luận văn nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại 3 phường (bạch đằng, hồng hải và hồng hà), thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh luận văn nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại 3 phường (bạch đằng, hồng hải và hồng hà), thành phố hạ long, tỉnh quảng ninh
Trang 1i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
TRẦN THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN
LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI 3 PHƯỜNG (BẠCH ĐẰNG, HỒNG HẢI VÀ HỒNG HÀ), THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Hà Nội - 2013
Trang 2ii
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
-
TRẦN THỊ THU TRANG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN
LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT TẠI 3 PHƯỜNG (BẠCH
ĐẰNG, HỒNG HẢI VÀ HỒNG HÀ), THÀNH PHỐ HẠ LONG,
TỈNH QUẢNG NINH
Chuyên ngành: Môi trường trong Phát triển bền vững
(Chương trình đào tạo thí điểm)
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trịnh Thị Thanh
Hà Nội - 2013
Trang 3Học viên cũng xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các Thầy, Cô thuộc Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội
đã tận tình giúp đỡ, truyền đạt kiến thức chuyên môn và kỹ thuật trong quá trình học tập thạc sỹ và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em có thể hoàn thành tốt luận văn này
Ngoài ra, tôi xin gửi lời cảm ơn gia đình, cơ quan, bạn bè và đồng nghiệp đã
cổ vũ, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Do thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, vì vậy rất mong nhận được sự góp ý của các Thầy, Cô và các bạn
để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2013
Học viên: Trần Thị Thu Trang
Trang 4ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của Luận văn này được hình thành và phát triển từ những quan điểm của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Trịnh Thị Thanh Các số liệu và kết quả có được trong Luận văn là hoàn toàn trung thực
Hà nội, ngày 20 tháng 11 năm 2013
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Thị Thu Trang
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC HÌNH vii
MỞ ĐẦU 1
Chương I 5
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu 5
1.2 Cơ sở lý luận 9
1.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 9
1.2.2 Hoạt động quản lý Chất thải rắn sinh hoạt ta ̣i cấp phường 10
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt 11
1.2.4 Tác động của CTR sinh hoạt đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng 11
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài 12
1.3.1 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới 12
1.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam 13
1.3.3 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại tỉnh Quảng Ninh 20
1.3.4 Thực trạng CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long 25
Chương II 30
ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Địa điểm nghiên cứu 30
2.2 Thời gian nghiên cứu 30
Trang 6iv
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Phương pháp luận 30
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu 30
Chương III 34
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34
3.1 Hiện trạng thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt 34
3.1.1 Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh 34
3.1.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt theo từng nguồn 37
3.1.3 Hiện trạng thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 46
3.1.4 Nhận xét về tính hiệu quả của công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn các phường khu vực nghiên cứu 64
3.1.5 Một số tồn tại trong công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại khu vực nghiên cứu 65
3.2 Đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại 3 phường: Bạch Đằng, Hồng Hải, Hồng Hà thành phố Hạ Long 69
3.2.1 Giải pháp về chính sách 69
3.2.2 Đề xuất mô hình phân loại rác tại nguồn 71
3.2.3 Đề xuất phương án lưu chứa, thu gom chất thải rắn sinh hoạt 74
3.2.4 Đề xuất các trạm trung chuyển chất thải rắn sinh hoạt 78
3.2.5 Đề xuất các tuyến đường vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt 84
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86
1 Kết luận 86
2 Kiến nghị 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO 88
PHỤ LỤC 1
Trang 7v
DANH MỤC CÁC CHỮ KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
UNESCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc CTR: Chất thải rắn
QCVN: Quy chuẩn Việt Nam
TCVN: Tiêu chuẩn Việt Nam
KT-XH: Kinh tế - Xã hội
UBND: Ủy Ban Nhân Dân
TNHH: Trách nhiệm hữu hạn
Trang 8vi
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Nguồn thải và chất thải rắn đặc trưng 9
Bảng 1.2 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở các đô thị Việt Nam 15
Bảng 1.3 Lượng CTRSH đô thị theo vùng địa lý ở Việt Nam năm 2006-2007 16
Bảng 1.4 Thành phần phân loại của chất thải rắn đô thị 17
Bảng 1.5 Chất thải rắn phát sinh hàng ngày tại các đô thị tỉnh Quảng Ninh 20
Bảng 1.6 Tỷ lệ thu gom CTR trên địa bàn các đô thị điển hình tại Quảng Ninh 21
Bảng 1.7 Thực trạng các bãi chôn lấp rác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 24
Bảng 1.8 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố Hạ Long 26
Bảng 3.0 Tổng hợp khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại địa bàn nghiên cứu 34
Bảng 3.1 Tổng hợp lượng CTR sinh hoạt phát sinh (thu gom) tại 3 phường Bạch Đằng, Hồng Hải và Hồng Hà 36
Bảng 3.2 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại khu dân cư của khu vực phường Bạch Đằng, Hồng Hải và Hồng Hà (tháng 7/2013) 39
Bảng 3.3 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của 1 khách sạn tư nhân (khách sạn Vịnh Xanh) khu vực phường Hồng Hải 41
Bảng 3.4 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của nhà hàng Hồng Hạnh tại khu vực phường Hồng Hải 43
Bảng 3.5 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt của chợ Hạ Long 1 thuộc phường Bạch Đằng 44
Bảng 3.6 Thành phần chất thải rắn sinh hoạt tại Trung tâm Quan trắc và Phân tích Môi trường (phường Hồng Hải) thuộc địa bàn nghiên cứu 45
Bảng 3.7 Tổng hợp số lượng công nhận tại các tổ vệ sinh quản lý trên địa bàn phía Đông thành phố Hạ Long 47
Bảng 3.8 Hiện trạng phương tiện vận chuyển rác thải sinh hoạt của Công ty CP Môi trường Đô thị INDEVCO 48
Bảng 3.9 Tổng hợp các tuyến thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Bạch Đằng – TP Hạ Long 50
Trang 9vii
Bảng 3.10 Tổng hợp các tuyến thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường
Hồng Hải – TP Hạ Long 54
Bảng 3.11 Tổng hợp các tuyến thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn phường Hồng Hà – TP Hạ Long 58
Bảng 3.12 Mức thu phí thu gom rác thải sinh hoạt tại các phường khu vực phía Đông TP Hạ Long 62
Bảng 3.13 Phương thức lưu chứa CTR sinh hoạt khi phân loại tại nguồn 73
Bảng 3.14 Vị trí các trạm trung chuyển rác chính thống và không chính thống tại khu vực nghiên cứu 82
DANH MỤC HÌNH Hình 1.1 Sơ đồ vị trí thành phố Hạ Long 5
Hình 1.2 Sơ đồ vị trí phường Bạch Đằng 6
Hình 1.3 Sơ đồ vị trí phường Hồng Hải 7
Hình 1.4 Sơ đồ vị trí phường Hồng Hà 8
Hình 1.5 Quy trình thu gom CTR sinh hoạt 27
Hình 3.1 Tỷ lệ phát sinh chất thải rắn từ các nguồn phát sinh tại địa bàn phường Bạch Đằng, Hồng Hải và Hồng Hà 35
Hình 3.2 Đồ thị lượng CTRSH phát sinh tại 20 phường của TP Hạ Long 36
Hình 3.3 Số lượng công nhân vệ sinh môi trường tại các phường khu vực nghiên cứu 47
Hình 3.4 Mô hình công tác thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải 49
Hình 3.5 Mô hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt có phân loại dự kiến áp dụng cho khu vực nghiên cứu 74
Hình 3.6 Thùng chứa rác 660 lít Hình 3.7 Thùng chứa rác 240 lít 76
Hình 3.8 Vận chuyển thùng rác bằng xe ba gác đạp 76
Hình 3.9 Sơ đồ mạng lưới thu gom sơ cấp tại khu vực 03 phường Bạch Đằng, phường Hồng Hải và phường Hồng Hà 78
Trang 101
MỞ ĐẦU
Hạ Long là một thành phố đô thị loại I trực thuộc tỉnh Quảng Ninh, gồm 20 phường, có diện tích là 27.195,03 ha, có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của thành phố, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên và văn hóa của thế giới; được tổ chức New7wonders bầu chọn là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới Thành phố Hạ Long là một thành phố du lịch và công nghiệp có tốc độ đô thị hóa tăng nhanh, cuộc sống của người dân ngày càng được cải thiện, nhu cầu cuộc sống vật chất và sử dụng tài nguyên ngày càng lớn kéo theo sự gia tăng lượng chất thải rắn nói chung và lượng chất thải rắn sinh hoạt nói riêng ngày càng nhiều
Thành phố Hạ Long có địa hình đa dạng, được chia làm hai khu vực chính là khu vực phía Tây thành phố gồm 7 phường chủ yếu là hoạt động phát triển du lịch
và cảng biển và khu vực phía Đông thành phố gồm 13 phường gồm các hoạt động công nghiệp, chính trị, thương mại và phát triển đô thị Do vậy, công tác thu gom,
xử lý chất thải rắn sinh hoạt của thành phố hiện cũng được chia làm 2 khu vực Chất thải rắn phát sinh khu vực các phường phía Tây của thành phố gồm 7 phường: Bãi Cháy, Giếng Đáy, Việt Hưng, Hà Khẩu, Hùng Thắng, Tuần Châu và Đại Yên được đưa về bãi rác Hà Khẩu để xử lý bằng hình thức chôn lấp Chất thải rắn sinh hoạt thu gom từ các phường khu vực phía Đông thành phố gồm 13 phường: Hồng Gai, Hồng Hải, Cao Thắng, Cao Xanh, Hồng Hà, Bạch Đằng, Hà Tu, Trần Hưng Đạo,
Hà Lầm, Hà Phong, Yết Kiêu, Hà Trung, Hà Khánh được đưa về bãi rác Đèo Sen
để xử lý cũng bằng hình thức chôn lấp và một phần chất thải rắn sinh hoạt được đưa
về Nhà máy xử lý rác Hạ Long tại phường Hà Khánh do Công ty xử lý chất thải Hạ Long quản lý để chế biến thành phân hữu cơ
Hiện nay, tại thành phố Hạ Long mỗi ngày có khoảng 243,8 tấn chất thải rắn các loại thải ra môi trường, trong đó chất thải rắn sinh hoạt chiếm khoảng 90%, số còn lại là chất thải rắn công nghiệp, y tế và xây dựng Mặc dù đã có đơn vị tổ chức thu gom và tỷ lệ thu gom đạt từ 94% đến 96 % nhưng hiệu quả xử lý chưa cao do chất thải rắn sinh hoạt chưa được phân loại tại nguồn dẫn đến quá tải trong công tác
xử lý tại các bãi chôn lấp gây ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe cộng đồng
Trong những năm qua, đã có một số đề tài nghiên cứu về hiện trạng hoạt động thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực các phường phía Tây thành phố Hạ Long (khu du lịch Bãi Cháy), khu vực vịnh Hạ Long và cho thành phố Hạ Long Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp
Trang 112
quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại các phường phía Đông thuộc khu vực thành phố
Hạ Long Với mong muốn xây dựng một số mô hình thử nghiệm về công tác quản
lý CTR sinh hoạt trên một số phường có đặc trưng cho sự phát triển về thương mại - văn hóa - chính trị của thành phố Hạ Long một cách có hiệu quả Vì vậy, Luâ ̣n văn
đã chọn đề tài “Nghiên cứu hiện trạng và đề xuất giải pháp quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại 3 phường (Bạch Đằng, Hồng Hải và Hồng Hà), thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” làm đề tài thạc sỹ của mình Đây là 3 phường có các hoạt
động phát triển đặc trưng của thành phố Hạ Long gồm có các hoạt động thương mại dịch vụ tập trung ở phường Bạch Đằng, trung tâm văn hóa – thể thao và dân cư lấn biển tập trung ở phường Hồng Hải, trung tâm hành chính – công sở và phát triển đô thị mới lấn biển tập trung ở phường Hồng Hà Với mong muốn rằng, Luâ ̣n văn sẽ đánh giá được hiện trạng quản lý rác thải tại 3 phường trung tâm của thành phố Hạ Long từ đó xây dựng mô hình quản lý CTR sinh hoạt một cách hiệu quả cho toàn thành phố Hạ Long
1 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
+ Tìm hiểu thực trạng và đánh giá hiện trạng thu gom, quản lý và xử lý CTR sinh hoạt tại 3 phường (Bạch Đằng, Hồng Hải và Hồng Hà) thuộc khu vực phía Đông thành phố Hạ Long
+ Đề xuất những giải pháp quản lý CTR sinh hoạt hợp lý tại 3 phường (Bạch Đằng, Hồng Hải và Hồng Hà) thuộc khu vực phía Đông thành phố Hạ Long
2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
* Đối tượng nghiên cứu hoạt động phát sinh , thu gom va ̀ quản lý CTR sinh hoa ̣t ta ̣i 3 phường sau đây:
Phường Bạch Đằng nằm ở trung tâm TP Hạ Long, có diện tích 1,68 km2, là
phường có thế mạnh phát triển thương mại và di ̣ch vụ Phường Ba ̣ch Đằng có c ơ
sở hạ tầng tương đối hoàn thiện, điều kiện kinh tế tương đối phát triển, các cơ sở kinh doanh dịch vụ, hệ thống nhà hàng, khách sạn được đầu tư xây dựng nhiều
Phường Hồng Hải nằm gần Trung tâm thành phố Hạ Long, có diện tích đất
tự nhiên là 301,74 ha Phường Hồng Hải là trung tâm văn hóa – thể thao và dân cư lấn biển Các công trình phục vụ hoạt động vui chơi giải trí của người dân thành
phố Ha ̣ Long đều tâ ̣p trung ta ̣i phường Hồng Hải như khu vực Quảng trường, Bảo tàng, Thư viện tỉnh, khu vui chơi giải trí, hệ thống giao thông thuận lợi và đồng bộ
Phường Hồng Hà nằm ở gần trung tâm thành phố Hạ Long, có diện tích đất
tự nhiên là 308,07 ha Phường Hồng Hà là trung tâm hành chính – công sở và
Trang 123
phát triển đô thị mới lấn biển Nơi tập trung hệ thống các cơ quan quản lý nhà
nước, các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hạ Long
* Các nguồn phát sinh chất thải rắn gồm:
- Rác hộ dân: phát sinh từ các hộ gia đình Thành phần rác thải này bao gồm: thực phẩm, giấy, carton, plastic, gỗ, thủy tinh, các kim loại khác, đồ diện tử gia dụng, rác vườn, vỏ xe Ngoài ra, rác hộ dân có thể chứa một phần các chất thải nguy hại như ắc quy hỏng, bóng đèn hỏng, đồ điện hỏng
- Rác quét đường: phát sinh từ hoạt động vệ sinh đường phố, khu vui chơi giải trí và làm đẹp cảnh quan Nguồn rác này do người đi đường và các hộ dân sống dọc hai bên đường xả bừa bãi Thành phần của chúng gồm các loại: cành cây, lá cây, giấy vụn, bao nilon, xác động vật chết …
- Rác khu thương mại: phát sinh từ hoạt động buôn bán của các cửa hàng bách hóa, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, văn phòng giao dịch, nhà máy in, cửa hàng sửa chửa…Các loại chất thải từ khu thương mại bao gồm: giấy, carton, plastic, gỗ, thực phẩm, thủy tinh, kim loại, vỏ xe, đồ điện gia dụng Ngoài ra, rác khu thương mại còn có thể chứa một số các chất thải nguy hoại hại khác
- Cơ quan, công sở: phát sinh từ các cơ quan, công ty, xí nghiệp, trường học, văn phòng làm việc Thành phần rác thải như khu thương mại
- Rác chợ: phát sinh từ các hoạt động mua bán ở chợ Thành phần chủ yếu là rác hữu cơ bao gồm: rau, củ, quả thừa và hư hỏng
* Các hình thức thu gom và vận chuyển CTR sinh hoạt:
- Hoạt động vận chuyển thủ công bằng xe thu gom rác đẩy tay tại các khu dân
4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
- Kết quả của đề tài là cơ sở dữ liệu của việc nghiên cứu cơ bản về hiện trạng thu gom, quản lý CTR sinh hoạt của 3 phường (Bạch Đằng, Hồng Hải, Hồng Hà) khu vực phía đông thành phố Hạ Long
Trang 13- Đề tài đã cung cấp một số giải pháp thực tế để quản lý CTR sinh hoạt cho các phường thuộc khu vực nghiên cứu nói riêng và của thành phố nói chung cho những năm tới
5 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Cấu trúc cơ bản của luận văn như sau:
Mở đầu: Đề cập đến sự cần thiết của đề tài nghiên cứu; mục tiêu, đối tượng,
phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Chương I Tổng quan vấn đề nghiên cứu: Gồm các nội dung: (I) tổng quan về
điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khu vực nghiên cứu; (II) cơ sở lý luận; (III) cơ sở thực tiễn của đề tài
Chương II Địa điểm, thời gian, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Chương III Kết quả nghiên cứu
Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 145
Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan về khu vực nghiên cứu
Thành phố Hạ Long là trung tâm văn hóa, kinh tế, chính trị của tỉnh Quảng Ninh, có diện tích đất là 27.195,03 ha, có quốc lộ 18A chạy qua tạo thành chiều dài của Thành phố, có cảng biển, có bờ biển dài 50km, có vịnh Hạ Long 2 lần được UNESCO công nhận là Di sản thế giới với diện tích 434km2
Hình 1.1 Sơ đồ vị trí thành phố Hạ Long
Thành phố Hạ Long được chia làm 2 khu vực: khu vực phía Tây và khu vực phía Đông Hai khu vực này được ngăn cách bởi eo vịnh Cửa Lục
Khu vực nghiên cứu tại ba phường Bạch Đằng, Hồng Hải, Hồng Hà là trung tâm thương mại - dịch vụ - văn hóa – chính trị - phát triển đô thị của thành phố Hạ Long Khu vực nghiên cứu nằm ở phía Đông thành phố Hạ Long và nằm dọc dải ven biển Vịnh Hạ Long, cụ thể như sau:
Khu vực nghiên cứu
Trang 156
a Phường Bạch Đằng nằm ở trung tâm TP Hạ Long, có diện tích 1,68 km2 có vị
trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp phường Trần Hưng Đạo
- Phía Nam giáp Vịnh Hạ Long
- Phía Đông giáp phường Hồng Hải
- Phía Tây giáp phường Hồng Gai
Hình 1.2 Sơ đồ vị trí phường Bạch Đằng
Với lợi thế là một trong những phường trung tâm của thành phố có cơ sở hạ tầng tương đối hoàn thiện, điều kiện kinh tế tương đối phát triển, các cơ sở kinh doanh dịch vụ, hệ thống nhà hàng, khách sạn được đầu tư xây dựng nhiều
Trang 167
b Phường Hồng Hải là một phường nằm gần Trung tâm thành phố Hạ Long, có
diện tích đất tự nhiên là 301,74 ha Tuyến đường Quốc lộ 18 A chạy qua dài 3,2 km,
có bờ biển dài 2,8 km giáp vịnh Hạ Long, có vị trí địa lý như sau:
- Phía Bắc giáp phường Hà Lầm
- Phía Nam giáp Vịnh Hạ Long
- Phía Đông giáp phường Hồng Hà
- Phía Tây giáp phường Bạch Đằng
Hình 1.3 Sơ đồ vị trí phường Hồng Hải
Phường Hồng Hải là phường có tốc độ phát triển đô thị hoá nhanh, diện tích của phường được mở rộng về phía Nam giáp vịnh Hạ Long Nơi đây đã được san lấp, đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật tương đối đồng bộ Các công trình phục vụ hoạt động vui chơi giải trí của người dân như khu vực Quảng trường, Bảo tàng, Thư viện tỉnh, khu vui chơi giải trí, hệ thống giao thông thuận lợi và đồng bộ
Trang 178
c Phường Hồng Hà nằm ở gần trung tâm thành phố Hạ Long, có diện tích đất tự
nhiên là 308,07 ha Là phường nằm cạnh phường Hồng Hải nên cũng có tuyến đường Quốc lộ 18 A chạy qua dài 3,5 km, có bờ biển dài 2,0 km giáp vịnh Hạ Long
- Phía Bắc giáp phường Hà Trung, phường Hà Tu
- Phía Nam giáp Biển
- Phía Đông giáp phường Hà Tu
- Phía Tây giáp phường Hồng Hải và phường Hà Trung
Hình 1.4 Sơ đồ vị trí phường Hồng Hà
Là một phường nằm gần trung tâm thành phố Hạ Long, nơi tập trung hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước, các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Hạ Long
Trang 189
1.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Các nguồn phát sinh CTR sinh hoạt chủ yếu từ các hoạt động được mô tả theo
Khu dân
cư
Các hộ gia đình, các biệt thự, và các căn hộ chung cư
Thực phẩm thừa , hỏng, các loại vỏ cua , ghẹ, ngao, ốc, sò giấy, carton, plastic, gỗ, thuỷ tinh, nhôm, các kim loại khác, tro, các
“chất thải đặc biệt” (bao gồm vật dụng to lớn, đồ điện tử, đồ gia dụng, rác vườn…) Khách
Nhà
hàng ăn
uống
Nhà hàng phục vụ hoạt động ăn uống
Rác hữu cơ dạng thực phẩm thừa (rau,
củ, quả, đồ ăn thừa…), các loại vỏ cua, ghẹ, ngao, ốc, sò tư hoạt động ăn uống của khách và dạng vô cơ như túi ninol, vỏ chai thủy tinh, chai nhựa, lon bia, nước ngọt
Khu
thương
mại, chợ
Cửa hàng bách hoá, nhà hàng, khách sạn, siêu thị, văn phòng giao dịch, nhà máy in, chợ…
Giấy, carton, plastic, gỗ, thực phẩm, thuỷ tinh, kim loại, chất thải đặc biệt, chất thải độc hại
Cơ quan,
công sở
Trường học, bệnh viện, văn phòng cơ quan nhà nước
Các loại chất thải giống như khu thương mại CTR y tế được thu gom và xử lý tách riêng bởi vì tính chất độc hại của nó
Dịch vụ
đô thị
Quét dọn đường phố, làm sạch cảnh quan, khu vui chơi giải trí
Chất thải đặc biệt, rác quét đường, cành cây và lá cây, xác động vật chết…
Trang 1910
1.2.2 Hoạt động quản lý Chất thải rắn sinh hoạt tại cấp phươ ̀ ng
Hoạt động Quản lý Chất thải rắn sinh hoạt tại cấp phường (là đơn vị hành chính nhỏ nhất) tại các đô thị của Việt Nam đã được quan tâm thực hiện trong nhiều năm qua và tỷ lệ thu gom CTRSH tại các phường đã khá cao (>90%) nhưng vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề bất cập như CTRSH chưa được phân loại tại nguồn , hình thức đổ thải, thu gom chưa hơ ̣p lý , vẫn xảy tra tình tra ̣ng tồn đo ̣ng CTR trên hè phố , gây ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan đô thi ̣
Hiê ̣n nay, có 3 mô hình quản lý CTRSH ta ̣i các phường , xã tại Việt Nam đang
áp dụng phổ biến như sau:
Mô hình 1:
- Việc thu gom, vận chuyển, xử lý rác thải được ký kết hợp đồng với Công ty dịch vụ Môi trường đảm nhận UBND các phường, xã chịu trách nhiệm tổ chức thu phí VSMT theo quy định; quản lý, giám sát công tác thu gom rác thải thuộc địa bàn mình quản lý, phối hợp với Công ty di ̣ch vu ̣ Môi trường xác nhận khối lượng rác thu gom, vận chuyển để làm căn cứ nghiệm thu thanh toán
Mô hình 2:
Việc thu gom rác được giao cho UBND các phường, xã đảm nhận và đưa rác về các vị trí tập kết để Công ty dịch vụ Môi trường vận chuyển và xử lý UBND các phường, xã chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý công tác thu gom rác thải thuộc địa bàn quản lý, giám sát, phối hợp với Công ty dịch vụ Môi trường xác nhận khối lượng rác thực tế vận chuyển để làm căn cứ nghiệm thu thanh toán
Mô hình 3:
Việc thu gom và vận chuyển rác được giao cho UBND phường, xã đảm nhận Để nâng cao hiê ̣u quả quản lý chất thải rắn sinh hoa ̣t ta ̣i các đi ̣a phương thì viê ̣c kết hơ ̣p giữa chính quyền đi ̣a phương , các tổ chức xã hội và các tổ chức doanh nghiê ̣p, cô ̣ng đồng dân cư là rất quan trọng
Chính quyền địa phương có trách nhiê ̣m nghiên cứu đưa ra các quy chế quản lý rác thải phù hợp
Các tổ chức xã hội như Mặt trận tổ quốc , hô ̣i phu ̣ nữ, đoàn thanh niên, trường học có trách nhiệm tuyên truyền , giám sát việc thực hiện các quy chế, quy đi ̣nh về quản lý rác cho các khu dân cư, các đoàn viên, học sinh Từ đó nâng cao được nhâ ̣n thức của cô ̣ng đồng trong viê ̣c thu gom , phân loa ̣i rác tại từng gia đình , cơ quan, trường ho ̣c
Bổ sung các chế tài xử pha ̣t nếu người dân , tổ chức có hành vi trái với các quy đi ̣nh về thu gom và phân loa ̣i rác ta ̣i đi ̣a phương
Trang 2011
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Sự phát triển kinh tế và nếp sống: sự phát sinh CTR sinh hoạt có mối liên hệ
trực tiếp với sự phát triển kinh tế của cộng đồng Lượng chất thải sinh hoạt đã được ghi nhận là có giảm đi khi có sự suy giảm về kinh tế Phần trăm vật liệu đóng gói (đặc biệt là túi nilon) của chất thải cũng giảm đi
Mật độ dân số: các nghiên cứu xác minh khi mật độ dân số tăng lên, sẽ phát
sinh nhiều rác thải hơn
Sự thay đổi theo mùa: sự thay đổi về lượng rác thải phát sinh có sự khác biệt
trong những dịp như lễ giáng sinh, tết âm lịch (tiêu thụ đỉnh điểm) và cuối năm tài chính (tiêu thụ thấp)
Ngoài ra, dư luận và ý thức cộng đồng cũng được xem là một yếu tố ảnh hưởng đến tốc độ phát sinh chất thải rắn
Theo Dự án Việt Nam Canada Environment Project, thì tốc độ phát sinh rác
thải đô thị ở Việt Nam được ước lượng như sau:
- Rác thải khu dân cư: 0,3 – 0,6 kg/người/ngày
- Rác thải thương mại: 0,1 – 0,2 kg/người/ngày
- Rác thải quét đường: 0,05 – 0,23 kg/mgười/ngày
- Rác thải công sở: 0,05 – 0,2 kg/người/ngày
Tính trung bình, lượng rác thải rắn phát sinh ở Việt Nam: 0,5 – 0,6 kg/người/ngày; so với Singapore: 0,78kg/người/ngày; Hong Kong: 0,85 kg/người/ngày; Karachi, Pakistan: 0,50 kg/người/ngày Qua đó có thể thấy các tác động từ sự phát triển kinh tế, nếp sống, mật độ dân số, sự thay đổi theo mùa và cả
sự nhận thức của cộng đồng dân cư có ảnh hưởng rất lớn đến việc giảm thiểu hay phát sinh CTR sinh hoạt
1.2.4 Tác động của CTR sinh hoạt đến môi trường và sức khoẻ cộng đồng
Chất thải rắn sau khi được phát sinh có thể thâm nhập vào môi trường không khí dưới dạng bụi hay các chất khí bị phân hủy như H2S, NH3 rồi theo đường hô hấp đi vào cơ thể con người hay sinh vật Một bộ phận khác, đặc biệt là các chất hữu cơ, các chất vô cơ thâm nhập vào nguồn nước hay môi trường đất rồi vào cơ thể con người qua thức ăn, thức uống Ngoài những chất hữu cơ có thể bị phân rã nhanh chóng, rác thải có chứa những chất rất khó bị phân hủy, làm tăng thời gian tồn tại của rác trong môi trường Hậu quả là môi trường bị ô nhiễm, ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và động thực vật… Hơn thế nữa rác thải chất đống trên mặt đất
sẽ làm mất vẻ mỹ quan, là nơi sinh mầm bệnh và trong trường hợp bị hỏa hoạn, rất
Trang 2112
khó dập tắt, là nguồn phát sinh ra những nguồn ô nhiễm mới Chất ô nhiễm dạng rắn có thể chuyển dịch thành các chất ô nhiễm dạng khí hay dạng lỏng
1.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài
1.3.1 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên thế giới
“Quản lý chất thải rắn sinh hoạt được coi là những vấn đề rất quan trọng trong công tác xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường Ở các nước phát triển như Mỹ, các nước Tây Âu, Bắc Âu, Nhật Bản trình độ quản lý chất thải rắn sinh hoạt đã đạt ở mức độ cao Phương thức quản lý chất thải rắn hiện đang áp dụng ở các nước tập trung vào :
- Giảm thiểu chất thải rắn
- Thu hồi, tái chế và tái sử dụng lại chất thải
- Xử lý và thải bỏ chất thải an toàn, hợp vệ sinh
Các công việc phân loại rác thải tại nguồn, thu gom, xử lý và tái chế chất thải rắn sinh hoạt ở hầu hết các nước phát triển đã được tổ chức đồng bộ từ chính sách, pháp luật, công cụ kinh tế và có sự tham gia của nhiều thành phần trong xã hội
Ở các nước đang phát triển, phương thức 3R (Reduce, Reuse, Recycle) hiện đang được áp dụng rộng rãi trong việc hoạch định các chính sách về chất thải rắn
Đó là phương thức: giảm thiểu - tái sử dụng - tái chế chất thải rắn.” Nguyễn Thi ̣
Kim Thái (2006) Nghiên cứu , lập quy h oạch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng
Ninh đến năm 2010 đi ̣nh hướng đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu , Viê ̣n Khoa ho ̣c
và kỹ thuật Môi trường
Các kinh nghiệm quản lý chất thải rắn của một số nước được mô tả như sau:
“Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn của Singapore: Luật Bảo vệ môi trường
tại Singapo chặt chẽ, chế tài xử phạt nghiêm khắc Tất cả chất thải rắn đều được phân loại ngay tại nguồn phát sinh và thu gom bằng túi nilon Các chất thải có thể tái chế được như: giấy, chai lọ, đồ hộp được đưa về nhà máy tái chế Chất thải rắn tại Singapore phát sinh từ các hộ gia đình, được thu gom theo từng cụm khu vực và đưa tới các điểm tập trung để xử lý Việc thu gom CTR do các công ty tư nhân đảm nhiệm, nhà nước hỗ trợ tiền xây dựng các nhà máy tiêu hủy chất thải Bộ Môi trường giám sát chặt chẽ việc quản lý CTR trên phạm vi toàn quốc Hàng tháng, người dân có nghĩa vụ đóng góp phí thu gom chất thải, mỗi gia đình nộp 6 USD/tháng, nếu căn hộ có sân vườn nộp 11 USD/tháng
Trang 2213
Hoạt động của các nhà máy xử lý chất thải rắn ở Singapore hoàn toàn dưới sự điều hành của nhà nước và chi phí hoạt động thu chi đều nộp vào ngân sách và do ngân sách nhà nước cấp Khi vận chuyển chất thải rắn tới các nhà máy để đốt, các công ty tư nhân phải trả chi phí xử lý cho nhà máy Chi phí này được tính vào giá thành thu gom vận chuyển mà các hộ gia đình phải chi trả phí vận chuyển cho các công ty tư nhân Phí thu gom vận chuyển mà các hộ gia đình phải trả khác nhau tùy theo loại nhà ở họ sử dụng Loại nhà ở kiểu biệt thự mức chi phí thu gom cao nhất, sau đó đến nhà ở chung cư của tư nhân và cuối cùng là nhà ở chung cư của nhà nước Do phải chịu các chi phí vận chuyển và xử lý cho từng chuyến xe chở chất thải rắn nên các công ty tư nhân dịch vụ vệ sinh thường kết hợp với các công ty thu hồi và tái chế chất thải rắn, thu hồi các loại chất thải rắn có khả năng tái chế, vừa hạn chế được lượng chất thải rắn phải vận chuyển vừa thu được thêm lợi nhuận Tro đốt sau quá trình xử lý, gồm cả một số kim loại được đóng thành từng kiện
và được vận chuyển bằng tàu biển ra một nơi tập trung gần một hòn đảo khác của Singapore, thực hiện quá trình lấn biển, mở rộng đất đai cho quốc gia này”
Nguyễn Thi ̣ Kim Thái (2006) Nghiên cứu, lập quy hoạch quản lý chất thải
rắn tỉnh Quảng Nin h đến năm 2010 đi ̣nh hướng đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu ,
Viê ̣n Khoa ho ̣c và kỹ thuâ ̣t Môi trường
“Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn ở Nhật Bản: Xử lý chất thải rắn ở Nhật
Bản không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan đến các yếu tố chính trị, kinh tế
và văn hóa Do diện tích lãnh thổ bé, Nhật Bản đang áp dụng phương pháp thiêu đốt
để xử lý chất thải rắn Hiện nay, Nhật Bản có 1.915 xí nghiệp thiêu đốt chất thải rắn đang hoạt động, công suất của xí nghiệp lớn nhất là 1.980 tấn/ngày đêm Sau khi phân loại, 68% CTR sinh hoạt được chuyển đến các xí nghiệp này Việc thiêu đốt chất thải rắn ở Nhật Bản hiện đang đạt hiệu quả kinh tế nhất thế giới Phần lớn các
xí nghiệp có các lò thiêu hủy nhỏ, hoạt động theo chu kỳ, bên cạnh đó có các lò đốt lớn, hoạt động liên tục”
Nguyễn Thi ̣ Kim Thái (2006) Nghiên cứu, lâ ̣p quy hoa ̣ch quản lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 đi ̣nh hướng đến năm 2020, Đề tài nghiên cứu , Viê ̣n Khoa ho ̣c và kỹ thuâ ̣t Môi trường
1.3.2 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam
Khái quát về công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam
Trang 2314
Hoạt động quản lý CTR sinh hoạt ở Việt Nam bao gồm từ hoạt động thu gom, vận chuyển, trung chuyển và xử lý CTR hợp vệ sinh, đảm bảo các QCVN và TCVN đặt ra
Hiện nay, công tác quản lý CTR sinh hoạt ở Việt Nam chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu thực tế nhưng cùng với sự phát triển KT-XH, đi cùng với xu hướng phát triển và hội nhập, công tác quản lý CTR đã từng bước được quan tâm, tăng
cường để đảm bảo hiệu quả quản lý
Phát sinh chất thải rắn sinh hoạt
Chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu tập trung ở các vùng đô thị Các khu đô thị tuy
có dân số chỉ chiếm 24% dân số của cả nước nhưng lại phát sinh đến hơn 6 triệu tấn chất thải mỗi năm (tương ứng với 50% tổng lượng chất thải sinh hoạt của cả nước)
do có mức sống cao hơn, có nhiều các hoạt động thương mại hơn và đô thị hóa cũng diễn ra ở cường độ cao hơn Chất thải ở các vùng đô thị thường có tỷ lệ các thành phần nguy hại lớn hơn như các loại pin, các loại dung môi sử dụng trong gia đình và
các loại chất thải không phân hủy như nhựa, kim loại và thủy tinh (Nguồn: Cục bảo
vệ môi trường, 2008)
Ngược lại, lượng phát sinh chất thải sinh hoạt của người dân ở các vùng nông thôn chỉ bằng một nửa mức phát sinh của dân đô thị (0,3 kg/người/ngày so với 0,7 kg/người/ngày) và phần lớn chất thải đều là chất thải hữu cơ dễ phân hủy (tỷ lệ các thành phần dễ phân hủy chiếm 99% trong phế thải nông nghiệp và 65% trong chất thải sinh hoạt gia đình ở nông thôn, trong khi chỉ chiếm cỡ 50% trong chất thải sinh
hoạt ở các khu đô thị (Nguồn: Cục bảo vệ môi trường, 2008)
Tổng lượng phát sinh CTR sinh hoạt tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên đến 6,5 triệu tấn/năm, trong đó CTR sinh hoạt phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu Lượng còn lại từ các công sở, đường phố, các cơ sở y tế Chất thải nguy hại công nghiệp và các nguồn chất thải y tế nguy hại
ở các đô thị tuy chiếm tỷ lệ ít nhưng chưa được xử lý triệt để vẫn còn tình trạng chôn lấp lẫn với CTR sinh hoạt đô thị
Năm 2006-2007, lượng CTR sinh hoạt đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2
đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP Hồ Chí Minh Tuy chỉ có 2 đô thị nhưng tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh tới 8.000 tấn/ngày (2.920.000 tấn/năm) chiếm 45,24% tổng lượng CTR sinh hoạt phát sinh từ tất cả các đô thị (bảng 1.2) (Nguồn: Bộ Tài
nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn.)
Trang 2415
Bảng 1.2 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh ở các đô thị Việt Nam
STT Loại đô thị Lượng CTR sinh hoạt
bình quân trên đầu người (kg/người/ngày)
Lượng CTR sinh hoạt đô
thị phát sinh Tấn/ngày Tấn/năm
Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn
Năm 2006 -2007, tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt đô thị bình quân trên đầu người tại các đô thị đặc biệt và đô thị loại I tương đối cao (0,84 – 0,96 kg/người/ngày); đô thị loại II và loại III có tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt đô thị bình quân trên đầu người là tương đương nhau (0,72 - 0,73 kg/người/ngày); đô thị loại
IV có tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt đô thị bình quân trên một đầu người đạt khoảng
0,65 kg/người/ngày (Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo môi
trường quốc gia 2011: Chất thải rắn.)
Tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tính bình quân lớn nhất tập trung ở các đô thị phát triển du lịch như TP Hạ Long 1,18 kg/người/ngày; TP Hội An 1,08kg/người/ngày; TP Đà Lạt 1,06kg/người/ngày; TP Ninh Bình 1,03kg/người/ngày Các đô thị có tỷ lệ phát sinh CTR sinh hoạt tính bình quân đầu người thấp nhất là TP Đồng Hới (Tỉnh Quảng Bình) chỉ 0,31kg/người/ngày; Thị xã Gia Nghĩa 0,35kg/người/ngày; Thị xã Kon Tum 0,35kg/người/ngày; Thị xã Cao Bằng 0,38kg/người/ngày Trong khi đó tỷ lệ phát sinh bình quân đầu người tính trung bình cho các đô thị trên phạm vi cả nước là 0,73kg/người/ngày (Bảng 1.3)
(Nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo môi trường quốc gia 2011:
Chất thải rắn.)
Trang 25Nguồn: Báo cáo môi trường quốc gia 2011: Chất thải rắn
Ở hầu hết các đô thị, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt chiếm 60-70% tổng lượng chất thải rắn đô thị Một số đô thị có đến 90% là chất thải rắn sinh hoạt Theo kết quả nghiên cứu năm 2005 của Bộ Xây dựng về lượng phát sinh chất thải rắn ở các khu đô thị cho thấy tổng lượng rác thải sinh hoạt phát sinh từ các đô thị có xu hướng tăng đều, trung bình từ 10-16% mỗi năm
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần chất thải rắn sinh hoạt bao gồm: chất hữu cơ, cao su, nhựa, giấy, túi nilon, bìa cacton, giẻ vụn, vải, da, thủy tinh, gốm sứ, đất đá, cát, gạch vụn, kim loại và một tỷ lệ nhỏ pin, mạch điện tử, ắc quy… Tỷ lệ phần trăm các chất trong rác thải không ổn định, chúng biến động ở mỗi nơi thu gom, khu vực sinh sống và phát triển sản xuất của dân cư, theo thời gian, điều kiện khí hậu thời tiết, mức thu nhập, phong tục tập quán, trình độ dân trí, vị trí địa lý…
Trang 2617
Bảng 1.4 Thành phần phân loại của chất thải rắn đô thị Hợp phần % trọng lượng Độ ẩm (%) Trọng lượng
riêng (kg/m 3 ) Khoảng
giá trị
Trung bình
Khoảng giá trị
Trung bình
Khoảng giá trị
Trung bình
Nguồn: Trần Hiếu Nhuệ và nnk, 2001
Thu gom chất thải rắn sinh hoạt
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn tại các đô thị lớn như Hà Nội, TP Hồ Chí Minh hiện mới đạt tới 90 % tổng lượng chất thải rắn phát sinh Tỷ lệ thu gom CTR bình quân ở các đô thị toàn quốc vào khoảng 55- 60% Hầu hết chất thải rắn đô thị chưa được phân loại tại nguồn, mà được thu gom lẫn lộn, sau đó vận chuyển đến bãi chôn lấp với phần lớn là các bãi chứa rác lộ thiên không đáp ứng tiêu chuẩn vệ sinh môi trường
Công ty Môi trường đô thị của các tỉnh, thành phố là đơn vị trực tiếp đảm nhận công tác quản lý vệ sinh môi trường và các công trình đô thị nói chung, đồng thời là
Trang 2718
đơn vị tổ chức thực hiện công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt Nguồn vốn hoạt động của các Công ty này lấy từ ngân sách hỗ trợ của Nhà nước và nguồn thu từ các dịch vụ vệ sinh môi trường Một số đô thị khác như Tp
Hạ Long, Tp Cẩm Phả, Tp Hải Dương, Tp Tuyên Quang, Tp Biên Hòa, Tp Cần Thơ đã kết hợp cả 2 mô hình là: Mô hình do Nhà nước quản lý - Công ty Môi trường đô thị thực hiện và mô hình do Doanh nghiệp tư nhân - Hợp tác xã đảm nhiệm
* Mô hình do Nhà nước quản lý
Việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị do các Công ty Môi trường đô thị trực thuộc UBND tỉnh, thành phố hoặc huyện, thị xã thực hiện Các công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp có thu Tiền lương cho cán bộ công nhân viên chức, các loại phương tiện, trang bị ban đầu
do Nhà nước đầu tư lấy từ nguồn vốn ngân sách, nguồn thu từ hoạt động thu gom,
xử lý chất thải theo định mức áp dụng Tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, đơn giá được
áp dụng theo đơn giá của UBND tỉnh, thành phố ban hành theo từng thời điểm Việc thu chi kinh phí áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu và được Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố quyết định
* Mô hình do các Doanh nghiệp tư nhân, các Hợp tác xã
Các tổ chức tư nhân tham gia công tác này dưới hình thức hợp tác xã và tổ, nhóm thu gom rác Hợp tác xã, tổ thu gom rác được hình thành với hình thức tự nguyện, mỗi tổ có một cá nhân đứng lên làm nhóm trưởng để quản lý và trả công cho các thành viên
Mô hình hợp tác xã và tổ thu gom rác hiện nay đang được phát huy và được các cấp chính quyền ủng hộ Tuy nhiên, hình thức này vẫn còn mang tính tự phát và
có quy mô nhỏ lẻ Theo số liệu điều tra, hiện chỉ có 9/69 (chiếm 13%) đô thị triển khai xã hội hóa công tác quản lý, thu gom và vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt, điển hình là Tp Hồ Chí Minh, Hà Nội, Tp Lạng Sơn, Tp Buôn Mê Thuột, Tx Gia Nghĩa, Tp Biên Hòa,Tp Cần Thơ… Tỷ lệ này còn thấp, phạm vi hoạt động còn hẹp, chỉ ở cấp phường, xã và hầu hết các phương tiện thu gom, vận chuyển còn thô
sơ
Đối với các doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã nguồn vốn đầu tư, nguồn nhân lực, trang thiết bị phục vụ công tác thu gom chủ yếu được huy động từ sự đóng góp của nhân dân, một phần được hỗ trợ từ nguồn ngân sách của các địa phương
Trang 2819
Xử lý chất thải rắn sinh hoạt
Công tác xử lý chất thải rắn đô thị cho đến nay chủ yếu vẫn là đổ thải vào các bãi lộ thiên, không có sự kiểm soát kỹ thuật, mùi hôi và nước rác là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, nước và không khí Cho đến nay mới chỉ có 32/64 tỉnh, thành có dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó có 13 đô thị đã
và đang được đầu tư xây dựng Một số dự án xử lý chất thải rắn tại đô thị chưa phát huy hiệu quả do lựa chọn công nghệ chưa thích hợp Tuy vậy, hiện nay một số công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt hạn chế chôn lấp như công nghệ SERAPHIN, AN SINH ASC, MBT CD.08 có triển vọng phát triển tốt
Thiêu đốt: Tại Việt Nam, lò đốt chất thải mới được áp dụng trong phạm vi rất hẹp để xử lý rác thải y tế nguy hại và đang thử nghiệm cho ngành sản xuất giầy xuất khẩu Mặt dù, số lượng lò đốt chưa nhiều nhưng khá đa dạng về chủng loại, nguồn gốc, công suất đốt và khả năng xử lý khí thải
Tái sử dụng và tái chế: Tái sử dụng và tái chế là phương pháp phổ biến ở các
hộ gia đình Theo các kết quả nghiên cứu về các hộ gia đình thì người dân thường
có thói quen tích trữ lại và bán lại cho những người đồng nát, hoặc bán trực tiếp cho các gia đình thu mua đồng nát trong vùng các loại rác thải có khả năng tái chế hoặc tái sử dụng được (nhựa, giấy, nilon, kim loại ) Các chất thải có khả năng tái chế sẽ được những người nhặt rác phân loại và bán cho các cơ sở tái chế
Tiềm năng tái chế chất thải của Việt Nam khá lớn, ít nhất có 80% chất thải công nghiệp không nguy hại có khả năng tái chế được và sẽ có khả năng tiết kiệm chi phí khá lớn
Chế biến rác thải thành phân bón hữu cơ là một hình thức tái chế rất hữu hiệu các chất thải hữu cơ và có tiềm năng để sản xuất các loại sản phẩm làm mầu mỡ đất, không gây ô nhiễm và có khả năng làm tăng tỷ lệ tận thu các loại chất thải có thể tái chế được
Các cở sở chế biến phân bón hữu cơ tập trung thường được xây dựng gần các khu đô thị, là nơi cung cấp rác hữu cơ làm nguyên liệu đầu vào Hiện nay, ở Việt Nam đã có một vài cơ sở hoạt động nhưng hiện tại chưa có số liệu đánh giá về chi phí - hiệu quả Phân bón hữu cơ được sản xuất từ các nhà máy này thường lẫn nhiều mảnh vụn thủy tinh, sành sứ… và khó tiêu thụ Để có được thành công, điều kiện tiên quyết đối với công nghệ tái chế này là phải có sự phân loại chất thải rắn tại nguồn phát sinh
Trang 2920
1.3.3 Tình hình quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại tỉnh Quảng Ninh
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
Tỉnh Quảng Ninh có 4 thành phố trực thuộc là Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí
và Cẩm Phả Với lợi thế về tài nguyên và thiên nhiên ưu đãi Quảng Ninh đã thu hút nhiều dự án phát triển kinh tế kéo theo sự tăng dân số cơ học mạnh mẽ Vì vậy, chất thải rắn sinh hoạt cũng tăng nhanh là điều không tránh khỏi Với sự gia tăng về dân
số và phát triển kinh tế kéo theo sự phát sinh về chất thải rắn Đây là một trong những nguyên nhân chính gây nên các vấn đề môi trường Theo Báo cáo khảo sát của IESE, 2008 và Báo cáo đề tài: Xây dựng mô hình và triển khai thí điểm việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cho các KĐT mới cho thấy: bình quân lượng rác thải trên đầu người tại thành phố Hạ Long là xấp xỉ 0,95kg/người/ngày và 0,93kg/người/ngày tại Cẩm Phả Lượng các chất thải rắn phát sinh hàng ngày tại thành phố Hạ Long và thành phố Cẩm Phả và các huyện thị khác của tỉnh Quảng Ninh được trình bày trong bảng 1.5
Bảng 1.5 Chất thải rắn phát sinh hàng ngày tại các đô thị tỉnh Quảng Ninh
TT Địa phương Dân số
(người)
Lượng CTR trung bình/người (kg/người/ngày)
Lượng CTRSH phát sinh (tấn/ngày)
Nguồn: Cục Bảo vệ Môi trường (2008), Dự án “Xây dựng mô hình và triển khai thí
điểm việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cho các khu đô thị mới”
Trang 3021
Thu gom, vận chuyển chất thải rắn
Phương thức thu gom: Rác sinh hoạt được thu gom bằng xe đẩy tay từ nguồn phát sinh đưa ra điểm tập kết Xe ép rác gắp rác trên xe đẩy tay tại các điểm tập kết vận chuyển đến bãi rác xử lý Tần suất thu gom khác nhau giữa nội thị và ngoại thị
Việc phân loại rác tại nguồn chưa phát triển và nhân rộng được, một phần do chưa có cơ chế, chính sách phù hợp và kịp thời nên chưa khuyến khích được phong trào tự giác phân loại của người dân; chưa có những đầu tư đồng bộ dẫn đến nhiều
mô hình chỉ thực hiện được ở khâu phân loại tại nguồn, đến khâu vận chuyển và xử
lý lại chưa tách riêng được Tỷ lệ thu gom rác thải trên địa bàn các đô thị điển hình được thể hiện ở Bảng 1.6
Công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt ở hầu hết các đô thị đều có sự sử dụng kết hợp thủ công và cơ giới Bởi vậy, các trang thiết bị sử dụng bao gồm cả những thiết bị thô sơ lẫn hiện đại Hiện nay, nhiều đô thị thiếu trang thiết bị thu gom, số xe thu gom vận chuyển không đủ đáp ứng cho vận chuyển lượng chất thải phát sinh, điều này dẫn đến tỷ lệ thu gom rác ở các đô thị chưa cao (còn ở mức thấp)
Ở hầu hết các đô thị phí thu được không đủ trang trải cho công tác thu gom
và xử lý rác Ngoài ra, một số đô thị quy định không thu phí đối với các hộ buôn bán nhỏ, trong khi các đối tượng này xả rác nhiều nhất; các chợ cóc vẫn duy trì các khu vực bán hàng nhỏ lẻ trên vỉa hè, nhưng vẫn không thu được tiền, do đó không
có kinh phí để chi trả cho công nhân quét dọn vệ sinh
Bảng 1.6 Tỷ lệ thu gom CTR trên địa bàn các đô thị điển hình tại Quảng Ninh Tên đô thị Lượng phát sinh
( tấn/ngày)
Lượng thu gom ( tấn/ngày)
Tỷ lệ thu gom (%)
Nguồn: Cục Bảo vệ Môi trường (2008), Dự án “Xây dựng mô hình và triển khai thí
điểm việc phân loại, thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt cho các khu đô thị mới”
Hình thức tổ chức quản lý chất thải rắn sinh hoạt, cũng như phân công trách nhiệm quản lý, triển khai thực hiện rất khác nhau trong các đô thị, ví dụ như tên gọi của các đơn vị thực hiện công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt có thể
là Công ty TNHH Nhà nước một thành viên, Công ty Môi trường đô thị, Công ty
Trang 3122
Công trình công cộng môi trường đô thị hoặc Công ty Địa chính Còn cơ quan quản
lý công tác này có thể là Sở Xây dựng, Sở Giao thông Công Chính hoặc Sở Tài nguyên và Môi trường, Chính điều này đã gây khó khăn không nhỏ cho công tác quản lý Nhà nước đối với chất thải rắn sinh hoạt
Hệ thống quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại tỉnh Quảng Ninh
Mô hình do Nhà nước quản lý: việc thu gom CTR sinh hoạt tại Quảng Ninh do các Công ty Môi trường trực thuộc UBND các huyện, thị xã, thành phố thực hiện như tại Móng Cái, Cẩm Phả, Vân Đồn, Uông Bí Đối với các địa phương không có Công
ty Môi trường đô thị, việc thực hiện thu gom chất thải sinh hoạt do tổ thị chính trực thuộc phòng ban của UBND huyện như tại Đầm Hà, Bình Liêu, Hải Hà đảm nhiệm Các Công ty Môi trường đô thị hoạt động dưới hình thức các đơn vị sự nghiệp có thu Tiền lương cho cán bộ công nhân viên chức, các loại phương tiện, trang thiết bị ban đầu do nhà nước đầu tư lấy từ nguồn vốn ngân sách, nguồn thu từ hoạt động thu gom,
xử lý rác thải theo định mức áp dụng theo tiêu chuẩn của Bộ Xây dựng, đơn giá được
áp dụng theo đơn giá của UBND tỉnh Quảng Ninh ban hành theo thời điểm Việc thu chi kinh phí áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu
Mô hình kết hợp công tư: để tăng cường công tác thu gom CTR sinh hoạt trên các địa bàn trọng điểm có khối lượng chất thải rắn phát sinh lớn như thành phố Hạ Long đã kết hợp cả 2 mô hình, mô hình do nhà nước quản lý - Công ty môi trường đô thị thực hiện và mô hình do doanh nghiệp thực hiện việc thực hiện do Công ty Cổ phần phát triển Công nghiệp đảm nhận Đối với các doanh nghiệp thực hiện việc thu gom CTR sinh hoạt từ nguồn vốn đầu tư, nguồn nhân lực, trang thiết bị phục vụ công tác thu gom chủ yếu được lấy từ sự đóng góp của nhân dân, một phần được hỗ trợ từ nguồn ngân sách của các địa phương
Mô hình do các công ty tư nhân, các doanh nghiệp: đây là các tổ chức cá nhân được giao chức năng thực hiện hợp đồng thu gom CTR sinh hoạt trên địa bàn huyện, thị xã như: Công ty TNHH Hải Yến thu gom trên địa bàn huyện Đông Triều, hợp tác
xã Đoàn Kết - huyện Hoành Bồ, hợp tác xã Đồng Tâm - huyện Ba Chẽ, hợp tác xã Hồng Mạnh - huyện Tiên Yên…
Thực trạng quản lý CTR sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Trong những năm gần đây, quản lý CTR sinh hoạt đô thị là một trong những lĩnh vực luôn được các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ninh và dư luận xã hội quan tâm Tuy nhiên, thực tế hiện nay công tác quản lý này còn nhiều khó khăn và lúng túng, nhất là định hướng và các giải pháp xử lý chất thải chưa được cụ thể, rõ ràng và thống
Trang 3223
nhất Việc chôn lấp chất thải ở các bãi rác lộ thiên hoặc các bãi rác có thiết kế, xây dựng và kiểm soát ô nhiễm đang là hình thức xử lý phổ biến song nhược điểm của phương thức xử lý này là tốn diện tích đất, tiềm ẩn nguy cơ ô nhiễm cao và khó lựa chọn vị trí thích hợp
* Những vấn đề chính trong xử lý rác thải sinh hoạt hiện nay:
Tình trạng quá tải: nhiều BCL ở Quảng Ninh hiện đang ở trong tình trạng
quá tải, cụ thể tại BCL ở xã Hải Hoà thành phố Móng Cái, rác chất cao hơn cốt mặt đất khoảng 2-3 m Bãi rác tại Voòng Xi xử lý rác thải cho thị trấn Cô Tô và xã Đồng Tiến; BCL rác thải Tân Bình ở phía tây thị trấn huyện Đầm Hà rộng 5000 m2,
đã quá tải Huyện đang phải nghiên cứu tìm bãi đổ rác mới và làm thủ tục đóng cửa cho bãi rác này Hai bãi rác Vàng Danh và Yên Thanh ở Uông Bí chỉ thực hiện chôn lấp đơn giản hiện cũng đã quá đầy gây mất vệ sinh đô thị và ảnh hưởng tới sinh hoạt của nhân dân khu vực xung quanh
Thiết kế không đạt chuẩn: các BCL rác không được thiết kế đúng kỹ thuật
(không có hệ thống thu nước rỉ rác, không có lớp vải lót kỹ thuật, không có hệ thống thoát nước mưa mà theo kiểu xây tường bao rồi đổ rác vào trong, chứ không đào sâu dưới lòng đất và chia ô) Bãi rác được xây dựng ngay gần khu dân cư (cách khoảng 200-300 m), nên có nguy cơ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, nguồn nước và sức khoẻ người dân
Không có quy hoạch: các BCL chất thải rắn sinh hoạt không được quy
hoạch gây ra sự bất hợp lý về vị trí làm ảnh hưởng tới chất lượng nguồn cấp nước, cụ thể nguồn nước cấp của huyện Tiên Yên lấy từ sông Tiên Yên Đoạn trên thượng lưu (thuộc huyện Bình Liêu) có BCL rác ở ngay bờ sông Đợt tháng 10 năm 2009, khi nước lũ tràn về, mang toàn bộ rác thải từ Bình Liêu
đưa về huyện Tiên Yên rất ô nhiễm
Tóm lại: Hệ thống các công trình xử lý CTR Sinh hoạt ở tỉnh Quảng Ninh còn
thiếu và yếu, chi tiết tên công trình, địa bàn, cũng như tình trạng vệ sinh môi trường
được liệt kê trong bảng 1.7 Ngoại trừ một số bãi rác của thành phố Hạ Long như: bãi
rác Hà Khẩu, bãi rác Đèo Sen, đã được nâng cấp đạt tiêu chuẩn, bãi rác Quang Hanh thành phố Cẩm Phả (chưa hoàn chỉnh), còn lại tất cả các bãi rác của địa phương khác trong tỉnh đều không đạt tiêu chuẩn thiết kế kỹ thuật do Bộ Xây dựng ban hành, không đạt các tiêu chí và tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh môi trường theo yêu cầu của Bộ Tài nguyên và Môi trường
Trang 3324
Bảng 1.7 Thực trạng các bãi chôn lấp rác trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Stt Địa bàn Tên công trình S (ha) Tình trạng vệ sinh môi
Vân Đồn Bãi rác Vạn Yên 6,0 Không đảm bảo tiêu chuẩn
7 Bãi rác Vạn Hoa 3,0 Không đảm bảo tiêu chuẩn
8 Đông Triều Bãi rác Mạo Khê 2,6 Không đảm bảo tiêu chuẩn
9 Móng Cái Bãi rác Hải Hoà 6,0 Không đảm bảo tiêu chuẩn
Nguồn: Nguyễn Thi ̣ Kim Thái (2006), Đề tài: “Nghiên cứu, lập quy hoạch quản
lý chất thải rắn tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010 đi ̣nh hướng đến năm 2020”
Tồn tại và thách thức trong công tác quản lý chất thải rắn ở Quảng Ninh
Về quản lý và tổ chức: Sự phân công, phân nhiệm của các ngành trong quản
lý chất thải rắn hiện còn chưa được rõ ràng, chưa thấy đựợc vai trò của các cấp trong hệ thống quản lý Hoạt động giám sát của nhà nước về chất thải rắn còn chưa đầy đủ Các Công ty môi trường đô thị, doanh nghiệp công ích vệ sinh môi trường ở các thành phố, thị xã còn manh mún, khép kín trong địa giới hành chính, phân tán, không đủ năng lực (cả về nhân lực và phương tiện, thiết bị)
Trang 3425
Về công tác quy hoạch: Nhiều đô thị chưa có quy hoạch bãi chôn lấp rác đạt
tiêu chuẩn vệ sinh môi trường và đúng quy cách Một số chính quyền địa phương chưa đánh giá đúng mức tầm quan trọng của công tác quy hoạch và xử lý rác thải Lựa chọn địa điểm bãi chôn lấp là một vấn đề khó khăn của các địa phương Việt Nam đang phải đối mặt với những áp lực ngày càng tăng trong việc lựa chọn vị trí cho các bãi chôn lấp một cách hiệu quả Nhu cầu lựa chọn địa điểm này phải đồng thời thoả mãn cả các điều kiện về môi trường và được người dân địa phương chấp nhận
Về nhận thức của cộng đồng: Nhận thức của cộng đồng về các vấn đề an
toàn, sức khoẻ và môi trường trong quản lý chất thải rắn còn chưa đầy đủ
Về phân loại chất thải rắn tại nguồn: Chất thải rắn đô thị chưa được phân
loại, trước hết là chưa phân loại chất thải rắn độc hại và chất thải rắn thông thường Mọi thứ chất thải rắn đều đổ thải lẫn lộn, gây ra hậu quả lâu dài và nghiêm trọng đối với môi trường và sức khoẻ con người, đặc biệt là sức khoẻ của người thu gom rác
Về thu hồi chi phí: Tổng thu từ các loại phí dịch vụ quản lý chất thải rắn chỉ
chiếm khoảng 60% tổng chi phí vận hành, duy tu và bảo dưỡng hệ thống quản lý, trong đó hơn 90% là dành cho hoạt động thu gom và vận chuyển chất thải Do vậy, chi phí dành cho xử lý, tiêu huỷ chất thải là không hợp lý và rất thấp Tại nhiều đô thị, tổng thu từ các loại phí dịch vụ này còn ở mức thấp hơn nhiều (20-30%) Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều so với các đô thị của các nước trên thế giới
Thách thức: Những thách thức chung mà Quảng Ninh cũng như các tỉnh
thành khác của Việt Nam đang gặp phải là:
- Chưa có quan tâm đúng mức đến các hệ thống quản lý chất thải rắn như thành phần không thể thiếu trong các quy hoạch xây dựng đô thị
- Chưa có cơ chế và giải pháp phù hợp cải thiện tính cân bằng trong đầu tư
và nâng cao tính phù hợp về công nghệ xử lý chất thải rắn
- Thiếu tính bền vững về tài chính và xã hội trong các hoạt động đầu tư cho quản lý chất thải rắn
- Chưa giải quyết các vấn đề cấp thiết về chất thải rắn sinh hoạt nguy hại
1.3.4 Thực trạng CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long
Nguồn gốc phát sinh:
CTR Sinh hoạt của thành phố Hạ Long phát sinh từ những nguồn chính sau đây:
Trang 3526
- Từ các hộ dân cư
- Từ các chợ
- Các cơ quan hành chính, sự nghiệp đóng trên địa bàn thành phố
- Các công ty, doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ, thương mại…
- Các hệ thống trường học
- Khu vực công cộng: Quảng trường, cung văn hóa, công viên…
- CTR sinh hoạt từ các bệnh viện, trung tâm y tế phường, xã, cơ sở y tế tư nhân…
Khối lượng CTR sinh hoạt phát sinh:
Theo kết quả điều tra năm 2010, bình quân lượng rác thải trên đầu người tại thành phố Hạ Long là xấp xỉ 0,9 kg/người/ngày Ước tính tổng lượng rác phát sinh trên địa bàn khoảng 66.700 tấn rác/năm, tương đương với khoảng 176 tấn/ngày
Bảng 1.8 Lượng CTR sinh hoạt phát sinh trên địa bàn thành phố Hạ Long Năm Khối lượng (tấn) Trung bình/tháng (tấn) Trung bình/ngày (tấn)
Nguồn: Công ty CP Môi trường Đô thị INDEVCO (2012)
Tình hình thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt:
Việc thu gom rác trên địa bàn thành phố Hạ Long được thực hiện tại 20/20 phường Công tác thu gom, vận chuyển CTR sinh hoạt có sử dụng thủ công kết hợp
cơ giới Bởi vậy, các trang thiết bị sử dụng bao gồm cả những thiết bị thô sơ lẫn hiện đại Hiện nay, trên địa bàn thành phố Hạ Long đã trang bị số lượng xe phục vụ công tác thu gom và vận chuyển rác cơ bản đủ, đáp ứng cho vận chuyển lượng chất thải phát sinh, điều này dẫn đến tỷ lệ thu gom rác ở đô thị khá cao (95 %) Tổng khối lượng CTR sinh hoạt trên địa bàn thành phố Hạ Long khoảng 243,8 tấn/ngày Việc thu gom, vận chuyển và xử lý khoảng 90% CTR sinh hoạt tại Hạ Long do Công ty
CP Môi trường Đô thị INDEVCO thực hiện
Số lượng còn lại được xử lý tại Nhà máy xử lý rác Hạ Long tại phường Hà Khánh: với tổng diện tích 5 hecta do Công ty xử lý chất thải Hạ Long quản lý, hiện nay nhà máy hoạt động với công suất 30 tấn/ngày
Trang 3627
* Thu gom rác tại khu dân cư:
Lắp đặt các thùng chứa rác tại những vị trí thuận tiện cho người dân với dung tích từ 240 lít đến 400 lít/thùng Hàng ngày xe ép hoặc công nhân sẽ đến thu gom theo thời gian quy định vận chuyển đến các nơi trung chuyển Tại những nơi không đặt thùng rác công cộng thì trực tiếp công nhân dùng xe đẩy thô sơ để thu gom, rồi tập kết tại những nơi quy định Tại đây, rác được đưa lên xe ép chuyên dùng vận chuyển đến nơi xử lý
Hình 1.5 Quy trình thu gom CTR sinh hoạt
*Thu gom rác tại khu vực các chợ
Trên địa bàn thành phố Hạ Long hiện nay có trên 13 chợ Trong đó, chợ Hạ Long I, chợ Hạ Long II, chợ Vườn Đào… là một trong các chợ lớn của thành phố Do tính quy mô lớn của chợ, lượng rác ở đây rất nhiều và thời gian họp chợ dài từ 4h00 – 19h00 hàng ngày Vì rác được thải bỏ không tập trung, nên bắt đầu từ 18h các công nhân vệ sinh bắt đầu triển khai quét rác và thu gom thành đống rồi mới hốt vào xe đẩy Sau khi rác được thu gom đầy xe sẽ được di chuyển ra khu vực tập trung bên hông chợ để cho xe ép tới vận chuyển đi
Rác từ các hộ dân ở các
đường phố, chợ, công
viên, công sở
Rác sinh hoạt từ các hộ
dân cư trong ngõ xóm
Rác sinh hoạt KĐT mới
Thùng rác composite tại các vị trí công cộng 250lit - 400lít
Xe gom rác đẩy tay 400lit
Điểm tập kết, trạm trung chuyển rác
Xe ép rác chuyên dùng
Bãi xử lý rác thải sinh
hoạt
Trang 3728
Chợ Hạ Long I là khu vực điển hình tại trung tâm thành phố Hạ Long, khu vực mỗi ngày thu hút rất đông du khách đến tham quan, mua sắm, đây là một trong những điểm phát sinh lượng lớn rác thải sinh hoạt Bên cạnh sự quá tải, hiện tình trạng ô nhiễm môi trường tại chợ vẫn chưa được giải quyết triệt để Hằng ngày, một lượng rác thải rất lớn từ hải sản, rau, củ, quả hỏng, nước bẩn đều đổ xuống biển Theo BQL chợ Hạ Long I, mỗi ngày có 22 công nhân của Công ty cổ phần môi trường đô thị INDEVCO làm vệ sinh ở đây, hơn 3 tấn rác thải được vận chuyển đi Tuy nhiên,
do hệ thống cống thoát nước thải đang được sửa chữa, nên đã gây ô nhiễm môi trường
* CTR sinh hoạt từ vùng Vịnh Hạ Long:
- Hòn Vụng Ong (khu vực Ba Hang: Điểm Ba Hang phục vụ điểm du lịch Thiên Cung - Đầu Gỗ - Gà Chọi - làng chài Ba Hang và các khu lân cận, phương pháp đốt bằng lò đốt) diện tích khoảng 100m2 cách Cảng tàu du lịch Bãi Cháy khoảng 5 km về hướng Tây Nam;
- Hòn Cát Lái (Điểm Cát Lán thu gom và xử lý rác tại khu vực Mê Cung, Sửng Sốt, Titop và khu vực lân cận, phương pháp đốt thủ công): diện tích khoảng 150m2, cách Cảng tàu du lịch Bãi Cháy 12 km về hướng Đông Nam
- Còn lại rác được Ban quản lý Vịnh thu gom, vận chuyển và xử lý tại bãi xử
lý rác Hà Khẩu
Quy trình và phương pháp xử lý:
- Rác là thuỷ tinh, đồ nhựa, vỏ đồ uống được thu gom bán phế liệu
- Các loại rác hữu cơ dễ phân huỷ được chôn lấp
- Các loại rác khó phân huỷ như túi nilon, phao, xốp, đem phơi khô 1-2 ngày rồi đem đốt
Những vấn đề chính trong quản lý rác thải hiện nay tại vùng Vịnh:
- Vào những ngày thuỷ triều cao hoặc mưa to, các loại rác từ khu vực thượng nguồn các sông và vùng ven bờ trôi ra vịnh, theo con nước lên xuống, gây khó khăn cho công tác thu gom
- Trang thiết bị thu gom còn thiếu, nặng về thủ công, năng suất thấp
- Rác thải sinh hoạt ở một số khu dân cư ven bờ chưa được thu gom triệt để, vẫn còn tình trạng một số người dân vứt rác xuống biển
Trang 3829
- Công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức, phổ biến các quy định về quản lý, bảo vệ môi trường di sản đã được triển khai nhưng nhận thức và hành động của cộng đồng chưa có tính tự giác cao
Trang 3930
Chương II ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN, PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm nghiên cứu
Tại 3 phường khu vực phía Đông thành phố Hạ Long là phường Bạch Đằng, phường Hồng Hải và phường Hồng Hà Hiện nay toàn bộ lượng rác thải rắn sinh hoạt tại khu vực trên được thu gom đưa về chôn lấp tại bãi rác Đèo Sen tại phường
Hà Khánh – thành phố Hạ Long
2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 3/2013 đến tháng 11/2013
2.3 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Phương pháp luận
Dựa vào hiện trạng diễm biến môi trường, các dữ liệu môi trường cơ sở phải được nghiên cứu, thu thập, chính xác, khách quan Từ đó, đánh giá phương án thực hiện cần thiết, nhằm thực hiện công tác môi trường đạt hiệu quả
Với sự gia tăng dân số, tốc độ đô thị hóa, tăng trưởng kinh tế diễn ra mạnh
mẽ, là tiền đề cho nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt ngày càng gia tăng cả về mặt khối lượng và đa dạng về thành phần Do đó, chất thải rắn sinh hoạt đã và đang xâm phạm mạnh vào các hệ sinh thái tự nhiên, kinh tế, hội, môi trường gây tiêu cực tới mỹ quan đô thị, ô nhiễm môi trường và sức khỏe con người một cách nghiêm trọng, nếu không được quản lý và xử lý thích hợp
Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường do chất thải rắn sinh hoạt gây ra, bởi ý thức thực hiện bảo vệ môi trường của người dân chưa cao Chưa có sự quản lý chặt chẽ từ chính quyền địa phương Vẫn còn các cơ sở sản xuất nhỏ tự xử lý chất thải rắn sinh hoạt của công ty mình bằng cách thải bỏ trong khuôn viên, hay đốt làm
ô nhiễm môi trường xung quanh
2.3.2 Các phương pháp nghiên cứu
1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập các số liệu thứ cấp tại Sở Tài nguyên và Môi trường Quảng Ninh, UBND thành phố Hạ Long, UBND các phường Bạch Đằng, Hồng Hải và Hồng Hà, Ban Quản lý dịch vụ công ích thàh phố Hạ Long, Công ty CP Môi trường Đô thị INDEVCO
Các số liệu thứ cấp cần thu thập là:
Trang 4031
+ Điều kiện tự nhiên - kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
+ Số liệu về lượng chất thải rắn: số lượng, hiện trạng thu gom, vận chuyển
và xử lý CTR sinh hoạt khu vực phường Bạch Đằng, Hồng Hải, Hồng Hà + Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty CP Môi trường Đô thị INDEVCO + Thiết kế bãi chôn lấp CTR ở khu vực nghiên cứu Đèo Sen
+ Bản đồ hành chính khu vực phường Bạch Đằng, Hồng Hải, Hồng Hà
2 Phương pháp điều tra, phỏng vấn
- Lập phiếu điều tra phỏng vấn gồm những nội dung sau:
+ Lượng rác phát sinh từ hộ gia đình
+ Thành phần, khối lượng của rác thải sinh hoạt
+ Việc nộp lệ phí thu gom rác thải của các đối tượng được tiến hành thu gom + Ý kiến của người dân về vấn đề môi trường
+ Thái độ làm việc của công nhân thu gom
- Tiến hành phỏng vấn
+ Đối tượng phỏng vấn: hộ gia đình, cá nhân
+ Phạm vi phỏng vấn: phỏng vấn một số hộ gia đình, cá nhân sinh sống tại các phường trong khu vực nghiên cứu
+ Hình thức phỏng vấn: phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra
Tiến hành phỏng vấn điều tra 60 hộ gia đình, cá nhân theo tiêu chí ngẫu nhiên, đồng thời có sự cân đối về trình độ học vấn, thu nhập, lứa tuổi, đa dạng về nghề nghiệp Trong đó có sự ưu tiên chọn đối tượng phỏng vấn là nữ giới
+ Đối tượng được phỏng vấn: các hộ gia đình sinh sống tại khu vực các phường phía Đông thành phố Hạ Long, những công nhân trực tiếp tham gia thu gom rác thải, những cán bộ chuyên môn am hiểu về lĩnh vực môi trường
3 Phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia
Để đưa ra những phương pháp phù hợp với nội dung nghiên cứu, đề tài đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia, cán bộ quản lý, cán bộ trực tiếp quản lý về môi trường tại các phường trên địa bàn thành phố Hạ Long
4 Phương pháp điều tra khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn
Việc trực tiếp điều tra trên địa bàn từng phường điều tra tìm hiểu tình hình quản lý rác thải, các điểm tập kết rác của các phường, tham quan tìm hiểu về bãi rác Đèo Sen để có những nhận xét đánh giá khách quan, chính xác về hiện trạng thu
gom, vận chuyển, xử lý rác thải sinh hoạt của từng phường
- Khảo sát, phân tích và đánh giá mức độ phù hợp các tuyến thu gom chất thải rắn thuộc khu vực nghiên cứu Cơ sở khảo sát được xây dựng trên bản đồ