"Phương thức sản xuất, những quan hệ trong đó các lực lượng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật vĩnh cửu, mà chúng thích ứng với một trình độ phát triển nhất định của c
Trang 1ị Sách tham khảo lưu hành nội b ộ )
THU VIEN OAI HOC THUY SAN ' í ỉ ỉ ỉ ‘ ! ĩ ĩ ĩ l
1 0 0 0 0 0 6 4 7 6
NHÀ XUẤT BẢ
¿4&K ¿<1 ctế*l tú d
v íệ tt CỎ4, cAcc*uỹ t ô i
Trang 3TS LÊ CAO ĐOÀN
TS LÊ THỊ MINH CHÂU
TS TRẦN HỒI SINH
Trang 4LỜI NHÀ XUẤT BẢN
Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới kinh
tế (1986 - 2002), khu vực kinh tế tư nhân nước ta (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân) -
bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tê quôc dân - đã phát triển rộng khắp trong cả nưốc, đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế, huy động các nguồn lực xã hội vào sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, tăng ngân sách nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội của đất nước
Tuy nhiên, kinh tế tư nhân của nước ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, yếu kém như: quy mô nhỏ, vôn ít, công
?
nghệ lạc hậu, hiệu quả và sức cạnh tranh yếu , còn nhiều khó khăn, vướng mắc về môi trường pháp lý và môi trường tâm lý xã hội Do vậy, để tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tiếp tục phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa và có những dóng góp to lớn hơn cho nền
I kinh tê đất nước theo tinh thân Đai hôi IX cua Đáng
!
5
Trang 5cần nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề ra giải pháp đôi với việc phát triển kinh tế tư nhân.
Nhằm góp một tiếng nói về vấn đề này, Nhà xuất
bản Chính trị quôb gia xuất bản cuốn sách T h à n h p h ầ n
và c h ín h s á c h làm tài liệu tham khảo lưu hành nội bộ.
Cuốn sách được hình thành trên cơ sở một công trình khoa học câp Nhà nước đã được nghiệm thu vàcho phép tu chỉnh để xuất bản ở đây các tác giả đưa ra một cách tiếp cận riêng xuất phát từ hình thái kinh
tế - xã hội để phân chia và quản lý nền kinh tế theo ba khu vực: kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân và kinh tế hỗn hợp Song, điều cần lưu ý là, hiện nay việc phân chia nền kinh tế theo thành phần, theo loại hình, theo khu vực là một vấn đề khá phức tạp, rất nhạy cảm và đang còn là đốì tượng của các cuộc trao 'đổi, thảo luận trống giới nghiên cứu khoa học và cả các nhà quản lý thực tiễn, vì vậy cuốn sách này chỉ lưu hành nội bộ
Xin giới thiệu cuốn sách và mong nhận được ý kiến đóng góp của bạn đọc
Tháng 2 năm 2002
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ Quốc GIA
Trang 6CHƯƠNG I
NHỬNG VÃN ĐỄ LÝ LUẬN VẼ THÀNH PHẦN KINH T Ế CÁ THE,
T IÊ U CHỦ VÀ T ư BẢN T ư NHÂN
I- HỌC THUYET MAC - LENIN VE THANH PHẦN KINH TẾ
1 Cách tiếp cận nghiên cứu
Ngày nay, để đánh giá một nền kinh tế người ta
có thê căn cứ vào các chỉ sô" GDP bình quân đầu người, tôc độ, nhịp độ tăng trưởng cùng với các thành tựu vĩ
mô khác của nền kinh tế Thêm nữa, để phản ánh trình
độ phát triển của một nền kinh tế, và rộng hơn là một
xã hội, người ta dùng hàng trăm chỉ sô" khác nhau, nhò
đó đo lường được mức độ, trình độ phát triển của các mặt khác nhau hợp thành tổng thể sự phát triển của một xã hội Tuy nhiên, khi cần tìm hiểu bản chất của
xã hội đó là gì, nó đang ở nấc thang nào trong sự tiến hóa của xã hội loài người, nhất là để hiểu sâu sắc, căn bản những cơ sỏ mà dựa vào đó xã hội đang tồn tại và
7
Trang 7phát triển, tìm hiểu động lực, cơ chế, con đường, và
tổng quát hơn là quy luật kinh tế vận động, phát triển
của xã hội đó, thì hàng trăm chỉ sô" riêng lẻ đó cũng chỉ
nói được kết quả của sự phát triển mà chưa cắt nghĩa
được nguồn gốc, nguyên nhân của trạng thái phát triển
Bởi vậy, ngay trong thòi đại phát triển hiện nay, khi
mà các khoa học kinh tế, xã hội đã đạt tới trình độ phát
triển hiện đại, thì các khoa học này vẫn không thê thay
thế được cách tiếp cận hìn h thái kin h t ế - xã hội Bởi vì
cách tiếp cận này là cách tiếp cận ở tầm tư duy trừu
tượng nhất, nhờ đó đi sâu vào bản châ"t của một quá
trình kinh tế - xã hội, và cho phép nắm được quy luật
của tiến trình kinh tê - xã hội, xác định được nấc thang
trong đó một xã hội nhất định đã đạt được và đang tiến
triển, hơn nữa cho phép người ta nắm được những nền
tảng mà trên đó xã hội được hình thành và hiểu được cơ
cấu nội tại cũng như những quy luật chi phôi sự vận
động của xã hội đó
Bằng cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội,
C.Mác đã phát hiện và trình bày quy luật tổng quát của
sự phát triển của xã hội ông viết: "Trong sự sản xuất
xã hội ra đòi sông của mình, con người có những quan
hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của
họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này
phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các
lực lượng sản xuâ"t vật chất của họ Toàn bộ những
Trang 8quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó Phương thức sản xuất đời sông vật chất quyết định các quá trình sinh hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Tới một giai đoạn phát triển nào đó của phúng, các lực lượng sản xuất vật chất của xã hội mâu thuẫn với những quan hệ sản xuất hiện có, hay - đây chỉ là biểu hiện pháp lý của những quan hệ sản xuất đó - mâu thuẫn vối những quan hệ sở hữu, trong
đó từ trước đến nay các lực lượng sản xuất vẫn phát triển Từ chỗ là những hình thức phát triển của các lực lượng sản xuâT, những quan hệ ấy trở thành những xiềng xích của các lực lượng sản xuất Khi đó bắt đầu thời đại một cuộc cách mạng xã hội Cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng "1
Qua sự trình bày trên của C.Mác, ta thấy: a) Xã hội vận động trong sự thông nhất của cơ sở hạ tầng kinh tê với thượng tầng chính trị xã hội Sự thống nhất này định vị xã hội tồn tại trong một hình thái kinh tế -
xã hội nhất định; b) Quan hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế
và thượng tầng chính trị xã hội là mối quan hệ biện
1 C.Mác và Ph Ăng ghen: Toàn Nxb Chính trị quổc gia, Hà Nội, 1993, t.13, tr 14 - 15.
9
Trang 9chứng, giữa chúng có vị trí độc lập tương đối, song cơ sở
hạ tầng kinh tế là cái quyết định Bởi vậy, để hiểu thượng tầng chính trị xã hội phải xuất phát từ hạ tầng
cơ sở kinh tế; c) Phương thức sản xuất là hạt nhân của hình thái kinh tế - xã hội Đây là khái niệm trung tâm
để phản ánh và giải thích sự tiến triển của nền kinh tế
xã hội Do vậy chính sự vận động của phương thức sản xuất là cái quyết định tiến trình phát triển của xã hội loài người Lịch sử của xã hội loài người là lịch sử thay đổi và phát triển của phương thức sản xuất
Theo cách trình bày trên, phương thức sản xuất là khái niệm dùng để chỉ cách thức người ta quan hệ với nhau như thế nào và bằng những lực lượng sản xuất gì
để sản xuất ra đòi sông vật chất của sự tồn tại và phát triển của mình Đó là sự thông nhất giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong việc sản xuất ra đời sông vật chất, hình thành nên cơ sơ kinh tế cho sự phát triển xã hội Nó quy định cơ cấu, cơ chế, động lực và phương hướng tiến triển của tiến trình kinh tế - xã hội Mặt khác, phương thức sản xuất xác định trình độ, bản chất phát triển của một giai đoạn lịch sử, xác lập một thời đại kinh tế - xã hội nhất định C.Mác đặc biệt nhấn mạnh khái niệm trung tâm này trong khi xem xét sự
vận động, phát triển của xã hội, nhất là trong thời, đại
chuyển biến m ang tính cách m ạng từ hình thái kin h tê -
xã hội này sang hình thái kinh tê - xã hội k h á c Ong
Trang 10viết: "Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người thay đối phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách kiếm sông của mình, loài người thay đối tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái côi xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cốì xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội
có nhà tư bản công nghiệp"1 Chính sự tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong quá trình sản xuất ra của cải, đã là cái dẫn tới sự vận động, phát triển của nền sản xuất xã hội "Phương thức sản xuất, những quan hệ trong đó các lực lượng sản xuất phát triển, đều không phải là những quy luật vĩnh cửu,
mà chúng thích ứng với một trình độ phát triển nhất định của con người và của những lực lượng sản xuất của con người, và bất kỳ sự thay đổi nào trong lực lượng sản xuất của con người đều tất phải dẫn đến một sự thay đổi trong những quan hệ sản xuất của con người
Vì điều quan trọng trước tiên là để khỏi bị tước mất những thành quả của văn minh, những lực lượng sản xuất đã đạt được, thì phải đập tan những hình thức cổ truyền trong đó những lực lượng sản xuất ấy đã được sản sinh ra"2
Như vậy, có thể nói, quy luật tương tác giữa lực
1 C.Mác và Ph.Ảnggh<en: Toàn tập , Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1995 t.4, tr 187.
2 S đ d , tr 201 - 202.
11
Trang 11lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, hay quy luật thích ứng giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là quy luật của sự thay đổi trong phương thức sản xuất và đến lượt mình,
sự thay đổi phương thức sản xuất là nội dung, thực chất của sự phát triển của xã hội loài người, hay ngược
lại, sự p h á t triển của xã hội là sự thay th ế của các
phương thức sản xuất C.Mác đã xem sự tiến triển của
xã hội loài người "là một quá trình lịch sử - tự nhiên"1 bởi vì tiến trình xã hội loài người diễn ra tuân theo sự thay thế mang tính quy luật của các phương thức sản xuất, phướng thức sản xuất sau tiến bộ và cao hơn phương thức sản xuất trước Quy luật thép này được ông nhấn mạnh: "Không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ
mà nó có thể giải quyết được, vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy
1 C.Mác và Ph.Ảngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1993, t 23 , tr 21?
Trang 12sinh khi những điều kiện vật chất đế giải quyết nhiệm
vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành”1 C.Mác cũng đưa ra lược đồ tiên triển của phương thức sản xuất của xã hội loài người là sự thay thế nhau của các phương thức sản xuất: "Vê đại thể, cóthể coi các phương thức sản xuất châu Á, cổ đại, phong kiến và tư sản hiện đại là những thời đại tiến triển dần dần của hình thái kinh tế - xã hội"2
Nguyên lý duy vật lịch sử về sự vận động phát triển của xã hội tuân theo quy luật "quan hệ sản xuất phải thích ứng với trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất" là kim chỉ nam cho người ta hiểu sự hình thành và phát triển của một xã hội và định vị tính chất, bản chất của một hình thái kinh tế - xã hội Chính C.Mác là người vận dụng thành công siêu việt nguyên
lý duy vật này vào phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, nhờ đó ông đã phát hiện ra quy luật vận động nội tại và bản chất tư bản chủ nghĩa của nền kinh tế này Cách tiếp cận của ông để nghiên cứu quy luật vận động và bản chất của kinh tế tư bản chủ nghĩa là cách tiếp cận phương thức sản xuất Ông viết: "Trong tác phẩm này, đốì tượng nghiên cứu của tôi là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và những quan hệ sản xuất
1 C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 1993, t 13, tr 15 - 16.
2 S đd, tr 16.
13
Trang 13và trao đổi thích ứng với phương thức ấy”1 Chính ihờ cách tiếp cận này, ông đã chỉ ra quy luật giá trị thmg
dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản Guy luật giá trị thặng dư, một mặt, phản ánh bản chất tư bản chủ nghĩa, tức là bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản; mặt khác quy luật giá trị thặng dư là quy liât tăng lên của giá trị, do vậy là quy luật kinh tế của sự tăng trưởng hiện đại Chính quy luật kinh tế này khến cho phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trơ thềnh phương thức tăng trưởng và phát triển Có thể lói, nhân loại đã bưốc vào thòi đại phát triển bằng phưcng thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
V.I.Lênin, khi nghiên cứu xã hội Nga trước Cich mạng Tháng Mười, cũng tiếp cận từ phương thức íản
xuất Tác phẩm Sự p h á t triển của chủ nghĩa tư bả) ở
Nga xuất bản năm 1899 là một thành công đặc biệt (ủa
cách tiếp cận phương thức sản xuất Qua tác phẩm my,
ta thấy xã hội Nga lúc đó đang diễn ra một sự thay lổi sâu sắc trong phương thức sản xuất Đó là xã hội đmg
ở bước đầu của sự chuyển biến từ một xã hội chậm piát triển chuyển sang xã hội thị trường công nghiệp với sự chi phôi của tư bản Lênin đã phân tích một cách íâu sắc quá trình tan rã của các phương thức sản xuất tền
tư bản chủ nghĩa lạc hậu, lỗi thời và sự xác lập cần phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với các hnh
Trang 14thức manh nha và sơ khai của tư bản thương mại, công nghiệp.
Cách tiếp cận phương thức sản xuất của C.Mác có
những điếm cần nhấn mạnh: Thứ nhất, cách tiếp cận
phương thức sản xuất là cách tiếp cận nhằm vạch ra quy luật vận động, phát triển của một nền kinh tế Nó nhấn mạnh cơ cấu, cơ chế, động lực kinh tê của sự phát triển, do vậy cách tiếp cận phương thức sản xuất là
cách tiếp cận phát triển Thứ hai, cách tiếp cận phương
thức sản xuất không chủ yếu mô tả những chủ thể tham gia phương thức sản xuất với tính cách những cá nhân riêng lẻ, mà nhấn mạnh đến các quan hệ kinh tế trong đó con người với tính cách cá thể tham gia vào các phương thức sản xuất khác nhau đó Con người, đó là đại biểu của các quan hệ sản xuất lập thành cơ sở, kết cấu kinh tế của phương thức sản xuất C.Mác viết: "tôi chỉ nói đên những con người trong chừng mực mà họ là hiện thân của những phạm trù kinh tế, là kẻ đại biểu
cho những quan hệ và những lợi ích giai cấp nhất
định"1 Nói khác di, con người ở đây đã được hóa thân thành con người kinh tế, con người giai cấp
Thứ ba, cách tiếp cận phương thức sản xuất không
chỉ là cách tiếp cận nhờ đó đi sâu vào bản chất, quy
1 C.Mác và Ph.Ảngghen: T oan tập, Nxb Chinh trị quôc gia, Hà
Nội, ] 993, t 23, tr 21.
15
Trang 15luật kinh tế của sự vận động, phát triển của một xã hội,
mà nó còn cung cấp những cơ sờ đ ể hiểu tiến trình xã
nắm được kết cấu xã hội, đ ặc biệt là kết cấu g ia i cấp,
th ể chế, chính sách một xã hội Thật vậy, quan hệ sản
xuất là hình thái tồn tại và phát triển của lực lượng sản
xuất Là hình thái tồn tại của lực lượng sản xuất, quan
hệ sản xuất là kết cấu nội tại của lực lượng sản xuất, vì
vậy, "Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy họp thành cơ
cấu kinh tê của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực "
Chính kết cấu kinh tế này quy định địa vị và vai trò
của các tầng lớp xã hội tham gia vào guồng máy kinh tế
của xã hội Nói khác đi, các giai tầng xã hội được xác
lập trên nền tảng kết cấu kinh tế, do hệ thông quan hệ
sản xuất quy định Bởi vậy, chính phương thức sản
xuất là cái quy định địa vị và vai trò của tầng lớp dân
cư xã hội tham gia vào sản xuất, là cái quy định địa vị
và vai trò của các tầng lớp dân cư xã hội tham gia vào
quá trình kinh tê và rốt cuộc quy định sự phân chia xã
hội thành các giai cấp‘như thế nào
Gắn với mỗi phương thức sản xuất là một kiểu kết
cấu xã hội, giai cấp nhất định Bởi vậy, xuất phát từ
phương thức sản xuất, người ta có thể hiểu được không
những con người kinh tế, mà cả con người xă hội, chính
Trang 16trị gắn với các phương thức sản xuất đang tồn tại trong nền kinh tế Mặt khác, các phương thức sản xuất đồng thời chứa đựng lợi ích kinh tê mà các quan hệ sản xuất gắn bó trong đó, vì thế, đến lượt mình, các tầng lớp, giai cấp là đại biểu của các quan hệ sản xuất, các lợi ích kinh tế nhất định, cho nên, chính phương thức sản xuất, thông qua lợi ích kinh tế, đã quyết định thái độ chính trị của giai cấp, cũng như phương thức ứng xử trước những biến động trong lòng nền kinh tế, xã hội V.I.Lênin đã chỉ ra: chính trị, xét cho cùng là cái tập trung cao nhất của kinh tế Vì thế, sự hình thành những lực lượng chính trị xã hội và những diễn biến về chính trị xă hội, những khuynh hướng chính trị khác nhau xung đột trong một cuộc đấu tranh giai cấp, chính trị - chỉ là biểu hiện trên bê mặt của những xung đột trong phương thức sản xuất, trong các lợi ích kinh tế Chính điều này quy định rằng, đê hiểu những chuyển biến chính trị xã hội và nhất là những bước ngoặt trong tiến trình xã hội từ xã hội này sang xã hội khác, đặc biệt là các cuộc cách mạng xã hội, tất yếu phải phân tích ở cấp độ phương thức sản xuất Bởi vậy, phân tích
sự chuyển biến bên trong phương thức sản xuất, xác định sự tan rã của các phương thức sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa và sự xác lập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, các nhà kinh điển C.Mác - V.I.Lênin muốn nắm cái gốc rễ và những nên tảng của tiên trình
1 7
Trang 17tổng quát của chủ nghĩa tư bản, cũng như con đường, quy luật vận động, phát triển của xã hội loài người xuyên qua chủ nghĩa tư bản dó như thê nào, từ dó hiểu được sự hình thành, phát triển của chủ nghĩa xã hội với
tư cách là một phương thức sản xuất ra sao Nói khác
đi, để xây dựng học thuyết về chủ nghĩa xã hội với tư cách là một hình thái kinh tế - xã hội, tất yếu phải mổ
xẻ, nắm được quy luật kinh tế của chủ nghĩa tư bản, nhờ đó, có thể hiểu được quy luật phát sinh, phát triển của chủ nghĩa xã hội Ph.Angghen đã chỉ ra, nhò sự phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư, quy luật kinh tế
cơ bản của chủ nghĩa tư bản mà C.Mác đã biến chủ nghĩa xã hội từ không tương thành chủ nghĩa xã hội khoa học
Như vậy, mục tiêu lý luận cuôi cùng của việc phân tích phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa của C.Mác không dừng ở chỗ nắm được quy luật kinh tê của
sự vận dộng phát triển của xã hội tư bản chủ nghĩa mà
ở chỗ vạch ra cơ sở khách quan của sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản và sự ra đòi, phát triển của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa Đến lượt mình, lý luận
về sự diệt vong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự ra đòi của phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa đã trở thành v ũ khí lý luận và nguồn cổ V Ü cho giai cấp vỗ sản, là giai cấp sinh thành trong phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa song là giai cấp đại
Trang 18diện cho phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa Trong cuộc đấu tranh cách mạng nhằm lạt đổ giai cấp tư sản, việc phân tích sự phát triển chủ nghĩa tư bản ỏ Nga của V.I.Lênin cũng không ngoài mục đích tìm hiểu những cơ sở khách quan cho cuộc đấu tranh cách mạng, nhằm tiên tối xây dựng chủnghĩa xã hội ở Nga ở đây việc phân tích sự chuyển biến trong các phương thức sản xuất của nền sản xuất
xã hội chính là tìm đến cội nguồn của những diễn biến trong xã hội Nga, phát hiện ra những lực lượng xã hội trong cuộc đấu tranh giai cấp cùng những động lực thúc đẩy xã hội Nga, để hiểu được tính tất yếu của sự hình thành phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa ở đây, cũng như con đường thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, từ
đó, xây dựng lý luận về chiến lược, sách lược cho cách mạng Nga và cho sự xác lập chủ nghĩa xã hội ở Nga
Có thể nói, cách tiếp cận phương thức sản xuất là cách tiếp cận xuyên suốt trong những phân tích của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác-Lênin về những chuyển biến chính trị xã hội trong mối quan hệ với việc xác lập quan điểm, thai độ đôi với các tiến trình kinh tế -
xã hội, đối với phong t rào chính trị cũng như đổì với các
sự kiện chính trị xã hội đương thời Sự kiện chính trị gây kinh ngạc ỏ Pháp, cuộc đảo chính của Lui Bônapáctơ ngày 2 tháng chap năm 1851, đã làm nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau, nhưng rốt cuộc, như Ph.Ãngghen
19
Trang 19viết: "là một sự kiện làm cho ai cũng kinh hoàng và không hiểu ra sao cả" Nhưng với cách tiếp cận phương thức sản xuất, C.Mác đã vạch rõ bản chất kinh tê chính trị của cuộc chính biến đó Ph.Angghen nhận định vê
"Tác phẩm kinh tế chính trị của Lui Bônapáctơ^rằng:
"Chính C.Mác là người đầu tiên khám phá ra cái quy luật vĩ đại của sự vận động lịch sử, cái quy luật theo đó tất cả các cuộc đấu tranh trong lịch sử không kê là nó diễn ra trong địa hạt chính trị, tôn giáo, triết học, hay trên bất kỳ địa hạt tư tưỏng nào khác, thực ra, chỉ là biểu hiện ít nhiều rõ rệt của cuộc đấu tranh của các giai cấp trong xã hội, còn sự tồn tại của các giai cấp này và cùng với nó là những môi xung đột giữa các giai cấp với
nhau, cũng đều được quyết định bởi trình độ p h á t triển
của hoàn cảnh kinh t ế của họ, hởi tính chất của phương thức sản xuất và bởi sự trao đôi do tính chảt phương thức sản xuất quyết đ ịn h Quy luật đó, đối với lịch sử
cũng quan trọng như quy luật chuyển hóa năng lượng đôì với khoa học tự nhiên, quy luật đó ở đây cũng đem lại cho C.Mác cái chìa khóa để hiểu được lịch sử của nền cộng hòa đệ nhị của Pháp"1
Thứ tư, phương thức sản xuất không phải là cái
nhất thành bất biến Có thể thấy, quy luật quan hệ sản xuất thích ứng vối tính chất và trình độ phát triển của
1 C.Mác và Ph.Ảngghen, Tuyên tập, Nxb Sự thật, Hà Nội,
1981, t 2, tr 358.
Trang 20lực lượng sản xuất dã giải thích, phương thức sản xuất luôn được dặt trong quá trình biến đổi không ngừng Phân tích quy luật vận dộng, phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, C.Mác nhấn mạnh "xã hội ngằy nay (xã hội tư bản chủ nghĩa) không phải là khôi kết dính vững chắc, mà là một cơ thể có khả năng biến đôì và luôn luôn ở trong quá trình biến đổi" Sự biến đổi này khiến cho phương thức sản xuất tiến tới chỗ trưởng thành và dưới tác động của quy luật quan
hệ sản xuất phải thích ứng với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, rốt cuộc trở nên không còn thích hợp và phải chuyển sang một phương thức sảnxuất khác, ở bước chuyển đổi giữa hai phương thức sản xuất, phương thức sản xuất cũ đã lỗi thời, nhưng đang còn hiện hữu và phương thức sản xuất mới đã hình thành, nhưng chưa trơ thành phương thức sản xuất thông trị, tại thời điểm này, sẽ xác lập thời kỳ quá độ
Thời kỳ quá độ là thời kỳ diễn ra sự chuyển đổi của hai phương thức sản xuất Trong thòi kỳ chuyển đổi này,
tất nhiên sẽ tồn tại cùng một lúc ít nhất hai phương thức sản xuất đại diện cho hai xu thế: một phương thức sản xuất của thời đại kinh tế cũ, lỗi thòi, đang suy vong
và phương thức sản xuất của thời đại kinh tế mối, là phương thức quyết định sự tiến triển đi lên của xã hội
Thứ năm, có hai loại phương thức sản xuất: phương
thức sản xuất chính, dặc trưng cho một thời đại kinh tế,
21
Trang 21làm nòng cốt cho một hình thái kinh tê - xã hội đó là phương thức sản xuất thông trị của một xã hội; và bên cạnh phương thức sản xuất chính, thông trị, tồn tạị các phương thức sản xuất phụ Sở dĩ có những phương thức sản xuất phụ là do tính đa dạng của lực lượng sản xuất, trạng thái nhiều tính chất và cấp độ phát triển của lực lượng sản xuất tồn tại bên cạnh nhau Thích ứng với các lực lượng sản xuất đa dạng, nhiều cấp độ này là những quan hệ sản xuất thích hợp, do đó tạo thành những phương thức sản xuất phụ trong một tống thể của một nền sản xuất Những phương thức sản xuất phụ này không quyết định đến bản chất của một xã hội, song chúng tham gia hình thành những tính chất và những nét đặc trưng, đặc thù của một giai đoạn phát triển của xã hội Bản chất và quy luật kinh tế tống quát của tiến trình kinh tế của một xã hội được quyết định bởi phương thức sản xuất chính, thông trị Các phương thức sản xuất phụ thường là phương thức sản xuất phái
sinh, phụ thuộc, chúng cùng với phương thức sản xuất
chính, thống trị, hợp thành m ột hệ thống p h át triển của một nền kinh t ế nhất định.
Sự tiến triển của một xã hội luôn là tổng thể của
ba nội dung hợp thành trong một mổì quan hệ biện chứng, nhân quả, đó là: kinh tế, xã hội, chính trị, và trong xã hội hiện đại, có thêm nội dung môi trường Tiêp cận phương thức sản xuất chính là tiếp cận tổng
Trang 22thể Một mặt, nó cho phép nắm được sự phát triển kinh
tê của xã hội, mặt khác, nó cho phép nắm được cơ cấu chính trị, xã hội của xã hội đó Đặc biệt, ở các bước ngoặt lịch sử, khi diễn ra các cuộc cách mạng xã hội, tức là khi thay đổi trong phương thức sản xuất, xác lập những hình thái kinh tê xã hội mới, thì việc phân tích phương thức sản xuất trở nên đặc biệt quan trọng
2 Sự ra đời của khái niệm thành phần kinh tê
Khi chuẩn bị lý luận cho cách mạng vô sản Nga, V.I.Lênin đã nghiên cứu cơ bản xã hội Nga trên cơ sở phân tích sự chuyển biến trong nền kinh tế Như trên
đã trình bày, thực chất việc nghiên cứu này của V.I.Lênm là phân tích sự hình thành chủ nghĩa tư bản
ở Nga, là nội dung quyết định tiến trình kinh tế - xã hội Nga lúc bấy giò Phân tích ở góc độ phương thức sản xuất, V.I.Lênin một mặt vạch ra thực chất và quy luật phát triển ỏ Nga là gì, mặt khác, vạch ra tính chất, bản chất và những lực lượng chính trị tham gia vào tiến trình xã hội ở Nga là thế nào, từ đây đi tới chủ thuyết
vê cách mạng ở Nga là gì, con dường dẫn tới cách mạng
vô sản ở dây sẽ ra sao?
TỚI năm 1918, khi đã trỏ thành người đứng đầu
nhà nước vô sản, V.I.Lênin lại một lần nữa xem xét xã
hội Nga đẽ từ đây địn h ra con đường, chiên lược, sách lược cho tiến trinh xã hội chủ nghĩa ở đây Tuy nhiên,
23
Trang 23nội chiến đã xảy ra, nên trên thực tê đã không thực thi tiến trình xã hội chủ nghĩa theo những phân tích của V.I.Lênin vào năm 1918 Nội chiến đã buộc nước Nga Xôviết áp dụng mô hình kinh tê "cộng sản thời chiến"
Mô hình kinh tê này đã giúp nước Nga Xôviêt non trẻ vượt qua được tình thế "thù trong, giặc ngoài", chiến thắng và củng CO' được chính quyền Tối năm 1921 khi nội chiến đã kết thúc, cũng là lúc nền kinh tê lâm vào nguy khôn Nếu mô hình "cộng sản thời chiến" giúp cho nhà nước Xôviết thắng được "thù trong, giặc ngoài" và
đứng vững, thì cũng chính mô hình đó đã đây nên kinh
tế Nga vào chỗ mất động lực và xuất hiện những phản kháng của nông dân, thậm chí đã có những cuộc bạo động Tình hình lúc đó đã làm cho mô hình kinh tế
"cộng sản thời chiến" không còn thích hợp, và chấm dứt
* vai trò lịch sử của nó V.I.Lênin đã khởi xướng chính
sách "kinh tế mới" thay cho chính sách "cộng sản thời chiến" Đổi với V.I.Lênin, chính sách "kinh tế mới" thực chất là tiếp tục thực thi con đường phát triển kinh tế và tiến trình xã hội chủ nghĩa ở Nga trên cơ sở những phân tích của ông năm 1918, mà những phân tích này
đã được trình bày trong tác phẩm v ề bệnh ấu trĩ "tả
khu yn h" và tính tiểu tư sản.
Sự phân tích nền kinh tế nưốc Nga năm 1918 của
V.I.Lênin chính là việc xác định điểm xuất p h á t kinh t ế
của tiến trinh xă hội chủ nghĩa ở nước Nga lúc đó.
Trang 24Chính trong tác phẩm v ề bệnh ấu trĩ "tả khuynh"
và tính tiểu tư sản, lần đầu tiên V.I.Lênin đ ề xuất kh ái niệm thành p h ần kinh tế Nền kinh tế Nga lúc đó là
nền kinh tê quá độ, tức là nền kinh tế mà trong đó đang diễn ra quá trình chuyên đối trong các phương thức sản xuất V.I.Lênin dùng khái niệm thành phần kinh tế đê chỉ kết cấu của nền kinh tế đó: một nền kinh tế VỐI một kết cấu gồm nhiều thành phần kinh tế khác nhau hợp thành V.I.Lênin viết: MCó lẽ, không một người nào khi nghiên cứu vấn đề kinh tê của nước Nga lại phủ nhận tính chất quá độ của nền kinh tê ấy
Vậy thì danh từ quá độ có nghĩa là gì? Vận dụng vào kinh tế, có phải nó có nghĩa là trong chế độ hiện nay có những thành phần, những bộ phận, những mảnh của cả chủ nghĩa tư bản lẫn chủ nghĩa xã hội không? Bất cứ ai cũng đều thừa nhận là có Song không phải mỗi người thừa nhận điểm ấy đều suy nghĩ xem các thành phần của kết cấu kinh tế - xã hội khác nhau hiện có ở Nga, chính là như thế nào Mà tất cả then chốt của vấn đề lại chính là ở chỗ đó"1 Khi nêu khái niệm thành phần kinh tế, V.I.Lênin không định nghĩa thành phần kinh tê là gì ông đặt ba khái niệm ngang nhau: a) "thành phẩn", b) "bộ phận" và c) "mảnh" Đó là những cái chứa dựng những phương thức sản xuất khác
1 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1977, t.36, tr 362.
25
Trang 25nhau Mỗi phương thức sản xuất lại đặc trưng cho một loại hình kinh tế tương ứng Nêu những khái niệm này, V.I.Lênin chỉ đơn giản là cung cấp một cách nhìn, cách hiểu vê một kết cấu kinh tế đa dạng, một kêt cấu gồm nhiều cấp độ phát triển với nhiều tính chất khác nhau cùng tồn tại bên nhau trong thời kỳ quá độ ở đây, thoạt tiên, V.I.Lênin dùng nhiều cách biểu đạt một kết cấu gồm nhiều thành tô" đa dạng, chỉ đơn thuần để nhấn mạnh tính quá độ của kết cấu đó, sau đó, nhấn mạnh các thành phần của kết cấu kinh tế đó là đặc biệt khác nhau mà sự khác nhau ở đây xét cho cùng là khác nhau
vể phương thức sản xuất, ở khía cạnh tính chất và cấp
độ khác nhau Chỉ hiểu được sự khác nhau đó mới hiểu được thực chất điểm xuất phát kinh tế của nước Nga như thế nào trong tiến trình xã hội chủ nghĩa sắp tới
V.LLênin cho rằng nước Nga lúc đó đại thể có 5 thành phần kinh tế Đó là:
1) kinh tế nông dân kiểu gia trưởng, nghĩa là một phần lớn có tính chất tự nhiên;
2) sản xuất hàng hóa nhỏ (trong đó bao gồm đại
đa sô" nông dân bán lúa mì);
3) chủ nghĩa tư bản tư nhân;
4) chủ nghĩa tư bản nhà nước;
5) chủ nghĩa xã hội1
Trang 26ơ đây có hai điều cẩn làm rõ là thành phần kinh
tế là gì và ý nghĩa của viộc dùng khái niệm này ra sao? V.I.Lênin không đưa ra định nghĩa về thành phần kinh
tế là gì, song qua cách phân loại, khu biệt thành phần kinh tế, ta thấy: một là, hạt nhân của thành phần kinh
tế là loại hình phương thức sản xuất, h ai là, tính chất
và cấp độ phát triển khác nhau của phương thức sản xuất Tuy nhiên, V.I.Lênin vẫn không đồng nhất phương thức sản xuất với thành phần kinh tế Bởi vì, phương thức sản xuất là khu biệt loại hình trong đó một hoạt động kinh tế tiến hành theo phương thức nào, do đó qua phương thức sản xuất xác định được bản chất và trình độ phát triển của loại hình hoạt động kinh tế đó Nhưng nói tới thành phần kinh tế là đã giả định các phương thức sản xuất cấu tạo nên thành phần kinh tế trong một cơ cấu kinh tê của một nền kinh tê nhất định Khi đó, các hoạt động kinh tế cùng một loại hình phương thức sản xuất được gộp lại thành một "bộ phận" của cơ cấu tổng thể của nền kinh tế Rõ ràng, theo cách khu biệt, sắp xếp thành phần kinh tế trên, V.I.Lênin hoàn toàn có thể dùng phương thức sản xuất để thay
cho khái niệm thành phần kinh tế để chỉ các loại hình
kinh tê hợp thành cơ cấu của nên kinh tế: Phương thức
sản xuất xã hội chu nghĩa, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, phương thức sản xuất tư bản nhà nước, phương thức sản xuất của những người sản xuất hàng
27
Trang 27hóa nhỏ và phương thức sản xuất của kinh tê gia trưởng tự cung tự cấp, và do đó, có thể nói, bước vào năm 1918, trong nền kinh tế nước Nga đang tồn tại 5 phương thức sản xuất, tác động xen kẽ nhau; hoặc không gọi là phương thức sản xuất, thì gọi là loại hình kinh tế cũng vậy Chính V.I.Lênin sau khi gọi các phương thức sản xuất là thành phần kinh tế, ông cũng
đã dùng khái niệm "loại hình kinh tế" để chỉ sự khác biệt giữa các phương thức sản xuất trong hệ thông kinh
tế ở Nga năm 1918 ông viết: "Nước Nga rộng lớn và hỗn tạp đến mức các loại hình khác nhau của kết cấukinh tế - xã hội đều xen kẽ với nhau ở trong nó"1, ở đây, khái niệm "thành phần", "loại hình" kinh tế, thậm chí
"bộ phận", "mảnh" là ngang nhau, nó dùng để chỉ các phương thức sản xuất của một nền kinh tế Trong nền kinh tế, những hoạt động kinh tế nào tiến hành theo phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa thì xếp vào loại hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, những hoạt động kinh tế nào theo phương thức tư bản chủ nghĩa thì xếp vào loại hình, hay thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa
Thoạt nhìn, khái niệm "thành phần kinh tế" hay
"loại hình kinh tế" chưa nói lên điều gì Cái quyết định chính là ở tính quy định của phương thức sản xuất Tuy nhiên khi có sự xếp loại các phương thức sản xuất vào
Trang 28các thành phần kinh tế khác nhau, thì đã xuất hiện một tính chất mới Ta thấy rằng, V.I.Lênin khi phân tích nền kinh tế Nga, hơn nữa dã phân tích trên một
quy mô lón khi viết cuốn Sự p h át triển chủ nghĩa tư
bản ở N ga, ông đã tiếp cận từ phương thức sản xuất,
phân tích sự chuyển biến của các phương thức sản xuất
ở đây, song ông đã không dùng khái niệm "thành phần
kinh tế" đế xếp loại các phương thức đó Bởi vì, mục đích ở đây là nhận thức quy luật phát triển của nền kinh tế như là nền tảng trên đó diễn ra sự chuyển biến trong các tiến trình xã hội, chính trị của xã hội Nga Nhưng năm 1918, bôi cảnh chính trị ở nước Nga đã thay đổi: Cách mạng Tháng Mười thành công, Nhà nước vô sản được thiết lập và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đã trở thành vấn đề thực tiễn trực tiếp Lúc này nhận thức cần nâng lên quan điểm, thái độ chính trị và chính sách đổi với việc chuyển biến của các phương thức sản xuất Lúc này, khái niệm phương thức sản xuất mang tính trừu tượng của tư duy không đủ để chỉ đạo hành động thực tiễn, hơn nữa, hành động cách mạng: hành động thay đổi phương thức sản xuất cũ và thiết lập phương thức sản xuất mới, do đó, đã xuất hiện khái niệm thành phần kinh tế Các phương thức sản xuất đã được khu biệt, được xếp loại và định vị vào từng thành phần kinh tê thích hợp
Ó đây cần nhắc lại: gắn với mỗi phương thức sản
29
Trang 29xuất có một đại biểu kinh tế, một chủ thể kinh tê nhất định Khái niệm thành phần kinh tế đã có một sự chuyển dịch quan trọng: nó dã định vị, xếp loại các loại hình kinh tế, hơn nữa còn xếp loại các chủ thê kinh tê vào những bộ phận, thành phần kinh tê nhất định Trong thành phần kinh tế này, các chủ thê kinh tê đã khu biệt nhò tên gọi các phương thức sản xuất chi phôi hoạt động kinh tế của họ Song, khi họ đại biểu cho phương thức sản xuất, thì đồng thời họ cũng đại diện cho giai cấp tương ứng, đại diện cho những lợi ích,
những lực lượng và xu thê chính trị nhất định Vì thê,
với cách gọi thành p h ầ n kinh tế, thi không chỉ khu biệt phương thức sản xuất, m à đã đẩy tới chỗ khu biệt g iai cấp và hơn nữa, thàn h p h ần g iai cấp gắn với thành
p h ần kinh tế Tất nhiên, kinh tế và giai cấp, thành
phần kinh tê và thành phần giai cấp là những khái niệm riêng biệt, không đồng nhất với nhau, song lại
quan hệ mật thiết với nhau Thành phần kinh t ế là nền
tảng của thành p h ầ n g iai cấp Bởi vậy, kh i chuyền từ
kh ái niệm phương thức sản xuất sang kh ái niệm thành
p h ần kinh tế, thông qu a sự khu biệt, xếp loại phương thức sản xuất định vị các chủ th ể kinh tế, trên thực tê
đ ã bô sung thêm vào k h á i niệm thành p h ần kinh tê nội dung chính trị, và do đó đã chuyển từ lĩnh vực tư duy, nhận thức thành lĩnh vực hoạt động thực tiễn, hoạt động cách mạng, ớ đây, khái niệm thành phần kinh tế
Trang 30khòng chỉ xếp loại phương thức sản xuất, cho thấy sự tiến hóa của phương thức sản xuất trong một nền kinh
tê nhất định, m à còn phần ánh sự ph ản tầng xã hội,
chính trị trong một cơ cấu xã hội Như trên đã nói,
thành phần kinh tê không đồng nhất với thành phần giai cấp nhưng rõ ràng giai cấp có nền tảng kinh tế, gắn liên VỚI các phương thức sản xuất nhất định, vì thế, đến lượt mình, thành phần kinh tê là nền tảng của thành phẩn giai cấp, cho nên, khái niệm thành phần kinh tế không chỉ đơn thuần phân loại loại hình kinh tế, mà còn theo đó, định vị địa vị, thứ bậc, giai tầng, giai cấp của các chủ thể gắn với các loại hình kinh tế đó
Như vậy, khái niệm thành phần là khái niệm
chứa đựng hai nội dung Với tư cách là sự ph ản ánh các
phương thức sản xuất khác nhau, sự chuyển biến của các phương thức sản xuàt của một nền kinh tê, thành
p h ẩn kin h tẻ bao hàm nội dung p h át triển Với tư cách
là sự p h ả n án h sự p h ân tầng trong nền kinh tế - xả hội, định vị đ ịa vị các g iai cấp, các thành ph ần g iai cấp, thành p h ầ n kinh t ế hàm chứa nội dung chính trị Nói
khác đi, khái niệm thành phần kinh tế là khái niệm dùng đê chỉ một loại hình kinh tế nào thuộc phương thức sản xuất nào, hay hoạt động kinh tế theo phương thức sản xuất nào, và mặt khác, các chủ thể kinh tế của các loại hình kinh tê dó thuộc giai tầng nào, giai cấp nào trong cơ cấu xã hội Nói tới một thành phần kinh tế
31
Trang 31là nói tới việc hoạt động kinh tế đó theo phương thức sản xuất nào, tức là dựa trên các quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất nào, nhằm mục đích gì, vối đỏng lực,
cơ chế kinh tế nào, và do vậy, phương thức sản xuất đó
có vai trò, vị trí như thế nào đôì với sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Đồng thời nói tới thàqh phần kinh tế là nói tới thành phần xã hội, thành phầh N giai cấp nào tham gia phương thức sản xuất nhất định nào, địa vị, vai trò của những giai tầng, giai cấp đótrong xã hội, trong hệ thông chính trị xã hội ra sao ở một ý nghĩa nào đó, khái niệm thành phần kinh tế là có tính kinh tế và xã hội Nó chứa đựng một nội hàm co giãn, phản ánh một tiến trình kinh tế - xã hội sâu sắc, song lại khó xác định Do có một nội dung sâu sắc và khó xác định như vậy nên việc sử dụng khai niệm thành phần kinh tế dễ bị sai lầm Tùy vào bôì cảnh lịch
sử và tùy vào những mục đích khác nhau, khái niệm thành phần kinh tế được sử dụng khác nhau, hoặc song hành khai thác cả hai khía cạnh phát triển và chính trị, hoặc nhấn mạnh tuyệt đốì một trong hai khía cạnh trong khi lãng quên hoặc bỏ qua một khía cạnh nào đó
Ngay sau khi Cách mạng Tháng Mười thành công, trong điều kiện một nền kinh tế còn chưa phát triển, hỗn tạp với nhiều loại hình kinh tế đan xen nhau
và với một tình hình chính trị hết sức phức tạp như nước Nga Xôviết, V.I.Lênin đã đưa ra khái niệm thành
Trang 32phần I kinh tế Với khái niệm này, V.I.Lênin đã có một
công cụ lý luận sắc bén, không những diễn tả được
trạng Ị thái đan xen, hỗn tạp của các loại hình kinh tê
mà còòn làm rõ trạng thái chính trị phức tạp với những
lực lưượng, khuynh hướng chính trị khác nhau, từ đó đề
ra đưctợc con đường thích hợp, tất yếu cho tiến trình xã
hội chiủ nghĩa ở nưốc Nga lúc đó
J II- BÀN VỂ THÀNH PHẦN KINH TẾ CÁ THE,
T lỂ u r CHỦ VÀ TƯ BẢN TƯ NHÂN TRONG QUÁ
TRÌNIH CHUYỂN TỪ KINH TẾ KẾ HOẠCH HÓA TẬP
TRUNMG, BAO CẤP, CHẬM PHÁT TRIEN SANG NỂN
KINHI TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ
NGHĨĨA ở VIỆT NAM
11 vể khái niệm thành phần kinh tế cá thể,
tiểu cchủ ở Việt Nam
ITrong sự phân loại các thành phần kinh tế của
V.I.LêÈnin không có tên thành phần kinh tê cá thể Đây
là cáchh gọi riêng của Việt Nam về một loại hình kinh tế
¿rong í sự đối lập nó với loại hình kinh tế tập thể Khái
niệm kkinh tế cá thể xuất hiện khi có phong trào hợp tác
lóa, mià thực chất là tập thể hóa, đưa các hộ sản xuất,
'đnh dloanh độc lập, riêng lẻ vào kinh tê tập thể dưối
ị:ác hìrnh thức hợp tác xã ở đây, khái niệm kinh tê cá
33
Trang 33thế là khái niệm hình thành từ hoạt động thực tiễn, gắn liền với phong trảo tập thể hóa và rộng lớn hơn là tiến trĩnh cải tạo xã hội chủ nghĩa những loại hình kmh
tế phi xã hội chủ nghĩa Trước Chỉ thị 81/CT/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 14-5-1958, các thành phần kinh tê được gọi theo tính chất kinh tê trong tiến trình phát triển của nó: trong nông nghiệp có
cố nông, bần nông, trung nông và địa chủ; trong lĩnh
vực công nghiệp và thương nghiệp dịch vụ có tiểu thương, tiểu chủ, tư sản dân tộc, tư sản mại bản Chỉ tới thời kỳ cải tạo xã hội chủ nghĩa (1958 - 1960), trong Chỉ thị sô" 81/CT/TW, khái niệm thành phần kinh tế cá thể mới xuất hiện Trong Chỉ thị này có đoạn viết: "Đặc điểm của thủ công nghiệp cá thể là sản xuất phân tán,vổh ít, công cụ thô sơ, kỹ thuật lạc hậu ", ở đây, thành phần kinh tế cá thể được quy định bởi hai tiêu thức: một là, trình độ phát triển thấp, hai là, sản xuất nhỏ lẻ, phân tán Nhưng cần lưu ý, loại hình kinh tế với trình
độ phát triển thấp và sản xuất phân tán, nhỏ lẻ trước
đó, tức là trước thòi kỳ cải tạo xă hội chủ nghĩa, mà cụ thể là trước thời kỳ tập thể hóa, không được gọi là cá thể bởi vì trước đó chưa có vấn để cần phân biệt thành phần kinh tế, giai cấp và mặt khác, cá thể là đặc tính không của riêng một phương thức sản xuất, một thành phần giai cấp nào Điều này có nghĩa là, tên gọi của
Trang 34thành phần kinh tế cá thê không xuất phát từ bản chất của một loại hình kinh tế, hay của phương thức sản xuất, mà tên gọi đó được hình thành trên hai phương
diện: một là, xuất phát từ những yếu tố không bản
chất, tức là từ những đặc trưng bên ngoài của hoạt động sản xuất, mà đặc trưng đó lại có ở nhiều phương thức sản xuất khác nhau; hai là, tên gọi đó bắt nguồn
từ sự ra đời, xác lập một loại hình kinh tế đối lập với nó
là kinh tê tập thể Tất nhiên khi đã được đôi lập với loại hình kinh tế tập thể mà lúc đó được xem là một hình thức kinh tê chủ yếu của chủ nghĩa xã hội, các loại hình kinh tế có thuộc tính nhỏ lẻ, phân tán đã được gộp chung lại vào một khái niệm "kinh tế cá thể" Trong khái niệm kinh tế cá thể, các loại hình kinh tế khác nhau đã được khoác một bản chất mới: phi xã hội chủ nghĩa, thành phần có tính tự phát tư bản chủ nghĩa và trở thành đối tượng của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa
Nếu tách khỏi cái đối lập với nó là kinh tế tập thể, vối tư cách là một hình thức của phương thức sản xuất
xã hội chủ nghĩa, thì kinh tế cá thể, xét cho cùng không phải là đặc trưng chủ yếu của một phương thức sảnxuất, mà chỉ là một hình thức tố chức sản xuất, ở đây tiêu chí cá thể là tiêu chí thể hiện đặc trưng về tính chất trong tô chức hoạt động kinh tế có trong nhiều
35
Trang 35phương thức sản xuất, bởi vậy, ở một ý nghĩa nào đó, không thể gọi là thành phần kinh tê cá thể Giờ đây, trong điều kiện kinh tê đa dạng dựa trên các chủ thể kinh tế độc lập, tự chủ, tiêu thức cá thể, tức là hoạt động một cách riềng rẽ, phân tán, không đặc trưng cho một phương thức sản xuất đặc thù, do đó không đủ để cấu tạo nên một thành phần kinh tế; mặt khác, tính chất cá thể có ở nhiều loại hình kinh tế, vì thế, nếu dùng tiêu thức cá thể để gọi là một thành phần kinh tê
sẽ không còn chính xác nữa Có thể nói bối cảnh ra đời của khái niệm thành phần kinh tế cá thể đã thay đổi căn bản, do thành phần kinh tế đã thay đổi căn bản, do vậy sự hiện hữu của khái niệm này sẽ làm méo mó, nếu không muôn nói là làm sai lệch nhận thức và hành động thực tê trong phát triển kinh tê và quản lý sự phát triển
Trong sự phân loại thành phần kinh tế của V.I.Lênin cũng không có thành phần kinh tê tiểu chủ Cũng như thành phần kinh tê cá thể, thành phần kinh
tế tiểu chủ là loại hình kinh tế được nâng lên thành thành phần kinh tế, là một khái niệm xuất hiện trong thực tế, đúng ra là tên gọi một loại hình kinh tế Khái niệm thành phần kinh tê tiểu chủ cũng được ra đời trong điều kiện cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế Nếu khái niệm thành phần kinh tế cá thể xuất hiện trong sự đổì lập với thành phần kinh tế tập thể, thì
Trang 36khái niệm kinh tế tiểu chủ lại được xuất hiện liên quan tới việc phân hạng chi tiết một loại hình kinh tế quan trọng, loại hình kinh tế tư bản chủ nghĩa - đối tượng chiến lược của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, và do
đó của con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở một nghĩa nào đó, tiểu chủ cũng là loại hình kinh tế cá thể,
vì là "tiểu" nên loại hình kinh tế này cũng tiến hành hoạt động một cách riêng rẽ, mún Nhưng ở đây,
nếu chúng ta cứ chạy theo tên gọi của các thành phần kinh tê xuất hiện trong thực tế, hơn nữa, thực tế đã diễn ra cách đây 4 thập kỷ, mà tới nay đã có những
ị thay đổi sâu sắc nên không còn mấy ý nghĩa thì e rằng,
do sự lệch chuẩn trong cách gọi, sẽ xếp những hình thức, cấp độ khác nhau của một thành phần kinh tế thành nhiều thành phần kinh tế độc lập ngang hàng nhau Bỏi vậy điều quan trọng là phân tích từ thực tiễn, tiến trình kinh tế xã hội, xem nền kinh tế ở trình
độ phát triển nào và do vậy chứa đựng những phương thức sản xuất gì, loại hình kinh tê nào Để hiểu một thành phần kinh tế, cơ bản là phải xem thành phần kinh tê đó hoạt động theo phương thức nào, vận động theo quy luật kinh tế nào đồng thời phải đặt nó trong
Ị .hệ thống của sự phát triển kinh tế với một hệ thông
phương thức sản xuăt đan xen với nhau Từ đây, có thể
triển khai phân tích các khía cạnh tính chất, địa vị xã hội của các chủ thể tham gia trong các thành phần kinh
37
Trang 37tế đó để xác định thành phần kinh tô xã hội, giai cấp
Nền kinh tế Việt Nam, mặc dù đã trải qua hơn 55
năm trên con đường phát triển, kể từ Cách mạng
Tháng Tám, nhưng do chiến tranh hơn nữa lại áp dụng
một cách máy móc mô hình kế hoạch hóa tập trung, phi
thị trường, bởi vậy tiến trình phát triển cũng vẫn còn
đang ở bước đầu: đang trong quá trình xác lập nền kinh
tế thị trường và tiến hành ở bước đầu quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhìn tổng thể, nền kinh tế
Việt Nam đang ở trong thời kỳ chuyển đổi: chuyển đổi
từ nền kinh tế chậm phát triển sang nền kinh tê phát
triển Đây thực sự là thời đại cách mạng trong phương
thức sản xuất, do đó là thòi kỳ chuyển đổi sâu sắc và
quyết liệt trong các loại hình kinh tế
Sự chuyển đổi trong nền kinh tế Việt Nam giò đây
được thúc đẩy bởi ba tiến trình cơ bản: Một là, tiến
trình xác lập và phát triển nền kinh tế thị trường với
khuôn mẫu hiện đại Hai là, tiến trình công nghiệp hóa,
hiộn đại hóa Ba là, tiến trình mở cửa hội nhập với nền
kinh tế phát triển hiện đại của thế giới Ba tiến trình
Trang 38này diễn ra trong bôi cảnh kinh tế t h ế giới đan g trong
thời đại, p h át triển hiện đ ại, hậu công nghiệp với ha quá trình cơ bản: nền kinh tế thị trường hiện đ ạ i, cách
m ạng khoa học và công nghệ, toàn cầu hoá Dưới tác
dộng của sự phát triển hiện dại của thế giới, quá trình chuyên nền kinh tế Việt Nam từ chậm phát triển sang phát triển hiện đại tất yêu mang hình thái phi cổ điển
ở đây, việc giải quyết vấn đề phát triển, chuyển nên kinh tế từ nông nghiệp chậm phát triển sang nền công nghiệp phát triển là theo chiều hướng hiện đại, chịu sự chi phối của các yếu tô hiện đại và quy luật phát triển hiện đại: a) Dưới sự tác động của quy luật phát triển hiện đại, nền kinh tê thị trường Việt Nam được hình thành, ngay từ đầu đã theo khuôn mẫu của kinh tế thị trường hiện đại, tức nền kinh tê thị trường hỗn hợp với các quan hệ kinh tê vĩ mô và các thiết chế bậc cao của kinh tê thị trường Nền kinh tê thị trường này trở thành hệ thống cho sự phát triển phi cô điển rút ngắn, b) Trong hộ thông phát triển này, Nhà nước có một chức năng mới: chức năng hiệu quả, ổn định và công bằng
Ba chức năng này, xét cho cùng là chức năng p h á t
triển Một là, Nhà nước định ra khuôn khố pháp lý, thể
chế cho sự phát triển Hai là, với tính cách là một lực lượng kinh tế một bộ phận kinh tê trong tổ hợp kinh tế hỗn hợp, kinh tê nhà nước dóng vai trò giá đõ và động
39
Trang 39lực của sự phát triển Ba là, trên cơ sở cơ chế thị trưòg hiện đại, Nhà nước tham gia điều tiết, phân bổ ác nguồn lực Bốn là, góp phần phân bô một cách cúgbằng các thành tựu của sự phát triển, ở đây chức nàg phát triển của Nhà nước thực chất là chức năng \in dụng các quy luật của kinh tế thị trường hiện đại trag việc quản lý sự phát triển, c) Tiến hành hiện đại ba nền kinh tê và xã hội trên cơ sở cách mạng khoa hc - công nghệ và hội nhập với nền kinh tế thế giới.
Sự phát triển phi cổ điển của Việt Nam, một rặt
do tác động của sự phát triển hiện đại, với các quá trih diễn ra theo quy luật của sự phát triển hiện đại, trug 'nền kinh tế sẽ diễn ra sự phát triển nhảy vọt trug phương thức sản xuất Mặt khác, chuyển nền kinh tétừ nông nghiệp chậm phát triển sang nền kinh tế cag nghiệp phát triển, xét cho cùng là bước chuyển cổ đin,
do vậy, sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam vẫrlà một quá trình còn chịu những tác động của sự pát triển cổ điển Tính phi cổ điển chính là sự phát triểrcổ điển được diễn ra trong điều kiện phát triển hiện ụi,
do vậy được giải quyết theo quy luật phát triển hìn đại Đây là bối cảnh quyết định để xem xét sự chuln biến, thay đổi trong phương thức sản xuất của nền krh
tế, do đó thấy được sự biến đổi của các loại hình, thah phần kinh tế ở đây chỉ bàn tới những phương thức án
Trang 40xuất kê tiếp nhau từ phương thức sản xuất tiền tư bản chủ nghĩa đến phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa với thành phần kinh tê tư bản tư nhân.
Nếu trừu tượng các yếu tô hiện đại và gạt bỏ tính chất phong kiến của nền kinh tế, vì tính chất này được loại bỏ bởi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ với cuộc cải cách ruộng đất diễn ra trong những năm 1950, thì nền kinh tê Việt Nam là một nền kinh tế chậm phát triển, mang tính chất hỗn tạp vối nhiều phương thức sản xuất
ở các cấp độ khác nhau, đan xen với nhau
Thứ nhất, kinh tê tiểu nông tự nhiên, tự cấp, tự túc của các hộ nông dân Đây là loại hình kinh tế với
phương thức sản xuất thô sơ, lạc hậu nhất Hoạt động kinh tế ở đây là sản xuất nông nghiệp, dựa trên kỹ thuật thủ công và kinh nghiệm cổ truyền; hoạt động kinh tê khép kín trong từng hộ gia đình, ít hoặc không
có những quan hệ xã hội trong hoạt động kinh tế Do vậy chưa có cơ sở cho sức sản xuất xã hội của lao động phát triển Có thể nói phương thức sản xuất này lấy trao đổi với tự nhiên làm nền tảng, do vậy, kinh tế mang tính tự nhiên Lao động thủ công và tiến hành một cách riêng lẻ, khép kín là những cơ sở hạn hẹp, nhỏ
bé, vếu ớt của sức sản xuất, do vậy kinh tê tự nhiên, tự cấp tự túc của các hộ nông dân là nhỏ bé, không có hoặc
có ít thặng dư, sản xuất diễn ra trong khuôn khổ tái sản xuất giản đơn C.Mác đã nói về kinh tế tiểu nông
41