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với
cá loại tiền tệ khác đây chính là lạm phát của một loại tiền tệ trong phạm vi thịtrường toàn cầu
Cần chú ý rằng lạm phát không chỉ đơn thuần là sự tăng của mức giá mà đóphải là sự gia tăng liên tục trong mức giá Trường hợp chỉ có một cú sốc xuấthiện làm cho mức giá tăng lên đột ngột rồi giảm trở lại mức ban đầu không lâungay sau đó, hiện tượng tăng mức giá tạm thời như vậy không được gọi là lạmphát Nhưng trong thực tế thì một cú sốc có thể ảnh hưởng kéo dài đối với mộtnền kinh tế và do đó có thể gây ra lạm phát
1.2/ Đo lường lạm phát và các tiêu chí đo lường lạm phát
Lạm phát được đo lường bằng cách theo dõi sự thay đổi trong giá cả của mộtlượng lớn các hàng hoá và dịch vụ trong một nền kinh tế mà thông thường dựatrên dữ liệu được thu thập bởi các tổ chức Nhà nước Giá cả của các loại hànghoá và dịch vụ được tổ hợp với nhau để đưa ra một mức giá cả trung bình, gọi làmức giá trung bình của một tập hợp các sản phẩm Không tồn tại phép đo chínhxác duy nhất chỉ số lạm phát vì giá trị của chỉ số này phụ thuộc vào tỷ trọng màngười ta gán cho mỗi hàng hoá trong chỉ số, cũng như phụ thuộc vào phạm vi khu
Trang 4vực kinh tế mà nó được thực hiện Các phép đo phổ biến của chỉ số lạm phát baogồm:
* Chỉ số giá sinh hoạt (CLI) là sự tăng lên trên lý thuyết giá cả sinh hoạt củamột cá nhân so với thu nhập, trong đó các chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được giảđịnh một cách xấp xỉ
* Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số đo giá cả các hàng hoá hay được muabởi “người tiêu dùng điển hình” một cách có lựa chọn Trong nhiều quốc giacông nghiệp, những sự thay đổi theo phần trăm hàng năm trong các chỉ số này làcon số lạm phát thông thường hay được nhắc tới Các phép đo này thường được
sử dụng trong việc chuyển trả lương, do những người lao động mong muốn cókhoản chi trả (danh định) tăng ít nhất là bằng hoặc cao hơn tỷ lệ tăng của CPI
* Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo mức giá mà các nhà sản xuất nhận được khôngtính đến giá bổ sung qua đại lý hoặc thuế doanh thu Nó khác với CPI là sự trợcấp giá, lợi nhuận và thuế có thể sinh ra một điều là gía trị nhận được bởi các nhàsản xuất là không bằng với những gì người tiêu dùng đã thanh toán
* Chỉ số bán buôn là chỉ số đo sự thay đổi trong giá cả các hàng hoá bánbuôn( thông thường là trước khi bán có thuế) một cách có lựa chọn Chỉ số nàyrất giống với PPI
* Chỉ số giá hàng hoá là chỉ số đo sự thay đổi trong giá cả của các hàng hoámột cách có lựa chọn
* Chỉ số giảm phát GDP là chỉ số dựa trên việc tính toán của tổng sản phẩmquốc nội: Nó là tỷ lệ của tổng giá trị GDP giá thực tế với tổng giá trị GDP củanăm gốc, từ đó có thể xác định GDP của năm báo cáo theo giá so sánh hay GDPthực Nó là phép đo mức giá cả được sử dụng rộng rãi nhất Các phép khử lạmphát cũng tính toán các thành phần của GDP như chi phí tiêu dùng cá nhân
Trang 5* Lạm phát vừa phải: Được đặc trưng bởi giá cả tăng chậm và có thể dự đoán
trước được Đối với các nước đang phát triển , lạm phát ở mức độ một con sốthường được coi là lạm phát vừa phải Đó là mức lạm phát mà bình thường nềnkinh tế trải qua và ít gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế Lạm phát vừa phải cóhai cấp độ cơ bản đó là:
- Thiểu phát: là tỷ lệ lạm phát ở mức 3 - 4 % một năm trở xuống
- Lạm phát thấp: là mức lạm phát có tỷ lệ ở 3% đến 7% một năm
* Lạm phát cao ( lạm phát phi mã): là loại lạm phát ở mức hai đến ba con số một
năm Loại lạm phát này tác động tiêu cực đến nền kinh tế , với những hậu quảcực kì khó khăn cho đời sống kinh tế, xã hội, chính trị trong nước Lạm phát phi
mã được duy trì trong thời gian dài sẽ gây ra những biến dạng kinh tế nghiêmtrọng Trong bối cảnh đó, đồng tiền bị mất giá rất nhanh, cho nên mọi người chỉgiữ lượng tiền tối thiểu vừa đủ cho các giao dịch hàng ngày Mọi người có xuhướng tích trữ hàng hoá, mua bất động sản và chuyển sang sử dụng vàng hoặccác ngoại tệ mạnh để làm phương tiện thanh toán cho các giao dịch có giá trị lớn
và tích luỹ của cải
* Siêu lạm phát: là lạm phát mất kiểm soát, một tình trạng giá cả tăng nhanh
chóng khi tiền tệ mất giá trị Siêu lạm phát là lạm phát ở mức 4 con số, từ 1000%trở lên
Đặc điểm chung của mọi cuộc siêu lạm phát là sự gia tăng quá mức trongcung tiền, điều này thường bắt nguồn từ sự cần thiết phải tài trợ cho thâm hụtngân sách quá lớn Hơn nữa một khi lạm phát cao đã bắt đầu , tình hình thâm hụt
Trang 6ngân sách có thể trở nên không thể kiểm soát được: lạm phát cao dẫn đến giảmmạnh nguồn thu từ thuế tính theo phần trăm so với GDP mà điều này đến lượt nólàm tăng thâm hụt ngân sách và dẫn đến lạm phát cao hơn.
1.3.2/ Về mặt định tính
Lạm phát được chia thành nhiều loại khác nhau, tuỳ theo tính chất của lạmphát mà người ta chia thành các loại cơ bản sau:
- Lạm phát thuần túy: Đây là trường hợp đặc biệt của lạm phát, hầu như giá cả của
mọi loại hàng hoá đều tăng lên cùng một tỷ lệ trong cùng một đơn vị thời gian
- Lạm phát cân bằng: Là loại lạm phát có mức giá chung tăng tương ứng với mức
tăng thu nhập
- Lạm phát được dự đoán trước: Là lạm phát mà mọi người có thể dự đoán trước
nhờ vào sự diễn tiến liên tục theo chuỗi thời gian trong nhiều năm
- Lạm phát không được dự đoán trước: Là lạm phát xảy ra bất ngờ, ngoài sự tiên
liệu của mọi người về quy mô, cường độ cũng như mức độ tác động
- Lạm phát cao và lạm phát thấp: lạm phát cao là mức lạm phát mà tỷ lệ tăng thu
nhập tăng thấp hơn tỷ lệ lạm phát, lạm phát thấp là mức tăng thu nhập tăng caohơn mức độ tăng của tỷ lệ lạm phát
1.4/ Ảnh hưởng tiêu cực của lạm phát
1.4.1/ Đối với lạm phát dự kiến
Trong trường hợp lạm phát có thể dự kiến trước thì các thực thể tham giavào nền kinh tế có thể chủ động ứng phó với nó, tuy vậy nó vẫn gây ra những tổnthất cho xã hội:
-Chi phí mòn giày: Lạm phát giống như một thứ thuế đánh vào người gữitiền và lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng với lạm phát nên lạm phátlàm cho người ta giữ ít tiền hơn và hay làm giảm cầu về tiền Khi đó họ cần phảithường xuyên đến ngân hàng để rút tiền hơn Các nhà kinh tế đã dùng thuật ngữ “chi phí mòn giày” để chỉ những tổn thất phát sinh do sự bất tiện cũng như thờigian tiêu tốn mà người ta phải hứng chịu nhiều hơn so với khi không có lạm phát
Trang 7- Chí phí thực đơn: Lạm phát thường sẽ dẫn đén giá cả tăng lên, các doanhnghiệp sẽ mất thêm chi phí để in ấn, phát hành bảng giá sản phẩm hay các hiệu ăncũng phải đổi mới thực dơn Việc nay tạo ra sự tốn kém nhất định
- Làm thay đổi giá tương đối một cách không mong muốn: trong trườnghợp do lạm phát doanh nghiệp này tăng giá (phát sinh chi phí thực đơn) còndoanh nghiệp khác lại không tăng giá do không muốn phát sinh chi phí thực đơnthì giá cả của doanh nghiệp giữ nguyên giá sẽ trở nên rẻ tương đối so với doanhnghiệp tăng giá Do nền kinh tế thị trường phân bổ nguồn lực dựa trên giá tươngđối nên lạm phát đã dẫn đến tình trạng phân bố nguồn lực kém hiệu quả
- Lạm phát có thể làm thay đổi nghĩa vụ nộp thuế của các cá nhân trái với ýmuốn của người làm luật do một số luật thuế không tính đến ảnh hưởng của lạmphát Ví dụ : trong trường hợp thu nhập thực tế của cá nhân không thay đổi nhưngthu nhập danh nghĩa tăng lên do lạm phát thì cá nhân phải nộp thuế thu nhập trên
cả phần chênh lệch giữa thu nhập danh nghĩa và thu nhập thực tế
- Lạm phát gây ra sự nhầm lẫn, bất tiện: đồng tiền được sử dụng làm thước
đo trong tính toán các giao dịch kinh tế, khi có lạm phát cái thước đo này co giãn
và vì vậy các cá nhân khó khăn hơn trong việc ra quyết định của mình
1.4.2/ Lạm phát không dự kiến
Đây là loại lạm phát gây ra nhiều tổn thất nhất vì nó phân phối của cải giữacác cá nhân một cách độc đoán Các hợp đồng, cam kết tín dụng thường được lậptrên lãi suất danh nghĩa khi lạm phát cao hơn dự kiến người cho vay được hưởnglợi còn người đi vay chịu thiệt hại Lạm phát không dự kiến thường ở mức caohoặc siêu lạm phát nên tác động của nó rất lớn
Các nhà kinh tế có quan điểm rất khác nhau về quy mô của tác động tiêu cựccủa lạm phát, thậm chí nhiều nhà kinh tế cho rằng tổn thất do lạm phát gây rakhông đáng kể và điều này được coi là đúng khi tỷ lệ lạm phát ổn định và ở mứcvừa phải Khi lạm phát biến động mạnh, tác động xã hội của nó thông qua việcphân phối lại của cải giữa các cá nhân một cách độc đoán rõ ràng là rất lớn và dovậy chính phủ của tất cả các nước đều tìm cách chống lại loại lạm phát này
Trang 81.5/ Nguyên nhân gây lạm phát
1.5.1/ Lạm phát do cầu kéo
Lạm phát do cầu kéo xảy ra do tổng cầu tăng, đặc biệt là khi sản lượng đãđạt vượt qua mức tự nhiên Lạm phát có thể hình thành khi xuất hiện sự gia tăngđột ngột trong nhu cầu về tiêu dùng và đầu tư Hoặc trong nhiều trường hợp lạmphát lại thường bắt nguồn từ sự gia tăng quá mức trong chương trình chi tiêu củaChính phủ, ngoài ra nhu cầu xuất khẩu và lượng vốn chảy vào cũng có thể gây ralạm phát
1.5.2/ Lạm phát do cầu thay đổi
Giả dụ lượng cầu về một mặt hàng giảm đi, trong khi lượng cầu về một mặthàng khác lại tăng lên Nếu thị trường có người cung cấp độc quyền và giá cả cótính chất cứng nhắc phía dưới( chỉ có thể tăng mà không giảm), thì mặt hàng màlượng cầu giảm vẫn không giảm giá Trong khi đó mặt hàng có lượng cầu tăng thìlại tăng giá Kết quả là mức giá chung tăng lên, nghĩa là lạm phát
1.5.3 /Lạm phát do chi phí đẩy
Nếu tiền công danh nghĩa tăng lên, thì chi phí sản xuất của các xí nghiệptăng Các xí nghiệp vì muốn bảo toàn mức lợi nhuận của mình sẽ tăng giá thànhsản phẩm , mức giá chung của toàn thể nền kinh tế cũng tăng
1.5.4 /Lạm phát do cơ cấu
Ngành kinh doanh có hiệu quả tăng tiền công danh nghĩa cho người lao động.Ngành kinh doanh không hiệu quả vì thế không thể không tăng tiền công chongười lao động trong ngành mình Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinhdoanh kém hiệu quả sẽ tăng giá thành sản phẩm Lạm phát nảy sinh vì điều đó
1.5.5/ Lạm phát do xuất khẩu
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩmđược huy động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trongnước giảm khiến tổng cung thấp hơn tổng cầu Lạm phát nảy sinh do tổng cung
và tổng cầu mất cân bằng
Trang 91.5.6/ Lạm phát do nhập khẩu
Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu Khi giánhập khẩu tăng ( do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá) thì giá bán sản phẩm đótrong nước cũng tăng Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩuđổi lên
Năm 2007 vừa qua, mặc dù với tăng trưởng kinh tế ( GDP) 8,5% đã đạtmức kỷ lục trong 10 năm trở lại, song "đồng hành" theo là lạm phát cũng đã tăngtới mức kỷ lục kể từ năm 1992 đến nay vì chỉ số giá tiêu dùng( CPI) cũng đã lêntới hai con số là 12,63% Từ đầu năm 2008 đến nay, " cơn bão giá" vẫn tiếp tụcgia tăng mạnh ở hầu hết mặt hàng từ các hàng hoá chiến lược cho CNH, HĐH đấtnước như xăng , dầu, vật liệu xây dựng, ; các hàng hoá có giá trị lớn như bấtđộng sản và vàng, ; Cho đến các nhu yếu phẩm đời thường cho người dân nhưlạng thịt, mớ rau, Vượt qua mọi dự đoán, chỉ số giá tiêu dùng 11 tháng đầu năm
so với cùng kỳ năm 2007 là 123,25% Đây là một con số kỷ lục (Theo thống kêcủa cục thông kê )
Trang 10Bảng 2.1.1 - Chỉ số tiêu dùng cả nước tháng 11 năm 2008
Chỉ số giá tháng 11 năm 2008 so với(%) Chỉ số
giá 11 tháng đầu năm
2008 so với cùng
kỳ 2007
Kỳ gốc năm 2005
Tháng 11 năm 2007
Tháng 12 năm 2007
Tháng 10 năm 2008
Chỉ số giá tiêu dùng 147,07 124,22 120,71 99,24 123,25 I.Hàng ăn và dịch vụ ăn uống 172,02 137,63 132,03 99,93 137,01 Trong đó: 1- Lương thực 195,73 151,08 146,71 96,90 149,71 2- Thực phẩm 162,62 131,46 125,57 100,91 132,91 3-Ăn uống ngoài gia
IX Văn hoá, thể thao, giải trí 116,07 109,92 109,60 100,28 105,47
X Đồ dùng và dịch vụ khác 132,86 113,93 112,13 100,39 113,18
(*) Nhóm này bao gồm: nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.
Như đã biết, tăng trưởng cao, lạm phát thấp và một số chỉ số cơ bản kháccủa kinh tế vĩ mô như cán cân thương mại, thu chi ngân sách, cán cân thanh toánquốc tế nếu đều đạt được giá trị dương thì đó là những tín hiệu phát triển khảquan mong muốn của mọi nền kinh tế Giữa các chỉ số này có quan hệ tác độngtương hỗ chặt chẽ, nhất là giữa tăng trưởng và lạm phát Thông thường tính quyluật là: tăng trưởng cao thì lạm phát thấp, khi lạm phát cao quá hoặc thiểu phát
Trang 11đều làm cho tăng trưởng thấp Song tính quy luật này có những khác biệt tuỳ theotrình độ phát triển cũng như các đặc điểm riêng biệt của mỗi nền kinh tế Với cácnước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, khi mặt bằng giá trong nước cònthấp hơn nhiều so với mặt bằng giá thế giới thì lạm phát ở mức ngang bằng Sốliệu hai năm gần đây là 2006 và 2007 đó là năm 2006, CPI tăng 6,6% nhưngGDP tăng 8,2% có nghĩa lạm phát vẫn tăng nhưng mức tăng chậm hơn mức tăngtrưởng kinh tế, đó là biểu hiện tốt của sự phát triển Năm 2007 vừa qua, mặc dùtăng trưởng GDP đạt mức kỷ lục 8,5% nhưng CPI lại tăng vọt đến mức khá cao
là 12,63 và do đó đã gây bất lợi cho tăng trưởng lẽ ra có thể cao hơn nữa, mặtkhác đã làm xáo động đến mặt bằng giá cả hàng hoá và dịch vụ, ảnh hưởng xấutrực tiếp đến sản xuất và đời sống nhân dân
Trước tình hình và diễn biến của nền kinh tế - xã hội, giá cả leo thang làmcho người tiêu dùng và các doanh nghiệp điêu đứng Không chỉ giá lương thựcthực phẩm leo lên vùn vụt, mà giá than, đặc biệt là vật liệu xây dựng và các dịch
vụ khác cũng tăng lên Hiện tượng mức giá chung tăng đều đặn dẫn tới lạm phát.Chỉ số CPI đã liên tục tăng suốt 4 năm qua: Bắt dầu là 9,5% (2004), 8,4%( 2005),6,6%(2006), 12,6%(2007) và trong 4 tháng đầu năm 2008 tăng lên 11%
Lạm phát ở Việt Nam chủ yếu xuất phát từ các nhân tố chủ quan, có tính cơcấu của nền kinh tế vì nếu lạm phát chủ yếu do giá thế giới tăng thì các nướckhác như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia đều chịu sức ép tương tự Tuy nhiện,lạm phát ở các nước này lại thấp hơn một cách đáng kể so với Việt Nam
Bảng 2.1.2 - Chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và một số nước trong khu vực