Khả năng đẻ nhánh của cây lúa phụ thuộc vào giống và các yếu tố như: ánh sáng, nhiệt độ, thời tiết, mật độ cấy, phân bón, chế độ tưới nước.. Trên cùng một giống với mật độ khác nhau và l
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài tốt nghiệp này đây là công trình nghiên cứu củatôi Các số liệu, kết quả trình bày trong đề tài này do tôi tự tìm hiểu, nghiên cứu
và xây dựng, các số liệu thu thập là đúng và trung thực, có nguồn gốc rõ ràng
Những kết quả của đề tài chưa từng được công bố trong bất cứ công trìnhkhoa học nào
Sinh viên thực hiện
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bảnthân, em đã nhận được rất nhiều sự động viên, quan tâm và giúp đỡ nhiệt tìnhcủa thầy cô, bạn bè và người thân!
Trước tiên cho phép em bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
PGS.TS Nguyễn Ích Tân, Bộ môn Canh tác học, Khoa Nông học, người đã tận
tình giúp đỡ em trong quá trình thực hiện và hoàn chỉnh khóa luận tốt nghiệp!
Em xin gửi lời cảm ơn các thầy giáo, cô giáo, cán bộ công nhân viênthuộc Bộ môn Canh tác học, Khoa nông học, đã tạo điều kiện tốt nhất cho emtrong quá trình thực tập và hoàn thành đề tài này!
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô giáo trong khoa nông họccùng tập thể các thầy cô giáo Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã dìu dắt, truyềnđạt cho em những kiến thức quý báu trong suốt thời gian học tập tại trường
Cuối cùng, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn bè,gia đình – những người luôn bên cạnh, động viên, giúp đỡ tôi trong quá trìnhhọc tập và thực hiện đề tài!
Do thời gian và điều kiện có hạn nên đề tài tốt nghiệp của em không tránhkhỏi những thiếu sót, kính mong thầy cô và bạn bè đóng góp ý kiến để bản đềtài được hoàn thiện hơn!
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội,ngày 10 tháng 01 năm 2015
Sinh viên thực hiện
Trang 3MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i LỜI CẢM ƠN ii (Nguồn: Phòng QL đất và phân bón, Cục Trồng trọt, Bộ NN & PTNT, 5/2007) 27
Số nhánh đẻ là một chỉ tiêu quan trọng có liên quan đến quá trình hình thành số bông và năng suất Khả năng đẻ nhánh của cây lúa phụ thuộc vào giống và các yếu tố như: ánh sáng, nhiệt độ, thời tiết, mật độ cấy, phân bón, chế độ tưới nước Nếu đủ dinh dưỡng, đảm bảo nước tưới, ánh sáng và mật độ cấy phù hợp thì tỷ lệ đẻ nhánh trong quần thể ruộng cấy cao và ngược lại thì đẻ nhánh ít và ảnh hưởng đến năng suất .48 Quả bảng 3.8 cho thấy số lá tăng lên qua các tuần theo dõi, tốc độ ra lá tăng từ 2 tuần sau cấy đến 5 tuần sau cấy với tốc độ ra lá tăng nhanh nhất với tốc độ ra lá biến động từ 1 – 2,13 lá / tuần, từ tuần thứ 5 đến tuần thứ 6 tốc độ ra lá biến động từ 0,8- 1,86 lá/ tuần Sau đó tốc độ ra lá chậm dần khoảng 0,74 – 1,34 lá/tuần và kết thúc khi lúa đã trỗ hoàn toàn Trên cùng một giống với mật độ khác nhau và lượng đạm bón khác nhau ở tất cả các thời điểm theo dõi, tốc độ ra lá giữa các công thức không có sự chênh lệch lớn,
sự sai khác là không có ý nghĩa 55 Chỉ số diện tích lá (LAI) là chỉ tiêu quan trọng có quan hệ chặt chẽ với năng suất lúa Các giống lúa lá đứng cho phép tăng mật độ cấy, tăng chỉ số diện tích lá, có tiềm năng cho năng suất cao Tuy nhiên, nếu chỉ số diện tích lá vượt quá ngưỡng nhất định sẽ dẫn đến các lá bị che khuất lẫn nhau, đồng thời ruộng lúa
dễ bị sâu bệnh phá hoại, năng suất giảm 57 Sâu bệnh là một trong những nguyên nhân hàng đầu ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng, phát triển của cây lúa, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và phẩm chất lúa Khả năng chống chịu sâu bệnh sâu bệnh hại của lúa phụ thuộc vào từng giống và biện pháp chăm sóc 69 PHỤ LỤC 84
Trang 4LSD0,05 : Giới hạn sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa ở mức 0,05
NSLT : Năng suất lý thuyết
NSTT : Năng suất thực thu
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa các châu lục và trên thế giới năm 2012
Error: Reference source not foundBảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo trên thế giới qua các năm
Error: Reference source not foundBảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam qua các năm
Error: Reference source not foundBảng 1.4 Xuất khẩu gạo của Việt Nam mùa vụ 2011/2012 Error: Reference
source not foundBảng 1.5 Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020 Error:
Reference source not foundBảng 1.6 Lượng dinh dưỡng cây hút để tạo ra 1 tấn thóc Error: Reference
source not foundBảng 3.1 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái tăng trưởng chiều cao cây
giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error:Reference source not found
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng chiều cao
cây giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà NộiError:Reference source not found
Bảng 3.3 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động
thái tăng trưởng chiều cao cây giống Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đấtGia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.4 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến động thái đẻ nhánh giống lúa Nếp
cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference sourcenot found
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của giống
Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Referencesource not found
Bảng 3.6 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái
đẻ nhánh của giống Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội
Trang 6Bảng 3.7 Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến hệ số đẻ nhánh và
tỷ lệ nhánh hữu hiệu của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đấtGia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.8 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái
ra lá của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.9 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số diện tích lá của giống lúa Nếp
cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference sourcenot found
Bảng 3.10 Ảnh hưởng của lượng đạm đến chỉ số diện tích lá của giống lúa Nếp
cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference sourcenot found
Bảng 3.11 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ số
diên tích lá của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm,
Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.12 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến lượng chất khô tích lũy của giống
lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error:Reference source not found
Bảng 3.13 Ảnh hưởng của lượng đạm đến lượng chất khô tích lũy của giống
lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error:Reference source not found
Bảng 3.14 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến lượng chất khô
tích lũy của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.15 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến chỉ số SPAD của giống lúa Nếp cẩm
ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source notfound
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến chỉ số SPAD của giống lúa Nếp
cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference sourcenot found
Trang 7Bảng 3.17 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến chỉ số
SPAD của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.18 .Ảnh hưởng của mật độ cấy và lượng đạm bón đến khả năng chống
chịu sâu bệnh của giống Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm,
Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.19 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng
suất của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.20 Ảnh hưởng của lượng đạm đến các yêu tố cấu thành năng suất và năng
suất của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.21 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến các yếu
tố cấu thành năng suất và năng suất của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụmùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not foundBảng 3.22 Ảnh hưởng của mật độ cấy đến năng suất và hệ số kinh tế của giống
lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error:Reference source not found
Bảng 3.23 Ảnh hưởng của lượng đạm đến năng suất và hệ số kinh tế giống lúa
Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Referencesource not found
Bảng 3.24 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến năng
suất và hệ số kinh tế của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đấtGia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not found
DANH MỤC HÌNH
TrangHình 1.1 Lượng phân bón sử dụng ở một số quốc gia và châu lục trên thế giới
năm 2010 Error: Reference source not foundHình 3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ
mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not found
Trang 8Hình 3.2 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động
thái đẻ nhánh của giống Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, HàNội Error: Reference source not foundHình 3.3 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến động thái ra
lá của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất Gia Lâm, Hà Nội Error:Reference source not found
Hình 3.4 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến lượng
chất khô tích lũy của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đất GiaLâm, Hà Nội Error: Reference source not foundHình 3.5 Ảnh hưởng tương tác của mật độ cấy và lượng đạm bón đến năng
suất và hệ số kinh tế của giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa trên đấtGia Lâm, Hà Nội Error: Reference source not found
Trang 9MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây lúa ( Oryza sativa L ) là một trong những cây trồng cung cấp lương
thực quan trọng nhất trong sự sống của con người Cùng với các cây lương thựckhác, cây lúa được thực tế sản suất hết sức quan tâm, vì nó là cây trồng phổ biếntrên thế giới với 40% dân số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính và ảnhhưởng đến đời sống của ít nhất 65% dân số thế giới Ở Việt Nam, gần 100% dân
số sử dụng lúa gạo làm lương thực chính Châu Á là nơi gắn liền với nền vănminh lúa nước từ rất lâu, sản xuất lúa gạo chiếm phần lớn về sản lượng và diệntích trên thế giới
Ở Việt Nam, dân số khoảng 90 triệu người ( năm 2014), với khoảng 68%dân số là nông dân, cấy lúa là cây trồng chính của người nông dân Chính vì thếtình hình sản xuất và giá cả lúa gạo có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập, đờisống của người nông dân
Công tác nghiên cứu chọn tạo các giống lúa mới luôn được các nhà khoahọc chú trọng Mỗi năm, nhiều giống lúa mới được chọn lọc và lai tạo đượckhảo nghiệm, công nhận giống quốc gia và mở rộng sản xuất ở các vùng sinhthái khác nhau trong cả nước, làm năng suất lúa đã tăng lên đáng kể Vì vậy, đốivới việc tăng năng suất và phẩm chất không chỉ chờ vào giống tốt mà phân bóncũng đóng một vai trò hết sức quan trọng
Cùng với kỹ thuật thâm canh tăng năng suất, việc đầu tư cơ sở vật chất, ápdụng những tiến bộ khoa học vào sản xuất như giống, phân bón, thủy lợi, bố tríthời vụ trồng hợp lý, kỹ thuật chăm sóc … kết hợp với các chính sách của nhànước đã góp phần làm tăng năng suất và sản lượng lúa gạo của nước ta qua cácnăm Tuy nhiên, năng suất đó chưa tương xứng với tiềm năng năng suất củacác giống lúa Một trong những nguyên nhân là do bón phân chưa cân đối dẫnđến các chất dinh dưỡng trong đất không đáp ứng được yêu cầu dinh dưỡng cho
Trang 10quan trọng trong việc làm tăng năng suất và sản lượng lúa Tuy nhiên việc làmdụng phân bón cùng mật độ cấy không hợp lý cũng sẽ ảnh hưởng lớn đến năngsuất và phẩm chất
Xuất phát từ thực tế trên để có thể nâng cao năng suất, sản lượng lúa đápứng nhu cầu ngày càng tăng và nâng cao hiệu quả thâm canh cây lúa chúng tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “ Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm
đến sinh trưởng và năng suất giống lúa Nếp cẩm ĐH6 vụ mùa 2014 tại Gia Lâm, Hà Nội.”
Trang 11CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1.Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.1.1.Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới
Lúa là loại ngũ cốc làm lương thực quan trọng cho khoảng ½ dân sốcủa thế giới, đặc biệt là ở châu Á, châu Phi và Nam Mỹ Lúa có sản lượng đứnghàng thứ ba trên thế giới sau ngô và lúa mì Góp phần đảm bảo an ninh lươngthực cho con người và ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đói trên thế giới
Lúa là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và có khả năng thích nghi rộngvới các vùng khí hậu Theo thống kê của FAO, hiện nay trên thế giới có 115nước trồng lúa ở các châu lục, với tổng diện tích trồng lúa là 163,46 triệu ha,năng suất bình quân toàn thế giới là 4,37 tấn/ha và tổng sản lượng lúa là 718,35triệu tấn, tập trung chủ yếu ở các nước châu Á nơi chiếm tới gần 90% diện tíchgieo trồng và sản lượng vì vậy cây lúa gạo không thể thiếu với người châu Á.Các nước sản xuất gạo chính ở châu Á như là: Thái Lan, Việt Nam, Ấn Độ,Trung Quốc Trong đó Thái Lan và Việt Nam là hai nước có sản lượng xuấtkhẩu lúa gạo cao nhất, chiếm gần khoảng nửa tổng lượng gạo xuất khẩu của thếgiới Một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Philippin, Bangladesh,Srilanka… nhu cầu tiêu dùng gạo sẽ tăng lên nhiều hơn so với khả năng sản xuấtlúa gạo ở các nước này Chính vì thế, sản xuất lúa gạo phải được tăng lên để đápứng nhu cầu lương thực cho các nước Đặc biệt phải chú trọng đến đảm bảo anninh lương thực và nhu cầu tiêu dùng của người dân, nâng cao năng suất và chấtlượng sản phẩm
Trang 12Bảng 1.1 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa các châu lục và trên thế giới
năm 2012
(triệu ha)
Sản lượng(triệu tấn)
Năng suất(tấn/ha)
Theo thống kê của FAO thì châu Á chiếm tới 90% diện tích gieo trồng vàsản lượng của cả thế giới Năng suất lúa cao tập trung chủ yếu ở các quốc gia Ánhiệt đới có biên độ ngày và đêm cao hơn và trình độ canh tác, ứng dụng các tiến
bộ kỹ thuật tốt hơn Các nước nhiệt đới có năng suất bình quân thấp hơn do chế độnhiệt và ẩm cao tạo điều kiện thuận lợi cho sâu bệnh phát triển, gây hại cùng vớitrình độ canh tác còn nhiều hạn chế (Nguyễn Ngọc Đệ, 2008)
Hiện nay châu Á chiếm 85% sản lượng lúa trên thế giới, trong đó có cácnước có sản lượng cao như Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh, TháiLan, Việt Nam, Myanma và Nhật Bản
Trang 13Bảng 1.2: Diện tích, năng suất và sản lượng lúa gạo trên thế
giới qua các năm
(triệu ha)
Sản lượng(triệu tấn)
Năng suất(tấn/ha)
719,73745,70
4,414,52
Nguồn FAOSTAT, 2014
Theo thống kê của tổ chức lương thực thế giới (FAO, 2014) diện tíchtrồng lúa trên thế giới có nhiều biến động và có xu hướng giảm dần từ năm 2000đến năm 2005 còn ở mức 154,98 triệu ha Từ năm 2005 diện tích trồng lúa có xuhướng tăng nhẹ lên 160,00 triệu ha năm 2008, năm 2009 giảm xuống 158,3 triệu
ha sau đó tăng lên 164,72 triệu ha năm 2013
Diện tích trồng lúa qua các năm tăng không nhiều nhưng sản lượng lúathế giới đều tăng dần qua các năm, từ 596,92 triệu tấn năm 2000 lên đến 724,95triệu tấn năm 2011 Năm 2012 sản lượng lúa có sự giảm nhẹ xuống ở mức 719,73triệu tấn do biến đổi khí hậu, thời tiết, mùa vụ ảnh hưởng đến năng suất, năm 2013sản lượng tăng lên 745,70 triệu tấn
Bên cạnh diện tích trồng lúa, năng suất lúa bình quân trên thế giới cũngtăng, nhờ áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới nhất là giống mới, kỹ thuật thâm
Trang 14canh tiên tiến được áp dụng rộng rãi trong sản xuất đã góp phần làm năng suấtlúa tăng đáng kể, được cải thiện và đạt 4,52 tấn/ha vào năm 2013.
Trung Quốc là nước có diện tích lúa lớn thứ hai thế giới sau Ấn Độ vớidiện tích 30,557 triệu ha, Trung Quốc áp dụng các thành tựu khoa học- côngnghệ trong việc cải tiến các giống lúa đặc biệt là sử dụng ưu thế lai đã làm chonăng suất lúa bình quân đạt 67,443 tạ/ha, sản lượng đạt 206,085 triệu tấn , cao
nhất thế giới Tiêu thụ gạo của Trung Quốc trong 2013-2014 ước tính khoảng
147 triệu tấn Trong khi đó, nhu cầu nhập khẩu gạo của Trung Quốc dự kiến đạt3,2 triệu tấn năm 2013, tăng khoảng 200.000 tấn hay khoảng 6% so với ước tínhtrước đây, theo USDA Năm 2014, con số này dự báo đạt khoảng 3,4 triệu tấn,tăng khoảng 400.000 hay 13% so với dự báo trước đó
Năm 2014 dự báo Trung Quốc và các nước Đông Nam Á vẫn là thị trườngxuất khẩu gạo chủ lực
Thái Lan với diện tích 12,6 triệu ha, năng suất bình quân 30,0 tạ/ha, sảnlượng 37,8 triệu tấn Thái Lan đã xuất khẩu trên 2,1 triệu tấn gạo, tăng khoảng
29% so với cùng kỳ năm trước, nước xuất khẩu gạo số 2 thế giới (sau Ấn Độ) và
là nước xuất khẩu gạo chủ chốt ở châu Á Thái Lan là nước duy nhất có khảnăng xuất khẩu với khối lượng lớn và giá giảm thêm nữa trong năm nay bởilượng dự trữ của nước này lên tới khoảng 13-15 triệu tấn quy gạo, chưa kểkhoảng 7 triệu tấn nữa đang được bổ sung ra thị trường
Ấn Độ nước có diện tích lúa lớn nhất thế giới 42,5 triệu ha, sản lượng lúacủa Ấn Độ là 152,6 triệu tấn, chiếm 21,24% tổng sản lượng của thế giới Sảnlượng gạo năm 2012-2013 đạt 105,24 triệu tấn, giảm nhẹ so với 105,31 triệu tấnnăm 2011-2012 Năm 2012 và 2013 Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu gạo lớnnhất thế giới sau khi chính phủ bãi bỏ lệnh cấm xuất khẩu gạo non-basmati kéodài 4 năm Năm tài khóa 2013-2014, xuất khẩu gạo của Ấn Độ đạt 10.5 triệu tấn,tăng 3% so với 10.2 triệu tấn năm 2012-2013, theo số liệu của Hiệp hội Xuấtkhẩu gạo toàn Ấn ( AIREA)
Trang 15Những chuyển động của thị trường gạo thế giới 2014: Mặc dù những bấtlợi về thời tiết đe dọa đến các quốc gia sản xuất lúa gạo lớn trong vài năm quanhưng tổng sản lượng lúa gạo thế giới năm nay có thể đạt 751 triệu tấn, tăng0,8% so với năm 2013 Đây là số liệu trong báo cáo mới nhất về thị trường lúagạo thế giới của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc (FAO) Theo báo cáonày, lượng gạo dự trữ toàn cầu trong năm 2014 có thể đạt 180,5 triệu tấn donhiều quốc gia thuộc khối các nước đang phát triển gia tăng lượng dự phòng.Trợ lý Tổng giám đốc FAO tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, ông HiroyukiKonuma cho biết, con số thống kê cho thấy hầu hết các nước sản xuất nhiều lúagạo trong niên vụ 2013 đều đạt sản lượng vượt dự báo như Trung Quốc, Ấn Độ,Pakistan và Philippines Ngoài ra, sản lượng lúa gạo tại một số nước như Colombia,Indonesia, Iran, Nhật Bản, Nepal, Sri Lanka và Tanzania cũng được cải thiện Chỉ cóCampuchia, Lào và Nga bị sụt giảm đáng kể do bất lợi thiên tai.
Về xuất khẩu, FAO cho biết lượng gạo xuất ra thị trường thế giới trongniên vụ 2013/14 ước chừng khoảng 48,4 triệu tấn
Ấn Độ vẫn nhiều khả năng là nhà xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, có thể đạt 9,5triệu tấn; kế đến là Thái Lan (8,7 triệu tấn) và Việt Nam (7,2 triệu tấn) Chỉtrong vòng 4 tháng vừa qua, lượng gạo giao dịch toàn cầu đã đạt 38 triệu tấn -mức kỷ lục trong nhiều năm Trong khi đó, nhu cầu tiêu dùng các loại gạo trênthế giới dự báo tiếp tục tăng, đặc biệt là gạo tẻ
Năm 2012-2013 thế giới sản xuất khoảng 476,6 triệu tấn gạo Năm
2013-2014 dự báo thế giới sản xuất khoảng 489,0 triệu tấn gạo Nếu điều kiện thời tiếtthuận lợi thì khu vực Đông Nam Á sẽ có sản lượng tiếp tục tăng cao trong đósản lượng tăng từ các nước Trung Quốc,Indonesia, Philippines, Thái Lan,Bangladesh và Ấn Độ Tỷ lệ phần trăm tăng sản lượng lúa gạo của vụ2012/2013 và 2013/2014 là 0,9%
Gạo tồn kho: Theo FAO, vào cuối năm 2012 gạo tồn kho thế giới đạt
Trang 16còn tiếp tục tăng lên 174,7 tấn hay tăng 8,3% Theo dự đoán của FAO, số lượnggạo tồn kho thế giới có thể tăng cao hơn nữa ở mức 183 tấn trong 2014 Sốlượng tồn kho hiện nay tương đương với 36% nhu cầu quốc tế, một tỉ số caonhất trong nhiều năm gần đây.
Tổ chức Nông – Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) dự báo sản lượng gạo thếgiới sẽ tăng lên kỷ lục 497 triệu tấn trong niên vụ 2013-14, tăng khoảng 1,3% sovới khoảng 491 triệu tấn niên vụ 2012-2013 Hầu hết sản lượng tăng sẽ đến từchâu Á
Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã hạ dự báo sản lượng gạo toàn cầu
2013-2014 xuống 473,2 triệu tấn gạo, giảm khoảng 3,6 triệu tấn so với dự báo trước
đó nhưng vẫn tăng gần 1% so với năm 2012-2013 Dự báo tiêu thụ gạo toàn cầu2013-2014 cũng đã được hạ 1,4 triệu tấn xuống 473,1 triệu tấn, vẫn là mức cao
kỷ lục
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam
Cây lúa là cây trồng quan trọng trong nông nghiệp nước ta Với điều kiệnkhí hậu nhiệt đới, Việt Nam cũng có thể là cái nôi hình thành lúa nước Đã từ lâuđời cây lúa đã trở thành cây lương thực quan trọng chủ yếu, có ý nghĩa quan trọngtrong nền kinh tế, xã hội và đời sống người dân Việt Nam (Bùi Huy Đáp, 1999)
Việt Nam là một nước nông nghiệp, có khoảng 75% dân số sản xuất nôngnghiệp và từ lâu cây lúa đã ăn sâu vào tiềm thức người dân, nó có vai trò quantrọng trong đời sống con người Sản xuất lúa gạo không chỉ giữ vai trò trongviệc cung cấp lương thực cho người dân trong nước mà còn là mặt hàng xuấtkhẩu đóng góp không nhỏ vào nền kinh tế quốc dân Mặt khác, do có điều kiện
tự nhiên thuận lợi phù hợp cho cây lúa phát triển nên lúa được trồng trên khắpmọi miền của đất nước Trong quá trình sản xuất đã hình thành hai vùng sản xuất lúarộng lớn đó là đồng bằng sông Hồng và vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trong thời gian chiến tranh, diện tích trồng lúa cả nước dao động trongkhoảng 4,40 – 4,90 triệu ha, năng suất có tăng nhưng rất chậm, chỉ khoảng 700
Trang 17kg thóc/ha trong vòng hơn 20 năm Sản lượng lúa tổng cộng của cả 2 miền chỉtrên dưới 10 triệu tấn (bảng 1.3).
Sau ngày giải phóng (1975), cùng với phong trào khai hoang phục hóa,diện tích lúa tăng lên khá nhanh và ổn định ở khoảng 5,5 – 5,7 triệu ha Năngsuất bình quân trong cuối thập niên 1970 giảm sút nghiêm trọng do đất đai mớikhai hoang chưa được cải tạo, thiên tai và sâu bệnh đặc biệt là những năm 1978 –
1979 cộng với cơ chế quản lý nông nghiệp trì trệ không phù hợp Bước sang thậpniên 1980, năng suất lúa tăng dần do các công trình thủy lợi trong cả nước, đặc biệt ởđồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu phát huy tác dụng Cơ chế quản lý nôngnghiệp thay đổi với chủ trương khoán sản phẩm trong sản xuất nông nghiệp
Năm 1982, nước ta đã chuyển từ nước phải nhập khẩu gạo hàng nămsang tự túc được lương thực Tiếp theo đó là một loạt chính sách về sử dụngđất và đổi mới nền kinh tế theo cơ chế thị trường, nông dân được giao quyền
sử dụng ruộng đất nên quan tâm, phấn khởi hơn và có toàn quyền quyết địnhtrong các quá trình sản xuất của họ, năng suất tăng lên nhanh chóng Năngsuất lúa đã gia tăng vượt bậc từ dưới 3 tấn/ha trong những năm của thập niên
1980, lên đến 4,88 tấn/ha vào năm 2005 và đạt 5,34 tấn/ha năm 2010
Kể từ khi gạo Việt Nam tái nhập thị trường thế giới năm 1989 thì năm
1990 đã đứng vị trí xuất khẩu gạo thứ 4 sau Thái Lan, Pakistan và Mỹ, đến năm
1991 lên ở vị trí thứ 3 và tiếp tục lên hạng vào năm 1995 ở vị trí xuất khẩu gạothứ hai thế giới sau Thái Lan Từ năm 1997 đến nay, hàng năm nước ta xuấtkhẩu trung bình trên dưới 4 triệu tấn, đem về một nguồn thu ngoại tệ rất đáng
kể Hiện nay, Việt Nam đứng hàng thứ 7 về diện tích và đứng hàng thứ 5 về sảnlượng lúa Sản xuất lúa gạo Việt Nam không những đảm bảo đủ yêu cầu về anninh lương thực trong nước mà còn góp phần rất quan trọng trong thị trường lúagạo thế giới
Bảng 1.3 Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam
Trang 18Năm Diện tích
(triệu ha)
Năng suất(tấn/ha)
Sản lượng(triệu tấn)
Tuy nhiên diện tích trồng lúa từ năm 2001 có xu hướng giảm dần, đặc biệtgiai đoạn từ năm 2006 – 2007 thì diện tích trồng lúa đã giảm mạnh từ 7,32 triệu
ha giảm xuống còn 7,20 triệu ha chủ yếu do xây dựng những khu công nghiệp
và phát triển đô thị trên đất lúa Từ đó Chính phủ có chủ trương bảo vệ diện tíchtrồng lúa hiện có Do đó mà từ năm 2008 trở đi diện tích trồng lúa đang có dấuhiệu phục hồi và đang dần được tăng lên, đạt 7,75 triệu ha vào năm 2012 Khôngchỉ phục hồi và mở rộng diên tích trồng lúa mà năng suất cũng ngày càng đượcnâng cao, đạt 5,63 tân/ha (2012), đã góp phần đáng kể cho sản lượng lúa gạo của
cả nước đồng thời mở rộng thị trường tiêu thụ gạo Việt Nam trên thế giới
Bảng 1.4: Xuất khẩu gạo của Việt Nam mùa vụ 2011/2012
ĐVT: tấn
Trang 195% 10% 15% 25% 100% Glutinous Jasmine Các loại
Nguồn: Thông tin thương mại/ Tổng cục Hải quan Việt Nam/ Hiệp hội Lương thực Việt Nam.
Mùa vụ 2011/2012, nước ta xuất khẩu 7,72 triệu tấn gạo trong tổng sảnlượng 27,15 triệu tấn, tiếp tục giữ vị trí thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo,sau Ấn Độ Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam, tổng kim ngạch xuất khẩu gạonước ta đạt 3,45 tỷ đô la Mỹ Năm 2012 Trung Quốc là nước nhập khẩu gạonhiều nhất của Việt Nam với kim ngạch hơn 2 triệu tấn Xuất gạo của Việt Namsang thị trường này sẽ tiếp tục tăng trong năm 2013 Tuy nhiên, Việt Nam sẽphải đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ từ Thái Lan, Ấn Độ, Pakistan vàMyanmar khi xuất khẩu gạo sang Trung Quốc
Năm 2012 xuất khẩu gạo của Việt Nam 8,02 triệu tấn gạo, thu về 3,67triệu USD ( tăng 12,71% về lượng và tăng nhẹ 0,45 về kim ngạch so với năm2011.Trung Quốc là thị trường lớn nhất tiêu thụ gạo của Việt Nam với 2,09 triệutấn, tương đương 898,43 triệu USD Thị trường lớn thứ 2 là Philipines đạt 1,11triệu tấn, trị giá 475,26 triệu USD, chiếm 12,94% tổng kim ngạch, tiếp đến làIndonesia đạt 929,905 tấn, trị giá 458,39 triệu USD chiếm 12,48% tổng kim ngạch
Năm 2013, cả nước đã xuất khẩu gần 6,6 triệu tấn gạo, giảm hơn 1,4 triệutấn ( tức giảm 17,76%) so với năm 2012, kim ngạch đạt gần 2,93 tỷ USD, giảm20,36%, đây là mức xuất khẩu thấp nhất trong 3 năm qua Với kết quả này ViệtNam đã giảm xuống xếp thứ 3 sau Ấn Độ và Thái Lan trên bảng tổng xếp xuất
Trang 20đầu năm 2013 Xuất khẩu gạo Việt Nam sụt giảm là do áp lực cạnh tranh cao và
sụt giảm nhu cầu của các thị trường truyền thống như Malaysia, Philippines vàIndonesia Năm 2014, Việt Nam phấn đấu xuất khẩu 7 triệu tấn gạo Các thịtrường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam trong năm 2013 gồm Trung Quốc,Malaysia, Philippines, Singapore, Hồng Kông và Bờ biển Ngà Trung Quốc vẫn
là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2013 Trong năm
2013, Trung Quốc nhập khẩu hơn 2,15 triệu tấn gạo, với trị giá 901,86 triệuUSD, tăng 3,21% về khối lượng và 0,38% về giá trị, chiếm 30,83% tổng kimngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam Lượng gạo xuất khẩu sang Bờ biển Ngàđứng thứ 2 thị trường, với 561.333 tấn, trị giá 228,53 triệu USD (tăng trên 17%
về lượng và tăng 12,37% về kim ngạch so cùng kỳ); tiếp đến là xuất sangPhilippines 504.558 tấn, trị giá 225,44 triệu USD (giảm mạnh trên 50% cả về
lượng và kim ngạch); xuất sang Malaysia 465.977 tấn, trị giá 231,43 triệu USD
(giảm 40% cả về lượng và kim ngạch so năm 2012)
Năm 2014, áp lực lớn nhất cho xuất khẩu là gạo tồn kho Thái Lan còn qúalớn Nếu nước này còn hạ thấp giá gạo như đã làm với gạo 5% tấm hiện nay sẽtiếp tục ảnh hưởng không ít đến người trồng lúa ở VN và các nước xuất khẩu
khác, do sức cạnh tranh đè nặng và giá lúa gạo còn xuống thấp hơn nữa Xuất
khẩu, tiêu thụ lúa gạo hàng hóa sẽ khó khăn hơn, kế hoạch xuất khẩu có thể chỉtương đương năm 2013, khoảng 6,5 - 7 triệu tấn Năm 2014 sẽ tiếp nối nhữngkhó khăn của năm 2013 nhưng áp lực nhiều hơn đối với các nguồn xuất khẩu docung cấp dư thừa, cạnh tranh quyết liệt Tình hình thị trường gạo thế giới tiếp tụcchịu áp lực bán hạ giá của Thái Lan và cạnh tranh xuất khẩu từ các nguồn cung cấp
chính ở châu Á nên xu hướng giá còn tiếp tục sút giảm trong thời gian tới
Châu Á là thị trường nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam, chiếm 77,7%tổng lượng gạo xuất khẩu của cả nước (tương đương 6 triệu tấn) Năm 2012,Indonesia, Phillipines và Malaysia vẫn tiếp tục là ba thị trường nhập khẩu truyềnthống Tiềm năng tiêu thụ gạo của các thị trường này vẫn còn khá lớn Tuy
Trang 21nhiên, theo USDA, trong vài năm tới, lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam sangcác thị trường này sẽ bị thu hẹp dần.
Đối với thị trường châu Phi, Việt Nam có nhiều lợi thế hơn so với Ấn Độ
và Pakistan nhất là với loại gạo tấm 5%; nhưng lại phải đối mặt với sức ép cạnhtranh gay gắt từ Thái Lan vì các nhà xuất khẩu Thái Lan có thể hạ thấp giá bán
để cạnh tranh tại thị trường quan trọng này Theo Hiệp hội Lương thực ViệtNam, Ấn Độ và Pakistan lại có lợi thế rất cạnh tranh đối với thị trường gạo chấtlượng thấp (đặc biệt là gạo tấm 25%)
Giá lúa gạo ở Việt Nam chưa thể giúp nông dân Việt Nam cải thiện mứcthu nhập hiện nay Ngoài ra, khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ, nước có nền kinh tế
số một thế giới giảm bớt mua trái phiếu của mình và tăng lãi suất sẽ tăng áp lựcgiá Đô la lên cao và giá dầu thô thấp hơn, làm giá ngũ cốc bản xứ và thế giới,gồm lúa gạo giảm theo, dưới áp lực gạo tồn kho lớn của Thái Lan và gạo giáthấp ở Ấn Độ Theo cơ quan FAO, nhập khẩu gạo Trung Quốc còn cao trong2013-2014, nhưng có thể giảm nếu giá gạo toàn cầu tăng; hơn nữa, nước này sẽnhập 1,2 triệu tấn gạo từ Thái Lan trong năm 2014 làm ảnh hưởng không ít sốlượng xuất khẩu của Việt Nam vào Trung Quốc
Vì vậy việc xuất khẩu gạo của nước ta trong 2014 còn gặp nhiều khó khăn
Để duy trì và nâng cao hiệu quả xuất khẩu gạo trong tình hình hiện nay,các doanh nghiệp trong nước không nên chạy theo số lượng mà phải chú ý đầu
tư nâng cao chất lượng sản phẩm để nâng giá trị, đồng thời chú ý khai thác cácthị trường mới, nhất là các thị trường tiêu thụ gạo cấp cao
1.1.3 Tình hình sản xuất giống lúa Nếp cẩm ĐH6 ở Việt Nam
Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng đã tổ chức họp hội đồng khoahọc cấp cơ sở đánh giá kết quả chọn tạo, tuyển chọn và khảo nghiệm giống lúamới: Nếp cẩm ĐH6 Giống lúa này là giống lúa mới do Viện Nghiên cứu vàPhát triển cây trồng nghiên cứu, chọn tạo cho năng suất cao, chất lượng tốt
Trang 22Giống Nếp cẩm mới ĐH6 được chọn lọc và làm thuần từ giống nếp cẩm
Căm pẹ thu thập ở Thanh Hóa từ năm 2009 Sau khi chọn lọc các cá thể biến dị
tự nhiên, đi vào chọn dòng ưu tú và làm thuần từ vụ mùa năm 2010 đến vụ Xuânnăm 2012 bắt đầu gửi khảo nghiệm Quốc gia Giống Nếp cẩm ĐH6 có phổ thíchứng rộng, có thể gieo cấy được cả 2 vụ/năm ở các tỉnh miền Bắc và miền Trung,giống đã được gieo cấy và cho kết quả tốt ở các tỉnh; Điện Biên, Hà Giang, NinhBình, Thái Bình, Nam Định, Bắc Giang, Hà Nội, Hưng Yên, Hải Phòng, Nghệ
An, Thanh Hóa Giống cũng được gieo cấy trong Sóc Trăng và có khả năngthích nghi được ở cả vụ Đông Xuân và Hè Thu
Sau khi được Hội đồng khoa học đánh giá cao về kết quả chọn tạo vàkhảo nghiệm, Viện Nghiên cứu và Phát triển cây trồng đang đề nghị Bộ Nôngnghiệp và Phát triển nông thôn công nhận sản xuất thử đối với giống Nếp cẩm ĐH6
1.2 Những nghiên cứu về mật độ cấy lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.2.1 Những nghiên cứu về mật độ lúa cấy trên thế giới
Mật độ cấy là số khóm cấy/m2 Lúa được tính bằng khóm, lúa gieo thẳngđược tính bằng số hạt mọc Về nguyên tắc thì mật độ gieo cấy càng cao thì sốbông càng nhiều Trong một giới hạn nhất định, việc tăng số bông không làmgiảm số hạt trên bông, nhưng vượt quá giới hạn đó thì số hạt trên bông bắt đầugiảm đi do lượng dinh dưỡng phải chia sẻ cho nhiều bông Theo tính toán thống
kê cho thấy tốc độ giảm số hạt trên bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ cấy.Tuy nhiên, nếu cấy quá thưa đối với giống có thời gian sinh trưởng ngắn thì khóđạt số bông tối ưu cần thiết theo dự định
Mật độ cấy là một biện pháp quan trọng, nó phụ thuộc vào điều kiện tựnhiên, dinh dưỡng, đặc điểm của giống Khi nghiên cứu vấn đề này Sasato (1966)
đã kết luận: Trong điều kiện dễ canh tác, lúa mọc tốt thì nên cấy mật độ thưa ngượclại phải cấy dầy Giống lúa cho nhiều bông thì cấy dầy không có lợi bằng giống tobông Vùng lạnh nên cấy dầy hơn so với vùng nóng ẩm, mạ dảnh to nên cấy thưahơn mạ dảnh nhỏ, lúa gieo muộn nên cấy dầy hơn so với lúa gieo sớm
Trang 23Nghiên cứu về mối quan hệ giữa mật độ và khả năng đẻ nhánh của lúa laiS.Yoshida (1985) đã khẳng định: Trong ruộng cấy, khoảng cách thích hợp cho lúa
đẻ nhánh khỏe và sớm thay đổi từ 20×20 cm đến 30×30 cm Theo ông việc đẻnhánh chỉ xảy ra đến mật độ 300 cây/m2, nếu tăng số dảnh cấy lên nữa thì chỉ cónhững dảnh chính cho bông Năng suất hạt tăng lên khi mật độ cấy tăng lên 182-
242 dảnh/m2 Số bông trên đơn vị diện tích cũng tăng theo mật độ nhưng lại giảm
số hạt trên bông Mật độ cấy thực tế là vấn đề tương quan giữa số dảnh cấy và sự
đẻ nhánh Thường gieo cấy thưa thì lúa đẻ nhánh nhiều còn cấy dày thì đẻ nhánh ít
“Các tác giả sinh thái học đã nghiên cứu mối quan hệ giữa năng suất vàquần thể ruộng cây trồng và đều thống nhất rằng: các giống khác nhau phản ứngvới các mật độ khác nhau, việc tăng mật độ ở một giới hạn nhất định thì năngsuất tăng, còn tăng quá năng suất giảm xuống" (S.Yoshida, 1985) Holiday(1960) cho rằng: Quan hệ giữa mật độ và năng suất cây lấy hạt là quan hệparabol, tức là mật độ lúc đầu tăng thì năng suất tăng nhưng nếu tiếp tục tăngmật độ quá thì năng suất lại giảm
Qua thực tế thí nghiệm nhiều năm đối với nhiều giống lúa khác nhau.Yoshida1985 cho rằng: Trong phạm vi khoảng cách 50 x 50 cm đến 10 x 10 cmkhả năng đẻ nhánh có ảnh hướng đến năng suất Ông đã thấy rằng năng suất hạtcủa giống IR-154-451 (một giống để ít nhánh) tăng lên so với việc giảm khoảngcách 10 x 10cm Còn IR8 (giống đẻ nhánh khỏe) năng suất đạt cực đại ở khoảngcách cấy là 20 x 20cm
Các tác giả Yuan Qianhua, Lu Xinggui, Cao Bing và cộng sự (2002) đã sửdụng tổ hợp lai 2 dòng PA 64S/9311 để nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấyđến các yếu tố cấu thành năng suất và năng xuất của tổ hợp lai Các tác giả sửdụng hai công thức cấy thưa(90.000 khóm/ha) và công thức cấy truyền thống ởTrung Quốc (30.000 khóm/ha) Kết quả nghiên cứu cho thấy:
+ Số nhánh đẻ ở công thức cấy thưa giảm đáng kể so với công thức cấy dầy
Trang 24+ Kích thước nhánh đẻ ở công thức cấy thưa hơn công thức cấy dầy8,86%, tỷ lệ hạt thấp hơn 2,35% và khối lượng 100 hạt cũng thấp hơn 0,86g.Năng suất của công thức cấy thưa giảm 17-19%.
Mật độ trồng thích hợp quần thể ruộng lúa sẽ sử dụng tốt nước và dinhdưỡng để tạo ra năng suất cao nhất Mật độ sản xuất giống đảm bảo tạo ra 400 –
500 bông/m2, có nghĩa là 70 – 100 cây mạ/m2 là tốt nhất Mật độ thưa sẽ tăngkhả năng đẻ nhánh và có thể gây ra biến động lớn về độ chín đồng đều của cácbông, ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống Tuy nhiên, mật độ thưa cũng đồngthời làm tăng cỏ dại, giảm chất lượng hạt giống Mật độ trồng quá cao làm giảmnăng suất và chất lượng hạt giống vì tăng sự cạnh tranh nước và dinh dưỡng, chekhuất lẫn nhau, dễ đổ và giảm kích thước hạt Mew và cộng sự (1994 - 2005)
Theo Yan Qingquan (1992) cấy mạ non, 1 dảnh/khóm, cần phải cấy thưa
và cấy theo ô vuông với khoảng cách từ 25 × 25 cm đến 50 × 50 cm là một phầncốt yếu của SRI nhưng cấy thưa như thế nào thì cần được xác định theo kinhnghiệm Trước hết phải quan tâm đến các giống khác nhau Nếu giống cao cây,
có thời gian sinh trưởng dài, chịu phân bón và khả năng đẻ nhánh khỏe hơn thì
có thể cấy thưa (25 × 25 cm hoặc hơn), những giống khác thì có thể cấy dầy hơn
sẽ cho năng suất cao Thứ hai, mật độ cấy phụ thuộc vào dinh dưỡng và điềukiện tưới Điều kiện này luôn luôn phải xác định theo kinh nghiệm
Lúa khi cấy ở mật độ thưa, mỗi cây sẽ có lượng dinh dưỡng lớn, khả nănghút đạm và cung cấp cho hạt cao hơn đã làm tăng lượng protein trong hạt của lúanhưng lại làm giảm lượng lipit trong hạt ( De Datta và cộng sự, 1984)
1.2.2 Những nghiên cứu về mật độ lúa cấy ở Việt nam
Ở Việt Nam, từ xa xưa bà con nông dân đã quan tâm đến mật độ cấy, đã
có nhiều tranh cãi về hai quan niệm: “cấy thưa, thừa thóc” với “cấy dầy, thócđầy kho” Cho đến nay, sau rất nhiều công trình nghiên cứu, các nhà khoa học
đã cho thấy: cấy dầy hợp lý làm tăng năng suất rõ rệt Tuỳ theo chân ruộng mạtốt – xấu, tuổi mạ, giống lúa, tập quán canh tác, thời vụ mà xác định mật độ cấy
Trang 25cho phù hợp Bố trí mật độ cấy, khoảng cách cấy, số dảnh/khóm, số khóm/m2phù hợp nhằm tạo cấu trúc quần thể với số lượng bông thích hợp thì đạt được sốhạt nhiều, năng suất cao.
Mật độ cấy là số cây, số khóm được trồng cấy trên một đơn diện tích Vớilúa cấy mật độ được tính bằng số khóm/m2, còn với lúa gieo thẳng thì mật độđược tính bằng số hạt mọc/m2 Về nguyên tắc thì mật độ gieo cấy càng cao, sốbông càng nhiều Nhưng trong giới hạn nhất định, khi tăng số bông không làmgiảm số hạt/bông, vượt quá giới hạn đó số hạt/bông và khối lượng 1000 hạt bắtđầu giảm Mật độ thích hợp tạo cho cây lúa phát triển tốt, tận dụng dinh dưỡng
và ánh sáng Xác định mật độ cấy phù hợp là yêu cầu cần thiết, phải dựa trên cơ
sở về tính di truyền của giống, điều kiện tự nhiên, dinh dưỡng và các biện pháp
kỹ thuật khác
Theo tác giả Bùi Huy Đáp (1970) để xác định mật độ cấy hợp lý có thể căn
cứ vào hai thông số: số bông cần đạt trên một m2 và số bông hữu hiệu trên khóm
Từ hai thông số này có thể xác định mật độ cấy phù hợp theo công thức:
Mật độ (khóm/m2) =
Số bông/m2
số bông hữu hiệu/khómĐối với lúa cấy, số lượng tuyệt đối về số nhánh thay đổi nhiều qua cácmật độ nhưng tỷ lệ nhánh có ích giữa các mật độ lại là không thay đổi nhiều.Các nhánh đẻ của cây lúa không phải nhánh nào cũng cho năng suất mà chỉnhững nhánh đạt được thời gian sinh trưởng và số lá nhất định mới thành bông(Bùi Huy Đáp, 1999)
Cũng theo tác giả, sự đẻ nhánh của cây lúa có quan hệ chặt chẽ với diệntích dinh dưỡng Diện tích dinh dưỡng càng lớn thời gian đẻ nhánh càng dài.Ngược lại, diện tích dinh dưỡng càng nhỏ thì thời gian đẻ nhánh càng ngắn Cấydầy ở mật độ cao cây lúa sẽ không đẻ nhánh và một số nhánh bị lụi dần (BùiHuy Đáp, 1970)
Trang 26Theo Nguyễn Văn Hoan (1995)thì trên một đơn vị diện tích nếu mật độcàng cao thì số bông càng nhiều, song số hạt trên bông càng ít Tốc độ giảm sốhạt/bông mạnh hơn tốc độ tăng của mật độ, vì thế cấy quá dầy sẽ làm cho năngsuất giảm nghiêm trọng Tuy nhiên nếu cấy mật độ quá thưa đối với các giống
có thời gian sinh trưởng ngắn rất khó hoặc không đạt được số bông tối ưu
Về ảnh hưởng của mật độ cấy đến khối lượng 1000 hạt, Bùi Huy Đáp(1999) đã chỉ ra rằng khồi lượng 1000 hạt ở các mật độ từ cấy thưa đến cấy dàykhông thay đổi nhiều
Theo Nguyễn Thị Trâm thì mật độ cấy càng cao thì số bông càng nhiều.Tuy nhiên cấy quá thưa đối với giống ngắn ngày thì khó đạt được số bông/đơn
vị diện tích theo dự định, các gioogns lai có thời gian sinh trưởng trung bình cóthể cấy thưa, ví dụ: Bắc ưu 64 có thể cấy 35 khóm/m2 Các gioogns có thời giansinh trưởng ngắn ngày như Bồi tạp sơn thanh, Bồi tạp 77 cần cấy dầy 40-45khóm/m2
Khi nghiên cứu về mật độ, cách cấy của các ruộng lúa năng suất cao tácgiả Đào Thế Tuấn (1963) cho rằng: mật độ là một trong những biện pháp ảnhhưởng đến năng suất lúa vì mật độ cấy quyết định diện tích lá và sự cấu tạo quầnthể, đến chế độ ánh sáng và sự tích lũy chất khô của ruộng lúa một cách mạnh
mẽ nhất
Theo Nguyễn Văn Hoan (2004) thì tùy từng giống để chọn mật độ thíchhợp vì cần tính đến khoảng cách đủ rộng để làm hàng lúa đủ thông thoáng, cáckhóm lúa không chen nhau Cách bố trí khóm lúa theo hình chữ nhật (hàng sôngrộng hơn hàng con) là phù hợp nhất vì như thế mật độ trồng được đảm bảonhưng lại tạo ra sự thông thoáng trong quần thể, tăng khả năng quang hợp,chống bệnh tốt và tạo ra hiệu ứng rìa sẽ cho năng suất cao hơn
Mối quan hệ giữa mật độ cấy và tuổi mạ được tác giả Nguyễn Công Tạn
và cộng sự (2002) nghiên cứu đã kết luận: khi sử dụng mạ non để cấy (mạ chưa
đẻ nhánh), lúa thường đẻ nhánh sớm và nhanh Nếu cần đạt 9 bông hữu
Trang 27hiệu/khóm với mật độ 40 khóm/m2 chỉ cần cấy 3 – 4 dảnh, mỗi dảnh đẻ 2 nhánh
là đủ Nếu cấy nhiều hơn, số nhánh đẻ có thể tăng nhưng tỷ lệ hữu hiệu giảm.Khi sử dụng mạ thâm canh, mạ đã đẻ 2 – 5 nhánh thì số dảnh cấy phải tính cảnhánh đẻ trên mạ Loại mạ này già hơn 10 – 15 ngày so với mạ chưa đẻ Vìvậy, số dảnh cấy cần phải bằng số bông dự định hoặc ít nhất cũng phải đạt trên70% số bông dự định Sau khi cấy các nhánh đẻ trên mạ sẽ tích luỹ, ra lá, lớnlên và thành bông Thời gian đẻ nhánh hữu hiệu chỉ tập trung vào khoảng 8 –
15 ngày sau cấy Vì vậy, cấy mạ thâm canh cần có số dảnh cấy/khóm nhiềuhơn cấy mạ non
Tác giả Trương Đích (1999) cho rằng mật độ cấy còn phụ thuộc vào mùa
vụ và giống: vụ xuân hầu hết các giống cải tiến cấy mật độ thích hợp là 45 – 50khóm/m2 nhưng vụ mùa thì cấy 55 – 60 khóm/m2
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy và liều lượng đạm tới sinh trưởngcủa lúa ngắn ngày thâm canh Nguyễn Như Hà (2005) kết luận: tăng mật độ cấylàm cho việc đẻ nhánh của một khóm giảm So sánh số dảnh trên khóm của mật
độ cấy thưa 45 khóm/m2 và mật độ cấy dầy 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻtrong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh - 14,8% ở vụ xuân,còn ở vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm – 25% Về dinh dưỡng đạm của lúa có tácđộng đến mật độ cấy tác giả kết luận rằng: Tăng bón đạm ở mật độ cấy dầy cótác dụng tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với mật
độ cho đến 65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2 ở vụ xuân Tăng bón đạm ởmật độ cao trong khoảng 55 - 65 khóm/m2 làm tăng tỷ lệ dảnh hữu hiệu
Theo Nguyễn Hữu Tề và cộng sự (1997) Với lúa thuần thì giống lúa nhiềubông nên cấy 200 - 250 dảnh cơ bản/m2; đối với giống to bông, cấy 180 - 200 dảnh/m2
Số dảnh cấy/khóm là 3 - 4 dảnh ở vụ mùa và 4 - 5 dảnh là ở vụ chiêm xuân
Tác giả Nguyễn Văn Cường và cộng sự (2004) cho rằng lúa lai có khảnăng đẻ nhánh mạnh nên khi cấy dầy lúa lai gây giảm năng suất nhiều hơn so
Trang 28với lúa thường, nhưng nếu cấy quá thưa với giống có thời gian sinh trưởng ngắnthì khó đạt số bông tối ưu cần thiết
Về mối quan hệ giữa mật độ cấy và dinh dưỡng cho lúa, nhiều tác giả chorằng ở điều kiện phân nhiều thì việc xác định mật độ cấy phải dựa vào khả năng
đẻ nhánh, ngược lại ở điều kiện phân ít thì phải dựa vào số thân chính Trên đấtgiàu dinh dưỡng, mạ tốt cần chọn mật độ thưa, nếu mạ xấu cộng với đất xấu nêncấy dày
Tác giả Nguyễn Như Hà (1999) nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ cấy vàliều lượng đạm tới sinh trưởng của giống lúa ngắn ngày thâm canh đã kết luận: mật
độ cấy tăng làm cho việc đẻ nhánh trên một khóm giảm So sánh số dảnh/khóm củamật độ cấy thưa 45 khóm/m2 với mật độ cấy dầy 85 khóm/m2 thì thấy số dảnh đẻtrong một khóm lúa ở công thức cấy thưa lớn hơn 0,9 dảnh (14,8%) ở vụ xuân, còn ở
vụ mùa lên tới 1,9 dảnh/khóm (25%) Về dinh dưỡng đạm của lúa tác động đến mật
độ cấy, tác giả kết luận: tăng bón đạm ở mật độ cấy dầy có tác dụng làm tăng tỷ lệdảnh hữu hiệu Tỷ lệ dảnh hữu hiệu tăng tỷ lệ thuận với tăng mật độ cho đến mật độ
65 khóm/m2 ở vụ mùa và 75 khóm/m2 ở vụ xuân
Về mối quan hệ giữa mật độ và năng suất lúa, tác giả Đinh Văn Lữ (1978)cho rằng các yếu tố cấu thành năng suất có liên quan chặt chẽ với nhau, muốnnăng suất cao phải phát huy đầy đủ các yếu tố mà không ảnh hưởng lẫn nhau.Theo đó, số bông tăng lên đến một phạm vi mà số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắcgiảm ít thì năng suất đạt cao, nhưng nếu số bông tăng quá cao, số hạt/bông và tỷ
lệ hạt chắc giảm nhiều thì năng suất thấp Trong 3 yếu tố cấu thành năng suấtgồm số bông/m2, số hạt chắc/bông và khối lượng 1000 hạt thì 2 yếu tố đầu giữvai trò quan trọng và thay đổi theo cấu trúc quần thể còn khối lượng 1000 hạtcủa mỗi giống ít biến động
Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số dảnh và mật độ cấy đến khả năngsinh trưởng, phát triển và năng suất của lúa Cho thấy, mật độ cấy ảnh hưởngkhông nhiều đến thời gian sinh trưởng, số lá và chiều cao cây Nhưng mật độ có
Trang 29ảnh hưởng đến khả năng đẻ nhánh, hệ số đẻ nhánh (hệ số đẻ nhánh giảm khităng mật độ cấy) Mật độ cấy tăng thì diện tích lá và khả năng tích luỹ chất khôtăng lên ở thời kỳ đầu, đến giai đoạn chín sữa khả năng tích luỹ chất khô giảmkhi tăng mật độ cấy.
Từ những kết quả nghiên cứu về mật độ trên có thể rút ra một số nhận xétnhư sau:
- Mật độ và năng suất lúa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Việc tăngmật độ cấy trong giới hạn nhất định thì năng suất sẽ tăng Vượt quá giới hạn đóthì năng suất sẽ không tăng mà thậm chí có thể giảm đi
- Quần thể lúa có quy luật tự điều tiết giữa cá thể và quần thể nhưng quyluật đó không phải đúng trong mọi trường hợp
- Cách bố trí khóm lúa theo kiểu hàng sông rộng hơn hàng con sẽ tạo ra
sự thông thoáng cho ruộng lúa phát triển mà vẫn đảm bảo được mật độ dàycho phép
- Để có được tổng số bông/m2 như nhau thì cách cấy ít dảnh, nhiều khóm
sẽ tốt hơn cách cấy nhiều dảnh ít khóm
- Mật độ cấy thích hợp được xác định tùy thuộc chủ yếu vào đặc điểm củagiống, đất đai, phân bón và mùa vụ
Trang 301.3 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa ở thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa trên thế giới
Bất kỳ lúa nước hay lúa trồng trên cạn muốn có năng suất cao đều cầnnguồn dinh dưỡng rất lớn Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuậtđược thực hiện khá phổ biến thường mang lại hiệu quả lớn nhưng cũng chiếmphần khá cao trong chi phí của sản xuất nông nghiệp Cây trồng có yêu cầuvới các chất dinh dưỡng ở những lượng và tỷ lệ nhất định, nếu thiếu một chấtdinh dưỡng nào đó cây sinh trưởng phát triển kém, ngay cả khi các chất dinhdưõng khác dư thừa Do đó cần bón hợp lý để đạt năng suất và hiệu quả kinh
tế cao nhất
Bón phân hợp lý và sử dụng phân bón thích hợp bón cho cây đảm bảotăng năng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại các hậu quảtiêu cực lên nông sản và môi trường sinh thái Bón phân hợp lý là thực hiện 5đúng: bón đúng loại phân; bón đúng lúc; bón đúng đối tượng; bón đúng thời tiết,mùa vụ; bón đúng cách
Ở Pakistan lúa là cây lương thực quan trọng, thí nghiệm trên đồng ruộngcủa người nông dân 2005 – 2007 cho thấy: trên nền 85 kg P2O5 + 62 K2O/ha, cácmức đạm bón khác nhau đã ảnh hưởng đáng kể đến năng suất lúa thuần Năngsuất lúa cao nhất đạt được ở mức bón đạm 85 kgN/ha: 4,02 tấn/ha Mức bón
115 kgN/ha cho năng suất lúa thấp hơn: 3,88 tấn/ha Năng suất lúa giảm khilượng đạm bón nhiều hơn 115 kgN/ha và ít hơn 85 kgN/ha
Năng suất của bất kỳ cây trồng nào cũng là kết quả của hoạt động quanghợp và lượng dinh dưỡng hấp thu Kết quả nghiên cứu về lúa lai tại Ấn Độ năm
2000 trên nền phân bón 120N + 60 P2O5 + 45 K2O cho thấy: Giống TNRH 16 cólượng chất khô tích lũy cao nhất (1164 g/m2), năng suất hạt 6470 kg/ha và ưu thếlai 28%, thấp hơn là giống DRRH 1 tương ứng là 1089 g/m2, 5750 và 19,5%.Lượng chất khô tích lũy ở các bộ phận trên cây là khác nhau: 14,35% ở rễ,9,34% ở lá, 31,2% ở thân và 45% ở bông Giống TNRH 16 hấp thu được lượng
Trang 31dinh dưỡng đạm, lân, kali cao nhất tương ứng là: 144, 21 , 126 kg/ha, còn giốngDNRH 1 hấp thu được ít hơn tương ứng là 134, 20, 97 kg/ha Để tạo ra 100 kghạt cần 1,7 - 2,4 kgN, 0,27 – 0,34 kg P2O5 và 1,0 – 2,1 kg K2O.
Theo Mai Văn Quyền (2002) tổng kết kinh nghiệm trên 60 thí nghiệm thựctiễn khác nhau ở 40 nước có khí hậu khác nhau đã cho thấy: nếu đạt năng suất 3 tấnthóc/ha, lúa lấy đi hết 50kgN, 26kgP2O5, 80kgK2O, 10kg Ca, 6kg Mg, 5kg S Vànếu ruộng lúa đạt năng suất 6 tấn/ha thì lượng dinh dưỡng cây lúa cần lấy đi100kgM, 50kg P2O5, 160kg K2O, 19kg Ca, 12kg Mg, 10kg S, lấy trung bình cứ tạo
1 tấn thóc lúa lấy đi hết 17kgN, 8kg P2O5, 27kg K2O, 3kg CaO, 2kg Mg và 1,7kg S
Thí nghiệm khác của M.P Kavitha và Balasubramania năm 1999 – 2001
về ảnh hưởng của phân hữu cơ, đạm trên hai giống lúa lai ADTRH 1 và CORH
2 cho thấy: Bón phân hữu cơ làm tăng năng suất ở cả hai mức bón đạm 150 và
200 kgN/ha và lượng bón phân hữu cơ 10 tấn/ ha và 200 kgN/ha cho năng suấtlúa lai cao nhất
Thí nghiệm của Ying năm 1998 cho thấy: sự tích lũy đạm, lân ,kali ở các
cơ quan trên mặt đất của cây lúa không kết thúc ở thời kỳ trỗ mà còn được tíchlũy tiếp ở giai đoạn tiếp theo của cây như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam,Malaysia và các nước vùng Đông Nam Á Trong Theo Yang năm 1990: Ở nhiềunước trên thế giới thường hay bón phân chuồng và phân ủ cho lúa để tăng độ phìnhiêu cho đất thời gian gần đây phân khoáng đã được dùng phổ biến và phânchuồng được dùng bón lót làm tăng năng suất lúa và tăng hiệu quả của phânkhoáng.(Nguồn:Ying, J; Peng, S Yang, G; Zhou, N; Visperas; R.M.andCassman, K.G, 1998, Cosparison of high-yield rice in tropical and subtropical
environments II Nitrigen accumulation and utilization efficiency Field crop
Research 57:85-93)
M Suganthi, P.Subbian và S Marimuthu (2003), trường Đại học nôngnghiệp Tamil Nadu, Ấn Độ cho biết: Đối với giống lúa lai ADTRH 1, năng suất
Trang 32hạt tăng dần khi bón đạm với lượng từ 0-150 kg/ha và không có sự khác biệt vềnăng suất lúa ở mức 150 và 200 kg N/ha
Tại Viện nghiên cứu lúa Hyderabad của Ấn Độ Thí nghiệm của các tácgiả S.V Subbaiah, R.M Kumar và S.P Sing nghiên cứu ảnh hưởng của các chấtdinh dưỡng và vai trò của NPK đối với lúa lai từ năm 1999 – 2001 đã cho kếtquả như sau: với giống lúa lai ProAgro, năng suất lúa giảm khi mức đạm bónvượt quá 150 kg/ha Các tác giả khi bón đạm và lân trên nền 50 kg K2O/ha trong
24 điểm nghiên cứu đã xác định được mức phân bón tối ưu cho mỗi ha là 120kg
và Ấn Độ là 02 nước sản xuất lúa gạo lớn nhất thế giới với diện tích trồng lúa là30,11 triệu ha (Trung Quốc); 42,56 triệu ha (Ấn Độ) Mặt khác, Trung Quốc lànước đi đầu trong phát triển lúa lai và siêu lúa lai nên sản lượng lúa đạt cao nhấtthế giới 197,21 triệu tấn Do đó, nhu cầu sử dụng phân bón cao trong sản xuất
Trang 33Theo M Narayana, K Surekha, Viện nghiên lúa Ấn Độ thì sự hút đạm và
sử dụng đạm trong sản xuất lúa phụ thuộc chặt chẽ vào quan hệ hút đạm/ vậnchuyển đạm/ đồng hoá và phân phối đạm trong cây lúa Sự biểu hiện của quátrình này khác nhau ở các giống lúa khác nhau Thí nghiệm được tiến hành năm
2000 và 2001 ở 4 điểm khác nhau với 4 mức bón đạm: không bón, bón 50%,100%, 150% so với mức khuyến cáo cho hai giống lúa lai (PHB 71, KRH 2) vàgiống lúa thuần Kết quả cho thấy: năng suất của các giống theo mức tăng phânđạm là 5,3 – 6,7 tấn/ha vượt đối chứng 2,3 – 3,9 tấn/ha Nhưng ở một trong 4điểm thí nghiệm, năng suất chỉ đạt 4,2 tấn/ha khi mức bón trên 100% Ở hầu hếtcác điểm năng suất lúa lai cao hơn lúa thuần 9 – 18%, chỉ có 1 điểm năng suấtlúa thuần cao hơn Giống lai PHB 71 cho biểu hiện cao nhất về hiệu quả sử dụngđạm, hiệu quả sinh lý, chỉ số thu hoạch Các giống lai có chỉ số diện tích lá, tổng
số hạt/bông, số hạt chắc/bông cao hơn lúa thuần Như vậy, năng suất hạt cao dohiệu quả sử dụng đạm và có thay đổi ở các điều kiện sinh thái khác nhau
Lúa lai cần lượng kali bón khoảng 50 – 60 kg/ha, khi bón kali 50% lúc
đẻ nhánh và 50% bón khi phân hoá đòng, năng suất lúa lai tăng 12 – 30% sovới lúa thuần và năng suất tăng 9% so với bón 100% kali vào lúc đẻ nhánh
Còn khi thay đổi lượng đạm và kali bón trên nền lân cố định (60 kg/ha)thì cứ tăng 1 kg Kali hiệu quả tăng 1 kg hạt (mức bón 90 kg K2O/ha) Kali có vaitrò quan trọng đối với năng suất lúa trong nền bón đạm thấp (90kg N/ha)
Theo Koyama năm 1981 và Sarker năm 2002 thì đạm là yếu tố xúc tiếnquá trình đẻ nhánh của cây, lượng đạm càng cao thì lúa đẻ nhánh càng nhiều, tốc
độ đẻ nhánh lớn nhưng lụi đi cũng nhiều
Bên cạnh đó, bón đủ và cân đối đạm không những có tác dụng tăng diệntích lá, tăng khả năng đẻ nhánh mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng quanghợp và tích lũy chất khô, tạo năng suất hạt của cây lúa Bón thúc đạm làm tănglượng đạm trong lá (Mitsui, Nixihaki, 1940)
Trang 34Khi làm thí nghiệm bón đạm sau khi lúa trỗ với cách bón một lần toàn bộ
số lượng đạm và bón rải 5 lần (Honjyo, 1971) đã đưa ra kết luận: bón đạm nhiềulần rải rác làm giảm hàm lượng protein trong hạt gạo so với bón tập trung
Theo kết quả của Nagai (1959), lân được hút trong 42 ngày đầu tiên saucấy thì chuyển lên bông, có tác dụng rõ rệt đến năng suất lúa, còn lân được hútsau đó, phần lớn được ở rễ và trong rơm rạ
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng phân bón cho lúa ở Việt Nam
Bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện khá phổbiến, thường mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chiphí của sản xuất nông nghiệp Cây trồng có yêu cầu với các chất dinh dưỡng ởnhững lượng và tỷ lệ nhất định, thiếu một chất dinh dưỡng nào đó cây sinhtrưởng phát triển kém, ngay cả khi có các chất dinh dưỡng khác ở mức dư thừa
Do đó cần bón phân hợp lý để đạt năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Bón phân hợp lý là sử dụng phân bón thích hợp bón cho cây đảm bảo tăngnăng suất cây trồng với hiệu quả kinh tế cao nhất, không để lại các hậu quả tiêucực đến nông sản và môi trường sinh thái Bón phân hợp lý là thực hiện 5 đúng:Bón đúng loại phân; bón đúng lúc; bón đúng đối tượng; bón đúng thời tiết, mùavụ; bón đúng cách
Hiện nay, Việt Nam là nước sử dụng phân bón tương đối cao so vớinhững năm trước đây một măt do vốn đầu tư tăng cao, mặt khác do người dântiếp thu và áp dụng được nhiều biện pháp kỹ thuật trong thâm canh Theo VũHữu Yêm (1995), Viêt Nam hiện đang là một trong 20 quốc gia sử dụng phânbón cao nhất thế giới Mỗi năm nông dân Việt Nam đã sử dụng tới khoảng 5triệu tấn phân bón vô cơ quy chuẩn không kể phân hữu cơ và các loại phân bónkhác do các cơ sở tư nhân và các công ty TNHH sản xuất, cung ứng
Trong tương lai nước ta vẫn là một nước sử dụng phân bón với lượng lớntrong sản xuất nông nghiệp mặc dù phải nhập khẩu phân
Trang 35Bảng 1.5: Nhu cầu và cân đối phân bón ở Việt Nam đến năm 2020
(Nguồn: Phòng QL đất và phân bón, Cục Trồng trọt, Bộ NN & PTNT, 5/2007)
Theo Nguyễn Văn Bộ (2003), mỗi năm nước ta sử dụng 1.202.140 tấnđạm, 456.000 tấn lân, 402.000 tấn kali, trong đó sản xuất lúa chiếm 62%.Song do điều kiện khí hậu còn gặp nhiều bất lợi cho nên kỹ thuật bón phânchỉ mới phát huy được 30% hiệu quả đối với đạm và 50% hiệu quả đối với lân
và kali Nhưng hiệu quả bón phân đối với cây trồng lại tương đối cao, do vậy
mà người dân ngày càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất.Trong tương lai, vẫn hứa hẹn sử dụng một lượng phân bón rất lớn trong sảnxuất nông nghiệp, mặc dù nước ta chủ yếu vẫn phải nhập khẩu phân bón
Hiện nay thì nhu cầu phân bón ở Việt Nam vào khoảng trên 10 triệu tấncác loại, trong đó ure khoảng 2 triệu tấn, DAP khoảng 900,000 tấn, SA 850,000tấn, kali 950,000 tấn, phân lân trên 1,8 triệu tấn, phân NPK khoảng 3,8 triệu tấn,ngoài ra còn có nhu cầu khoảng 400 – 500,000 tấn phân bón các loại vi sinh,phân bón lá ngành sản xuất phân hóa học nước ta mới đáp ứng được khoảng45% nhu cầu của nông nghiệp, còn lại phải nhập khẩu gần như toàn bộ phân kali
và phân phức hợp DAP, một lượng khá lớn phân hỗn hợp NPK
Phân NPK: hiện cả nước có tới cả trăm đơn vị sản xuất phân bón tổng hợp
NPK các loại Về thiết bị và công nghệ sản xuất cũng có nhiều dạng khác nhau,
từ công nghệ cuốc xẻng đảo trộn theo phương thức thủ công bình thường đến
Trang 36phẩm NPK ở Việt Nam rất nhiều loại khác nhau cả về chất lượng, số lượng đếnhình thức bao gói.
Phân lân: hiện tại supe Lân sản xuất trong nước có công suất 1,2 triệu
tấn/năm, bao gồm nhà máy Lâm Thao công suất 800.000 tấn/năm, Lào Cai200.000 tấn/năm và Long Thành 200.000 tấn/năm Sản xuất Lân nung chảy hiệntại vào khoảng 600.000 tấn/năm bao gồm nhà máy Văn Điển và nhà máy NinhBình Như vậy sản xuất phân lân trong nước cũng đáp ứng được về cơ bản nhucầu sản xuất nông nghiệp trong nước
Phân Kali: Hiện trong nước chưa sản xuất được do nước ta không có mỏ
quặng Kali, vì vậy 100% nhu cầu của nước ta phải nhập khẩu từ nước ngoài
Phân DAP: hiện sản xuất trong nước tại nhà máy DAP Đình Vũ 330.000
tấn/năm, hiện tại từ nay đến hết năm 2014, vẫn phải nhập khẩu DAP thêm từ500.000 – 600.000 tấn/năm
Phân hữu cơ và vi sinh: Hiện tại sản xuất trong nước vào khoảng 400.000
tấn/năm, tương lai nhóm phân bón này vẫn có khả năng phát triển do tác dụngcủa chúng với cây trồng, làm tơ xốp đất, trong khi đó nguyên liệu được tận dụng
từ các loại rác và phế thải cùng than mùn sẵn có ở nước ta
Theo Đỗ Thị Thọ, 2004 và Lê Văn Tiềm 1986: khi cây lúa bón đủ đạm thìnhu cầu tất cả các dinh dưỡng khác như lân và kali đều tăng
Bón phân làm cho năng suất lúa tăng từ 13,9 – 22,5% so với không bónphân Mỗi loại phân bón có ảnh hưởng khác nhau đến sinh trưởng, phát triển vànăng suất lúa Phân lân có tác động thúc đẩy tăng trưởng cho lúa ít hơn phânđạm Bón tăng lượng lân từ 0 – 60 kg/ha, số bông/m2 và số hạt/ bông tăng lên,tuy nhiên không có sự khác nhau có ý nghĩa giữa các công thức bón lân Sốbông/m2 và số hạt/ bông chỉ tăng lên khi lượng đạm bón từ 100 – 150 kg/ha, nếubón nhiều hơn 150 kg N/ha thì năng suất lúa giảm Cân bằng dinh dưỡng giúpcây lúa có sức chống chịu tốt hơn với sâu bệnh hại
Trang 37Khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng và phát triểncủa cây lúa Bùi Huy Đáp cho biết: Phân hóa học cung cấp 1/3 đến 1/2 lượngphân đạm cho lúa Đối với nhiều loại đất, ngay từ đầu cần phải bón đạm kết hợpvới lân mới cho năng suất cao Theo Lê Văn Căn năm 1964 cho rằng: Lúa yêucầu đạm ngay từ lúc nảy mầm và gần như đến cuối cùng của thời kỳ sinh trưởngsinh thực.
Phân bón là một trong những yếu tố quyết định năng suất, chất lượng vàgiá thành nông sản nói chung Thâm canh sản xuất lúa cao sản trong nền nôngnghiệp bền vững cũng đòi hỏi phải đầu tư phân bón sao cho vừa đạt năng suấtcao, ổn định vừa đạt hiệu quả kinh tế cao Các thí nghiệm ngoài đồng thực hiệntrên hai loại đất: đất phù sa đầu nguồn ở Châu Thành, An Giang và đất phèn nhẹ
ở Cờ Đỏ, Cần Thơ nhằm tìm ra công thức phân bón vừa đạt năng suất lúa caovừa đạt lợi nhuận cao nhất Các nghiệm thức nghiên cứu là tổ hợp của 5 mứcphân đạm (0, 30, 50, 70 và 90 kg N/ha), 4 mức phân lân (0, 30, 50 và 70kg
P2O5/ha) và 4 mức phân kali (0, 30, 50 và 70 kg K2O/ha) trên nền phân hữu cơVIDAGRO (0,5 tấn/ha) có thành phần dinh dưỡng: 45% chất hữu cơ, N tổng số10%, K2O dễ tiêu 3,5% Năng suất lúa biến động từ 5,77 - 6,05 tấn/ha trên chânđất phèn nhẹ Cần Thơ với liều lượng phân bón thích hợp cho vụ đông xuân là từ
80 - 120 kg N/ha,30 - 50 kg P2O5/ha, 30 - 50 kg K2O/ha Các công thức phânbón: 30-50-50 kg N- P2O5 - K2O/ha, 50-50-30 kg N- P2O5 -K2O/ha và 50-30-30
kg N- P2O5 -K2O/ha cùng với phân hữu cơ vừa đạt năng suất lúa cao vừa đạt hiệuquả kinh tế cao nhất Trên chân đất phù sa đầu nguồn An Giang năng suất lúađạt từ 6,81-7,16tấn/ha với liều lượng phân bón thích hợp là từ 100-120 kg N/ha,30-50 kg P2O5/ha, 30 - 70kg K2O/ha Các công thức phân bón: 50-30-50 kg N-
P2O5-K2O/ha, 50-50-30kg N-P2O5-K2O/ha, 70-50-50kg N-P2O5-K2O/ha, và 50-70 kg N- P2O5-K2O/ha kết hợp với phân hữu cơ vừa cho năng suất lúa caovừa đạt lợi nhuận tối đa
Trang 3850-Theo các tác giả Đinh Văn Lữ (1978), Bùi Huy Đáp (1980), Đào ThếTuấn (1980) và Nguyễn Hữu Tề (1997): thông thường cây lúa hút 70% tổnglượng đạm là trong giai đoạn đẻ nhánh, đây là thời kỳ hút đạm có ảnh hưởng lớnđến năng suất, 10 – 15% là hút ở giai đoạn làm đòng, lượng còn lại là từ giaiđoạn sau làm đòng đến chín.
Theo tác giả Bùi Đình Dinh (1993), cây lúa cũng cần nhiều đạm trongthời kỳ phân hóa đòng và phát triển đòng thành bông, tạo ra các bộ phận sinhsản Thời kỳ này quyết định cơ cấu sản lượng: số hạt/bông, trọng lượng nghìnhạt (P1000) (Nguyễn Như Hà, 2005)
Theo Nguyễn Thị Lẫm, 1994: sau khi tăng lượng đạm thì cường độ quanghợp, cường độ hô hấp và hàm lượng diệp lúc của cây lúa tăng lên, nhịp độ quanghợp, hô hấp không khác nhau nhiều nhưng cường độ quang hợp tăng mạnh hơncường độ hô hấp gấp 10 lần cho nên vai trò của đạm làm tăng tích lũy chất khô
càng mạnh dạn áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Phân bón nói chung và phân đạm nói riêng giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đời sống cây trồng Đối với lúa, việc bón hợp lý và cân đối N: P: K cùng với phân hữu cơ để cho năng suất cao và giữ được cân bằng dinh dưỡng trong đất góp phần sử dụng đất có hiệu quả, bền vững là cần thiết
Theo Nguyễn Như Hà (2006) , nên sử dụng phân NPK chuyên dùng cholúa Đó là phân đa yếu tố cung cấp đủ chất dinh dưỡng không chỉ đa lượng (N,
P, K) mà cả trung lượng (Ca, Mg, S) và vi lượng (Fe, Mn, Cu…) nên tiết kiệmđược cho chi phí phân bón
Những số liệu này cho thấy cây lúa cần dinh dưỡng mới tạo được năngsuất cao Nhiều năm trước đây nông dân Việt Nam chỉ trồng các giống lúa địaphương, cây cao, kém chịu phân, thời gian sinh trưởng dài, năng suất chỉ đạtđược từ 1-3 tấn/ha nên nhu cầu cung cấp thêm chất dinh dưỡng từ các nguồnphân bón không cao lắm Ngày nay nông dân đã trồng hầu hết các giống lúacải tiến thấp cây, chịu phân cao nên muốn có năng suất cao cần phải cung cấp
Trang 39thêm nhiều chất dinh dưỡng có trong các nguồn phân bón và phải bón đúng
kỹ thuật, cân đối, đáp ứng nhu cầu của từng giống, từng vùng, từng vụ thìnăng suất lúa cao và ổn định
1.4 Đặc điểm dinh dưỡng đạm của cây lúa
Cây lúa, bất kỳ lúa nước hay lúa trồng trên cạn, muốn có năng suất caođều cần nguồn dinh dưỡng rất lớn, cung cấp trong quá trình sinh trưởng, pháttriển của cây lúa, nó cần thiết cho suốt quá trình phát triển, từ giai đoạn mạ chođến lúc thu hoạch
Nhiều năm trước đây nông dận Việt Nam chỉ trồng các giống lúa địaphương, cao cây, kém chịu phân, thời gian sinh trưởng dài, năng suất chỉ đạt từ1-3 tấn/ha nên nhu cầu cung cấp thêm chất dinh dưỡng từ các nguồn phân bónkhông cao lắm Ngày nay các vụ lúa đông xuân hè thu, nông dân đã trồng hầuhết cá giống lúa cải tiến thấp cây, chịu phân cao nên muốn có năng suất cao cầnphải cung cấp thêm nhiều chất dinh dưỡng có trong các nguồn phân bón và phảibón đúng kỹ thuật, cân đối, đáp ứng nhu cầu của từng giống, từng vùng, từng vụthì năng suất lúa mới cao và ổn định được
1.4.1 Vai trò của đạm đối với sinh trưởng, phát triển và năng suất lúa
Đạm là một yếu tố dinh dưỡng quan trọng, quyết định sự sinh trưởng vàphát triển của cây trồng Đạm là một trong những nguyên tố cơ bản của câytrồng, là thành phần cơ bản của axit amin, axit nucleotit và diệp lục Trongthành phần chất khô của cây có chứa từ 0,5 - 6% đạm tổng số Hàm lượngđạm trong lá liên quan chặt chẽ với cường độ quang hợp và sản sinh lượngsinh khối Đối với cây lúa thì đạm lại càng quan trọng hơn, nó có tác dụngtrong việc hình thành bộ rễ; thúc đẩy nhanh quá trình đẻ nhánh và sự phát triểnthân lá của lúa dẫn đến làm tăng năng suất lúa Do vậy, đạm góp phần thúc đẩysinh trưởng nhanh (chiều cao, số dảnh) và tăng kích thước lá, số hạt, tỷ lệ hạtchắc và tăng hàm lượng protein trong hạt Đạm ảnh hưởng đến tất cả các chỉ
Trang 40Đạm ảnh lớn đến hình thành đòng và bông lúa sau này, sự hình thành số hạttrên bông, tỷ lệ hạt chắc, khối lượng nghìn hạt.
Lúa là cây trồng rất mẫn cảm với việc bón đạm Ở giai đoạn đẻnhánh mà thiếu đạm sẽ làm năng suất lúa giảm do đẻ nhánh ít, dẫn đến sốbông ít
Khi bón không đủ đạm sẽ làm: thấp cây, đẻ nhánh kém, phiến lá nhỏ,hàm lượng diệp lục giảm, lá có thể biến thành màu vàng, bông đòng nhỏ, sốbông và số lượng hạt ít hơn, từ đó làm cho năng suất lúa giảm
Nhưng nếu bón thừa đạm làm cho cây lúa có lá to, dài, phiến lá mỏng,
dễ bị sâu bệnh; ngoài ra chiều cao phát triển mạnh, dễ bị đổ, nhánh vô hiệunhiều, trỗ muộn, năng suất giảm
Khi cây lúa được bón đủ đạm thì nhu cầu tất cả các chất dinh dưỡngkhác như lân và kali đều tăng Theo Bùi Huy Đáp (1980) đạm là yếu tố chủyếu ảnh hưởng đến năng suất lúa, cây có đủ đạm thì các yếu tố khác mới pháthuy tác dụng
Lúa lai có đặc tính đẻ nhiều và đẻ tập trung hơn lúa thuần Do đó yêucầu dinh dưỡng đạm của lúa lai nhiều hơn lúa thuần Khả năng hút đạm củalúa ở các giai đoạn khác nhau là khác nhau Theo Phạm Văn Cường và cộng
sự (2003), (2005), trong giai đoạn từ đẻ nhánh đến đẻ nhánh rộ, hàm lượngđạm trong thân lá luôn cao sau đó giảm dần Như vậy, cần bón đạm tập trungvào giai đoạn này Tuy nhiên thời kỳ hút đạm mạnh nhất của lúa là từ đẻ nhánh
rộ đến làm đòng
2.4.2 Những kết quả nghiên cứu về phân đạm cho lúa
Đạm có vai trò rất quan trong là cơ sở cấu tạo nên protein, cấu tạo nên tếbào và mô của cây, thúc đẩy quá trình quang hợp tích lũy chất hữu cơ Đạmđóng vai trò quan trọng trong đời sống cây lúa, nó giữ vị trí đặc biệt trong việctăng năng suất lúa Tại các bộ phận non của cây lúa có hàm lượng đạm cao hơncác bộ phận già Đạm là một trong những nguyên tố hóa học cơ bản của cây lúa,