1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản

256 350 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 256
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả cá...

Trang 2

B Địa lí khu vực vμ quốc gia (Tiếp theo)

Bμi 10 Liên bang nga

Tiết 1 Tự nhiên, dân cư vμ x∙ hội

I Mục tiêu

Sau bài học, HS cần:

1 Kiến thức

• Biết vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ của Liên bang (LB) Nga

• Trình bày được đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và phân tích

được thuận lợi, khó khăn của chúng đối với sự phát triển kinh tế

• Phân tích được các đặc điểm dân cư, xã hội và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển kinh tế

Khâm phục tinh thần hi sinh của dân tộc Nga để cứu loài người thoát khỏi

ách phát xít Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai và tinh thần sáng tạo của nhân dân Nga, sự đóng góp lớn lao của người Nga cho kho tàng văn hóa chung của thế giới

II thiết bị dạy học cần thiết

• Bản đồ Địa lí tự nhiên LB Nga

• Bản đồ Các nước trên thế giới

• Phóng to bảng 10.1, 10.2 trong SGK

Trang 3

Kiểm tra bμi cũ

1 Hãy trình bày các lợi thế cơ bản của Pháp trong việc phát triển kinh tế – xã hội

2 Pháp đã đạt được các thành tựu gì trong việc phát triển công nghiệp, nông nghiệp?

3 Hãy chứng minh rằng Pháp là một cường quốc kinh tế ở châu Âu và trên thế giới

Mở bμi

Liên bang Nga - Đất nước có diện tích lớn nhất thế giới; có tài nguyên tự nhiên vô cùng phong phú; có tiềm lực lớn về khoa học, kĩ thuật Nhân dân Nga có truyền thống kiên cường quả cảm và đã từng có quan hệ gắn bó mật thiết với Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc Bài học hôm nay chúng ta

sẽ tìm hiểu về các đặc điểm tự nhiên, dân cư và xã hội của LB Nga

trí địa lí và lãnh thổ của LB Nga

I- Vị trí địa lí và l∙nh thổ

CH: Dựa vào nội dung SGK và bản đồ

Địa lí tự nhiên LB Nga, em hãy nêu các

Trang 4

2 Diện tích 17,1 triệu km - là nước lớn nhất thế giới

- Tổng chiều dài đường biên giới cả trên

biển và đất liền gần 40.000 km, dài ≈

xích đạo

- Đường biên giới dài ≈ xích đạo

⇒ Khi phía Tây của đất nước là hoàng

hôn thì phía Đông đã đón ngày mới…

Đất nước trải rộng trên 11 múi giờ

CH: Quan sát hình 10.1, hãy cho biết

LB Nga giáp với những quốc gia và đại

dương nào?

Học sinh chỉ trên bản đồ:

+ LB Nga có ranh giới tiếp giáp liên tục

với 12 nước là Na Uy, Phần Lan, Ba

Lan, Mông Cổ, Triều Tiên, Trung Quốc,

E-xtô-nia, Lat-vi-a, Lit-va, Bê-la-rut,

U-crai-na, A-dec-bai-dan, Ca-dăc-xtan,

Gru-di-a (Có 8 nước thuộc Liên Xô

trước đây)

3 Giáp 14 nước

+ Riêng tỉnh Ka-li-nin-grát nằm biệt lập

ở phía Tây Bắc giữa Ba Lan và Lít-va ⇒

Tổng số giáp 14 nước

(Tỉnh Ka-li-nin-grát nằm biệt lập ở phía Tây Bắc giữa Ba Lan và Lít-va)

Học sinh chỉ trên bản đồ các biển và đại

dương tiếp giáp với LB Nga:

+ Bắc Băng Dương (phía Bắc)

+ Thái Bình Dương (phía Đông)

+ Biển Ban Tích, biển Đen, biển Ca-xpi

(phía Tây và Tây Nam)

- Tiếp giáp nhiều biển và đại dương,

đường bờ biển dài

⇒ ý nghĩa: Thuận lợi cho giao lưu phát triển kinh tế; thiên nhiên đa dạng, nhiều tài nguyên

GV có thể nêu một số nét về khí hậu LB

Nga Do vị trí lãnh thổ nên LB Nga chủ

yếu có khí hậu ôn đới (hơn 80% diện

tích) trong đó đa phần là khí hậu ôn đới

lục địa, mùa đông khô, lạnh kéo dài

Trang 5

Chỉ có khoảng 4% diện tích ở phía Tây

Nam có khí hậu cận nhiệt địa trung hải

Dải lãnh thổ phía Bắc có khí hậu cận

cực giá lạnh

Chuyển ý: Trên lãnh thổ rộng lớn, điều

kiện tự nhiên của LB Nga có đặc điểm

gì? Chúng ta sẽ tìm hiểu các đặc điểm

này trong mục II sau đây

nhiên của LB Nga

II Điều kiện tự nhiên

GV chọn 1 trong 2 phương án:

Phương án 1: GV kẻ bảng, cho nhóm

HS nghiên cứu tài liệu, thảo luận và

chọn ý đúng rồi lên ghi kết quả lên

Ghi chú: Chữ số trong ngoặc là xếp hạng trữ lượng của LB Nga so với thế giới

Trang 6

Phương án 2: GV phát phiếu học tập với mẫu như phần II- Các thiết bị dạy học

cần thiết đã nêu và kẻ lên bảng mẫu phiếu này HS nghiên cứu SGK và trình bày vào phiếu kết quả nghiên cứu của mình, cuối cùng GV chuẩn hoá kiến thức

(Đây là nơi trồng cây lương thực, thực

phẩm và chăn nuôi chính của LB Nga)

- Đồng bằng Đông Âu: Khá cao, xen nhiều đồi thấp, màu mỡ

- Đồng bằng Tây Xi-bia:

+ Chủ yếu là đầm lầy

(Nông nghiệp chỉ tiến hành được ở dải

đất phía Nam)

+ Không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

+ Tập trung nhiều khoáng sản, nhất là dầu mỏ và khí tự nhiên

* Phía Đông:

- Chủ yếu là núi và cao nguyên

- Không thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

- Có nguồn khoáng sản, lâm sản và trữ năng thuỷ điện lớn

b) Tài nguyên thiên nhiên:

* Đất nông nghiệp có 220 triệu ha, trong đó đất đen là 14 triệu ha

CH: LB Nga có nguồn tài nguyên

khoáng sản quan trọng nào?

* Khoáng sản: nhiều loại, nhất là than, dầu, khí đốt, quặng sắt …

Bảng 10.1: Một số khoáng sản của LB

Nga năm 2004 (tỉ tấn)

Thuận lợi phát triển công nghiệp khai khoáng, năng lượng, luyện kim …

Trang 7

Khoáng sản Trữ

l−ợng

Thứ bậc trên TG Than đá 6.000 1

CH: Em hãy nêu tài nguyên rừng và

thuỷ văn của Liên bang Nga

* Rừng: diện tích lớn nhất thế giới với

886 triệu ha, chủ yếu là rừng tai-ga (trong đó rừng có thể khai thác là 764 triệu ha)

Ê-nit-Quan trọng nhất là sông Von-ga, cùng

với kênh Lê-nin, sông Đông, đã nối liền

5 biển Ca-xpi, Ô-zốp, Bạch Hải, Ban

Tích, Hắc Hải, làm cho Mat-xcơ-va trở

thành hải cảng chung của 5 biển

Trữ năng thuỷ điện tập trung chủ yếu trên

vùng Xi-bia trên các sông Ê-nit-xây, Ô-bi,

GV: Nói chung, điều kiện tự nhiên của

LB Nga có nhiều thuận lợi cho phát

triển kinh tế Tuy nhiên, cũng có không

Trang 8

- Nhiều vùng băng giá, đầm lầy hoặc khô hạn

Vì chủ yếu tài nguyên khoáng sản tập

trung ở vùng núi hoặc vùng lạnh giá,

khó khăn cho khai thác và vận chuyển

- Tài nguyên phong phú nhưng khó khai thác

Chuyển ý: Dân cư và xã hội của LB Nga

cũng là tiềm lực lớn của đất nước này và

đang có những chuyển biến lớn Chúng

ta nghiên cứu trong mục III sau đây

dân cư và xã hội của LB Nga

CH: Dựa vào bảng 10.2 và biểu đồ tháp

dân số LB Nga (hình 10.3), em hãy

nhận xét về sự thay đổi của dân số LB

Nga và nêu hậu quả của sự thay đổi đó

- Số dân hiện đang suy giảm:

Từ năm 1991 đến năm 2005, qua 14

năm, số dân LB Nga giảm 5,3 triệu

người, trung bình giảm gần 380 nghìn

người/năm

Năm 1991 có 148,3 triệu người Năm 2001 có 144,9 triệu người Năm 2005 có 143 triệu người

Ngoài dân tộc Nga, còn các dân tộc ít

người như Tac-ta, Chu-vát, Bát-xkia …

chủ yếu sống trong các nước cộng hoà,

các khu tự trị

* Nhiều dân tộc: hơn 100 dân tộc,

đông nhất là người Nga (80% dân số)

CH: Dựa kênh chữ trong mục III.1 và * Phân bố:

Trang 9

hình 10.4 em hãy nêu sự phân bố dân cư

của LB Nga

- Mật độ trung bình 8,4 người/km

Phía Bắc và phía Đông rất thưa thớt ⇒ ở

đó thiếu lao động cho SX

- Chủ yếu phân bố ở phía Tây và Tây Nam

thành tựu khoa học, văn hoá của LB

Nga, tên một số danh nhân tiêu biểu của

V Hoạt động nối tiếp

Sưu tầm các tài liệu về LB Nga

VI Phụ lục

1 Điện Kremlin - Một pháo đμi vững chắc

Quảng trường Đỏ là trung tâm văn hóa và chính trị đã trải qua nhiều mốc lịch sử, cho đến nay nó vẫn đứng sừng sững và nguy nga giữa thủ đô của nước Nga Chữ “Đỏ” (Krát-xnưi) ở đây đã xuất hiện từ thế kỉ 16 vì trong tiếng Nga

cổ, chữ Đỏ có nghĩa là Đẹp Sở dĩ có tên như vậy là vì nó nằm ngay trước một

Đại giáo đường có kiến trúc đẹp nhất nước Nga Đại giáo đường này được xây dựng từ thế kỉ 16 Nga hoàng đã cho thiết kế 8 đỉnh tháp để tượng trưng cho 8 cuộc chiến thắng lớn của quân Nga và cũng là lúc thoát khỏi ách đô hộ hơn 300

Trang 10

năm về trước Bên cạnh Quảng trường Đỏ là một bức tường cao sừng sững của

điện Kremli cũng được xây dựng từ thế kỉ 16

Điện Kremli là một pháo đài kiên cố và là nơi dừng chân của Nga Hoàng khi đến Mátxcơva Từ khi giành được cách mạng, Điện Kremli vừa là nơi làm việc của các vị lãnh đạo cấp cao, vừa là nơi đón tiếp, gặp gỡ đối ngoại Cho đến nay, Kremli vẫn còn nguyên vẹn từ những nghi thức cũ cho tới nguyên hình của bên trong Cung điện

Phía trong khuôn viên của Điện Kremli có rất nhiều tòa Đại giáo đường và những giá chắn Còn trong Viện Bảo tàng của Hoàng gia, du khách có thể chiêm ngưỡng những cỗ xe ngựa lớn bằng vàng, những bộ quần áo dát kim cương và muôn vàn những tạo vật làm bằng vàng và đá quý của Đế chế Nga trước đây Trong Cung điện, du khách có thể nhìn thấy chiếc “chuông vua” cao như một tòa nhà 3 - 4 tầng, thật là một kì quan của nghệ thuật đúc đồng từ thế kỉ 16 - 17 Bên cạnh “chuông vua” còn có một “tháp chuông” với khoảng vài chục quả chuông lớn nhỏ vẫn ngân vang hàng ngày hàng giờ như bao thế kỉ trước đây Có rất nhiều “cổ pháo” được đúc với những hoa văn tinh vi, bởi vì trước đây Kremli như một tòa thành vững chắc cho nên vẫn còn những “pháo đài”, những đài quan sát, những giếng hút nước ngay trong thành Phía dưới chân thành có những

đường hầm thông thẳng ra sông Mátxcơva để đề phòng khi có giặc bao vây Người ta còn đồn rằng trong những đường hầm này còn cất giấu cả một thư viện

đồ sộ của Nga hoàng Ivan và hiện nay, người ta vẫn đang tìm kiếm kho báu này Văn phòng làm việc của Tổng thống Nga cũng nằm trong khuôn viên của

Điện Kremli Du khách không được vào bên trong phòng làm việc của Tổng thống, nhưng ai cũng có thể đứng từ ngoài để ngắm nhìn Trước đây, trong Cung

điện này, Chính phủ đã cho xây thêm một công trình, đó là “Cung Đại hội”, nơi diễn ra các kì Đại hội của Đảng Cộng sản Liên Xô Đến nay, “Cung Đại hội” này vẫn tồn tại nhưng đã bị rạn nứt một vài chỗ Thế mới biết công trình của người xưa thật kiên cố và vững chắc, mà Điện Kremli là một trong những công trình vĩ đại - một kì quan - một pháo đài vững chắc “bất khả xâm phạm” của nước Nga

2 Xi-bia

Theo ngôn ngữ người Bô-rắc, “Xi-bia” có nghĩa là “miền đất ngủ”

Xi-bia chiếm hơn 1/2 diện tích đất nước, trải rộng từ U-ran đến biển Ô-khốt, Nhật Bản; kéo dài từ Bắc Băng Dương đến biên giới Nga-Trung, Nga-Mông Cảnh quan chủ yếu là đất đóng băng, đài nguyên, rừng tai-ga mênh mông và thảo nguyên

Trang 11

Đánh giá về Xi-bia, nhà bác học M.V Lô-mô-nô-xốp cho rằng “Nước Nga tương lai sẽ rất giàu mạnh nhờ có Xi-bia” Còn lãnh tụ V.I Lê-nin nhận định

“Trong tương lai, giai cấp công nhân Nga sẽ đánh thức miền đất này để làm nên những điều kì diệu”

3 Cuộc chạy đua giữa Nga vμ Mĩ trong lĩnh vực ghép đầu người

Nhiều người đã biết thành công của Liên Xô và Mĩ trong cuộc chạy đua ở lĩnh vực công nghiệp vũ trụ hay công nghiệp sản xuất vũ khí Tuy nhiên hai cường quốc này còn thể hiện tính ganh đua ở nhiều lĩnh vực khác Xin nêu ra ví

dụ ở cuộc chạy đua đặc biệt trên lĩnh vực y học được coi là cực kì hóc búa- đó là cuộc chạy đua ghép đầu người

Đầu thập kỉ 60 của thế kỉ XX, các nhà khoa học Liên Xô trước đây đã tiến hành ghép thành công đầu chó vào thân con cừu Tin này làm chấn động thế giới Trong quá trình phẫu thuật, các bác sĩ đã sử dụng một loại thuốc đặc biệt

để chống lại sự đào thải lẫn nhau giữa hai cơ thể Đặc tính của con vật mới “đầu Ngô mình Sở” này tuy là thân cừu nhưng động tác lại giống chó, bởi vì đầu não của nó là đầu não chó Con vật hỗn hợp này có tiếng kêu giống chó nhưng ăn cỏ như cừu

Sau thành công đầu tiên, Điện Kremli phấn khởi tuyên bố: Lĩnh vực mũi nhọn nhất trong y học - kĩ thuật ghép đầu, cũng như lĩnh vực vũ trụ, Liên Xô đã vượt Mĩ Giới y học Liên Xô hoàn toàn có quyền nghĩ đến cái ngày sẽ tiến hành ghép đầu người

Trước sự “khiêu chiến” này, để giữ thể diện cho phương Tây, tổng thống Mĩ Kenedy đã hạ lệnh chi một khoản ngân sách lớn cho các công trình nghiên cứu

kĩ thuật ghép đầu Thế là hai nước Mĩ – Liên Xô chính thức bắt đầu “cuộc chiến tranh ghép đầu” Cuộc chiến này kéo theo một cuộc giao tranh gián điệp khoa học rất phức tạp và quyết liệt

Hai năm sau, các nhà khoa học Mĩ đã có bước tiến đầu tiên trong kĩ thuật ghép

đầu Họ ghép đầu con chó vào thân con khỉ Đây quả là một kì tích bởi vì trước đó, giới y học toàn cầu đều cho rằng “tính bài ngoại” của khỉ rất mạnh, việc ghép này khó mà thành công được Nhưng ca ghép đã thành công

Nhưng chỉ nửa năm sau, các nhà khoa học Liên Xô lại tiến hành thành công một ca phẫu thuật ghép đầu khó hơn nhiều: ghép đầu con mèo vào thân con thỏ

Điều quan trọng hơn là con vật mới không đần độn ngu ngơ như những con vật đã

được ghép đầu từ trước đó Nó lanh lợi, hoạt bát, rất đáng yêu “Đầu mèo” không

Trang 12

những cử động tự do, linh hoạt mà còn biết chỉ huy “thân thỏ” rất khéo léo, kể cả tứ chi của thỏ Điều càng thú vị hơn nữa là con vật đặc biệt này có đủ lưỡng tính của mèo và thỏ: mắt cũng thay đổi theo thời gian như mèo, chân nhanh nhẹn, vồ chuột rất tài; nó không những nhảy tâng tâng, chân trước giơ cao, đứng bằng hai chân sau

như thỏ mà cũng thích ăn rau xanh và củ cải như thỏ vậy

Và sau đó, các nhà khoa học Liên Xô đã tiến hành một bước đột phá vào lĩnh vực mũi nhọn: ghép đầu người

Năm 1985, Viện nghiên cứu y học ở Kyev đã thực hiện ghép đầu người thành công: cắt đầu một người bị ung thư xương giai đoạn cuối ghép vào cổ một người bị hành quyết Đó là đầu của Mikhalov, một học giả có tài xuất chúng, còn thân người là của một tên côn đồ tàn ác khét tiếng Nhà triết học Liên Xô Piterlov lúc bấy giờ cho rằng: “Tên tội phạm này tứ chi và cơ thể cường tráng Giờ ghép đầu một nhà bác học vào cơ thể ấy sẽ gây ra nguy hiểm và là một lãng phí rất lớn” Nhưng lại có ý kiến khác cho rằng ghép đầu của Mikhalov vào thân một người trai trẻ, sẽ làm cho một nhân tài già nua được cải lão hoàn đồng, nhà khoa học có được một sinh mệnh mới,

sẽ đóng góp được nhiều hơn cho loài người

Để đề phòng gián điệp phương Tây phá hoại, công việc ghép đầu Mikhalov

được giữ kín Mãi đến khi Liên Xô giải thể, Cục tình báo Nga thấy không cần thiết phải giữ bí mật nữa, mới đồng ý cho Viện khoa học Nga tiết lộ công trình này

Trang 13

Bμi 10 LIÊN Bang nga (tiếp theo)

I Mục tiêu

Sau bài học, HS cần:

1 Kiến thức

• Trình bày và giải thích đ−ợc tình hình phát triển kinh tế của LB Nga

• Làm rõ đ−ợc sự thay đổi của nền kinh tế LB Nga qua các giai đoạn lịch sử

II Các thiết bị dạy học cần thiết

• Bản đồ Kinh tế chung LB Nga

• Một số ảnh về hoạt động kinh tế của LB Nga

III Hoạt động trên lớp

Kiểm tra bμi cũ

1 Phân tích những thuận lợi và khó khăn của điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế của LB Nga

2 Đặc điểm dân c− của LB Nga có những thuận lợi và khó khăn gì cho việc phát triển kinh tế?

3 Hãy nêu một số tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học lớn, những nhà bác học nổi tiếng của LB Nga

Trang 14

Mở bμi

Liên bang Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô-viết mà trong đó đóng vai trò trụ cột là LB Nga đã từng là một siêu cường của thế giới Những sóng gió về chính trị đã tạo nên những biến động trong kinh tế, đặc biệt là trong thập kỉ

90 của thế kỉ XX Tuy còn nhiều khó khăn, song nước Nga đang vững bước

đi lên để trở lại vị trí cường quốc Tìm hiểu về kinh tế LB Nga là nhiệm vụ của chúng ta trong bài học hôm nay

phát triển kinh tế của LB Nga

I- Quá trình phát triển kinh

tế Dạy mục I có thể theo 2 phương án:

Phương án 1: GV kẻ bảng, phân công

các nhóm HS nghiên cứu trao đổi chọn

ý đúng rồi lên ghi các biểu hiện chính

của LB Nga trong từng giai đoạn

XX)

Nền kinh tế đang đi lên để trở lại vị trí cường quốc Biểu hiện

Phương án 2: GV dạy theo tuần tự các

mục như SGK

1 LB Nga đã từng là trụ cột của Liên bang Xô-viết

CH: Dựa vào bảng 10.3 em hãy lấy

dẫn chứng để thấy vai trò trụ cột của

LB Nga đối với Liên Xô trước đây

- Nhiều sản phẩm công, nông nghiệp chiếm tỉ trọng cao so với toàn Liên Xô (%)

dầu mỏ 87,2 thép 60 khí tự nhiên 83,1 than đá 56,7

điện 65,7 lương thực 51,4

Gỗ, giấy và xenlulô 90%

2 Thời kì đầy khó khăn, biến động (thập kỉ 90 của thế kỉ XX)

Trang 15

GV: Thập kỉ 90 được khởi đầu sau sự

tan rã của Liên Xô, các nước cộng hoà

tách thành các quốc gia độc lập

CH: Nguyên nhân và biểu hiện của

thời kì này là gì?

- Nguyên nhân: cơ chế kinh tế cũ lạc hậu, yếu kém

+ Tốc độ tăng trưởng GDP âm

+ Sản lượng các ngành kinh tế giảm

⇒ Đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn, xã hội bất ổn, vị thế suy giảm…

3 Nền kinh tế đang khôi phục lại vị trí cường quốc

GV cho HS đọc nội dung mục 3-a để

nắm được nội dung của chiến lược

kinh tế mới: Đưa nền kinh tế thoát

khỏi khủng hoảng, tiếp tục xây dựng

kinh tế thị trường, mở rộng ngoại giao,

nâng cao đời sống nhân dân, khôi phục

lại vị trí siêu cường …

a) Chiến lược kinh tế mới

CH: Sau năm 2000, LB Nga đã đạt

được các thành tựu quan trọng gì?

b) Những thành tựu đạt được sau năm

2000 GV: Dựa biểu đồ 10.7 ta có thể thấy

LB Nga đã vượt qua thời kì suy giảm

+ Dầu mỏ tăng từ 305 triệu tấn lên 470

triệu tấn (đạt 154,1 % so với năm 1995)

+ Than tăng từ 270,8 triệu tấn lên

298,3 triệu tấn (đạt 110,2 % so với

năm 1995)

- Sản lượng các ngành kinh tế tăng

Trang 16

- Trả hết nợ nước ngoài từ thời kì Xô viết

- Giá trị xuất siêu ngày càng tăng, đời sống nhân dân được cải thiện

- Vị thế của LB Nga ngày càng nâng cao

CH: Theo em, nguyên nhân chủ yếu

giúp cho nền kinh tế LB Nga phát triển

từ sau năm 2000 là gì?

(Nhờ thực hiện hiệu quả chiến lược

kinh tế mới và nhờ giá nhiên liệu tăng

cao)

GV: Tuy nhiên, LB Nga hiện cũng gặp

nhiều khó khăn như sự phân hoá giàu

nghèo tăng lên, nạn chảy máu chất

xám …

IV Đánh giá

1 Trình bày vai trò của LB Nga trong Liên bang Xô viết trước đây Nền kinh

tế của LB Nga gặp những khó khăn gì trong thập niên 90 của thế kỉ XX ?

2 Trình bày những thành tựu kinh tế của LB Nga đạt được sau năm 2000

3 Dựa vào hình 10.7 và bảng 10.4 hãy nhận xét về sự phát triển kinh tế của

LB Nga Nêu những nguyên nhân chủ yếu giúp cho nền kinh tế LB Nga phát triển từ sau năm 2000

Trang 17

V Hoạt động nối tiếp

Tiếp tục sưu tầm các tài liệu về LB Nga

VI Phụ lục

1 Sự phục hồi vμ tăng trưởng kinh tế Liên bang Nga

Nga có tiềm năng kinh tế rất lớn Chiếm 3% dân số thế giới, nhưng Nga chiếm tới 13% tổng trữ lượng dầu mỏ và 34% trữ lượng khí đốt thế giới đã được phát hiện Nga đứng đầu thế giới về xuất khẩu khí tự nhiên và xuất khẩu dầu mỏ

đứng thứ 2 thế giới Sản lượng điện của Nga chiếm 12% tổng sản lượng điện toàn cầu Hiện nay, Tổ hợp nhiên liệu - năng lượng Nga là một trong những tổ hợp quan trọng nhất và phát triển nhanh nhất trong nền kinh tế Nga, chiếm khoảng 1/4 GDP, 1/3 sản lượng công nghiệp và 1/2 nguồn thu ngoại tệ cho đất nước Ngoài dầu mỏ, khí đốt và vàng, Nga có sản lượng khai thác kim cương

đứng đầu thế giới Sản lượng kim cương của Nga đạt 33,019 triệu cara, trị giá 1,676 tỉ USD

Năm 1999, nền kinh tế Nga đã có sự phục hồi và đi vào giai đoạn phát triển nhanh, GDP tăng trưởng trung bình 6,8%/năm trong giai đoạn 1999 – 2004 Cụ thể mức tăng GDP năm 2000 : 7,9%, 2001 : 5,1%;, 2003 : 7,3%, 2004 : 7,2%; năm 2005 : 6,4%; năm 2006 : 6,9%; sản xuất công nghiệp, nông nghiệp đều tăng, trong đó một số ngành như khai thác dầu, luyện kim đen tăng rất cao Năm

2004, GDP của Nga đạt 1.500 tỉ USD, làm cho Nga trở thành nền kinh tế lớn thứ

11 trên thế giới và thứ 5 ở châu Âu Năm 2005, GDP đạt 1.589 tỉ USD, thu nhập bình quân đầu người là 11.100 USD Nếu mức tăng trưởng hiện tại là ổn định, dự kiến Nga sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai ở châu Âu sau Đức và thứ 8 trên thế giới trong vài năm tới, với GDP khoảng 2.300 tỉ USD Nga trở lại xuất khẩu lương thực; ngân sách cân bằng; lạm phát giảm dần; đầu tư nước ngoài vào Nga

được cải thiện, tăng 7,4%/năm

Ngành công nghiệp và dịch vụ tăng trưởng nhanh nhất Tuy nhiên sự phát triển kinh tế này diễn ra không đồng đều: khu vực thủ đô Mát-xcơ-va chiếm tới 30% GDP của toàn quốc Nhiệm vụ kinh tế then chốt đặt ra để Nga giải quyết trong nhiều năm tới là đạt mức tăng trưởng vững chắc với tốc độ cao nhằm đạt mục tiêu nâng GDP lên gấp đôi trong 10 năm tới

Về mặt thương mại: Nga vẫn dựa chủ yếu vào xuất khẩu dầu mỏ, khí đốt, kim loại, gỗ, hóa chất và vũ khí Các mặt hàng này chiếm trên 80% kim ngạch

Trang 18

xuất khẩu với các thị trường chính là Hà Lan (10,3%), Đức (8,3%), Italia (7,9%), Trung Quốc (5,5%), Ucraina (5,2%), Thổ Nhĩ Kì (4,5%), Thụy Sĩ (4,4%) (2005) Kim ngạch xuất khẩu năm 2005 là 245 tỉ USD Trong những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã chú ý nhiều hơn vào nhu cầu về các mặt hàng tiêu dùng trong nước, là lĩnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm trong giai đoạn 2000-

2004, chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa Sản phẩm nhập khẩu chính là máy móc thiết bị, hàng tiêu dùng, thịt, đường, kim loại sơ chế Thị trường nhập khẩu chính là Đức (13,6%), Ucraina (8%), Trung Quốc (7,4%), Nhật Bản (6%), Belarut (4,7%), Hoa Kì (4,7%), Italia (4,6%), Hàn Quốc (4,1%) (năm 2005) Kim ngạch nhập khẩu năm 2005 là 125 tỉ USD

Sự phục hồi kinh tế cùng với cố gắng cải tổ của chính quyền trong các năm

2000 - 2001 để thúc đẩy cải cách nền kinh tế đã làm tăng sự tin cậy của các nhà kinh doanh và đầu tư về triển vọng của nền kinh tế Nga trong thập niên thứ hai của thời kì chuyển đổi

Về mặt xã hội, đã có những thay đổi tích cực: thu nhập của dân tăng nhanh hơn tốc độ trượt giá, từ năm 1999 đến nay, cơ bản giải quyết nợ lương, lương hưu trung bình tăng gần 90%, lương thực tế tăng gấp đôi, bước đầu cải thiện

được đời sống nhân dân, thu nhập thực tế của dân tăng gấp 1,5 lần, thất nghiệp giảm gần 1/3, số người sống dưới mức tối thiểu giảm 1/3

Nền kinh tế Nga cũng còn những khó khăn phải khắc phục như cơ cấu kinh

tế không cân đối, tăng trưởng kinh tế cũng như thu ngân sách còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu nguyên nhiên liệu, tỉ lệ thất thoát vốn còn lớn, thu hút đầu tư chưa nhanh, khả năng cạnh tranh của các ngành sản xuất trong nước còn chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng trong nước, công nghệ mới và phát triển các ngành kĩ thuật cao còn hạn chế

Về mặt đầu tư: Trong những năm gần đây, Nga tích cực tìm kiếm con đường cải cách phù hợp với kinh tế trong nước và nhanh chóng chuyển đổi mô hình kinh tế, tích cực tạo ra hệ thống kinh tế thị trường Sau 15 năm cải cách, môi trường kinh tế Nga đã có sự cải thiện rõ rệt, vì thế càng hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài Năm 2005, vốn đầu tư FDI vào Nga đạt 26,1 tỉ USD, tăng gấp đôi so

với năm 2004

Triển vọng trung hạn: Chính phủ Nga thông qua Chương trình phát triển kinh tế - xã hội 2006-2008, hướng mạnh vào 4 trọng điểm ưu tiên trong các lĩnh vực y tế, giáo dục, nhà ở và phát triển nông thôn với tổng số vốn đầu tư của Nhà

Trang 19

nước 160 tỉ rúp, cùng với những giải pháp tăng thu nhập cho người lao động Sức mua của người dân tăng, thị trường tiêu dùng sôi động và các nhà phân tích kinh

tế đã nói đến sự bùng nổ tiêu dùng ở Nga

Chính phủ Nga đang thực hiện chương trình thúc đẩy kinh tế, trong đó có việc thành lập các đặc khu kinh tế lớn nhằm thực hiện những ý tưởng và quy trình sản xuất mới, nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu quả hoạt động kinh tế Các đặc khu kinh tế sẽ là công cụ để phát triển và sử dụng triệt để mọi tiềm năng khoa học - kĩ thuật, thu hút vốn đầu tư, phát triển kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh Nga sẽ thành lập 2 loại đặc khu kinh tế, gồm đặc khu kinh tế về ứng dụng

kĩ thuật cao và đặc khu kinh tế về sản xuất công nghiệp, dưới sự quản lí của cơ quan Liên bang

Nhằm tăng vai trò quản lí của Nhà nước đối với nền kinh tế, Chính phủ Nga

đang thúc đẩy quá trình tái quốc hữu hóa các doanh nghiệp lớn, trước hết thuộc khu vực năng lượng từng mang lại gần một nửa lợi nhuận về thuế và giá trị xuất khẩu Quá trình tái quốc hữu hóa nền kinh tế Nga tuy có gây tâm lí lo ngại cho một số người, nhưng cho tới nay vẫn không gây ra tác động tiêu cực nào đối với tăng trưởng kinh tế Nga cũng như việc các nhà đầu tư phương Tây đang quay trở lại đầu tư vào Nga

Cũng thời điểm tháng 8/2006, dự trữ vàng và ngoại tệ của Nga đã đạt 265,6

tỉ USD, đứng thứ ba thế giới, sau Trung Quốc và Nhật Bản

Năm 2005, lượng vốn FDI vào Nga đã gấp đôi năm 2004, với hơn 26 tỉ USD So với các nước lớn khác, Nga có ưu thế là trữ lượng tài nguyên phong phú

và lớn nhất thế giới (chiếm 21% của thế giới), với tổng trị giá 30.000 tỉ USD, gấp 3 lần của Mĩ Nga cũng là nước duy nhất trên thế giới có thể tự túc, tự cấp

được nguồn nguyên liệu khoáng sản Bên cạnh đó, Nga đã bắt kịp thế giới trong các lĩnh vực công nghệ mới như thiết kế phần mềm

Với những mảng sáng trong bức tranh kinh tế Nga kể trên, nhiều người lạc quan cho rằng, Nga sẽ không mấy khó khăn để tăng gấp đôi GDP của mình trong vòng 10 năm tới như mục tiêu của Tổng thống V Putin đã đưa ra năm 2003

Trang 20

Bμi 10 LIÊN Bang nga (tiếp theo)

Tăng cường tình đoàn kết, hợp tác với LB Nga

II Các thiết bị dạy học cần thiết:

• Bản đồ Kinh tế chung LB Nga

• Một số ảnh về hoạt động kinh tế của LB Nga

• Lược đồ Các trung tâm công nghiệp chính (phóng to theo SGK)

• Bảng Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp của LB Nga

Trang 21

III Hoạt động trên lớp

Kiểm tra bμi cũ

1 Trình bày vai trò của LB Nga trong Liên bang Xô viết trước đây Nền kinh

tế của LB Nga gặp những khó khăn gì trong thập niên 90 của thế kỉ XX?

2 Trình bày những thành tựu kinh tế của LB Nga đạt được sau năm 2000

3 Dựa vào hình 10.7 và bảng 10.4 hãy nhận xét về sự phát triển kinh tế của

LB Nga Nêu những nguyên nhân chủ yếu giúp cho nền kinh tế LB Nga phát triển từ sau năm 2000

Mở bμi

Trong bài học hôm nay chúng ta sẽ tìm hiểu đặc điểm các ngành kinh tế của

LB Nga, một số vùng kinh tế quan trọng của LB Nga và mối quan hệ Nga – Việt trong bối cảnh quốc tế mới

giao nhiệm vụ cho các nhóm nghiên cứu

về các ngành, sau đó đại diện nhóm lên

hiện đại)

Trang 22

Năm

Sản phẩm

1995 2001 2003 2005

Dầu mỏ (triệu tấn) 305,0 340,0 400,0 470,0

Ngành truyền thống: Năng lượng, chế tạo máy, luyện kim, khai thác vàng và kim cương, khai thác gỗ và sản xuất giấy, bột xenlulô, sản xuất thiết bị tàu biển, thiết bị mỏ

Ngành khai thác dầu khí có tiềm lực

dồi dào, hằng năm mang lại nguồn

ngoại tệ lớn cho đất nước

CH: Quan sát biểu đồ hình 10.8, em

hãy nêu sự phát triển ngành khai thác

dầu của LB Nga

(Từ 1999 đến 2005 sản lượng dầu mỏ

khai thác của LB Nga liên tục tăng

Năm 1999 khai thác được 302 triệu tấn

thì năm 2005 đã đạt 470 triệu tấn (tăng

55,6%)

GV: Năm 2006, sản lượng khai thác đạt

hơn 500 triệu tấn dầu và 587 tỉ m3 khí

tự nhiên, đứng đầu thế giới

- Trong ngành công nghiệp năng lượng thì công nghiệp khai thác dầu khí là ngành mũi nhọn của nền kinh tế mang lại nguồn ngoại tệ lớn cho đất nước

GV treo bảng “Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp của LB Nga”

CH: Dựa bảng số liệu trên, em hãy cho

biết sản lượng các sản phẩm công

nghiệp chủ yếu có sự phát triển như thế

nào?

Trang 23

- Sản lượng các sản phẩm công nghiệp tăng nhanh

(LB Nga là cường quốc về công nghiệp

vũ trụ và công nghiệp quân sự)

* Các ngành công nghiệp hiện đại

đang được chú ý phát triển: điện tử, sản xuất máy tính, máy bay thế hệ mới, công nghiệp hàng không vũ trụ… CH: Dựa vào bình 10.10, em hãy nêu

sự phân bố các trung tâm công nghiệp

chính ở LB Nga

(HS lên bảng xác định vị trí các trung

tâm công nghiệp chính ở LB Nga trên

bản đồ, sau đó nhận xét khái quát về sự

phân bố đó, tập trung nhiều ở đâu?)

c) Phân bố: Tập trung nhiều ở đồng bằng Đông Âu, U-ran, Tây Xi-bia, dọc các đường giao thông quan trọng …

2 Nông nghiệp

- Điều kiện: Có quỹ đất nông nghiệp lớn (hơn 200 triệu ha), có khả năng trồng nhiều loại cây và phát triển chăn nuôi

Trang 24

CH: Dùa vµo néi dung môc 2 trong

SGK trang 105, em h·y nªu tªn vµ sù

- Nh×n chung c¸c s¶n phÈm cã møc t¨ng kh¸

+ 21,4 triÖu tÊn cñ c¶i ®−êng

+ 37,3 triÖu tÊn khoai t©y

+ 15,2 triÖu tÊn rau c¸c lo¹i

Trang 25

3 Dịch vụ

CH: Dựa vào nội dung SGK và sự hiểu

biết của mình, em hãy nêu một số nét

chính về ngành dịch vụ của LB Nga

Đặc biệt là:

+ Đường sắt xuyên Xi-bia, đường sắt

BAM (Bai-can – A-mua)

+ Hệ thống đường xe điện ngầm ở

Mat-xcơ-va

- Cơ sở hạ tầng giao thông tương đối phát triển với đủ loại hình

- Gần đây kim ngạch ngoại thương luôn tăng và xuất siêu (120 tỉ USD năm 2005)

GV: Trong các mặt hàng xuất khẩu thì

nguyên liệu và năng lượng vẫn chiếm tỉ

lệ cao, hơn 60% giá trị xuất khẩu

Các trung tâm dịch vụ lớn là Mát-xcơ-va,

một số vùng kinh tế quan trọng Trong

mục III sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu về

các vùng kinh tế này

tế quan trọng của LB Nga

III Một số vùng kinh tế quan trọng

HS ghi theo bảng tổng hợp trang 107 SGK

Chuyển ý: Việt Nam – Liên Xô đã

từng là các đối tác chiến lược Trong

bối cảnh quốc tế mới, mối quan hệ

Nga - Việt được thể hiện như thế nào?

Chúng ta tìm hiểu vấn đề này ở mục

IV sau đây

Trang 26

2 Hãy nêu các ngành công nghiệp nổi tiếng của LB Nga và cho biết LB Nga

đã hợp tác với Việt Nam trong những ngành công nghiệp nào (trước đây và hiện nay)

V Hoạt động nối tiếp

Tiếp tục sưu tầm các tài liệu về LB Nga

- Việt trong bối cảnh quốc tế mới

IV Quan hệ Nga - Việt trong bối cảnh quốc tế mới

GV yêu cầu HS đọc nội dung mục IV để

rút ra các đặc điểm chính trong quan hệ

Nga - Việt hiện nay

Hai nước khẳng định:

-Tiếp nối quan hệ chiến lược Xô - Việt trước đây, quan hệ Nga - Việt thập kỉ 90 của thế kỉ XX

-Nâng lên tầm cao mới của đối tác chiến lược vì lợi ích cả hai bên

-Đưa kim ngạch buôn bán 2 chiều

Nga - Việt từ 1,1 tỉ USD (năm 2005) lên 3 tỉ USD vào những năm gần nhất

(Cả về kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa

học, kĩ thuật)

-Hợp tác trên nhiều mặt, toàn diện

Trang 27

VI Phụ lục

Quan hệ hữu nghị Việt - Nga

Liên Xô là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đặt nền móng cho tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp giữa hai nước sau này

Ngay từ những ngày đầu lập nước, việc phát triển quan hệ với Liên Xô luôn

là một trọng tâm hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Ngày 10/3/1952, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết quốc thư, cử

ông Nguyễn Lương Bằng làm Đại sứ đầu tiên của Việt Nam tại Liên Xô Và tháng 7/1955, sau khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Chính phủ nước ta sang thăm Liên Xô nhằm củng cố tình đoàn kết hữu nghị, tăng cường mối quan

hệ kinh tế, văn hóa giữa hai nước

Nhân dân Liên Xô cũng luôn dành cho nhân dân Việt Nam những tình cảm nồng thắm và sự giúp đỡ hào hiệp Trong những năm tháng cam go nhất của cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Việt Nam luôn nhận được sự ủng hộ chí tình của nhân dân Liên Xô Không chỉ giúp đỡ về tiền bạc, hiện vật, các chuyên gia Liên Xô còn sang tận nơi giúp Việt Nam phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Nhiều công trình do Liên Xô giúp xây dựng đã gắn bó với bao thế hệ người dân Việt Nam, đến nay vẫn phát huy hiệu quả tích cực (như Nhà máy thuỷ điện Thác

Bà, Nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, Trường Đại học Bách Khoa, Bệnh viện Hữu nghị Việt - Xô ) Hàng chục ngàn cán bộ Việt Nam được đào tạo tại Liên Xô đã trở thành những cán bộ chủ chốt, những chuyên gia giỏi trên nhiều lĩnh vực Quan hệ hợp tác giữa hai nước cũng sớm được quan tâm thúc đẩy, khởi đầu bằng việc kí Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại Việt - Xô ngày 18/6/1955 Chỉ 5 năm sau đó, kim ngạch buôn bán hai chiều đã tăng lên gấp 13 lần (năm

1955 chỉ đạt 5 tỷ rúp) Và giai đoạn 1976-1980, khối lượng trao đổi hàng hóa giữa hai nước bằng 20 năm trước cộng lại Những năm cuối thập kỉ 80, Liên Xô thường chiếm khoảng 40% kim ngạch xuất khẩu và 60% kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam Tình cảm đoàn kết, gắn bó và quan hệ hợp tác tốt đẹp về nhiều mặt Việt - Xô đã đặt nền móng vững chắc cho quan hệ Việt - Nga sau này tiếp tục phát triển lên tầm cao mới

Sau khi Liên Xô tan rã (tháng 12/1991), quan hệ hợp tác nhiều mặt, cùng có lợi giữa Việt Nam và Liên bang Nga tiếp tục được coi trọng và phát triển Quan

Trang 28

hệ hai nước dần phục hồi và ngày càng phát triển mạnh mẽ, toàn diện Việc kí Hiệp ước về những nguyên tắc cơ bản của quan hệ hữu nghị giữa CHXHCN Việt Nam và Liên bang Nga ngày 16/6/1994, nhân chuyến thăm Nga của Thủ tướng

Võ Văn Kiệt, đã mở ra một giai đoạn phát triển mới trong quan hệ hai nước Tiếp đó, các chuyến thăm lẫn nhau của lãnh đạo cấp cao hai bên diễn ra thường xuyên Đặc biệt, chuyến thăm của Chủ tịch nước Trần Đức Lương tới Liên bang Nga tháng 8/1998 đã tạo bước đột phá mới trong quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước Lần đầu tiên, Tổng thống Nga Boris Yeltsin khẳng định Nga coi Việt Nam là đối tác chiến lược ở Đông Nam á Và khuôn khổ quan hệ Việt - Nga trong thế kỉ XXI đã được chính thức hóa bằng việc kí Tuyên bố chung về quan

hệ đối tác chiến lược nhân dịp Tổng thống Nga Vladimir Putin thăm Việt Nam (28/2 đến 2/3/2001) Việt Nam và Liên bang Nga đã kí hơn 30 văn kiện cấp Nhà nước và Chính phủ, một cơ sở pháp lí đồ sộ cho sự phát triển quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa hai nước trong giai đoạn mới

Cùng với quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở LB Nga, quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước không ngừng phát triển Đặc biệt từ năm 1994, kim ngạch buôn bán hai chiều Việt Nam-LB Nga đạt khoảng

500 triệu USD, năm 2002 đạt 700 triệu USD, năm 2003 đạt 651,3 triệu USD và năm 2004 xấp xỉ 700 triệu USD Hai nước đặt mục tiêu nâng kim ngạch hai chiều lên 1 tỉ USD trong những năm tới

Tính đến tháng 4/2004, không kể liên doanh dầu khí Vietsovpetro, Nga có

46 dự án đầu tư còn hiệu lực với tổng số vốn 251 triệu USD, đứng thứ 21 trong tổng số 64 nước và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Riêng công nghiệp dầu khí đã chiếm hơn 24% tổng vốn đầu tư của Nga vào Việt Nam Liên doanh Vietsovpetro thành lập năm 1981 đến nay vẫn tiếp tục là biểu tượng của sự hợp tác Việt-Nga, là trụ cột của ngành thăm dò và thai thác dầu khí của Việt Nam

Đứng sau lĩnh vực dầu khí là sự hợp tác về các ngành xây dựng và thủy sản Ngoài ra, Nga còn tham gia thiết kế, cung cấp, hỗ trợ cho nhiều công trình năng lượng ở Việt Nam Điển hình là Nhà máy thủy điện Hòa Bình, nhà máy thủy điện Yaly, nhà máy thủy điện Sêsan-3 Nga cũng thành lập các xí nghiệp liên doanh trồng, chế biến, đóng gói, tiêu thụ chè cũng như cung cấp sang Nga khoảng 5.000 tấn chè mỗi năm Tại Việt Nam hiện có gần 30 xí nghiệp liên doanh Nga-Việt, với tổng đầu tư gần 120 triệu USD hoạt động trong các ngành sản xuất cao su, khai thác và chế biến hải sản, vận chuyển hàng hóa

Trang 29

Các doanh nghiệp Việt Nam cũng có 11 dự án đầu tư sang Nga với tổng vốn

33 triệu USD, chủ yếu trong lĩnh vực xuất nhập khẩu, chế biến thực phẩm, sản xuất vật liệu xây dựng Hai bên tích cực cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, thúc đẩy xúc tiến buôn bán, hoàn thiện cơ chế tín dụng, thanh toán nhằm mở rộng hợp tác Nga - Việt

Ngoài ra, hai bên cũng tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực: kĩ thuật quân

sự, văn hóa, giáo dục, khoa học, thể dục thể thao Mỗi năm, hàng trăm sinh viên Việt Nam tiếp tục sang Nga học tập Và rất nhiều hoạt động giao lưu, trao đổi, hợp tác văn hóa giữa hai nước được tổ chức thường xuyên đã góp phần củng cố, tăng cường hơn nữa sự gắn bó giữa hai dân tộc Nga - Việt

Quan hệ Nga - Việt được xây dựng và phát triển trên nền tảng của tình hữu nghị gắn bó giữa hai dân tộc và đã được kiểm chứng bởi thời gian Tiếp tục củng

cố, phát triển quan hệ hữu nghị truyền thống, sự hợp tác nhiều mặt giữa Việt Nam và Liên bang Nga trên tinh thần đối tác chiến lược, không chỉ vì lợi ích của nhân dân hai nước mà còn góp phần vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở khu vực và trên thế giới

Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh trong chuyến thăm Nga tháng 10/2002 đã khẳng định rằng: "Từ lâu, nhân dân hai nước chúng ta đã gắn bó chặt chẽ với nhau bởi mối tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp về nhiều mặt Mối quan hệ thắm thiết đó được thử thách qua nhiều thập kỉ, trở thành tài sản quí báu và là nhân tố vô cùng quan trọng để tiếp tục đưa quan hệ hai nước lên tầm cao mới"

Trang 30

Bμi 10 LIÊN Bang nga (tiếp theo)

• Biết phân tích bảng số liệu để thấy sự thay đổi của nền kinh tế LB Nga

• Nhận biết được LB Nga vẫn là cường quốc kinh tế

2 Kĩ năng

• Vẽ biểu đồ

• Phân tích các số liệu để nhận xét và giải thích

II Các thiết bị dạy học cần thiết

Biểu đồ thể hiện sự thay đổi GDP bình quân đầu người và giá trị ngoại thương của LB Nga được vẽ theo bảng số liệu số 10.6 và 10.7 trong bài

III Hoạt động trên lớp

Kiểm tra bμi cũ

1 Dựa vào bảng số liệu sau:

Trang 31

2 Hãy nêu các ngành công nghiệp nổi tiếng của LB Nga và cho biết LB Nga

đã hợp tác với Việt Nam trong những ngành công nghiệp nào? (trước đây và

hiện nay)

Mở bμi

Trong bài thực hành hôm nay chúng ta sẽ tiến hành phân tích tình hình thay

đổi kinh tế của LB Nga

Bước 1: Giáo viên nên bổ sung thêm bảng 10.6-a Tỉ trọng của ba khu vực

kinh tế trong GDP của LB Nga thời kì 1997 – 2005 và nêu yêu cầu của hoạt

động 1

GV gọi HS phát biểu, cho biết đối với mỗi bảng số liệu có thể sử dụng hình

thức biểu đồ nào để thể hiện

Giáo viên chuẩn xác:

- Với bảng số liệu 10.6-a: Tỉ trọng ba khu vực kinh tế trong GDP (%), thời gian

diễn biến qua 5 năm nên phải sử dụng hình thức biểu đồ miền để thể hiện

- Với bảng số liệu 10.6: GDP bình quân đầu người (USD) qua các năm, ta có

thể sử dụng biểu đồ đường (đồ thị) hoặc biểu đồ cột để thể hiện Song tốt

nhất là dùng biểu đồ đường

Bước 2: Học sinh vẽ biểu đồ Nếu lớp có trình độ, kĩ năng chưa cao thì có thể

phân lớp thành 2 nhóm học sinh, mỗi nhóm vẽ 1 biểu đồ (biểu đồ còn lại về

nhà vẽ nốt) Khi học sinh dưới lớp vẽ, giáo viên cho 2 học sinh thuộc 2 nhóm

lên bảng vẽ biểu đồ

Bước 3: Các học sinh nhận xét đánh giá phần thể hiện của các bạn trên bảng

GV tổng hợp ý kiến và đưa bản vẽ chuẩn xác ra để học sinh đối chiếu

Sau đây là bản vẽ chuẩn xác:

a) Vẽ biểu đồ tỉ trọng ba khu vực kinh tế trong GDP (%) dựa vào bảng số

liệu sau: (bảng 10.6-a)

Trang 32

KVI KVII KVIII

Biểu đồ tỉ trọng ba khu vực kinh tế trong GDP (%) của LB Nga

b Vẽ biểu đồ về sự thay đổi GDP/người (USD) qua các năm của LB Nga dựa vào bảng số liệu 10.6:

Bảng 106 GDP bình quân đầu người

Trang 33

Cách 2: vẽ theo dạng biểu đồ đường (tốt nhất)

Sau năm 1990, nền kinh tế Liên Xô rơi vào suy thoái, tình hình chính trị bất

ổn mà đỉnh cao của cuộc khủng hoảng chính trị là sự tan rã của Nhà nước Liên bang Xô viết GDP/người của LB Nga sụt giảm, năm 1995 trung bình

đạt 2347 USD/người và năm 2000 chỉ còn 1784 USD/người

Cũng năm 2000, V Putin chính thức trở thành Tổng thống LB Nga Nhờ thực hiện hiệu quả chiến lược kinh tế mới và nhờ giá nhiên liệu tăng cao,

LB Nga đã dần từng bước vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế, GDP đã có

sự tăng trưởng đáng kể và nhờ vậy, GDP/người đã ngày một gia tăng Ngay năm 2001 GDP/người đã đạt 2118 USD/người tăng 18,7% so với năm 2000, và năm 2004 GDP/người đã đạt 4042 USD/người tăng gần 2,3 lần so với năm 2000

Năm

Trang 34

Hoạt động 2: Vẽ biểu đồ về sự thay đổi giá trị xuất, nhập khẩu của LB Nga

Bước 1: Giáo viên nêu yêu cầu của hoạt động 2, gọi HS phát biểu, cho biết

đối với bảng số liệu 10.7 trong bài có thể sử dụng hình thức biểu đồ nào để thể hiện

Giáo viên chuẩn xác có thể vẽ theo 2 cách:

- Cách 1: Sử dụng hình thức biểu đồ đường để thể hiện giá trị xuất khẩu

và nhập khẩu Khoảng giao nhau giữa 2 đường chính là cán cân thương mại

- Cách 2: Sử dụng hình thức biểu đồ nhóm cột để thể hiện giá trị xuất, nhập khẩu và cán cân thương mại của LB Nga

Bước 2: Học sinh vẽ biểu đồ Nếu lớp có trình độ, kĩ năng chưa cao thì có thể

phân lớp thành 2 nhóm học sinh, mỗi nhóm vẽ biểu đồ theo một cách (cách

vẽ biểu đồ còn lại về nhà vẽ nốt) Khi học sinh dưới lớp vẽ, giáo viên cho 2 học sinh thuộc 2 nhóm lên bảng vẽ biểu đồ theo 2 cách khác nhau

Bước 3: Các học sinh nhận xét đánh giá phần thể hiện của các bạn trên bảng

GV tổng hợp ý kiến và đưa bản vẽ chuẩn xác ra để học sinh đối chiếu

Sau đây là bản vẽ chuẩn xác:

Cách 1: Vẽ theo hình thức biểu đồ đường

Tỉ USD

139.9 183.5

245

105.6 88

70

125 105.9 49

83.7

0 50 100

- - - Giá trị xuất khẩu Giá trị nhập khẩu Cán cân xuất, nhập khẩu (xuất siêu)

Biểu đồ giá trị xuất, nhập khẩu của LB Nga

Năm

Trang 35

Xuất khẩu Nhập khẩu Cán cân thương mại

Biểu đồ giá trị xuất, nhập khẩu của LB Nga

Nhận xét:

Từ năm 1997 đến năm 2005 giá trị xuất khẩu của LB Nga gia tăng liên tục

Về giá trị nhập khẩu của LB Nga, trừ năm 2000 là năm đầu tiên LB Nga thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng” giảm thiểu nhập khẩu để dành ngoại tệ trả nợ nước ngoài, nên giá trị nhập khẩu của LB Nga năm 2000 chỉ là 49 tỉ USD, giảm 21 tỉ USD so với năm 1997, còn nhìn chung cũng đều tăng qua các năm Tuy nhiên mức gia tăng giá trị nhập khẩu thấp hơn so với mức gia tăng xuất khẩu, cụ thể năm 2005 so với năm 1997 mức gia tăng nhập khẩu đạt 178,6% trong khi mức gia tăng xuất khẩu đạt 278,4%

LB Nga luôn xuất siêu, cán cân thương mại dương và luôn tăng liên tục Năm

1997 LB Nga xuất siêu 18 tỉ USD thì đến năm 2005 mức xuất siêu của LB Nga

đã đạt 120 tỉ USD bằng 6,7 lần so với năm 1997

Đây là kết quả của việc LB Nga thực hiện thành công chiến lược kinh tế mới

và nhờ giá nhiên liệu tăng cao trên thị trường thế giới

Năm

Trang 36

IV Đánh giá

Giáo viên nhận xét tinh thần làm việc của cả lớp trong giờ thực hành, có thể thu và chấm điểm một số bài của học sinh để động viên và rèn luyện tinh thần học tập của các em

V Hoạt động nối tiếp

Học sinh về nhà hoàn chỉnh bài thực hành

VI Phụ lục

1 “Cú trả nợ lịch sử” của Liên bang Nga

Tám năm sau khi tuyên bố không thể trả được khoản nợ hơn 40 tỉ USD và rơi vào khủng hoảng kinh tế, ngày 21/8/2006 nước Nga đã làm giới tài chính toàn cầu phải bất ngờ khi ngay một lúc rút 22,5 tỉ USD từ ngân sách trả trước thời hạn hầu như toàn bộ số nợ tồn đọng từ thời Liên Xô cũ Không những thế, để thuyết phục các chủ nợ trong Câu lạc bộ Paris "gật đầu" cho mình trả nợ sớm, Nga còn sẵn sàng đưa thêm 1 tỉ USD nữa dưới hình thức bồi thường

Thông báo mà Bộ Tài chính Nga đưa ra coi đây là "cú trả nợ lịch sử" bởi mới

8 năm trước đây, nước Nga từng rơi vào cảnh hoảng loạn vỡ nợ Vào "ngày thứ năm đen tối" (13/8/1998), chỉ trong vòng 40 phút, giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mát-xcơ-va đã tụt giảm 10% Sự đình đốn của nền kinh tế cùng tình trạng nợ chồng chéo giữa các công ti đã đẩy nền kinh tế Nga đến bên bờ vực sụp đổ Trong quyết định đầy khó khăn, chính phủ Nga đã phải tuyên bố tạm ngừng trả nợ nước ngoài trong vòng 90 ngày và cấm người nước ngoài mua trái phiếu ngắn hạn của Nga

Vừa đặt chân vào Điện Kremlin (năm 2000), Tổng thống V Putin đã phải tận dụng tối đa mối quan hệ cá nhân thân thiết với Thủ tướng Đức lúc đó là ông

G Schroeder mới được Berlin đồng ý cho giãn nợ Tuy nhiên, phái đoàn của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) đến Mát-xcơ-va bàn thảo việc tái cơ cấu nợ của Nga đã bỏ

dở chuyến đi mà không hẹn ngày trở lại cho vòng thảo luận mới, sau khi Hạ viện Nga không thống nhất được làm thế nào để trả nợ nước ngoài

Lúc đó, tổng số nợ của Nga đã lên tới 158 tỉ USD, chiếm gần hết GDP của Nga Báo chí phương Tây lúc đó nói rằng "với số nợ nước ngoài khổng lồ như vậy, ngay đến lãi suất của các khoản nợ này Nga cũng khó có thể trả nổi"

Trang 37

Giờ đây, các chủ nợ của Nga trong Câu lạc bộ Paris lại phải thất vọng khi Nga đưa ra đề nghị được trả nợ sớm Phản ứng mạnh nhất là Đức, nước chiếm một khoản lớn trong số nợ của Nga đối với câu lạc bộ này (Tổng cộng Nga đã

nợ Câu lạc bộ Paris 44 tỉ USD, trong số đó, nợ Đức lớn nhất, khoảng 7,7 tỉ USD) Vấn đề là ở chỗ theo thỏa thuận kí năm 1992 thì 19 thành viên của Câu lạc bộ Paris chấp nhận cho Nga thanh toán nợ trong vòng 20 năm, tức là phải đến năm

Giờ đây, hầu hết các nhà kinh tế đều có nhận xét khả quan về viễn cảnh kinh

tế của Nga Thậm chí có một số chuyên gia đã đưa ra khái niệm "kì tích kinh tế Nga" Từ chỗ là "con nợ khổng lồ", dự trữ ngoại tệ và vàng của Nga nay đã đạt

246 tỉ USD, đưa nước này lên vị trí thứ tư thế giới về mức dự trữ Thặng dư ngân sách lên tới 27 tỉ USD, đủ sức để Chính phủ rộng tay đưa ra mức tăng chưa từng

có 30% cho lĩnh vực giáo dục và nông thôn, 60% cho chăm sóc sức khoẻ và xây dựng nhà ở

2 Lợi nhuận từ dầu lửa giúp Nga thanh toán nợ từ thời Xô viết

Năm 1998, khi giá dầu mới chỉ có trên dưới 14 USD/thùng, Nga không đủ khả năng trả nợ và phải hạ giá đồng rúp Năm 1999, nợ Chính phủ của Nga lên

đến 96% tổng thu nhập quốc dân Nhưng sau đợt quyết toán nợ ngày 21/8/2006, khoản nợ này chỉ còn chiếm 9% GDP

Hiện nay, Nga là nước xuất khẩu khí tự nhiên lớn nhất thế giới và là nước xuất khẩu dầu lớn thứ hai thế giới Với giá dầu lên cao kỉ lục trong thời gian qua, có lúc vượt ngưỡng 80 USD/thùng (thậm chí tới gần 100 USD/thùng), nhà xuất khẩu năng lượng lớn nhất thế giới với diện tích xấp xỉ nửa châu lục này đã thu được những khoản "tiền tươi" khổng lồ

Trang 38

Chính phủ Nga đang huy động nguồn vốn và tăng chi tiêu xã hội, trong khi

đó vẫn giám sát chặt chẽ tốc độ tăng lạm phát Nga đã thành lập một quỹ dự phòng 82 tỉ USD

3 Tác dụng của việc trả nợ sớm với nền kinh tế Nga

Theo tuyên bố của Bộ Tài chính Nga, việc thanh toán nợ trước thời hạn này

sẽ giúp cải thiện uy tín cũng như môi trường đầu tư của Nga

Trên thực tế, một số tập đoàn quốc tế đã đầu tư rất lớn vào Nga Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Nga có khoảng 26 tỉ USD vốn đầu tư trực tiếp tích lũy của người nước ngoài trong giai đoạn 2001-2004 (trong đó 11,7 tỉ USD diễn ra chỉ riêng trong năm 2004)

Giờ đây với việc trở thành một thành viên thường trực của CLB Pari, từ con

nợ khổng lồ trở thành một trong những ông chủ nợ của thế giới tương lai, một thế giới của những giọt dầu đang khô cạn, một thế giới mà đến Mĩ cũng phải tính chuyện khoan dầu ngay tại khu bảo tồn thiên nhiên Alaska của mình còn Trung Quốc đang đau đầu với nỗi lo thiếu nhiên liệu cho phát triển kinh tế Điều

đó đã cho thấy tiềm lực to lớn của LB Nga hiện nay

4 Những nỗ lực thoát khỏi quãng thời gian vỡ nợ

Nga vẫn đang cố gắng để thiết lập một nền kinh tế thị trường và để thu được

sự phát triển kinh tế bền vững Trong 5 năm đầu nền kinh tế Nga đã phát triển không ổn định do các cơ quan hành pháp và lập pháp còn nhiều bất đồng trong việc hoàn thiện công cuộc cải cách và các nền tảng công nghiệp của Nga chịu sự suy thoái nặng nề

Ngoài ra, sự thiếu hụt thực phẩm năm 1987, mà hậu quả của nó là đã phải cần đến sự trợ giúp quốc tế trên bình diện rộng, đã làm tổn thương nghiêm trọng lòng tự hào cũng như nền kinh tế nói chung của nước Nga

Sau sự tan rã của Liên Xô, sự phục hồi nhỏ của Nga dưới ảnh hưởng của kinh tế thị trường lần đầu tiên diễn ra vào khoảng năm 1997 Trong năm đó, cuộc khủng hoảng tài chính châu á đã lên đến điểm đỉnh trong việc phá giá của

đồng rúp vào tháng 8 năm 1998, làm cho tình trạng nợ Chính phủ của Nga càng trầm trọng

Tuy nhiên, nền kinh tế Nga đã phục hồi vừa phải trong năm 1999 Kinh tế Nga đã đi vào giai đoạn phát triển nhanh, GDP tăng trưởng trung bình 6,8% mỗi năm trong giai đoạn 1999-2004 trên cơ sở của giá dầu mỏ cao, đồng rúp yếu, và

Trang 39

tăng trưởng của các ngành công nghiệp và dịch vụ Tuy nhiên, sự phát triển kinh

tế này là cực kỳ không đều: khu vực Thủ đô Mat-xcơ-va cung cấp tới 30% GDP của toàn quốc

Sự phục hồi kinh tế này cùng với cố gắng cải tổ của chính quyền trong các năm 2000-2001 để thúc đẩy cải cách về cấu trúc đang bị thụt lùi, đã làm tăng sự tin cậy của các nhà kinh doanh và đầu tư về triển vọng của nền kinh tế Nga trong thập niên thứ hai của thời kì chuyển đổi Nga vẫn dựa chủ yếu vào xuất khẩu hàng hóa, cụ thể là dầu mỏ, khí đốt, kim loại và gỗ, các mặt hàng này chiếm trên 80% kim ngạch xuất khẩu, điều này làm cho Nga dễ bị thương tổn vì các biến

động giá cả trên thị trường quốc tế

Trong những năm gần đây, nền kinh tế Nga đã nhắm nhiều hơn vào nhu cầu

về các mặt hàng tiêu dùng trong nước, là lĩnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm trong giai đoạn 2000-2004, chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa

Năm 2004, GDP của Nga đạt 1.500 tỉ USD, làm cho Nga trở thành nền kinh

tế lớn thứ 11 trên thế giới và thứ 5 ở châu Âu Nếu mức tăng trưởng hiện tại là

ổn định, dự kiến Nga sẽ trở thành nền kinh tế lớn thứ hai ở châu Âu sau Đức (2.300 tỉ USD) và là thứ 8 trên thế giới trong vài năm tới

5 Câu lạc bộ Paris

Câu lạc bộ Paris là một nhóm không chính thức 19 quốc gia chủ nợ, là những nước giàu có nhất thế giới, chuyên cung cấp các dịch vụ tài chính như cho vay tái thiết đất nước, hoãn nợ, xoá nợ cho các nước mắc nợ khó trả

Con nợ của Câu lạc bộ Paris thường là những nước được Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) chỉ định (gần như bảo lãnh) nếu các thương lượng trước đó không đi đến thoả thuận cho vay nào

Tổ chức này cứ 6 tuần hội họp một lần, tại trụ sở Bộ Kinh tế, Tài chính và Công nghiệp Pháp đóng tại thủ đô Paris Đứng đầu luôn là chuyên viên cao cấp thuộc Bộ Tài chính Pháp

Câu lạc bộ Paris ra đời từ một cuộc đàm phán tổ chức tại Paris năm 1956 giữa con nợ Argentina và hàng loạt chủ nợ của nước này

Thành viên thường trực của Câu lạc bộ Paris hiện nay gồm có Ôttrâylia, áo,

Bỉ, Canađa, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, Italia, Nhật Bản, Hà Lan,

Na Uy, Nga, Tây Ban Nha, Thuỵ Điển, Thuỵ Sĩ, Anh và Mĩ

Trang 40

6 Cơ hội vμ thách thức đối với kinh tế - xã hội Nga

Trong 15 năm cải tổ (1991 - 2006), 10 năm đầu nước Nga khủng hoảng nghiêm trọng do áp dụng "liệu pháp sốc" Từ năm 2000 đến nay, với sự điều chỉnh căn bản và thận trọng hơn hệ thống chính sách vĩ mô, GDP của Nga liên tục tăng trưởng cao, đạt 9% vào năm 2000 và 6,9% vào năm 2006; từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, Nga trở lại xuất khẩu mặt hàng này; ngân sách cân bằng, lạm phát giảm dần (ở mức 6,6% năm 2006)

Mấy năm gần đây, Nga tích cực đẩy mạnh chuyển đổi mô hình phát triển, tạo ra hệ thống kinh tế thị trường rộng khắp lãnh thổ, môi trường đầu tư được cải thiện rõ rệt và có sức hấp dẫn ngày càng mạnh đầu tư trong nước và nước ngoài Năm 2005, lượng vốn FDI vào Nga đã tăng gấp đôi so với năm 2004, đạt hơn 26

tỉ USD; và trong cả năm 2006, lượng vốn này đạt xấp xỉ 28 tỉ USD Đến tháng 8/2006, Nga đã thanh toán trước thời hạn 21,3 tỉ USD tiền nợ 19 nước thuộc Câu lạc bộ Paris; và cùng ở thời điểm ấy, dự trữ vàng và ngoại tệ của Nga đã đạt xấp

xỉ 266 tỉ USD, đứng thứ ba thế giới (sau Trung Quốc và Nhật Bản) Ngoài ra, Nga đã bắt kịp các nước tiên tiến trong một số lĩnh vực công nghệ mới, đặc biệt

là công nghệ phần mềm Lợi thế nổi bật của Nga là có lãnh thổ rộng nhất thế giới, kết nối với cả châu Âu và châu á; tài nguyên rất đa dạng và với trữ lượng lớn nhất (chiếm tới 21% của cả thế giới, có tổng giá trị ước đạt 30.000 tỉ USD, gấp 3 lần của Mĩ)

Những thành tựu và ưu thế kinh tế nói trên của Nga là không thể phủ nhận Song, theo đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài Nga, nước này hiện vẫn

đang phải đối mặt với không ít khó khăn và nguy cơ tụt hậu: cơ cấu chung của nền kinh tế còn nhiều mặt bất hợp lí; lệ thuộc quá lớn vào xuất khẩu năng lượng

đến mức mắc phải "căn bệnh Hà Lan" (tăng xuất khẩu năng lượng quá ngưỡng, khiến cho tỉ giá bị đẩy lên cao, dẫn đến xuất khẩu trở nên đắt hơn và tác động tiêu cực tới sức cạnh tranh và đầu tư ở các lĩnh vực khác); kết cấu hạ tầng bị xuống cấp khá nghiêm trọng do thiếu đầu tư trong nhiều thập niên qua; chưa trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; nhiều dự án trong các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, nhà ở và giáo dục triển khai chậm; tình trạng tham nhũng

và tệ quan liêu còn khá phổ biến; chảy máu chất xám khá trầm trọng và vẫn đang

Ngày đăng: 16/05/2015, 12:21

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 106. GDP bình quân đầu ng−ời - Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản
Bảng 106. GDP bình quân đầu ng−ời (Trang 32)
1. Bảng tỉ trọng của nông nghiệp trong cơ cấu GDP của Nhật Bản thời kì  1960-2005 (% NN) - Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản
1. Bảng tỉ trọng của nông nghiệp trong cơ cấu GDP của Nhật Bản thời kì 1960-2005 (% NN) (Trang 69)
Bảng trình bày, chỉ vị trí phân bố các - Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản
Bảng tr ình bày, chỉ vị trí phân bố các (Trang 107)
Hình 13.1 và bản đồ khu vực Nam á. - Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản
Hình 13.1 và bản đồ khu vực Nam á (Trang 136)
Bảng 13.2. Cơ cấu kinh tế của ấn Độ - Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản
Bảng 13.2. Cơ cấu kinh tế của ấn Độ (Trang 165)
1. Bảng tổng hợp các ngành kinh tế ở Đông Nam á - Thiết kế bài giảng Địa 11 tập 2 cơ bản
1. Bảng tổng hợp các ngành kinh tế ở Đông Nam á (Trang 192)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm