1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực tiễn áp dụng pháp luật về Cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước

44 319 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 190 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thựctiễn áp dụng hơn 10 năm đã khẳng định rằng CPH DNNN không phải là tư nhân hoá nền kinh tế, mà là quá trình đa dạng hoá hình thức sởhữu, tạo cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ tổ chức

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦU

Hơn mười năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã thực hiện nhiều giảipháp lớn để phát triển kinh tế, nhằm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước, tạo tiền đề vật chất cho chủ nghĩa xã hội Giải pháp lớn nhấtđược ghi nhận trong Nghị quyết của Đảng và Hiến pháp 1992 là: ''Pháttriển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, theo cơ chế thị trường, có

sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa''

Trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đó, kinh tế Nhànước mà nòng cốt là Doanh nghiệp Nhà nước(DNNN) được xác địnhgiữ vai trò chủ đạo Xuất phát từ thực trạng quản lý và kinh doanh kémhiệu quả của hệ thống DNNN, Nhà nước ta cần phải sắp xếp, đổi mới

và phát triển Doanh nghiệp để thúc đẩy DNNN hoạt động có hiệu quảhơn

Cùng với quá trình sắp xếp lại DNNN cổ phần hoá(CPH) DNNN

là một quá trình tất yếu có tính phổ biến của sự phát triển nền kinh tếnhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu Bởi vì, việc sắp xếp vàchuyển một số DNNN thành công ty cổ phần, tiến lên hình thành cáccông ty đa quốc gia đủ mạnh, hoạt động có hiệu quả ở thị trường trongnước và vươn ra thị trường thế giới là con đường hữu hiệu để đổi mớikhu vực kinh tế Nhà nước ở nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thếgiới

Ở Việt Nam, vấn đề CPH DNNN được đặt ra từ năm 1991 Thựctiễn áp dụng hơn 10 năm đã khẳng định rằng CPH DNNN không phải

là tư nhân hoá nền kinh tế, mà là quá trình đa dạng hoá hình thức sởhữu, tạo cơ sở cho việc đổi mới các quan hệ tổ chức quản lý và tậptrung vốn nhằm hiện đại hoá nền kinh tế, tạo động lực cho Doanhnghiệp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, đồng thời CPH DNNNcũng không có nghĩa là làm suy yếu kinh tế Nhà nước, mà là một trongcác giải pháp quan trọng để kinh tế Nhà nước phát huy vai trò chủ đạothật sự cuả nó trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủnghĩa Chính vì vậy, Nghị quyết Đại hội Đảng IX của Đảng ta nhấnmạnh: ''Thực hiện chủ trương CPH những Doanh nghiệp mà Nhà nước

Trang 2

không cần nắm giữ 100% vốn để huy động thêm vốn, tạo động lực và

cơ chế quản lý năng động thúc đẩy Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả''

Chương I

Khái quát chung về Doanh nghiệp nhà nước

và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp nhà nước ở việt nam

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm

Thuật ngữ DNNN được sử dụng chính thức trong Nghị định388/HĐBT ngày 20/11/1991 ban hành quy chế về thành lập và giải thểDNNN Điều 1 Nghị định này đã định nghĩa: DNNN là tổ chức kinh doanh

do Nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách chủ sở hữu DNNN

là pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật

Kỳ họp thứ 7 Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Namkhoá IX ngày 20/4/1995 đã thông qua Luật Doanh nghiệp Nhà nước, và từ đókhái niệm DNNN được hiểu thống nhất như sau:

Điều 1 Luật DNNN quy định: ''DNNN là tổ chức kinh tế do nhà nướcđầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt động kinh doanh hoặc hoạtđộng công Ých, nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế, xã hội do Nhà nướcgiao DNNN có tư cách pháp nhân, có các quyền và nghĩa vụ dân sự, tự chịutrách nhiệm về toàn bộ hoạt động, kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanhnghiệp quản lý''

2 Đặc điểm của Doanh nghiệp Nhà nước

2.1 Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước thành lập

Điều này thể hiện ở chỗ tất cả các DNNN đều do cơ quan nhà nước cóthẩm quyền trực tiếp ký quyết định thành lập khi thấy việc thành lập doanh

Trang 3

nghiệp là cần thiết Các loại hình doanh nghiệp khác không phải do Nhà nướctrực tiếp thành lập mà chỉ cho phép thành lập trên cơ sở đơn xin thành lập củangười hoặc những người muốn thành lập

2.2 Tài sản trong doanh nghiệp Nhà nước là một bộ phận tài sản của Nhà nước

DNNN do Nhà nước đầu tư vốn nên nó thuộc sở hữu Nhà nước Saukhi được thành lập, DNNN là chủ thể kinh doanh nhưng chủ thể kinh doanhnày không có quyền sở hữu đối với tài sản mà chỉ là người quản lý và kinhdoanh trên cơ sở sở hữu của Nhà nước DNNN phải chịu trách nhiệm trướcNhà nước về việc bảo toàn và phát triển vốn được Nhà nước giao để duy trìkhả năng kinh doanh của Doanh nghiệp

2.3 Doanh nghiệp Nhà nước là đối tượng quản lý trực tiếp của Nhà nước

Để đảm bảo các DNNN hoạt động hiệu quả theo hướng mục tiêu Kinhtế-xã hội của đất nước, Nhà nước trực tiếp quản lý DNNN bằng các biệnpháp:

- Nhà nước ban hành các chế định pháp luật về hình thucứ tổ chức,thành lập Doanh nghiệp, các chính sách khuyến khích, các biện pháp hỗ trợnhững DNNN quan trọng của nền kinh tế quốc dân

- Nhà nước trực tiếp bổ nhiệm cán bộ quản lý và điều hành vào những

vị trí quan chủ chốt của Doanh nghiệp

- Thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức việc chỉđạo, kiểm tra, thành tra việc thực hiện pháp luật, chủ trương, chính sách, chế

độ Nhà nước tại Doanh nghiệp

2.4 Doanh nghiệp Nhà nước là tổ chức có tư cách pháp nhân

DNNN là tổ chức thoả thoả mãn 4 điều kiện để trở thành pháp nhânđược quy định tại Điều 94 Bộ Luật Dân sự Việt Nam, cụ thể:

Trang 4

- DNNN được cơ quan có thẩm quyền cho phép thành lập và ra quyếtđịnh thành lập.

- DNNN có cơ cấu tổ chức chặt chẽ và thống nhất, đó là Hội đồngquản trị, giảm đốc và bộ máy giúp việc hoặc giám đốc và bộ máy giúp việctuỳ theo quy mô của Doanh nghiệp

- DNNN có tài sản riêng (tài sản của DNNN là tài sản của Nhà nướcnhưng tách biệt với số tài sản khác của Nhà nước), doanh nghiệp phải chịutrách nhiệm độc lập về số tài sản này và cũng chỉ chịu trách nhiệm về toanf

bộ hoạt động kinh doanh trong phạm vi số vốn do doanh nghiệp quản lý

- DNNN có thể nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật và cóthể trở thành nguyên đơn hoặc bị đơn trong quan hệ tố tụng

2.5 Doanh nghiệp Nhà nước thực hiện mục tiêu mà Nhà nước giao

Là Doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước, DNNN phải thực hiện mụctiêu mà Nhà nước giao Đối với DNNN hoạt động kinh doanh thì DNNN đóphải kinh doanh có hiệu quả, nếu đó là DNNN hoạt động công Ých thì hoạtđộng của nó phải đạt được các mục tiêu kinh tế-xã hội

II VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ NHIỀU THÀNH PHẦN Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

1 Doanh nghiệp nhà nước là lực lượng vật chất quan trọng, và là công

cụ quản lý để Nhà nước định hướng và điều tiết vĩ mô nền kinh tế quốc dân.

Nhà nước điều tiết phát triển các thành phần kinh tế thông qua các hệthống pháp luật, kế hoạch và chính sách, đồng thời sử dụng DNNN như làmột thực lực kinh tế, làm cơ sở bảo đảm cho những cân đối chủ yếu trongquá trình phát triển nền kinh tế quốc dân

- Chẳng hạn trong công nghiệp, DNNN nắm giữ hầu như toàn bộ cácngành điện lực, dầu khí, khai thác than, quặng, luyện kim, cơ khí chế tạo, sản

Trang 5

xuất ximăng, phân bón, thuốc trừ sâu, công nghiệp quốc phòng, đồng thời giữvai trò chính trong sản xuất vải, giấy, xe đạp, xà phòng, tân dược.

- Trong xây dựng cơ bản, DNNN đảm nhận gần hết các công trình trênhạn ngạch và các công trình quyết định tốc độ tăng trưởng của nền kinh tếquốc dân như xây dựng các nhà máy điện Ninh Bình, Phả lại; các nhà máythuỷ điện Thác Bà, Hoà Bình, Trị An, Yaly

- Trong giao thông vận tải, DNNN đảm nhận những cung độ dài vềvận tải Bắc-Nam và vận tải nước ngoài

2 Doanh nghiệp Nhà nước là một trong số các nguồn chủ yếu cung cấp tài chính cho Ngân sách Nhà nước.

Ở nước ta, có thể nói rằng DNNN là một trong số các nguồn chủ yếucung cấp tài chính cho Ngân sách Nhà nước Nếu như trong cơ chế bao cấptrước đây DNNN hoạt động thường xuyên cung cấp trên dưới 70% tài chínhcho ngân sách Nhà nước, thì ngày nau trong cơ chế thị trường tỷ lệ đó vẫncòn khoảng 30%, Nhờ có đóng góp to lớn về tài chính của các doanh nghiệpNhà nước cho ngân sách, Nhà nước có thêm vốn đầu tư vào lĩnh vực kết cấu

hạ tầng kinh tế-kỹ thuật nhằm bảo đảm cung cấp các loại hàng hoá và dịch vụcông cộng cho xã hội, góp phần tích cực vào nâng cao tốc độ và hiệu quảphát triển nền kinh tế quốc dân

3 Doanh nghiệp nhà nước là một kênh trọng yếu thu hót viện trợ và đầu

tư nước ngoài cho phát triển kinh tế-xã hội đất nước.

Để đáp ứng nhu cầu to lớn về vốn cho công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước, cần tận lực khai thác các nguồn lực tài chính trong nước kết hợpthu hót các nguồn lực tài chính bên ngoài; nguồn lực tài chính trong nước làquyết định, song nguồn lực kinh tế ngoài nước là cực kỳ quan trọng Nước tacũng như các nước đang phát triển khác, DNNN là một kênh quan trọng đểthu hót viện trợ và vốn nước ngoài vào các lĩnh vực như khai thác than, dầukhí, chế tạo hàng điện tử

Trang 6

4 Doanh nghiệp Nhà nước gánh vác trách nhiệm nặng nề trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.

Vai trò của DNNN còn có những mặt không biểu hiện được bằng sốlượng Trong một số trường hợp, DNNN còn phải chịu thua lỗ để tạo điềukiện cho phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Nhiều sản phẩm và dịch

vụ của DNNN thường là các đầu vào của quá trình sản xuất-kinh doanh củacác thành phần kinh tế khác, nếu các DNNN tính đủ chi phí thì không thểkhuyến khích được phát triển của chúng Vì vậy, trong một thời gian dài Nhànước đã không thu lệ phí giao thông, mặc dù phải đầu tư một số vốn rất lớncho làm đường xá, cầu, cảng, ngay như giá điện, than, xăng, dầu, sắt thép đãtăng lên nhiều lần nhưng vẫn chưa đủ chi phí sản xuất Là trung tâm tiêu biểucủa tiến bộ khoa học, công nghệ và là tấm gương sáng về quản lý, các DNNNkhông chỉ phục vụ riêng cho bản thân mình, mà còn góp phần phổ biến, trang

bị khoa học công nghệ mới, đào tạo cán bộ, công nhân cho tất cả các thànhphần kinh tế Trách nhiệm xã hội của DNNN còn biểu hiện ở tạo thêm công

ăn việc làm cho người lao động phân phối lại thu nhập quốc dân để giảm bớtchênh lệch quá mức về thu nhập, giáo dục, văn hoá giữa các vùng, các dântéc và các tầng líp dân cư

III THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA

CảI CáCH DOANH NGHIệP NHà NƯớC

1 Thực trạng hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước

Trải qua hơn 10 năm sắp xếp và đổi mới các DNNN, cùng với chuyểnđổi cơ chế, chúng ta bắt đầu nhận ra và mạnh dạn trong thay đổi chính sáchđầu tư để phù hợp với kinh tế thị trường Chuyển đổi cơ chế đã làm choDNNN năng động hơn, hiệu quả hơn Số lượng DNNN năm 1989 là 12000,sau khi sắp xếp lại đã giảm đi quá nửa, chỉ còn gần 6000 DNNN; nhưng tỷtrọng GDP của khu vực kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế quốc dân lại tănglên, từ 37,6% năm 1986 tăng lên 43,3% năm 1995, năm 2000 khoảng 39%

Trang 7

Quy mô vốn bình quân của DNNN có xu hướng tăng lên từ 3,1 tỷ đồng năm

1990 lên 11,5 tỷ đồng năm 1999 (theo Báo cáo tổng kết Luật doanh nghiệpNhà nước tháng 12/1999 của Bộ kế hoạch và đầu tư ) Tốc độ phát triển bìnhquân năm của khu vực DNNN vẫn duy trì ở mức 11% (từ năm 1991-2000).Năm 1000, các DNNN đạt mức phát triển 7,4% đóng góp 38,98% (Niên giámthống kê 2000, trang 73, 77) Trong 10 năm 1991-2000 DNNN đã nép thuếthu nhập gần 64000 tỷ đồng (Báo cáo ban cán sự Đảng Chính phủ 7/2001)

Những chuyển biến và kết quả tích cực đó chứng minh tính đúng đắncủa chủ trương phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần và chính sáchsắp xếp, đổi mới khu vực DNNN của Đảng và Nhà nước, cùng sự cố gắngcủa các DNNN vượt qua thử thách trong cơ chế thị trường Tuy nhiên vẫncòn những tồn tại và yếu kém trong hệ thống DNNN được thể hiện trên một

số mặt chủ yếu sau:

 DNNN quy mô vẫn còn nhỏ, cơ cấu còn nhiều bất hợp lý Chóng tađang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới song phát triển củakhu vực kinh tế Nhà nước có xu hướng chậm lại, hiện nay khu vực kinh tếNhà nước có tổng số tài sản cố định cao khoảng 120000 tỷ đồng Bức tranhtổng quát của khu vực kinh tế Nhà nước còn chưa được sáng sủa, quy mô củacác DNNN nói chung quá nhỏ bé và không đồng đều Tổng số DNNN tạithời điểm kiểm kê 1/1/2000 là 5991 doanh nghiệp, sử dụng khoảng 527256 tỷđồng vốn Nếu phân loại theo cơ cấu vốn thì: doanh nghiệp có vốn dưới 5 tỷđồng chiếm 59,8% (trong đó doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng chiếmkhoảng 18,2%); doanh nghiệp có vốn từ 5 đến 10 tỷ đồng chiếm 12,5%;doanh nghiệp có vốn trên 10 tỷ đồng chỉ chiếm 25% Cơ cấu vốn và tài sảncủa khối DNNN còn nhiều tồn tại, chưa hợp lý Vốn của Nhà nước chỉ chiếm54,9%, còn lại được hình thành từ các nguồn vốn vay và tín dụng Trong tổng

số tài sản của DNNN có đến 35,5% là công nợ phải thu, trong đó có nợ khóđòi chiếm 5,7%

Trang 8

 Không Ýt DNNN làm ăn còn thua lỗ, làm mất vốn của Nhà nướckhông có khả năng thanh toán công nợ có doanh nghiệp phải phá sản TheoBáo cáo của Bộ tài chính tại hội nghị ngành tài chính toàn quốc ngày 9-10/11/1998, sè doanh nghiệp thua lỗ có giảm dần từ 21% năm 1991 còn 16%năm 1995 nhưng đến năm 1996 lại tăng lên 22% Năm 1997 có 1923 DNNNthua lỗ, chiếm 35% tổng số doanh nghiệp thời kỳ đó Năm 1999, sè DNNNthực sự kinh doanh có hiệu quả chiểm khoảng 71,9%, sè doanh nghiệp hoàvốn khoảng 8,3%, sè doanh nghiệp liên tục bị thua lỗ là 19,8% Nếu tính cảkhoản lỗ các năm trước chưa được bù đắp thì số DNNN có số luỹ kế đến1/1/2000 chiếm 30,8% sè doanh nghiệp, với tổng khoản lỗ trên 5000 tỷ đồng.

Có 5,2% DNNN do kinh doanh thua lỗ đã mất toàn bộ vốn kinh doanh TheoBáo cáo của Ban cán sự Đảng Chính phủ 7/2001 về đề án tiếp tục sắp xếp,đổi mới, phát triển DNNN thì hiệu quả sử dụng vốn năm 1995 là một đồngvốn của Nhà nước tạo ra 3,46 đồng doanh thu và 0,19 đồng lợi nhuận; tỷ lệtương ứng là 2,9 và 0,13 năm 1998; năm 2000 một đồng vốn Nhà nước chỉlàm ra 0,095 đồng lợi nhuận

 Tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực Nhà nước liên tục giảm dần:thời kỳ 1991-1995 tốc độ tăng trưởng bình quân khu vực Nhà nước bằng 1,5lần bình quân toàn xã hội, nhưng năm 1998 chỉ bằng 1,2 lần, riêng ngànhcông nghiệp quốc doanh chỉ bằng 0,8 lần tốc độ của các thành phần kinh tếkhác cùng ngành Xét bình quân 10 năm từ 1991-2000, tốc độ phát triển củaDNNN là 11%/năm; của doanh nghiệp ngoài quốc doanh là 14%/năm, doanhnghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là trên 20%/năm

 Khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế của sảnphẩm do các DNNN làm ra còn thấp Một số mặt hàng sản xuất trong nướcnhư sắt, thép, phân bón, xi măng, kính xây dựng có mức giá cao hơn giácác mặt hàng nhập khẩu cùng loại từ 20-40%, riêng các mặt hàng đường thôcao hơn tới 70-80%

Trang 9

 Công nợ của DNNN hiện nay quá lớn Năm 2000, trong sè 15,1% nợquá hạn của các ngân hàng Thương mại thì DNNN chiếm 74,8% Năm 1996tổng nợ là 174797 tỷ đồng, đến năm 2000 đã lên đến 288900 tỷ đồng, tăng65%.

 Trình độ kỹ thuật và công nghệ của khu vực kinh tế nhà nước còn lạchậu, chỉ có gần 4% đạt trình độ tự động hóa, 41% đạt trình độ cơ khí, 55%còn ở trình độ thủ công Hơn nữa khả nămg đổi mới công nghêk của DNNNcòn hạn chế Trong thời gian 1991-1998 chỉ trang bị được 14% thiết bị, bằng10% tổng giá trị thiết bị của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đượcxây lắp trong cùng thời gian Trên 80% doanh nghiệp thuộc ngành cônggnhiệp và sản xuất vật chất khác có trình độ công nghệ lạc hậu hơn các nướctrên 50%

 Số lượng lao động trong các DNNN hiện nay khoảng gần 2 triệungười, tuy nhiên trình độ tay nghề của người lao động trong các DNNN cònthấp, trong sè lao đông dư dôi do thay đổi công nghệ thì có 25% là vì taynghề yếu kém, không đáp ứng được yêu cầu của sản xuất cơ khí hoá, tự độnghoá

 Trong 10 năm (1991-2000) ngân sách Nhà nước đã đầu tư thêm choDNNN 41535 tỷ đồng, riêng 4 năm 1997-2000 là 8200 tỷ đồng (trong đó

2216 tỷ đồng cấp bổ sung vốn lưu động, 1464 tỷ đồng bù lỗ) Ngoài ra, trong

4 năm 1997-2000, Nhà nước còn giảm thuế 1351 tỷ đồng, xoá nợ 1088 tỷđồng, khoanh nợ 3392 tỷ đồng, giãn nợ 540 tỷ đồng, giảm trích khấu hao 200

tỷ đồng Cũng trong 10 năm 1991-2000, Nhà nước cho các DNNN vay tíndụng ưu đãi 70000 tỷ đồng, trong đó 4 năm 1997-2000 là 9000 tỷ đồng Sựtrợ giúp của Nhà nước đối với DNNN phần lớn là cần thiết, nhưng từ đó tạo

ra sự trì trệ, hiệu quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp chưa tương xứngvới sự đầu tư và trợ giúp của Nhà nước

2 Nguyên nhân về những tồn tại, yếu kém của Doanh nghiệp Nhà nước

Trang 10

- Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng đầu tư của khu vực kinh tế Nhà nước

thấp hơn đầu tư ngoài quốc doanh và đầu tư nước ngoài Khu vực kinh tếNhà nước bị hàng nhập khẩu và hàng của doanh nghiệp đầu tư nước ngoàicạnh tranh gay gắt Nhiều doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã khôngthực hiện đúng cam kết sản phẩm làm ra chủ yếu là để xuất khẩu Gần 80%sản phẩm của các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài không chỉ là hàng thay thếnhập khẩu mà một tỷ trọng khá lớn là những mặt hàng trong nước đang sảnxuất hoặc kinh doanh Hàng nhập lậu tràn lan không được ngăn chặn kịp thời,

có hiệu quả Vì vậy, hàng do DNNN làm ra khó cạnh tranh bình đẳng vớihàng do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài làm ra cả về giá cả, chấtlượng mẫu mã, khả năng tiếp thị

- Thứ hai, những năm qua do khó khăn về ngân sách nên phải động

viên do yêu cầu cân đối chung Một mặt trong một thời gian dài khu vực kinh

tế Nhà nước nôp khấu hao cơ bản và tỷ lệ trích quỹ phát triển sản xuất quáthấp đã hạn chế khả năng tái đầu tư Mặt khác ngân sách Nhà nước tập trungchủ yếu vào đầu tư kết cấu hạ tầng kỹ thuật, các doanh nghiệp sản xuất kinhdoanh Ýt được hỗ trợ vốn, vốn lưu động không tương ứng với quy mô pháttriển và yêu cầu chuyển hình thức thanh toán bằng hiện vật là chủ yếu sangthanh toán bằng tiền tệ, chuyển từ phân công chuyên môn hoá sản xuất sanggắn sản xuất với tiêu thụ và kinh doanh đa ngành Tình hình này làm choDNNN gặp nhiều khó khăn trong việc đầu tư chiều sâu và mở rộng sản xuất,nâng cao chất lượng và hạ thấp giá thành sản phẩm

- Thứ ba, trải qua quá trình sắp xếp lại, số DNNN đã giảm đi quá nửa

song vẫn còn quá lớn Trong khi đó cơ chế chính sách quản lý DNNN cònchưa đầy đủ, chưa đồng bộ, chưa tách bạch được quản lý Nhà nước về kinh tếvới quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nguồn vốn Nhà nước cóhạn Điều này dẫn đến tình trạng nhiều DNNN buông lỏng quản lý, phó mặccho người lao động xoay xở để tồn tại một cách vất vả, cực nhọc Trong hiệnthực tuy cùng một môi trường pháp lý, chính sách như nhau, nhưng hiệu quả

Trang 11

hoạt động của các DNNN trong cùng một lĩnh vực lại rất khác nhau Nguyênnhân chủ yếu và vai trò của Giám đốc và Hội đồng quản trị, chế độ tiền lươnghiện hành còn mang tính chất bình quân, chưa gắn bó một cách lâu dài tráchnhiệm, quyền hạn và lợi Ých của họ với kết quả hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp.

- Thứ tư, bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa,

chúng ta đang đối mặt với hàng loạt những khó khăn thử thách Một trở ngạilớn hiện nay đối với phát triển của khu vực kinh tế nhà nước là sự hạn hẹpcủa thị trường tiêu thụ, nhiều sản phẩm làm ra không bán được Một nguyênnhân quan trọng gây ra tình hình trên là sức mua của nhân dân nước ta, nhất

là sức mua của nông thôn còn thấp, phần do giá bán nông sản còn thấp, phần

do các ngành nghề phụ còn chưa phát triển

3 Sự cần thiết phải sắp xếp đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước

- Thứ nhất, các DNNN được sinh ra và trưởng thành trong cơ chế tập

trung quan liêu, bao cấp kéo dài hàng chục năm Với chính sách cấp phát,giao nép, các DNNN hoạt động trong điều kiện vốn được Nhà nước bao cấp,vật tư được nhận theo chỉ tiêu kế hoạch, sản phẩm làm ra được giao nép theođịa chỉ quy định Các điều kiện vật chất được Nhà nước cân đối theo chỉ tiêuđịnh mức, trong thực tế doanh nghiệp đơn thuần là một đơn vị gia công hànghoá cho Nhà nước Chính vì vậy, doanh nghiệp không còn là một đơn vị kinh

tế tự chủ; khi chuyển sang cơ chế thị trường, nó bộc lé rõ yếu kém của mình

về hiệu quả sản xuất kinh doanh, cơ cấu chắp vá, không đồng bộ và xơ cứngtrong thích ứng với cơ chế vận động của nền kinh tế thị trường Các mục tiêu

mà Nhà nước áp đặt cho doanh nghiệp nhiều khi làm cho doanh nghiệp hoạtđộng không đạt được hiệu quả cao về mặt kinh tế kỹ thuật Vì vậy, nếu khôngkiên quyết có những đổi mới DNNN có tính cải cách và đột phá thì khu vựckinh tế Nhà nước không những không giữ được vai trò chủ đạo mà còn là yếu

tố hạn chế khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và kìm hãm sự phát triển kinh

tế của nước ta

Trang 12

- Thứ hai, bé máy quản lý của chúng cồng kềnh, chồng chéo,xơ cứng,

không thích nghi được với biến động của nền kinh tế thị trường Tình trạnglàm chủ chung chung mà thực chất là vô chính phủ tồn tại một cách phổ biến

ở hầu hết các DNNN Mặc dù với số lượng nhân viên hành chính nhiều hơnhẳn các doanh nghiệp tư nhân, công tác thông tin từ DNNN cho Chính phủthường với chất lượng thấp, làm tăng tính chủ quan của Nhà nước trong việccan thiệp vào hoạt động của doanh nghiệp Chính sự kết hợp giữa quản lý yếukém với công nghệ lạc hậu của các DNNN, đã làm cho năng suất lao động vàhiệu quả sản xuất chỉ đạt ở mức thấp

- Thứ ba, phân phối không dùa trên nguyên tắc phân phối theo lao

động mà chủ yếu nhằm phục vụ chính sách xã hội, mang nặng tính bình quânchủ nghĩa, không có tác dụng kích thích cán bộ quản lý và công nhân trongcác DNNN nâng cao hiệu suất lao đoọng Thêm vào đó Một bộ phận cán bộquản lý trong các DNNN không thạo kinh doanh, không có đủ kiến thức vàkinh nghiệm cần thiết về quản lý nền kinh tế thị trường, thiếu năng động vàkhông dám mạo hiểm trong kinh doanh để giành thắng lợi nhanh chóng

- Thứ tư, các DNNN đã từ lâu không đặt trong môi trường cạnh tranh,

không gắn với thị trường, không chú trọng đổi mới thiết bị, công nghệ Điềutất yếu xảy ra là vốn liếng không được bảo toàn và phát triển, thiết bị cũ kỹ,công nghệ lạc hậu hàng chục năm so với mức trung bình của thế giới Nóichung, sức cạnh tranh của nhiều DNNN còn yếu, một bộ phận không nhỏ sảnphẩm làm ra không tiêu thụ được phần vì giá thành cao, chất lượng thấp,phần vì không phù hợp với nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng NhiềuDNNN hoạt động theo nguyên tắc độc quyền, không phụ thuộc vào lợi nhuận

mà nó mang lại, dẫn đến làm mất tác dụng của cơ chế canh tranh kích thíchtính hiệu quả của doanh nghiệp Chính vì thế, để có một nền kinh tế thịtrường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thì Nhà nướcvừa phải tạo điều kiện phát huy hết nội lực của các thành phần kinh tế trongnước, vừa phải tiến hành sắp xếp lại, đổi mới khu vực kinh tế Nhà nước, để

Trang 13

DNNN vươn lên cạnh tranh chiếm thị phần lớn, chi phối được những ngành,lĩnh vực then chốt của nền kinh tế trong điều kiện cạnh tranh và hội nhập.

- Thứ năm, trong thời đại ngày nay, cùng với sự ra đời của các tổ chức

quốc tế, hội nhập và toàn cầu hoá là xu thế phát triển chung của toàn thế giới

mà bất kỳ một quốc gia nào khi tham gia vào đều muốn tìm thấy cho mìnhmột con đường ngắn hơn để phát triển Quá trình hội nhập và toàn cầu hoákinh tế sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia có thể tận dụng được lợi thế so sánhcủa mình, thực hiện chuyển giao công nghệ, tăng thêm khả năng thu hót vốnđầu tư nước ngoài, thúc đẩy và duy trì tăng trưởng bền vững, nâng cao phóclợi xã hội trên cơ sở các nguồn lực được phân bổ một cách có hiệu quả hơn.Đây chính là lý do mà phần lớn các nước, các tổ chức kinh tế khu vực, thếgiới cam kết thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế và hội nhập Đảng và Nhànước ta chủ trương tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đaphương hoá, đa dạng hoá; chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lé trình phùhợp với điều kiện của nước

Chương II:

CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HOÁ

DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

I QUAN NIỆM VỀ CỔ PHẦN HOÁ DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1 Khái niệm cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước

Về góc độ pháp lý, có thể hiểu CPH DNNN là quá trình chuyển đổiDNNN sang công ty cổ phần Nghĩa là, DNNN sau khi hoàn tất quy trình cổ phầnhoá, doanh nghiệp đó sẽ không tồn tại dưới loại hình DNNN, không chịu sự điềuchỉnh của Luật DNNN, mà chuyển sang loại hình công ty cổ phần hoạt động theoLuật Doanh nghiệp

Trang 14

Về góc độ sở hữu, CPH DNNN là quá trình chuyển một phần hoặc toàn bộvốn Nhà nước trong doanh nghiệp sang sở hữu của các cá nhân, tập thể hoặc các

tổ chức Nhà nước không còn là chủ sở hữu duy nhất của doanh nghiệp, doanhnghiệp không còn chịu sự quản lý của các cơ quan chủ quản đại diện cho Nhànước

CPH DNNN ở Việt Nam từ năm 1992 đến nay đã tiến hành qua ba giai đoạn:

+ Giai đoạn thí điểm, nghiên cứu tìm hướng cổ phần hoá diễn ra từ thắng6/1992 đến tháng 4/ 1996

+ Giai đoạn tiến hành cổ phần hoá mở rộng từ tháng 5/1996 đến tháng6/1998, là giai đoạn thực hiện cổ phần hoá DNNN theo Nghị định số 28/CP ngày7/5/1998 của Chính phủ, với tên gọi '' chuyển một số DNNN thành công ty cổphần''

+ Giai đoạn từ tháng 7/1998 đến nay, Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày29/6/1998 của Chính phủ ra đời thay thế Nghị định 27/CP với tên gọi '' chuyểnDNNN thành công ty cổ phần'', không còn từ ''mét số'', mà là cổ phần hóa trêndiện rộng

2 Mục tiêu của cổ phần hoá Doanh nghiệp Nhà nước

Đại hội Đảng lần thứ VIII, năm 1996 chủ trương ''Triển khai tích cực

và vững chắc việc CPH DNNN để huy động thêm vốn, tạo thêm động lựcthúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm cho tài sản Nhà nước ngàycàng tăng lên, không phải để tư nhân hoá'' Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996của Chính phủ ''về chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần'' khẳng định''CPH DNNN là huy động vốn của công nhân viên chức trong doanh nghiệp,

cá nhân, các tổ chức trong và ngoài nước để đổi mới đầu tư công nghệ, pháttriển doanh nghiệp và tạo điều kiện cho những người góp vốn và công nhânviên chức trong doanh nghiệp có cổ phần được nâng cao vai trò làm chủ thực

sự, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả''

Trang 15

Để đẩy mạnh CPH các DNNN nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động củachúng, ngày 29/6/1998 Chính phủ đã ra quyết định số 44/1998/NĐ-CP '' vềchuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần với hai mục tiêu sau:

+ Huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm cá nhân, các tổ chức kinh tế,

tổ chức xã hội trong nước và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, tạothêm việc làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơcấu DNNN

+ Tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp có cổ phần vànhững người đã góp vốn được làm chủ thực sự; thay đổi phương thức quản

lý, tạo động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sảnNhà nước, nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần tăng trưởng kinh

tế của đất nước

II Quá trình hoàn thiện chính sách pháp luật về cổ phần hoá

Tại Việt Nam đại hội VI năm 1986 của Đảng đã tạo ra những tiền đềtrọng yếu cho đổi mới toàn bộ nền kinh tế, trong đó có vấn đề Nhà nước takhẳng định đã dạng hóa hình thức sở hữu với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

là nhân tố quyết định sự thành công của tiến trình CPH DNNN sau này CPHmột số DNNN được coi là một trong những giải pháp cơ bản để cải cách khuvực kinh tế Nhà nước, làm cho nó thích ứng với yêu cầu phát triển của nềnkinh tế thị trường hiện đại

Để tạo cơ sở pháp lý cho CPH DNNN, Chính phủ và các bộ, ngànhhữu quan đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách theo hướng ngày càng đổimới, thông thoáng, sát hợp với tình hình thực tế của nước ta Chủ trươngCPH một số DNNN được Chính phủ đề ra tại điều 22 của Quyết định số 217/HĐBT ngày 14/11/1987 của Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính phủ đã ghi:''Bộ Tài chính nghiên cứu và tổ chức làm thí điểm việc mua bán cổ phần ởmột số xí nghiệp quốc doanh và báo cáo kết quả lên Hội đồng Bộ trưởng vào

Trang 16

cuối năm 1988'' Nhưng so với điều kiện và hoàn cảng lúc bấy giê, chủtrương này còn quá sớm nên đã bị lãng quyên.

Nghị quyết kỳ họp thứ tư Quốc hội khoá VIII nhấn mạnh: '' Đổi mới cơbản tổ chức và cơ chế quản lý DNNN Thực hiện các hình thức CPH thíchhợp tính chất và lĩnh vực sản xuất để thu hót thêm các nguồn vốn, tạo thêmđộng lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả ''

Để thực hiện chủ trương của Đảng và Quốc hội, ngày 10/5/1990 Chủ tịch Hộiđồng Bộ trưởng ra Quyết định số 143/HĐBT '' về việc tổng kết thực hiệnQuyết định 217/HĐBT ngày 14/11/1987, các Nghị định 50/HĐBT ngày22/3/1988 và Nghị định 98/HĐNT ngày 2/8/1988 và làm thử việc tiếp tục đổimới quản lý xí nghiệp quốc doanh'' Trong Quyết định này đã nói rõ hơn mụcđích và cách làm của CPH, song chưa có hướng dẫn của các Bộ, ngành chứcnăng nền chỉ có số Ýt DNNN triển khai thực hiện và mỗi nơi làm một kiểu,dẫn đến tình trạng rời rạc, không hiệu quả Chỉ đến khi có Quyết định số 202/

CT ngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng Chínhphủ, kèm theo đề án triển khai thí điểm chuyển một số DNNN thành công ty

cổ phần, thì chủ trương này mới thực sự được tiến hành có tổ chức, có hệthống Mặc dù vậy vẫn còn phải có sự đôn đốc tiếp của Thủ tướng Chính phủbằng Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 '' về việc xúc tiến thực hiện thí điểmCPH DNNN và các giải pháp đa dạng hoá hình thức sở hữu đối với cácDNNN'', Thông tư số36/TC-CN ngày 7/5/1993 của Bộ Tài chính, Thông tư

số 09/LĐTBXH-TT ngày 22/7/1992 của Bộ Lao động-Thương binh và Xãhội '' hướng dẫn về lao động và chính sách đối với người lao động trong thíđiểm chuyển một số DNNN thành công ty cổ phần theo Quyết định 202/CTngày 8/6/1992 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng'' thì cuối cùng CPH mớithực sự đi vào sự nghiệp cải cách khu vực kinh tế Nhà nước

Sau 4 năm thực hiện CPH một số DNNN, chóng ta đã đúc rút được nhiềukinh nghiệm Đến ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP '' vềchuyển một số DNNN thành công ty cổ phần'' và Nghị định số 25/CP ngày

Trang 17

26/3/1996 '' về sửa đổi một số điều của Nghị định số 28/CP ngày 7/5/1996'' Nghịđịnh số 28/CP đã đề ra những quy định cụ thể, rõ ràng nhằm xúc tiến quá trìnhchuyển một số DNNN thành công ty cổ phần.

Ngày 4/4/1997, ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam

ra Thông báo số 63/TB-TƯ về ''ý kiến của Bộ Chính trị về tiếp tục triển khaitích cực và vững chắc CPH DNNN'', một lần nữa khẳng định lại: ''CPH làmột bộ phận doanh nghiệp, là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước''.Trên cơ sở đánh giá kết quảbước đầu và vấn đề nảy sinh trong quá trình thựchiện CPH DNNN, Thông báo đã đề ra các công việc yêu cầu tổ chức Đảng vàchính quyền các cấp cần thực hiện nhằm đẩy mạnh quá trình CPH DNNNtheo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII

Quán triệt ý kiến của Bộ Chính trị trong Thông báo số 63/TB-TƯ,ngày 29/6/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ''vềchuyển DNNN thành công ty cổ phần'' Đây là một Nghị định thông thoáng,tạo ra sức hấp dẫn mới đối với doanh nghiệp CPH và người lao động trongdoanh nghiệp CPH với thủ tục rõ ràng, có phân công trách nhiệm cụ thể, tạođiều kiện pháp lý cho các Bộ, các ngành, các địa phương và các doanhnghiệp dễ dàng triển khai thực hiện Nghị định số 44/1998/NĐ-CP của Chínhphủ Đồng thời ngày 18/7/1998 Bộ Tài chính ra Thông tư số 104/1998/TT-BTC ''hướng dẫn những vấn đề về tài chính khi chuyển DNNN thành công tu

cổ phần ( theo Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998)''; ngày21/8/1998 Bé Lao động Thương binh và Xã hội ra Thông tư số 11/1998/TT-LĐTBXH ''hưỡng dẫn về chính sách đối với người lao động khi chuyểnDNNN thành công ty cổ phần theo Nghị định số 44/1998/NĐ-CP ngày29/6/1998 của Chính phủ'', ngày 29/8/1998 Văn phòng Chính phủ ra Côngvăn số 3395/VPCP-ĐMDN về việc hướng dẫn quy trình và phương án mẫuCPH

III THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

Trang 18

a Giai đoạn thớ điểm (1992-1996)

Cỏc DNNN vừa và nhỏ, kinh doanh cú hiệu quả và khụng thuộc diện Nhànước cần nắm giữ 100% vốn, tập thể cụng nhõn viờn chức tự nguyện thamgia cổ phần hoỏ được xem xột cho thớ điểm cổ phần hoỏ theo Quyết định số202/CT ngày 8/6/1992 và Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993 của Thủ tướngChớnh phủ Các DNNN vừa và nhỏ, kinh doanh có hiệu quả và không thuộcdiện Nhà nớc cần nắm giữ 100% vốn, tập thể công nhân viên chức tựnguyện tham gia cổ phần hoá đợc xem xét cho thí điểm cổ phần hoátheo Quyết định số 202/CT ngày 8/6/1992 và Chỉ thị số 84/TTg ngày4/3/1993 của Thủ tớng Chính phủ

Thực hiện Quyết định số 202/CT, cỏc Bộ, ngành đó hướng dẫn DNNNđăng ký thực hiện thớ điểm chuyển sang cụng ty cổ phần Trờn cơ sở số lượngDNNN đó đăng ký, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng nay là Thủ tướng Chớnhphủ đẫ ra Quyết định số 203/CT ngày 8/61992 chọn 07 DNNN do Chớnh phủchỉ đạo thớ điểm chuyển thành cụng ty cổ phần là:

- Nhà mỏy xà bụng miền Nam thuộc liờn hiệp Cụng ty bột giặt miềnNam, Tổng cụng ty hoỏ chất II, Bộ Cụng nghiệp nặng;

Trang 19

- Nhà máy Diêm Thống Nhất thuộc Liên hiệp sản xuất-xuât nhập khẩugiấy gỗ diêm, Bộ Công nghiệp nhẹ;

- Xí nghiệp nguyên liệu chế biến thức ăn gia súc thuộc Công ty chănnuôi và thức ăn gia sóc I, Bộ Nông nghiệp và Công nghệ thực phẩm;

-Xí nghiệp chế biến gỗ Long Bình thuộc Tổng công ty dịch vụ, sảnxuất và xuất nhập khẩu lâm sản 3, Bộ Lâm nghiệp;

- Công ty vật tư tổng hợp Hải Hưng Bộ Thương Mại và du lịch;

- Xí nghiệp sản xuất bao bì thuộc Công ty kinh doanh và chế biếnlương thực Hà Nội, Uỷ ban Nhân dân thành phố Hà Nội;

- Xí nghiệp may mặc thuộc Công ty dệt da may Legamex, Uỷ banNhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

Sau một thời gian làm thử, 7 DNNN Chính phủ chọn để thí điểm đềuxin rót lui hoặc không đủ điều kiện để tiến hành cổ CPH như Nhà máy Xàbông miền Nam, Xí nghiệp may mặc thuộc Công ty dệt da may Legamex

Trong hơn 30 DNNN đã đăng ký với Bộ Tài chính để thực hiện CPHtheo Chỉ thị số 84/TTg ngày 4/3/1993, thì sau 4 năm thực hiện Quyết định số202/CT, có 5 DNNN chuyển thành công ty cổ phần là:

- Công ty cổ phần Đại lý liên hiệp vận chuyển (Bộ Giao thông vận tải);

- Công ty cổ phần Cơ điện lạnh (Thành phố Hồ Chí Minh);

- Công ty cổ phần Giấy Hiệp An (Bộ Công nghiệp);

- Công ty cổ phần Chế biến hành xuất khẩu Long An (Tỉnh long An);

- Công ty cổ phần Chế biến thức ăn gia súc (Bộ Nông nghiệp);

Trong hơn 3 năm thực hiện Quyết định 202/CT chóng ta chỉ tiến hànhCPH được 5 doanh nghiệp Nhưng thành công lớn hơn cả là chúng ta đã đúcrút được kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn cổ phần hoá làm cơ sở cho giaiđoạn tiếp theo

b Giai đoạn mở rộng thí điểm và thực hiện bình thường (1996-1998)

Trang 20

Sau bốn năm thực hiện thí điểm trên cơ sở đánh giá mặt được và chưađược, ngày 7/5/1996 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 28/CP ''về chuyểnmét số DNNN thành công ty cổ phần'', thay thế cho Quyết định số 202/CTvới những quy định cụ thể, rõ ràng hơn Thực hiện Nghị định số 28/CP, côngtác CPH DNNN đã được quan tâm hơn, các ngành, các cấp đã thực hiện một

số việc như sau:

- Củng cố tổ chức, bổ sung thành viên vào ban chỉ đạo CPH ở địaphương Tính đến tháng 3/1998 đã có:

+ Ban chỉ đạo Trung ương về CPH do Bộ trưởng Bộ Tài chính làmtrưởng ban và một số ngành làm thành viên: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Laođộng Thương binh và Xã hội, Ban chỉ đạo Trung ương đổi mới doanh nghiệp,Ban Kinh tế Trung ương Đảng, Ban Tổ chức Trung ương Đảng và Tổng liênđoàn lao động Việt Nam

+ Có 16 Bộ, ngành, tổng công ty Nhà nước thành lập Ban chỉ đạoCPH, chiếm 50%, các địa phương do Ban đổi mới doanh nghiệp kiêm nhiệmhoặc giao cho một số tổ chuyên viên giúp đỡ

- Mét số Bộ, địa phương đã tổ chức Hộ nghị truyền đạt chủ trương,chính sách về CPH DNNN cho đội ngò cán bộ chủ chốt như Bộ Nông nghiệp

và Phát triển nông thôn, Bộ Thuỷ sản, Bộ Xây dựng và các tỉnh như LâmĐồng, Bình Định, Quảng Ninh

- Có 30 tỉnh, thành phố, bộ ngành và các Tổng công ty 91 đã đăng kýCPH hơn 200 DNNN Nhưng đến đầu năm 1998, mới chỉ có 18 DNNN thựchiện CPH, chuyển sang hoạt động theo Luật công ty Trong đó ngành giaothông vận tải có 4 doanh nghiệp; ngành công nghiệp có 7 doanh nghiệp,ngành xây dựng có 1 doanh nghiệp; ngành chế biến nông, lầm, thuỷ hải sản

có 3 doanh nghiệp; ngành dịch vụ có 3 doanh nghiệp Trong sè 18 công ty cổphần, có một công ty cổ phần Nhà nước không nắm giữ cổ phần, 17 công ty

cổ phần còn lại Nhà nước nắm giữ Ýt nhất 18%, cao nhất là 51%; cổ phần do

Trang 21

người lao động trong công ty nắm giữ từ 18%-50%, cổ phần còn lại do cổđông ngoài xã hội chiếm giữ

Tính đến hết tháng 5/1998 cả nước có 33 doanh nghiệp hoàn thànhCPH, so với yêu cầu cải cách DNNN và số lượng DNNN trong diện CPH thìkết quả đạt được trong các năm 1992-1998 là quá Ýt, tốc độ CPH rất chậm

c Từ năm 1998 đến nay là giai đoạn thực hiện bình thường và phổ biến đối với tất cả cácDNNN thuộc danh sách cần phải CPH.

CPH DNNN có chuyển biễn rõ rệt và đáng khích lệ từ khi có Nghịđịnh 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 của Chính phủ ''về chuyển DNNNthành công ty cổ phần'' Riêng 6 tháng cuối năm 1998 đã cổ phần được 90doanh nghiệp Nhà nước, đưa số DNNN được CPH lên 120 doanh nghiệp.Năm 1999, CPH được 250 DNNN, gấp 7 lần so với 6 năm trước đó (1992-1997) cộng lại Do có sự cố gắng của các cấp, các ngành nên công tác CPH

đã có tiến bộ rõ rệt Kết quả tính đến hết tháng 3 năm 2001 đã có 650 doanhnghiệp hoàn thành chuyển đổi hình thức sở hữu sang công ty cổ phần Riêngtrong năm 2000, đã chuyển đổi hoàn thành 118 doanh nghiệp, đạt 27,2% sovới mục tiêu chung đến hết năm 2000 là 692 doanh nghiệp, bao gồm:

- 137 Doanh nghiệp thuộc khối Bộ, Ngành

- 484 Doanh nghiệp thuộc khối địa phương

- 71 Doanh nghiệp thuộc khối Tổng công ty 91

Các doanh nghiệp đã CPH thuộc các Bộ, ngành, Tổng công ty 91chiếm 27%, thuộc các địa phương chiếm 73% Trong tổng số các doanhnghiệp đã CPH thì 50,6% thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng; 34,7%thuộc lĩnh vực thương mại dịch vụ (các công ty thương mại địa phương, dulịch, khách sạn, nhà hàng); 9,9 thuộc lĩnh vực giao thông và 4,7 thuộc lĩnhvực nông, lâm, ngư nghiệp và thuỷ sản (tập trung vào các cơ sở chế biếnnông sản như chè, thức ăn gia súc, chế biến lâm sản, chất bảo quản nông sản,lâm sản, mía đường, nước chấm, )

Trang 22

Theo Báo cáo tình hình 6 tháng đầu năm 2002 của Chính phủ thì trong

6 tháng đầu năm, đã chuyển đổi sở hữu 90 DNNN, trong đó CPH 79 doanhnghiệp, giao bán 5 doanh nghiệp, ngoài ra đã khoán được 6 DNNN

Nhìn chung công tác CPH đã có những tiến bộ từ sau khi ban hànhNghị định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998, do có sự cố gắng của các ngành,các cấp và đặc biệt là hệ thống văn bản pháp luật quy định về CPH ngày càngđược sửa đổi bổ xung, phù hợp với tình hình thực tế, tạo điều kiện thuận lợicho các doanh nghiệp thực hiện CPH

2 Thuận lợi

Bên cạnh những chuyển biến về mặt số lượng các DNNN tiến hànhCPH như trên, bước đầu có thể đánh giá một số kết quả tích cực từ khi Nghịđịnh 44/1998/NĐ-CP ra đời thay thế Nghị định 28/CP ngày 7/5/1996, ta cóthể thấy những vướng mắc trong quá trình CPH đã được tháo gỡ cơ bản, thểhiện ở các mặt sau:

Một là: Rõ ràng hơn về đối tượng áp dụng Điều 1 Chương I của Nghị

định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 quy định về đối tượng áp dụng Kèmtheo Nghị định này là một phụ lục được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chỉ

rõ loại DNNN hiện có, chưa tiến hành CPH; loại DNNN hiện có, Nhà nướccần nắm giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt khi tiến hành CPH và các loạiDNNN mà Nhà nước không giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt

Hai là: Bổ sung thêm hình thức thực hiện so với Điều 9 Nghị định số

29/CP, tại Điều 7 khoản 4 Nghị định 44/1998/NĐ-CP, bổ sung hình thức tiếnhành CPH: ''Bán toàn bộ giá trị hiện có thuộc vốn Nhà nước tại doanh nghiệp

để chuyển thành công ty cổ phần'' Quy định này thể hiện quyết tâm của Nhànước ta trong quá trình thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu DNNN Đồng thờihình thức bổ sung nói trên cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu

tư trong việc lưạ chọn phương án đầu tư thích hợp cho mình

Ngày đăng: 16/05/2015, 11:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w