Việt Nam bắt đầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới từ Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ VI (năm 1986). Trải qua 20 năm, đến nay, diện mạo đất nước đã có nhiều đổi thay
Trang 1Lời cảm ơn
Em xin chân thành cảm ơn thầy Hoàng Phước Hiệp – Vụ trưởng Vụ hợp tác quốc tế – Bộ Tư pháp đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này!
Xin gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo và các bạn sinh viên đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình nghiên
cứu Luận văn!
Trang 2Chương II Thực tiễn sự hình thành và phát triển dịch vụ
pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
24
1 Giai đoạn từ năm 1987 trở về trước 24
2 Giai đoạn từ năm 1987 đến năm 2006 27
3 Giai đoạn từ năm 2007 đến nay 28
Phần thứ hai Những vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của tổ
chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam
31
Chương I Quá trình hình thành và phát triển các quy định
pháp luật về hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt
3 Các quy định về nguyên tắc hành nghề, điều kiện hành
nghề đối với tổ chức luật sư nước ngoài
45
4 Các quy định về hình thức hành nghề 47
5 Các quy định về phạm vi hành nghề 49
6 Thủ tục xin cấp Giấy phép thành lập, đăng ký hoạt động,
thay đổi nội dung Giấy phép, gia hạn hoạt động, chấm dứt
hoạt động và một số quy định khác
51
7 Các quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề luật sư nước 60
Trang 3ngoài
Chương III Các quy định pháp luật hiện hành 65
1 Những quy định về hoạt động của tổ chức hành nghề luật
sư nước ngoài theo các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam
66
2 Các cam kết của Việt Nam về thương mại dịch vụ trong
khuôn khổ ASEAN
69
3.Những quy định theo Luật Luật sư 2006, các văn bản
hướng dẫn thi hành và các văn bản có liên quan khác
70
Phần thứ ba Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về
hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam
83
Trang 4phần mở đầu
Việt Nam bắt đầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới từ Đại hội Đảng Cộng sảnlần thứ VI (năm 1986) Trải qua 20 năm, đến nay, diện mạo đất nước đã cónhiều đổi thay Những thành tựu to lớn về ngoại giao như gia nhập Hiệp hội cácquốc gia Đông Nam á (ASEAN) năm 1995, tổ chức thành công Diễn đàn hợptác á-Âu (ASEM) lần thứ V năm 2004 và Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu á-TháiBình Dương (APEC) lần thứ 14 năm 2006, đặc biệt, quan trọng hơn là chínhthức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày7/11/2006, được bầu làm ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợpquốc năm 2007, đã thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ Nhiều chuyên gia
và nhiều phương tiện truyền thông đại chúng trên thế giới đã đánh giá Việt Nam
“có thể trở thành con hổ mới của Châu á”
Hoà vào dòng chảy chung ấy của đất nước, đội ngũ luật sư Việt Namcũng đang đứng trước những cơ hội của đổi mới và hội nhập Các cam kết củaViệt Nam khi gia nhập WTO và Luật Luật sư được ban hành ngày 29/06/2006cùng các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo ra một khung pháp lý thông thoánghơn rất nhiều cho các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài Nếu nhìn nhận
từ góc độ của các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài thì Việt Nam quả là một thịtrường nhiều tiềm năng bởi những nguyên nhân sau:
+ Về nhu cầu, đây là thời điểm Việt Nam đang có những bước đi quantrọng trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế Tăng trưởng kinh tế và thu hútđầu tư trực tiếp nước ngoài trong những năm qua đều có những bước phát triểnmạnh mẽ Do vậy, nhu cầu cần có những chuyên gia tư vấn nắm vững pháp luậtnước ngoài và pháp luật quốc tế là rất lớn
+ Về nguồn cung: có thể nói là thiếu trầm trọng Sức cạnh tranh từ cácnhà cung ứng dịch vụ pháp lý trong nước là rất yếu bởi đội ngũ luật sư ViệtNam vừa thiếu về số lượng, vừa yếu về chất lượng Số lượng luật sư Việt Nam
có trình độ chuyên môn, trình độ ngoại ngữ, am hiểu pháp luật, thông lệ quốc tếlại càng khiêm tốn Hơn nữa, thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam là một thịtrường mới mở cửa, chưa có nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nào thực sự chiếmlĩnh và làm chủ thị trường Vậy nên, đối với những nhà cung ứng dịch vụ pháp
Trang 5lý có khả năng và có tham vọng thì thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam là rấthấp dẫn.
+ Về khung pháp lý điều chỉnh: những cam kết gia nhập WTO của ViệtNam cùng với Luật Luật sư năm 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo
ra một khung pháp lý khá đầy đủ, thông thoáng, tạo sự an tâm về môi trườngđầu tư cho các nhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài khi bước chân vào thịtrường Việt Nam
Như vậy, có thể thấy trong tương lai thị trường dịch vụ pháp lý ở ViệtNam sẽ phát triển rất mạnh mẽ và sẽ sớm trở thành một đối tượng nghiên cứu rấthấp dẫn đối với các chuyên gia và các nhà nghiên cứu
Trên đây là những lý do khiến em quyết định lựa chọn đề tài “Những quy
định của pháp luật về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam” để làm Luận văn tốt nghiệp
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở thế giới quan của Chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh theo phương pháp duy vật biện chứng, duy vậtlịch sử và các phương pháp khoa học khác như phân tích, so sánh, đối chiếu
Mác-Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm hiểu một cách có hệ thốngcác kiến thức về dịch vụ pháp lý cũng như nghiên cứu, phân tích một cách toàndiện, đầy đủ về các quy định của pháp luật Việt Nam đối với hoạt động của tổchức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam, qua đó đưa ra các kiến nghị vềhướng hoàn thiện đối với các quy định pháp luật về hoạt động của tổ chức hànhnghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Nội dung Luận văn tập trung vào ba phần chính sau:
- Phần thứ nhất: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch vụ pháp lý
và thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam.
- Phần thứ hai: Những vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài ở Việt Nam.
- Phần thứ ba: Một số kiến nghị và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 6Phần thứ nhất - Những vấn đề lý luận và thực tiễn về dịch
vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý ở việt nam
Hoạt động hành nghề dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư nướcngoài là một loại hoạt động dịch vụ kinh doanh, cụ thể hơn là hoạt động cungứng dịch vụ pháp lý Như vậy, để có một cái nhìn đầy đủ, toàn diện về vấn đề
“hoạt động hành nghề dịch vụ pháp lý của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài” thì trước hết cần phải nắm được những kiến thức nền tảng về vấn đề đó, bao gồm các kiến thức về “dịch vụ pháp lý” và “thị trường dịch vụ pháp lý”.
Khái niệm “dịch vụ pháp lý” và “thị trường dịch vụ pháp lý” là những
khái niệm được hiểu rất khác nhau ở mỗi quốc gia Điều này phụ thuộc vào trình
độ phát triển, trình độ lập pháp, lịch sử hình thành và xây dựng hệ thống phápluật cũng như chính sách mở cửa thị trường dịch vụ và nhiều yếu tố khác nữa.Việc hiểu rõ những khái niệm này trên bình diện quốc tế cũng như theo phápluật Việt Nam, việc phân tích các đặc điểm, vị trí, vai trò của chúng trong toàn
bộ nền kinh tế mang một ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu đề tài
Vì vậy, Phần thứ nhất của đề tài tập trung vào việc phân tích những vấn đề lýluận cũng như đánh giá sơ bộ về thực tiễn dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụpháp lý ở Việt Nam Kết cấu Phần này gồm 2 chương:
- Chương 1 Những vấn đề lý luận về dịch vụ pháp lý và thị trường
dịch vụ pháp lý
- Chương 2 Sự hình thành và phát triển dịch vụ pháp lý và thị trường
dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
Trang 7Chương 1 Những vấn đề lý luận về dịch vụ pháp lý và thị trường
Để hiểu rõ khái niệm dịch vụ pháp lý, chúng ta cần phân tích khái niệmnày về ngữ nghĩa, tìm hiểu định nghĩa của Liên hợp quốc (United Nations – UN)
và Tổ chức thương mại thế giới (World Trade Organization -WTO), để thấyđược cách hiểu quốc tế chính thức về dịch vụ pháp lý, và cuối cùng là tìm hiểukhái niệm dịch vụ pháp lý theo pháp luật Việt Nam
a) Khái niệm “dịch vụ pháp lý”
Xét về ngữ nghĩa, “dịch vụ pháp lý” là một loại dịch vụ kinh doanh và
mang tính chất chuyên ngành pháp lý Vậy dịch vụ là gì? Thế nào là mang tínhchất chuyên ngành pháp lý? Từ điển Tiếng Việt qua nhiều lần tái bản đều địnhnghĩa:
“Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của
số đông, có tổ chức và được trả công.”
Như vậy, có thể thấy trong định nghĩa này bao hàm ba vấn đề, đó là:
- Dịch vụ là một công việc, mang tính chất vô hình, không đo đếm được, khác với hàng hoá mang tính chất hữu hình và đo đếm được
Trang 8- Cung ứng dịch vụ là công việc có tổ chức, hay nói cách khác, ngườicung ứng dịch vụ cần phải đạt được những điều kiện nhất định về công việcmình sẽ phục vụ.
- Cuối cùng, định nghĩa dịch vụ có bao hàm yếu tố thương mại, hay yếu tố
tìm kiếm lợi nhuận qua việc “được trả công”.
Còn “pháp lý” có thể hiểu là mang tính chất chuyên ngành pháp luật hay
liên quan đến lĩnh vực pháp luật Kết hợp hai khái niệm trên, ta thấy nếu hiểu
một cách đơn giản thì “dịch vụ pháp lý” là “công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông liên quan đến lĩnh vực pháp luật, có tổ chức và được trả công”
b) Phân tích khái niệm “dịch vụ pháp lý” theo quy định của Liên hợp quốc và WTO
Có một điểm chung trong cách định nghĩa của Liên hiệp quốc và WTO vềkhái niệm dịch vụ, đó là không đưa ra một định nghĩa trừu tượng mang tính bảnchất của dịch vụ và cũng không định nghĩa theo cách đặt trong mối tương quanđối lập với hàng hóa Một định nghĩa trừu tượng mang tính bản chất hoặc sosánh đối lập có lẽ không bao hàm hết các hoạt động dịch vụ vốn rất đa dạng vàđược hiểu với nội hàm khác nhau ở mỗi nước Vậy, để tránh sự bất đồng quanđiểm giữa các quốc gia thành viên và tiện cho những quy định tiếp sau này, cảLiên hợp quốc và WTO đều không đưa ra định nghĩa dịch vụ mà đưa ra mộtdanh mục theo phương pháp liệt kê để từ đó xác định hành vi nào là dịch vụ
Năm 1991, Liên hợp quốc đã công bố Bảng phân loại tạm thời các dịch
vụ chủ yếu (PCPC) và đến năm 1997 công bố tiếp Bảng phân loại các dịch vụchủ yếu (CPC) PCPC và CPC không đưa ra định nghĩa trừu tượng về dịch vụ,nhưng các hành vi được liệt kê, được mô tả và mã hoá trong hai bảng này đượccoi là dịch vụ Theo Danh mục phân loại các lĩnh vực dịch vụ (Danh mục CPC),dịch vụ pháp lý thuộc loại hình dịch vụ kinh doanh, thuộc nhóm ngành dịch vụ
nghề nghiệp (mã CPC 861) và được phân loại như sau:
- Dịch vụ tư vấn và đại diện liên quan tới pháp luật hình sự (86111);
Trang 9- Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục tư pháp liên quantới các lĩnh vực pháp luật khác (86119);
- Dịch vụ tư vấn pháp luật và đại diện trong các thủ tục pháp lý trước cáchội đồng tư pháp (có thẩm quyền như Tòa án) (86120);
- Dịch vụ về văn bản pháp luật và xác nhận (86130); và
- Các thông tin tư vấn pháp lý khác (86190)
Như vậy, theo cách hiểu của Liên hợp quốc, dịch vụ pháp lý được chiathành 3 nhóm cơ bản sau:
+ Dịch vụ tư vấn pháp luật, tức là cung cấp các ý kiến pháp lý, các lờikhuyên trên cơ sở pháp luật cho các cá nhân, tổ chức có yêu cầu Dịch vụ nàythường bao gồm các hoạt động tìm kiếm pháp luật có liên quan, giải thích phápluật, hướng dẫn thực hiện pháp luật và một số công việc khác
+ Dịch vụ đại diện pháp luật, tức là làm người đại diện thay mặt kháchhàng trước cơ quan có thẩm quyền hoặc tham gia một quan hệ xã hội nào đó đểgiúp khách hàng hoàn thành công việc đúng pháp luật trên cơ sở sự uỷ quyềncủa khách hàng và có thu phí Về cơ bản, dịch vụ này cũng giống như đại diệntheo uỷ quyền trong quan hệ pháp luật dân sự, chỉ khác biệt ở hai điểm là có tínhchuyên nghiệp cao và tính thương mại Tính chuyên nghiệp cao thể hiện ở chỗngười thực hiện dịch vụ đại diện pháp luật là người có trình độ pháp luật, có đủcác điều kiện để thực hiện dịch vụ đại diện pháp luật và thực hiện dịch vụ này
với tính chất nghề nghiệp; tính thương mại nằm ở việc “có thu phí” dịch vụ
+ Các dịch vụ pháp lý khác như công chứng, xác nhận giấy tờ, soạn thảohợp đồng…
Trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới (WTO), các quy định vềdịch vụ (hay đúng hơn là thương mại dịch vụ) được quy định trong Hiệp địnhchung về thương mại dịch vụ (General Agreement on Trade in Services –
GATS) và các phụ lục kèm theo Để hiểu khái niệm “dịch vụ pháp lý” theo
GATS cần chú ý một số vấn đề cơ bản sau:
Trang 10- Thứ nhất là cách định nghĩa của GATS về dịch vụ GATS không đưa rađịnh nghĩa của riêng mình mà lấy Bảng CPC của Liên hợp quốc để cụ thể hoácác hoạt động theo GATS Các hoạt động thương mại trong lĩnh vực dịch vụđược chia thành 12 ngành là:
(1) dịch vụ kinh doanh (business services);
(2) dịch vụ viễn thông (communications services);
(3) dịch vụ xây dựng và kỹ thuật (construction and related engineeringservices);
(4) dịch vụ phân phối (distribution services);
(5) dịch vụ giáo dục (educational services);
(6) dịch vụ môi trường (environmental services);
(7) dịch vụ tài chính (financial services);
mại Lĩnh vực “dịch vụ pháp lý” được xếp vào phân ngành Dịch vụ chuyên môn
thuộc ngành Dịch vụ kinh doanh
- Thứ hai là phạm vi điều chỉnh của GATS Như tên gọi, GATS khôngđiều chỉnh tất cả các hoạt động dịch vụ nói chung mà chỉ điều chỉnh các hoạt
động dịch vụ thương mại Vậy thế nào là “dịch vụ thương mại”? Làm sao phân
biệt được dịch vụ thương mại với các hoạt động dịch vụ khác phi thương mại?Câu trả lời nằm ở điểm (b) và điểm (c), khoản 3, điều I như sau:
“(b) Dịch vụ bao gồm bất kỳ dịch vụ nào trong tất cả các lĩnh vực, trừ các dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ
Trang 11(c) “các dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ”
là bất kỳ dịch vụ nào được cung cấp không trên cơ sở thương mại, và cũng không trên cơ sở cạnh tranh với một hoặc nhiều nhà cung cấp dịch vụ.”
Như vậy, đúng với chức năng hoạt động của WTO là một thiết chế điều
chỉnh các hoạt động thương mại trên thế giới, GATS đã loại bỏ “các dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ” bởi hai yếu tố: “cung cấp không trên cơ sở thương mại” hay là không nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận, và “không trên cở sở cạnh tranh” Hai yếu tố này khiến cho các loại
hình dịch vụ phi thương mại này không hoạt động theo các quy luật của thịtrường cũng như các nguyên tắc cơ bản của GATS về mở cửa thị trường dịch vụ
là “đối xử tối huệ quốc” và “đối xử quốc gia” Đối với lĩnh vực dịch vụ pháp lý,
phạm vi này đã loại trừ các hoạt động của thẩm phán, thư ký toà án, công tố vàmột số hoạt động tư pháp khác
- Thứ ba là “yếu tố quốc tế” của thương mại dịch vụ trong khuôn khổ WTO Các “yếu tố quốc tế” này được thể hiện rõ qua định nghĩa của GATS về
thương mại dịch vụ được quy định tại khoản 2, điều I GATS:
“Theo Hiệp định này, thương mại dịch vụ được định nghĩa là việc cung cấp dịch vụ:
(a) từ lãnh thổ của một Thành viên đến lãnh thổ của bất kỳ Thành viên nào khác;
(b) trên lãnh của một Thành viên cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ Thành viên nào khác;
(c) bởi một người cung cấp dịch vụ của một Thành viên, thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của bất kỳ Thành viên nào khác;
(d) bởi một người cung cấp dịch vụ của một Thành viên, thông qua sự hiện diện thể nhân trên lãnh thổ của bất kỳ Thành viên nào khác”
Như vậy, khái niệm dịch vụ trong khuôn khổ Tổ chức thương mại thế giới
(WTO) nói chung phải được hiểu một cách cụ thể là những hoạt động “dịch vụ
Trang 12thương mại quốc tế” Khái niệm “dịch vụ pháp lý” ở đây cũng cần được hiểu
theo tinh thần đó
Tóm lại, trên thế giới hiện nay, khái niệm “dịch vụ pháp lý” được hiểu
theo hai nghĩa, nghĩa hẹp và nghĩa rộng Nếu hiểu theo nghĩa rộng, khái niệm
“dịch vụ pháp lý” bao gồm cả các dịch vụ “được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ”, không trên cơ sở thương mại và không mang tính cạnh tranh Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, “dịch vụ pháp lý” chỉ bao gồm các hoạt động tư
vấn pháp luật, đại diện pháp luật và một số hoạt động trợ giúp pháp lý khác
nhưng không bao gồm các dịch vụ “được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ”.
c) Phân tích khái niệm “dịch vụ pháp lý” theo pháp luật Việt Nam
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “dịch vụ pháp lý” lần đầu tiên được
quy định ở Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, văn bản pháp luật đầu tiên điềuchỉnh hoạt động nghề nghiệp của các luật sư Điều 13, Pháp lệnh Tổ chức luật
sư năm 1987 quy định:
“ Các hình thức giúp đỡ pháp lý của luật sư bao gồm:
1 Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc đại diện cho người bị hại và các đương sự khác trong các vụ án hình sự, kể
cả các vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án quân sự; đại diện cho các bên đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân, gia đình và lao động.
2 Làm tư vấn pháp luật cho các tổ chức kinh tế Nhà nứoc, tập thể và tư nhân, kể cả các tổ chức kinh tế nước ngoài.
3 Làm các dịch vụ pháp lý khác cho công dân và tổ chức”
Như vậy, về tên gọi, hoạt động của luật sư trong Pháp lệnh tổ chức luật sư
năm 1987 được gọi là các hình thức “giúp đỡ pháp lý”, trong đó có “dịch vụ pháp lý” Tuy nhiên, về thực chất các hình thức “giúp đỡ pháp lý” ở đây chính
là hoạt động dịch vụ pháp lý theo đúng nghĩa của nó bởi hoạt động của luật sư làhoạt động được trả công, tức là có tính thương mại Chiếu theo điều 20 của Pháplệnh nói trên:
Trang 13“ Công dân và tổ chức nhờ luật sư giúp đỡ phải trả tiền thù lao Chế độ trả tiền thù lao và những trường hợp được miễn, giảm do Quy chế Đoàn luật sư quy định.”
Có thể thấy Pháp lệnh này điều chỉnh kép cả hoạt động dịch vụ pháp lý cóthu phí và hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí của luật sư mà không có sự tách
bạch nên mới đưa ra khái niệm “các hình thức giúp đỡ pháp lý” của luật sư
Năm 2001, ủy ban thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh luật sư số37/2001/PL-UBTVQH10 (sau đây sẽ gọi là Pháp lệnh luật sư 2001) thay thếPháp lệnh tổ chức luật sư 1987 Ngay ở Điều 1 Pháp lệnh luật sư 2001 đã quyđịnh về hoạt động dịch vụ pháp lý của luật sư như sau:
“Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh này
và tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền , lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.”
Khoản 1, Điều 14 Pháp lệnh Luật sư 2001 đã quy định cụ thể hơn vềphạm vi hành nghề của luật sư như sau:
“Luật sư hành nghề trong phạm vi sau đây:
a) Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc
là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị hại, nguyên đơn dân
sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; b) Tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động hoặc hành chính;
c) Tham gia tố tụng trọng tài để giải quyết tranh chấp;
d) Tư vấn pháp luật, soạn thảo hợp đồng, đơn từ theo yêu cầu của các nhân,
Trang 14Như vậy, có thể thấy so với Pháp lệnh Tổ chức luật sư 1987 thì Pháp lệnhluật sư 2001 đã quy định cụ thể hơn rất nhiều về các loại hình hoạt động dịch vụpháp lý của luật sư, cụ thể là quy định rõ các hoạt động tham gia tố tụng trọngtài, đại diện theo uỷ quyền và soạn thảo hợp đồng, đơn từ.
Ngoài ra, Pháp lệnh luật sư 2001 cũng đã có sự tách bạch giữa dịch vụpháp lý có thu phí của luật sư với hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí bằng quyđịnh tại Điều 6 như sau:
“Nhà nước và xã hội khuyến khích các luật sư và các tổ chức hành nghề luật sư tham gia các hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo và người được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật.”
Hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí này về hình thức rất giống với hoạtđộng dịch vụ pháp lý của luật sư, chỉ có một điểm khác biệt căn bản là không cóthù lao, như vậy, nó không phải là một hoạt động dịch vụ vì không mang bảnchất thương mại Vậy câu hỏi đặt ra là hoạt động trợ giúp pháp lý này có nênxếp vào nhóm các hoạt động dịch vụ pháp lý hay không? Pháp luật thương mạihầu hết các nước cũng như pháp luật thương mại quốc tế không đưa loại hoạtđộng miễn phí này vào đối tượng điều chỉnh nên theo cách hiểu chung của quốc
tế thì khái niệm “dịch vụ pháp lý” không bao gồm các hoạt động trợ giúp pháp
lý miễn phí Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình cụ thể, pháp luật Việt Nam dựa trênquan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước là có chính sách ưu đãi với ngườinghèo và người có công với cách mạng nên hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phíđược quy định trong Pháp lệnh Luật sư 2001 với tính chất là một hoạt động nghềnghiệp của luật sư, thể hiện trách nhiệm của người luật sư đối với Nhà nước và
xã hội Tuy nhiên, sự phát triển của pháp luật Việt Nam đã đi đến việc tách vấn
đề trợ giúp pháp lý miễn phí này thành một lĩnh vực riêng và được điều chỉnhtheo Luật trợ giúp pháp lý năm 2005 Vì vậy, theo quan điểm của người nghiên
cứu thì khái niệm “dịch vụ pháp lý” theo pháp luật Việt Nam không còn bao
gồm các hoạt động trợ giúp pháp lý miễn phí được thực hiện bởi các luật sư
Trang 15Văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh các hoạt động nghề nghiệp củaluật sư là Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ban hành ngày 29/6/2006 (sau đây sẽgọi là Luật luật sư) Luật Luật sư đã có những quy định rất rõ ràng về khái niệmdịch vụ pháp lý với tính chất là hoạt động nghề nghiệp của luật sư, cụ thể nhưsau:
Điều 2 và Điều 4 Luật Luật sư có quy định:
“Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”
Tóm lại, khái niệm “dịch vụ pháp lý” theo pháp luật Việt Nam gồm hai
nhóm hoạt động sau:
- Dịch vụ pháp lý có thu phí của luật sư (phù hợp với cách hiểu của Liênhiệp quốc và WTO)
- Các dịch vụ được cung cấp để thi hành thẩm quyền của Chính phủ
Như vậy, khái niệm này theo pháp luật Việt Nam có nội hàm rộng hơntheo cách hiểu của Liên hợp quốc và Tổ chức thương mại thế giới
Trang 161.2 Thị trường dịch vụ pháp lý
Để hiểu khái niệm “thị trường dịch vụ pháp lý” thì cần làm rõ khái niệm
“thị trường dịch vụ” Về bản chất, thị trường là nơi diễn ra các quan hệ mua –
bán, trao đổi Xét theo đối tượng của hành vi mua bán, trao đổi thì thị trườngđược phân thành thị trường hàng hoá và thị trường dịch vụ Bởi hàng hoá mangtính chất hữu hình nên rất dễ hình dung đối với thị trường hàng hoá: thị trườngcủa một loại hàng hoá nào đó là nơi diễn ra các quan hệ mua bán, trao đổi loạihàng hoá đó, hay nói cách khác, tổng hoà các mối quan hệ mua bán tạo thành thịtrườngđối với loại hàng hóa đó (như thị trường gạo, thị trường vải, thị trường xemáy…) Hoạt động dịch vụ cũng vậy, mối quan hệ thực hiện dịch vụ – trả côngcũng có thể coi như mối quan hệ mua – bán Thị trường dịch vụ là nơi diễn racác quan hệ cung ứng dịch vụ – thanh toán, hay tổng hoà các mối quan hệ cungứng dịch vụ – thanh toán đối với một lĩnh vực dịch vụ nhất định hợp thành thịtrường đối với lĩnh vực dịch vụ đó
Như vậy, “thị trường dịch vụ pháp lý” là sự tổng hoà các mối quan hệ
cung ứng dịch vụ – thanh toán trong lĩnh vực dịch vụ pháp lý
Thị trường dịch vụ pháp lý có nhiều cách phân loại như:
- Nếu dựa vào chủ thể cung ứng dịch vụ pháp lý ta có thể phân thành thịtrường dịch vụ pháp lý được cung ứng bởi nhà cung ứng dịch vụ pháp lýtrong nước và thị trường được cung ứng bởi nhà cung ứng dịch vụ pháp lýnước ngoài
- Nếu dựa vào đối tượng được cung ứng là dịch vụ pháp lý thì ta có thểphân thành thị trường dịch vụ tố tụng pháp luật, thị trường dịch vụ tư vấnpháp luật…
- Nếu dựa vào các lĩnh vực chuyên môn cụ thể cần cung ứng dịch vụ pháp
lý thì có thể phân thành thị trường dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực ngânhàng, bảo hiểm, đầu tư, xuất nhập khẩu…
2 Đặc điểm của dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý
Trang 172.1 Đặc điểm của dịch vụ pháp lý
Xét từ góc độ lý luận Nhà nước và pháp luật, dịch vụ pháp lý có một sốđặc điểm quan trọng sau:
- Thứ nhất, dịch vụ pháp lý là một ngành dịch vụ rất nhạy cảm, bởi vì nóliên quan mật thiết tới một yếu tố rất quan trọng của thượng tầng kiến trúc xãhội là pháp luật Như ta đã biết, pháp luật là ý chí của giai cấp cầm quyền đượchợp pháp hóa thông qua việc ban hành hoặc thừa nhận, mà việc cung ứng dịch
vụ pháp lý trong mọi trường hợp đều có liên hệ trực tiếp với việc giải thích phápluật, phân tích pháp luật và hướng dẫn thực hiện pháp luật Cho phép các nhàcung ứng dịch vụ pháp lý hoạt động có nghĩa là nhà cầm quyền sẽ phải traoquyền giải thích pháp luật, phân tích pháp luật và hướng dẫn thực hiện pháp luậtvào tay nhà cung ứng dịch vụ Sẽ ra sao nếu nhà cung ứng dịch vụ pháp lý lạikhông có đầy đủ kiến thức pháp luật hoặc cố ý giải thích sai pháp luật? Hậu quảchắc chắn là rất nghiêm trọng Vì vậy, hầu hết các nước trên thế giới đều có quyđịnh rất nghiêm ngặt về điều kiện kinh doanh dịch vụ pháp lý như phải có chứngchỉ hành nghề, thoả mãn các điều kiện hành nghề, bị giới hạn phạm vi hànhnghề, hình thức hành nghề, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật…
- Thứ hai, dịch vụ pháp lý là một ngành dịch vụ tổng hợp, đòi hỏi kiến thứcsâu rộng về tất cả các lĩnh vực xã hội Trong một xã hội pháp quyền, tất cả cáchoạt động diễn ra đều phải tuân thủ pháp luật và đều cần tới dịch vụ pháp lý.Thế nhưng, muốn tư vấn pháp luật về các lĩnh vực chuyên môn thì lại cần phải
có kiến thức chuyên ngành về lĩnh vực đó, như muốn tư vấn về bảo hiểm, ngânhàng, đầu tư, xuất nhập khẩu… thì đương nhiên nhà cung ứng dịch vụ pháp lýphải hiểu biết các kiến thức chuyên ngành của bảo hiểm, ngân hàng, đầu tư, xuấtnhập khẩu… Thậm chí, ở nhiều nước phát triển, muốn thi vào trường luật, bắtbuộc anh phải có một bằng đại học trước đó Quan niệm của các nước này: họcluật là học quản lý xã hội, vì vậy, người học luật bắt buộc phải tích luỹ được vốnkiến thức xã hội nhất định trước đó
Trang 18- Thứ ba, dịch vụ pháp lý là một ngành dịch vụ có tính chi phối xã hội caobởi vì pháp luật điều chỉnh tất cả các quan hệ xã hội Dịch vụ pháp lý liên quantrực tiếp tới mọi mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng tới việc hiểu và tuân thủpháp luật của các cá nhân, tổ chức qua đó tác động tới hoạt động quản lý xã hộicủa Nhà nước Xét từ góc độ cá nhân, tổ chức, nếu nhận được sự tư vấn pháp lýtốt, bạn có thể tránh được các nguy cơ rủi ro, làm ăn thua lỗ, tránh được việc viphạm pháp luật…; xét từ góc độ quản lý Nhà nước, chắc chắn Nhà nước cũngrất mong dịch vụ pháp lý phát triển mạnh vì khi đó, chức năng quản lý xã hộicủa Nhà nước sẽ được thực hiện tốt hơn và dễ dàng hơn rất nhiều Vì vậy, dịch
vụ pháp lý là rất quan trọng đối với mỗi cá nhân cũng như đối với toàn xã hội
Tóm lại, dịch vụ pháp lý là một loại dịch vụ chiếm vị trí, vai trò rất quantrọng trong đời sống xã hội Tuy nhiên, nhà cung ứng dịch vụ pháp lý cũng cầnphải thoả mãn rất nhiều điều kiện theo quy định của pháp luật
2.2 Đặc điểm của thị trường dịch vụ pháp lý
Phân tích hai đặc điểm trên của dịch vụ pháp lý ta có thể rút ra một đặcđiểm của thị trường dịch vụ pháp lý đó là tính bị chi phối nghiêm ngặt hay nóicách khác là chịu sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước Tính chất này thể hiện quaviệc Nhà nước quy định những điều kiện, thủ tục rất chặt chẽ đối với nhà cungứng dịch vụ pháp lý Một ví dụ rất cụ thể là những quy định của Nhà nước ViệtNam trong Luật luật sư 2006 Người cung ứng dịch vụ pháp lý, cụ thể là luật sưphải tuân thủ các nguyên tắc hành nghề quy định tại Điều 5, phải thoả mãn cáctiêu chuẩn luật sư quy định tại Điều 10, các điều kiện hành nghề luật sư quyđịnh tại Điều 11 (phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoànluật sư); ngoài ra, Điều 9 quy định các hành vi bị nghiêm cấm, Điều 21 quy địnhquyền, nghĩa vụ của luật sư, Điều 22 giới hạn về phạm vi hành nghề của luật sư,Điều 23 giới hạn về hình thức hành nghề của luật sư và các điều khoản kháctương tự quy định về tổ chức hành nghề luật sư chính là những điều khoản mang
Trang 19tính chất giới hạn phạm vi thị trường dịch vụ pháp lý trong khuôn khổ sự quản
lý của Nhà nước
Riêng đối với thị trường dịch vụ pháp lý được cung ứng bởi các nhà cungứng dịch vụ pháp lý nước ngoài, đặc điểm này thể hiện ở việc hạn chế mở cửathị trường, tức là quy định những điều kiện khắt khe hơn về điều kiện hànhnghề, thủ tục hành nghề, giới hạn hẹp hơn về phạm vi hành nghề, hình thứchành nghề Pháp luật Việt Nam cũng có những hạn chế nhất định đối với cácnhà cung ứng dịch vụ pháp lý nước ngoài như không được tư vấn pháp luật ViệtNam (trừ trường hợp luật sư nước ngoài có bằng cử nhân luật của Việt Namhoặc có thuê luật sư Việt Nam), không được tham gia tố tụng với tư cách làngười bào chữa, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp củađương sự trước cơ quan tiến hành tố tụng Việt Nam (trừ trường hợp có thuê luật
sư Việt Nam)…
Trang 20Chương 2 Thực tiễn sự hình thành và phát triển dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam
Để có cái nhìn sâu sắc và toàn diện về sự phát triển của dịch vụ pháp lýcũng như thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam, dựa vào thực tiễn thị trường và
hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh, Luận văn chia quá trình phát triểnnày thành 3 giai đoạn cụ thể như sau:
- Giai đoạn thứ nhất là từ năm 1987 trở về trước (trước khi Pháp lệnh tổchức luật sư 1987 có hiệu lực);
- Giai đoạn thứ hai là từ năm 1987 đến hết năm 2006 (giai đoạn trước khiLuật luật sư 2006 có hiệu lực);
- Giai đoạn thứ ba là từ năm 2007 đến nay (giai đoạn Luật luật sư có hiệulực)
1 Giai đoạn từ năm 1987 trở về trước
Giai đoạn này lại có thể chia nhỏ làm 2 giai đoạn là giai đoạn trước Cáchmạng tháng 8/1945 (pháp luật do nhà cầm quyền Pháp ban hành) và giai đoạnsau Cách mạng tháng 8/1945 (pháp luật do Nhà nước Việt Nam dân chủ cộnghoà ban hành)
a) Giai đoạn trước cách mạng tháng 8/1945
ở nước Việt Nam trong thời kỳ phong kiến trước khi bị thực dân Pháp đô
hộ, việc xét xử hoàn toàn do vua quan phong kiến tiến hành, không có khái niệmluật sư cũng như người bào chữa Chỉ đến sau khi thực dân Pháp xâm lược,chiếm đóng và bắt đầu thiết lập nền hành chính trên đất nước Việt Nam, cáchoạt động bào chữa mới bắt đầu ra đời
Trang 21Cụ thể, ngày 26/11/1867, người Pháp ban hành Nghị định về việc biện hộcho người Pháp hoặc người Việt mang quốc tịch Pháp tại Toà án Pháp có hiệulực ở Nam Kỳ
Sau khi thiết lập bộ máy cai trị trên toàn lãnh thổ Việt Nam, năm 1884,Toàn quyền Pháp ký sắc lệnh thành lập Luật sư Đoàn tại Sài Gòn và Hà Nộigồm các luật sư người Pháp và người Việt đã nhập quốc tịch Pháp Các luật sưchỉ biện hộ trước Toà án Pháp cho người Pháp hoặc người có quốc tịch Pháp
Tiếp đó, với Sắc lệnh ngày 30/1/1911, nhà cầm quyền Pháp đã mở rộngcho người Việt không có quốc tịch Pháp được làm luật sư Sắc lệnh cuối cùngcủa người Pháp về luật sư là Sắc lệnh ngày 25/5/1930 về tổ chức luật sư đoàn ở
Hà Nội, Sài Gòn và Đà Nẵng Sắc lệnh này đã mở rộng cho các luật sư khôngchỉ biện hộ trước Toà án Pháp mà cả trước Toà Nam án, được bào chữa cho cảngười không có quốc tịch Pháp
b) Giai đoạn sau Cách mạng tháng 8/1945
Cách mạng tháng 8/1945 thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà rađời Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 46/SL, Sắc lệnhđầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, về tổ chức Đoàn luật sư Sắclệnh này tạm thời giữ nguyên cách thức tổ chức các Đoàn luật sư trong nướcnhư Sắc lệnh ngày 25/5/1930 của người Pháp nhưng có quy định một số vấn đềquan trọng, phù hợp với chế độ mới như:
- Các luật sư được bào chữa trước tất cả các Toà án cấp tỉnh trở lên và cácToà án quân sự;
- Điều kiện làm luật sư là: công dân Việt Nam bất kể nam hay nữ, có bằng
cử nhân luật, có hạnh kiểm tốt, đã tập sự 3 năm ở một văn phòng luật sư.Tiếp đó, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoàthông qua ngày 9/11/1946, Điều 67 quy định:
“Các phiên toà đều xét xử công khai, trừ trường hợp đặc biệt, người bị cáo
có quyền bào chữa lấy hoặc mượn luật sư”
Trang 22Qua đó có thể thấy, dù còn bộn bề trăm việc, Chính phủ lâm thời nướcViệt Nam dân chủ cộng hoà vẫn rất quan tâm đến quyền được bào chữa củacông dân cũng như hoạt động của các luật sư.
Trong giai đoạn kháng chiến toàn quốc, để khắc phục tình trạng thiếu luật
sư trên toàn quốc, Nhà nước cũng đã ban hành Sắc lệnh số 69/SL ngày18/6/1949 quy định chế định bào chữa viên cho các bị cáo tại Toà án, sắc lệnh
số 144/SL ngày 22/12/1949 mở rộng cho những người không phải là luật sưcũng được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đương sự trong các vụ án dân
Quyền bào chữa của người bị cáo được đảm bảo.”
Trong Hiến pháp năm 1980, quyền này được quy định tại Điều 133 nhưsau:
“Toà án nhân dân xét xử công khai, trừ trường hợp do luật định.
Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm.
Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý.”
Tuy nhiên, cho đến tận năm 1986, ở Việt Nam vẫn chưa có một văn bảnLuật hoặc Pháp lệnh tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động của các luật sư
2 Giai đoạn từ năm 1987 đến hết năm 2006
Pháp lệnh Tổ chức luật sư được ban hành ngày 18/12/1987 là văn bảnpháp luật đầu tiên điều chỉnh cụ thể về lĩnh vực hoạt động của các luật sư, tạo ramột hành lang pháp lý cho hoạt động nghề nghiệp của các luật sư Dù nhữngquy định của Pháp lệnh này chưa đầy đủ, cụ thể nhưng vai trò của nó là rất lớn,làm tiền đề cho những quy định pháp luật cụ thể sau này
Trang 23Trên cơ sở Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987, ngày 21/2/1989, Hộiđồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định về việc ban hành quy chế Đoàn luật sư
và ngày 15/4/1989, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Quychế Đoàn luật sư
Tuy nhiên, do Pháp lệnh tổ chức luật sư 1987 không điều chỉnh hoạt độngcủa các tổ chức luật sư nước ngoài nên ngày 8/7/1995, Chính phủ đã ban hànhNghị định số 42/CP ban hành Quy chế hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chứcluật sư nước ngoài tại Việt Nam và Bộ Tư pháp cũng có ra Thông tư số 791/TT-LSTVPL ngày 8/9/1995 hướng dẫn thi hành Quy chế hành nghề tư vấn pháp luậtcủa tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Nghị định 42/CP trên sau đó đã được thay thế bằng Nghị định số 92/1998/NĐ-CP ngày 10/11/1998 về hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nướcngoài tại Việt Nam và Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Thông tư số 08/1999/TT-BTP ngày 13/02/1999 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số92/1998/NĐ-CP Tiếp đó, ngày 23/3/2000, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số02/2000/TT-BTP hướng dẫn thủ tục chấm dứt hoạt động của Chi nhánh tổ chứcluật sư nước ngoài tại Việt Nam
Sau hơn 13 năm triển khai thi hành Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987,nhận thấy những thiếu sót, hạn chế, những quy định đã không còn phù hợp vớitình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đến ngày 25/7/2001, ủy banthường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh Luật sư số 37/2001/PL-UBTVQH10thay thế cho Pháp lệnh Tổ chức luật sư năm 1987 Tiếp đó, ngày 12/12/2001,Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hànhPháp lệnh Luật sư và ngày 22/01/2002, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số02/2002/TT-BTP hướng dẫn Nghị định số 94/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thihành Pháp lệnh Luật sư Cũng trong thời gian Pháp lệnh Luật sư 2001 có hiệulực, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 76/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 quyđịnh xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp và Nghị định số65/2003/NĐ-CP ngày 11/6/2003 về tổ chức, hoạt động tư vấn pháp luật Về quy
Trang 24chế pháp lý điều chỉnh hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam,ngày 22/7/2003, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 87/2003/NĐ-CP về hànhnghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam, thay thếcho Nghị định số 92/1998/NĐ-CP và Bộ Tư pháp cũng đã ban hành Thông tư số06/2003/TT-BTP ngày 29/10/2003 hướng dẫn một số quy định của Nghị định87/2003/NĐ-CP, thay thế cho Thông tư số 08/1999/TT-BTP.
3 Giai đoạn từ năm 2007 đến nay
Bước ngoặt quan trọng nhất của giai đoạn này là việc Việt Nam chínhthức trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ngày11/01/2007 Như vậy là, sau gần 12 năm đàm phán đầy khó khăn, cuối cùngViệt Nam đã chính thức được gia nhập sân chơi thương mại chung của toàn cầu.Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tuân thủ luật chơi, phải điều chỉnh
hệ thống pháp luật cho phù hợp với những quy định của WTO, phải cam kết mở
cửa thị trường dịch vụ, phải chấp nhận các nguyên tắc “đối xử tối huệ quốc” (Most favoured nations – MFN) và “đối xử quốc gia” (National treatment –
NT), phải dỡ bỏ các rào cản thương mại… Các cam kết của Việt Nam về mởcửa thị trường dịch vụ pháp lý được ghi nhận trong Biểu cam kết về dịch vụ vàđược quy định cụ thể trong Luật Luật sư số 65/2006/QH11 ban hành ngày29/06/2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2007 Luật Luật sư 2006được đánh giá là một văn bản pháp luật quy định đầy đủ, toàn diện, chi tiết vềhoạt động của luật sư, tổ chức luật sư trong nước cũng như luật sư, tổ chức luật
sư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Các văn bản hướng dẫn thi hành LuậtLuật sư 2006 gồm có: Nghị định số 28/2007/NĐ-CP ngày 26/02/2007 quy địnhchi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư, Thông tư số02/2007/TT-BTP ngày 26/02/2007 hướng dẫn một số quy định của Luật Luật
sư, Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật
sư Đến đây, pháp luật Việt Nam đã không còn tách bạch hai sân chơi riêng cho
tổ chức luật sư trong nước và tổ chức luật sư nước ngoài cũng như dỡ bỏ rất
Trang 25nhiều hạn chế khác về tiếp cận thị trường như hình thức hoạt động, phạm vi hoạtđộng… đối với các tổ chức luật sư nước ngoài, tạo môi trường bình đẳng, lànhmạnh hơn nhằm thúc đẩy thị trường dịch vụ pháp lý phát triển mạnh trong tươnglai.
Như vậy, nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển của các quy định pháp luật về luật sư của Việt Nam qua 3 giai đoạn trên, ta có thể nhận thấy một số điểm cơ bản sau:
- Thứ nhất, chế định pháp luật về luật sư được Nhà nước Việt Nam quan tâm từ rất sớm và đã được ghi nhận ngay trong bản Hiến pháp đầu tiên cũng như trong các bản Hiến pháp tiếp sau đó.
- Thứ hai, văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động nghề nghiệp của luật sư ra đời khá sớm, có tiếp thi kinh nghiệm của các nước tiên tiến Tuy vậy, có sự tồn tại một thời gian dài hai quy chế pháp
lý dành cho luật sư, tổ chức luật sư trong nước và tổ chức luật sư nước ngoài.
Thứ ba, Luật luật sư 2006 ra đời đã tạo một hành lang pháp lý thống nhất cho hoạt động của các luật sư, tổ chức luật sư trong nước cũng như luật sư,
tổ chức luật sư nước ngoài, góp phần thúc đẩy thị trường dịch vụ pháp lý của
Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong một tương lai không xa.
Trang 26Phần thứ hai Những vấn đề pháp lý cơ bản về hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại việt nam
Luật Luật sư 2006 ra đời đánh dấu một bước phát triển mới về chất củachế định về hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài và của thịtrường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam Với Luật Luật sư 2006, Việt Nam đã bắtđầu quá trình thực thi các cam kết của mình trong khuôn khổ WTO về mở cửathị trường dịch vụ pháp lý và chấp nhận thay đổi để tuân thủ luật chơi chung củaWTO Đây chính là nguyên nhân để khẳng định Luật Luật sư 2006 là một bướcphát triển mới về chất Trước đây, luật chơi hoàn toàn do Việt Nam đặt ra,không có sự ràng buộc từ bên ngoài, nhưng luật chơi này lại không phù hợp vớiluật chơi chung của quốc tế Giờ đây, Việt Nam đã chấp nhận luật chơi chung,
chấp nhận các nguyên tắc “đối xử quốc gia”, “đối xử tối huệ quốc”, mở cửa thị
trường… Như vậy, việc phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về hoạtđộng của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài phải được chia thành hai giaiđoạn là giai đoạn trước khi Luật Luật sư 2006 có hiệu lực thi hành và giai đoạn
từ sau khi luật Luật sư 2006 có hiệu lực thi hành Xuất phát từ nguyên nhân trên,Phần thứ hai của Luận văn sẽ tập trung vào ba vấn đề:
- Quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam (Chương 1)
- Những quy định pháp luật trước khi Luật Luật sư 2006 có hiệu lực thi hành (Chương 2)
- Các quy định pháp luật hiện hành (Chương 3)
Trang 27Chương 1 quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Trước khi đi vào nghiên cứu cụ thể các quy định của pháp luật về hoạtđộng của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam, cần có một cái nhìn toàncảnh về lịch sử hình thành và phát triển của chế định về hoạt động của tổ chứcluật sư nước ngoài ở Việt Nam Đây chính là mục đích nghiên cứu của Chương
1 – Quá trình hình thành và phát triển các quy định pháp luật về hoạt động của
tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam Nhằm đạt được mục đích này, nội dungnghiên cứu của Chương I tập trung vào ba nhóm vấn đề sau:
- Thứ nhất, bối cảnh ra đời của chế định về hoạt động của tổ chức luật
sư nước ngoài ở Việt Nam?
- Thứ hai, các giai đoạn phát triển của chế định này? Cơ sở pháp lý và
cơ sở thực tiễn của các giai đoạn đó?
- Thứ ba, những đánh giá sơ bộ về sự phát triển của chế định này ở Việt Nam?
1 Bối cảnh ra đời của chế định về hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài ở Việt Nam
Như đã nói trong “Phần thứ nhất - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
về dịch vụ pháp lý và thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam”, nghề luật sư ở
Việt Nam chỉ chính thức được công nhận và điều chỉnh bằng một văn bản quyphạm pháp luật từ khi có Pháp lệnh tổ chức luật sư năm 1987 Tuy nhiên, đâychỉ là văn bản điều chỉnh hoạt động của các luật sư, tổ chức luật sư trong nước.Trong giai đoạn này, nghề luật sư không được coi là một nghề dịch vụ mangtính kinh doanh mà là một nghề đặc thù phục vụ nhiệm vụ chính trị, góp phầntăng cường dân chủ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chứctrong xã hội, hay nói cách khác, nghề luật sư là một nghề đặc biệt có chức năng
Trang 28góp phần bảo vệ công lý Vì vậy, hai khái niệm “thị trường dịch vụ pháp lý” và
“hoạt động của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam” đều chưa xuất hiện
Năm 1988, nhằm thể chế hoá chủ trương của Đại hội Đảng Cộng sản ViệtNam lần thứ VI (1986) về mở cửa nền kinh tế, Quốc hội đã ban hành Luật đầu
tư nước ngoài tại Việt Nam (sửa đổi các năm 1990 và 1993), bước đầu tạokhung pháp lý cho hoạt động đầu tư nước ngoài Điều 1 Luật này quy định:
“Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoan nghênh và khuyến khích các tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư vốn và kỹ thuật vào Việt Nam trên
cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, tuân thủ pháp luật Việt Nam, bình đẳng và các bên cùng có lợi.”
Trên cơ sở đó, hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được đẩy mạnh
Sự phát triển của hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam kéo theo nhu cầuhiểu biết về các vấn đề liên quan đến môi trường chính sách, pháp luật và môitrường kinh doanh ở Việt Nam Đi theo các nhà đầu tư nước ngoài là các tổ chứcluật sư nước ngoài và họ hiện diện ở Việt Nam để hỗ trợ quá trình đầu tư, kinhdoanh này Sở dĩ các nhà đầu tư nước ngoài phải mang theo các tổ chức luật sưnước ngoài vào Việt Nam trong quá trình đầu tư là bởi hai nguyên nhân:
- Thứ nhất, theo tập quán thương mại quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoàinếu là các tập đoàn hoặc các doanh nghiệp lớn đến từ các nền kinh tế phát triểnthì có thói quen sử dụng các văn phòng luật sư hoặc các bộ phận chuyên môn về
tư vấn pháp lý của chính mình Nếu không, họ cũng sẽ thuê các công ty luật có
uy tín của nước ngoài hoặc đã có truyền thống làm ăn từ trước
- Thứ hai, do trình độ ngoại ngữ, trình độ chuyên môn, mức độ am hiểupháp luật quốc tế của các luật sư trong nước quá yếu kém (thời điểm đó, luật sưViệt Nam chủ yếu chỉ tham gia tranh tụng tại các vụ án hình sự) nên không đápứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài
Như vậy, trên thực tế, các tổ chức luật sư nước ngoài có nhu cầu hoạtđộng tại Việt Nam để tư vấn cho khách hàng của họ là các nhà đầu tư nước
Trang 29ngoài Nhưng thời điểm này ở Việt Nam chưa có một văn bản pháp luật nào tạo
cơ sở pháp lý cho hoạt động này
2 Các giai đoạn phát triển của chế định về hoạt động của tổ chức luật
sư nước ngoài
a) Giai đoạn thứ nhất
Giai đoạn đầu tiên này được bắt đầu bằng việc Chính phủ ban hành Nghịđịnh số 42/CP ngày 08/07/1995 ban hành Quy chế hành nghề tư vấn pháp luậtcủa tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam Quy chế hành nghề tư vấn phápluật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam ban hành kèm theo Nghị định42/CP gồm 6 chương, 44 điều và đây chính là văn bản pháp luật mở ra thời kỳmới cho hoạt động của các tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Tuy nhiên, về bản chất, việc Nhà nước Việt Nam mở cửa cho các tổ chứcluật sư nước ngoài vào hoạt động tại Việt Nam giai đoạn này là nhằm tạo thuậnlợi cho hoạt động đầu tư nước ngoài chứ chưa nhằm mục đích tạo môi trườngcạnh tranh hay mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý Điều này được minh chứngqua quy định tại Điều 20 của Nghị định về phạm vi hành nghề của tổ chức luật
sư nước ngoài:
“Luật sư nước ngoài của chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài chỉ được
tư vấn về pháp luật nước ngoài và pháp luật quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh, đầu tư, thương mại; không được tư vấn về pháp luật Việt Nam…”
và khoản 1, Điều 6 quy định về điều kiện hành nghề của tổ chức luật sư
nước ngoài hoạt động tại Việt Nam là phải “có khách hàng nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam” Như vậy, các tổ chức luật sư nước ngoài
chỉ được vào Việt Nam theo các nhà đầu tư nước ngoài và chỉ được thực hiện tưvấn pháp luật nước ngoài hoặc pháp luật quốc tế trong lĩnh vực kinh doanh, đầu
tư, thương mại
Trong giai đoạn này, Bộ Tư pháp và Bộ tài chính cũng đã ban hành một
số văn bản có liên quan, điều chỉnh hoạt động của các tổ chức luật sư nướcngoài, đó là Thông tư số 791/TT-LSTVPL ngày 08/09/1995 của Bộ Tư pháp
Trang 30hướng dẫn thi hành quy chế hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nướcngoài tại Việt Nam, Thông tư số 04/TC-TCT ngày 23/01/1997 của Bộ tài chínhhướng dẫn một số điểm về chính sách thuế đối với các chi nhánh của tổ chứcluật sư nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, Thông tư liên Bộ Tư pháp – Tàichính số 842/LB-TT ngày 21/09/1995 quy định chế độ thu, quản lý, sử dụng lệphí cấp Giấy phép đặt chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài hoạt động tạiViệt Nam, gia hạn hoạt động của chi nhánh, thay đổi nội dung Giấy phép.
b) Giai đoạn thứ hai
Giai đoạn thứ hai của chế định về hoạt động của tổ chức luật sư nướcngoài tại Việt Nam được bắt đầu bằng Nghị định của Chính phủ số 92/1998/NĐ-
CP ngày 10/11/1998 về hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nướcngoài tại Việt Nam, thay thế cho Nghị định số 42/CP Nghị định 92/1998/NĐ-
CP gồm 6 chương, 48 điều Trước đó, ngày 12/11/1996, Quốc hội đã ban hànhLuật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, thay thế cho Luật đầu tư nướcngoài tại Việt Nam năm 1988, được sửa đổi, bổ sung các năm 1990 và 1992 vàngày 10/05/1997, Quốc hội đã thông qua Luật thương mại, văn bản Luật đầutiên tạo khung pháp lý cho hoạt động thương mại tại Việt Nam Cùng với sự rađời của hai văn bản pháp luật nói trên, nhiều quy định của Nghị định số 42/CP
đã không còn phù hợp và cần được thay thế bằng những quy định mới Tuynhiên, những nội dung cơ bản của Nghị định 42/CP vẫn được tiếp tục kế thừa vàphát triển vào nội dung của Nghị định 92/1998/NĐ-CP
Các văn bản có liên quan tới Nghị định này bao gồm: Thông tư số08/1999/TT-BTP ngày 13/02/1999 hướng dẫn thi hành một số quy định củaNghị định số 92/1998/NĐ-CP ngày 10/11/1998 của Chính phủ về hành nghề tưvấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam (thay thế cho Thông
tư số 791/TT-LSTVPL ngày 08/09/1995 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hànhquy chế hành nghề tư vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại ViệtNam), Thông tư số 02/2000/TT-BTP hướng dẫn thủ tục chấm dứt hoạt động củachi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Trang 31sư nước ngoài là việc mở rộng phạm vi hành nghề (được tư vấn pháp luật trongmọi lĩnh vực, được tư vấn cả pháp luật Việt Nam nếu có thuê luật sư Việt Namhoặc luật sư nước ngoài hành nghề trong tổ chức luật sư nước ngoài có bằng tốtnghiệp đại học luật của Việt Nam) và mở rộng hình thức hành nghề (chi nhánhcủa tổ chức luật sư nước ngoài, công ty luật nước ngoài và công ty luật hợp danhgiữa tổ chức luật sư nước ngoài và công ty luật hợp danh Việt Nam) của tổ chứchành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam Có thể nói những quy định của Pháplệnh luật sư 2001 và Nghị định 87/2003/NĐ-CP đã đặt dấu mốc mới cho sự pháttriển của thị trường dịch vụ pháp lý ở Việt Nam.
Các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành Nghị định 87/2003/NĐ-CP baogồm: Thông tư số 06/2003/TT-BTP ngày 29/10/2003 của Bộ Tư pháp hướng dẫn một số quy định của Nghị định số 87/2003/NĐ-CP ngày 22/07/2003 của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam (thay thế cho Thông tư số 08/1999/TT-BTP ngày 13/02/1999 hướng dẫn thi hành một số quy định của Nghị định số 92/1998/NĐ-CP), Quyết định số 75/2004/QĐ-BTC ngày 16/09/2004 của Bộ trưởng Bộ tài chính quy định chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng lệ phí cấp Giấy phép thành lập, đăng ký, hành nghềđối với tổ chức luật sư nước ngoài và luật sư nước ngoài tại Việt Nam
d) Giai đoạn thứ tư
Giai đoạn thứ tư được bắt đầu từ việc Việt Nam gia nhập Tổ chức thươngmại thế giới (WTO) cuối năm 2006 và bắt đầu lộ trình thực hiện các cam kết gianhập WTO về mở cửa thị trường dịch vụ (trong đó có thị trường dịch vụ pháp
lý Ngày 29/06/2006, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Luật sư số 65/2006/
Trang 32QH11 (sau đây sẽ gọi là Luật Luật sư 2006) thay thế cho Pháp lệnh luật sư năm
2001 Luật Luật sư 2006 gồm 9 chương, 94 điều, so với Pháp lệnh luật sư 2001,Luật Luật sư bổ sung một chương mới quy định về hành nghề của tổ chức hànhnghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam (Chương VI) Nhưvậy, từ đây, khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của luật sư, tổ chức hành nghềluật sư Việt Nam và luật sư, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài đã được quyđịnh chung trong một văn bản là Luật Luật sư, hay nói cách khác, Luật Luật sư
là văn bản pháp luật điều chỉnh tất cả các hoạt động hành nghề của luật sư trênlãnh thổ Việt Nam Ngày 26/02/2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số28/2007/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của LuậtLuật sư, thay thế cho Nghị định số 87/2003/NĐ-CP và Thông tư số 06/2003/TT-BTP Ngày 25/04/2007, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 02/2007/TT-BTPhướng dẫn một số quy định của Luật Luật sư, Nghị định quy định chi tiết vàhướng dẫn thi hành một số điều của Luật Luật sư
Luật Luật sư 2006 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã đánh dấu mộtgiai đoạn phát triển mới đối với các quy định về hành nghề của tổ chức hànhnghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Tóm lại, từ khi ra đời năm 1992 đến nay, chế định về hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài đã trải qua bốn giai đoạn phát triển gồm:
+ Giai đoạn thứ nhất: giai đoạn Nghị định 42/CP có hiệu lực (từ năm
Trang 33nhanh (ban hành 4 văn bản trong vòng 11 năm), về nội dung có rất nhiều thay đổi lớn theo chiều hướng xoá bỏ các hạn chế, tự do hoá thị trường dịch
vụ pháp lý, mở rộng phạm vi, hình thức hoạt động của các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài
Trang 34Chương II Những quy định pháp luật trước khi luật luật sư 2006
có hiệu lực thi hành
Trước khi Luật Luật sư 2006 được ban hành, chế định về hoạt động của tổchức luật sư nước ngoài đã trải qua ba giai đoạn phát triển trên cơ sở ba văn bản
là Nghị định 42/CP năm 1995, Nghị định 92/1998/NĐ-CP và Nghị định87/2003/NĐ-CP Như vậy, nghiên cứu các quy định pháp luật trước khi LuậtLuật sư 2006 được ban hành chính là việc phân tích, so sánh, đánh giá ba Nghịđịnh trên và các văn bản pháp luật có liên quan Để phân tích một cách toàndiện, khoa học, trên cơ sở đó rút ra những kết luận chính xác, phù hợp với nộidung nghiên cứu, Luận văn sẽ so sánh, đánh giá chế định về hoạt động của tổchức luật sư trong ba giai đoạn trên theo những nội dung sau:
- Khái niệm “tổ chức luật sư nước ngoài”, “luật sư nước ngoài”
- Các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo đảm đầu tư đối với tổ chức luật sưnước ngoài
- Nguyên tắc hành nghề, điều kiện hành nghề
1 Khái niệm về “Tổ chức luật sư nước ngoài”, “luật sư nước ngoài”
Khái niệm “tổ chức luật sư nước ngoài” và “luật sư nước ngoài” không
được quy định trong ba Nghị định của Chính phủ về hành nghề của tổ chức luật
sư nước ngoài đã nói ở trên nhưng được nêu rõ trong các Thông tư hướng dẫnthi hành của Bộ Tư pháp
Trang 35Thông tư số 791/TT-LSTVPL của Bộ Tư pháp ngày 08/09/1995 hướngdẫn thi hành quy chế hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam banhành kèm theo Nghị định số 42/CP (sau đây sẽ gọi là Thông tư số 791/TT-LSTVPL) chỉ nêu khái niệm về tổ chức luật sư nước ngoài tại khoản 1.2 nhưsau:
“Tổ chức luật sư nước ngoài quy định tại Quy chế là tổ chức hành nghề tư vấn pháp luật của nước ngoài được thành lập và đang hoạt động phù hợp với pháp luật của nước nơi đặt trụ sở chính của tổ chức đó.”
Một điểm thiếu sót của Thông tư này là chưa nêu khái niệm “luật sư nước ngoài” mặc dù khái niệm này đã được nhắc đến tại điều 7 Quy chế hành
nghề của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài
Thông tư số 08/1999/TT-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định củaNghị định 92/1998/NĐ-CP ngày 10/11/1998 của Chính phủ về hành nghề tư vấnpháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây sẽ gọi là Thông
tư số 08/1999/TT-BTP) đã nêu cả khái niệm “tổ chức luật sư nước ngoài” và khái niệm “luật sư nước ngoài” tại các khoản 1.1 và 1.2 như sau:
Khoản 1.1: “Tổ chức luật sư nước ngoài nói tại Nghị định là tổ chức luật
sư được thành lập và hành nghề hợp pháp ở nước ngoài.”
Khoản 1.2: “Luật sư nước ngoài nói tại Nghị định là người nước ngoài, người Việt Nam định cư tại nước ngoài có Giấy phép hành nghề luật sư do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp”
Thông tư số 06/2003/TT-BTP ngày 29/10/2003 hướng dẫn một số quyđịnh của Nghị định 87/2003/NĐ-CP về hành nghề của tổ chức luật sư nướcngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam (sau đây sẽ gọi là Thông tư số
06/2003/TT-BTP), khái niệm “tổ chức luật sư nước ngoài” và “luật sư nước ngoài” được nêu tại các khoản 1.1 và 1.3 như sau:
Khoản 1.1: “Tổ chức luật sư nước ngoài nói tại Nghị định 87/2003/NĐ-CP
là tổ chức hành nghề luật sư được thành lập và hành nghề hợp pháp ở nước ngoài.”
Trang 36Khoản 1.3: “Luật sư nước ngoài nói tại Nghị định 87/2003/NĐ-CP là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có Giấy phép hành nghề luật
sư do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của nước ngoài cấp.”
Như vậy, khái niệm “tổ chức luật sư nước ngoài” quy định tại ba Thông
tư trên về cơ bản là tương đồng và có hai điểm đáng lưu ý sau:
- Thứ nhất, đó phải là tổ chức hành nghề luật sư được thành lập hợppháp theo pháp luật nước nơi đặt trụ sở chính của tổ chức hành nghề luật
sư đó
- Thứ hai, tổ chức hành nghề luật sư này phải vẫn đang hoạt động hợppháp theo pháp luật nước nơi đặt trụ sở chính của tổ chức hành nghề luật
sư đó
Về khái niệm “luật sư nước ngoài”, chỉ được quy định trong Thông tư
08/1999/TT-BTP và Thông tư 06/2003/TT-BTP và có hai điểm đáng lưu ý sau:
- Thứ nhất, “luật sư nước ngoài” có thể là người nước ngoài hoặc người
Việt Nam định cư tại nước ngoài
- Thứ hai, phải có Giấy phép hành nghề luật sư do cơ quan, tổ chức cóthẩm quyền của nước ngoài cấp
2 Các quy định về bảo đảm đầu tư đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài
Có thể nói Chính phủ Việt Nam đã rất quan tâm tới vấn đề bảo hộ đầu tưđối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam, bằng chứng là cácquy định về vấn đề này đã xuất hiện ngay từ văn bản pháp luật đầu tiên mởđường cho các tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài vào Việt Nam là Nghị định
42/CP Trên cơ sở các quy định tại “Chương III – Biện pháp bảo đảm đầu
tư” của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1988, Quy chế hành nghề tư
vấn pháp luật của tổ chức luật sư nước ngoài ban hành kèm theo Nghị định42/CP (sau đây sẽ gọi là Quy chế hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài) đã
Trang 37có các quy định về bảo đảm đầu tư tại các Điều 2,3 và 26 của Quy chế Cụ thể,Điều 2 quy định chung về nguyên tắc đối xử của Nhà nước Việt Nam như sau:
“Chính phủ Việt Nam đảm bảo đối đãi thỏa đáng đối với tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tư vấn pháp luật tại Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam”
Các biện pháp bảo đảm đầu tư cụ thể được quy định tại Điều 3 và Điều 26bao gồm:
- Tài sản hợp pháp của tổ chức luật sư nước ngoài hành nghề tư vấnpháp luật tại Việt Nam không bị quốc hữu hóa, không bị tịch thu bằng biện pháphành chính
- Chi nhánh tổ chức luật sư nước ngoài và luật sư nước ngoài đượcchuyển ra nước ngoài thu nhập từ việc hành nghề tư vấn pháp luật theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam
Nghị định 92/1998/NĐ-CP, trên cơ sở các quy định tại “Chương III –
Biện pháp bảo đảm đầu tư” của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
1996, cũng quy định tương tự về vấn đề này tại các Điều 2, 3 và 26, chỉ có một
khác biệt nhỏ tại Điều 2 đó là so với Quy chế năm 1995 chỉ “đảm bảo đối đãi thoả đáng” thì đến năm 1998, Chính phủ đã “đảm bảo đối xử công bằng, thoả đáng”, một chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng trong lĩnh vực bảo đảm đầu tư bởi
đối với các hoạt động đầu tư nước ngoài, việc có được đối xử bình đẳng haykhông là mối quan tâm hàng đầu của bất cứ nhà đầu tư nào và là một sự bảođảm cần thiết của Nhà nước
Nghị định 87/2003/NĐ-CP quy định về vấn đề bảo đảm đầu tư đối với tổchức luật sư nước ngoài tại Việt Nam tại các Điều 2, 3 và 37 và cũng có nhữngđiểm khác biệt so với hai Nghị định trước đó Điều 2 quy định nguyên tắc khôngphân biệt đối xử như sau:
“Chính phủ Việt Nam bảo đảm không phân biệt đối xử giữa các tổ chức luật
sư nước ngoài và các luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam.”
Trang 38Như vậy, yếu tố “đối đãi thoả đáng” rất chung chung và không cần thiết
đã bị loại bỏ, quan trọng hơn là sự đảm bảo không phân biệt đối xử này đã đượcnâng lên thành nguyên tắc đối xử của Nhà nước và được áp dụng không chỉ vớicác tổ chức luật sư nước ngoài mà với cả các luật sư nước ngoài tại Việt Nam
Điều 3 quy định về bảo hộ quyền sở hữu đối với vốn đầu tư và các quyềnlợi hợp pháp khác của tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài và Điều 37quy định về chuyển thu nhập ra nước ngoài cũng có nội dung tương tự như cácquy định tại Điều 3 và 26 của hai Nghị định trước đó nhưng ngôn từ đã đượcchính xác hoá hơn và không chỉ bảo đảm quyền sở hữu đối với tài sản hợp pháp,Nhà nước còn bảo hộ các quyền lợi hợp pháp khác của tổ chức luật sư nướcngoài, luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam
Như vậy, Nhà nước Việt Nam ngay từ những quy định ban đầu đã sớmquan tâm tới vấn đề bảo hộ đầu tư đối với các tổ chức hành nghề luật sư nướcngoài tại Việt Nam và các quy định này ngày càng được hoàn thiện hơn
3 Các quy định về nguyên tắc hành nghề, điều kiện hành nghề đối với tổ chức luật sư nước ngoài
Về nguyên tắc hành nghề:
Nguyên tắc hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài được quy địnhtương tự nhau tại Điều 5 Quy chế hành nghề ban hành kèm theo Nghị định42/CP và Điều 5 Nghị định 92/1998/NĐ-CP như sau:
“Tổ chức luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài hành nghề tư vấn pháp luật tại Việt Nam phải tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam và tuân thủ pháp luật Việt Nam.”
Có hai nguyên tắc rất rõ ràng, đó là phải: (1) tôn trọng độc lập, chủ quyềncủa Việt Nam và (2) tuân thủ pháp luật Việt Nam
Nghị định 87/2003/NĐ-CP không có điều khoản quy định riêng về
nguyên tắc hành nghề đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài nhưng trongĐiều 7 quy định về điều kiện hành nghề có một quy định mang tính chất như
Trang 39một nguyên tắc hành nghề là tổ chức luật sư nước ngoài phải “có thiện chí đối với Nhà nước Việt Nam” Có thể hiểu nguyên tắc này mang ý nghĩa bao hàm cả
hai nguyên tắc đã nói trên
Về điều kiện hành nghề:
Điều kiện hành nghề đối với tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tạiViệt Nam quy tại Nghị định 42/CP và Nghị định 92/1998/NĐ-CP tương tự nhau,bao gồm hai nhóm điều kiện:
- Điều kiện về cấp phép hành nghề: tổ chức, cá nhân nước ngoài khôngđược phép hành nghề tư vấn pháp luật tại Việt Nam dưới bất kỳ hình thứcnào nếu không được sự cho phép của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền(Điều 4 Quy chế hành nghề của tổ chức luật sư nước ngoài, Điều 4 Nghịđịnh 92/1998/NĐ-CP và Điều 4 Nghị định 87/2003/NĐ-CP)
- Điều kiện về bảo đảm hành nghề: Nghị định 42/CP và Nghị định92/1998/NĐ-CP quy định chung năm điều kiện sau:
+ Có khách hàng nước ngoài hoạt động đầu tư, kinh doanh tại Việt Nam.+ Có uy tín trong hành nghề tư vấn pháp luật
+ Có thiện chí đối với Nhà nước Việt Nam
+ Có phương án hoạt động và cam kết thực hiện các nghĩa vụ của mìnhtheo các quy định của pháp luật Việt Nam
+ Có cơ sở vật chất cần thiết cho hoạt động tư vấn pháp luật
Nghị định 92/1998/NĐ-CP có thêm một điều kiện là tổ chức hành nghềluật sư nước ngoài phải được thành lập và hoạt động hợp pháp ở nước nơi tổchức luật sư nước ngoài đó mang quốc tịch
Khác với hai văn bản trên, Nghị định 87/2003/NĐ-CP chỉ quy định về
điều kiện hành nghề rất đơn giản tại Điều 7: “Tổ chức luật sư nước ngoài được thành lập và đang hành nghề luật sư hợp pháp tại nước ngoài, có thiện chí đối với Nhà nước Việt Nam, thì được phép hành nghề tại Việt Nam theo quy định của Nghị định này” Như vậy, những quy định không cần thiết hoặc mơ hồ, khó
Trang 40xác định như “có uy tín”, “có khách hàng nước ngoài”, “có cơ sở vật chất” đã
bị loại bỏ
4 Các quy định về hình thức hành nghề
Nghị định 42/CP và Nghị định 92/1998/NĐ-CP đều chỉ cho phép các tổchức luật sư nước ngoài hành nghề tại Việt Nam dưới một hình thức duy nhất làđặt Chi nhánh tại Việt Nam (Điều 8 Quy chế hành nghề của tổ chức luật sư nướcngoài và Điều 8 Nghị định 92/1998/NĐ-CP) Hơn nữa, mỗi tổ chức luật sư nướcngoài chỉ được đặt tối đa hai Chi nhánh, thời hạn hoạt động là 5 năm và đượcgia hạn mỗi lần không quá 5 năm Như vậy, hai Nghị định này đã giới hạn rấtchặt về hình thức hành nghề dẫn đến không hấp dẫn các tổ chức luật sư nướcngoài vào hành nghề tại Việt Nam Nhưng quy định như vậy cũng xuất phát từnhững quy định đối với tổ chức luật sư trong nước của Pháp lệnh tổ chức luật sư
1987 Pháp lệnh này quy định các tổ chức luật sư trong nước chỉ duy nhất baogồm Đoàn luật sư, không có một loại hình nào khác Vậy, tất nhiên các tổ chứchành nghề luật sư nước ngoài với những loại hình doanh nghiệp như công ty cổphần, công ty trách nhiệm hữu hạn… không thể hoạt động tại Việt Nam dướicác loại hình đó mà chỉ được phép đặt Chi nhánh
Pháp lệnh Luật sư 2001 ra đời đã tạo điều kiện cho những thay đổi củaNghị định 87/2003/NĐ-CP về hình thức hành nghề đối với tổ chức luật sư nướcngoài Cụ thể, Pháp lệnh Luật sư 2001 quy định hai hình thức hành nghề đối với
tổ chức luật sư trong nước là Văn phòng luật sư và Công ty luật hợp danh Trên
cơ sở đó, Nghị định 87/2003/NĐ-CP đã mở rộng các hình thức hành nghề đốivới tổ chức luật sư nước ngoài gồm 3 hình thức hành nghề được quy định tạiĐiều 8:
- Chi nhánh của tổ chức luật sư nước ngoài
- Công ty luật nước ngoài
- Công ty luật hợp danh giữa tổ chức luật sư nước ngoài và Công ty luậthợp danh Việt Nam