1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng con đường trọng tài trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam

65 585 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng con đường trọng tài trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam
Tác giả Đặng Thị Lan Phương
Người hướng dẫn Dương Kim Thế Nguyên
Trường học Trường Đại Học Cần Thơ
Chuyên ngành Luật
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2003
Thành phố Cần Thơ
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 587,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trọng tài, theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, là người trung gian điều khiển, phân xử trong các cuộc thi đấu thể thao (trọng tài bóng đá); là người phân xử giải quyết những cuộc tranh chấp (trọng tài kinh tế)

Trang 1

Luận văn tốt nghiệp Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ

KHOA LUẬT

BỘ MÔN LUẬT KINH DOANH & THƯƠNG MẠI

LUẬN VĂN CỬ NHÂN LUẬT

Trang 2

Giáo viên hướng dẫn Sinh viên thực hiện:

DƯƠNG KIM THẾ NGUYÊN ĐẶNG THỊ LAN PHƯƠNG

Bộ môn Luật Kinh doanh & Thương mại MSSV:5992545

Lớp: Luật Thương mại B- K25

LỜI NĨI ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp nước Cộng Hồ Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam ghi nhận “ Cơng

dân cĩ quyền tự do kinh doanh theo quy định của pháp luật” Một trong những nội dung quan trọng của nguyên tắc tự do kinh doanh là sự tự do lựa chọn hình thức và phương thức giải quyết tranh chấp khác nhau: thương lượng, hồ giải, trọng tài, tồ

án Trong đĩ, trọng tài thương mại cĩ thể nĩi là một phương thức giải quyết tranh chấp được sử dụng rộng rãi và phổ biến ở nhiều nước trên thế giới bởi nhiều ưu điểm vốn cĩ của nĩ

Giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng con đường trọng tài ở Việt Nam hiện

nay là một vấn đề được lưu tâm khơng những trong khoa học pháp lý mà cịn cả trong thực tiễn hoạt động kinh doanh Việc hồn thiện phương thức trọng tài thương mại sẽ là một yếu tố gĩp phần khơng nhỏ vào sự phát triển kinh tế

Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 ra đời trên quan điểm chung của các

nhà lập pháp Việt Nam xây dựng một Pháp lệnh trên cơ sở phù hợp, hài hồ với

Luật trọng tài quốc tế và Luật trọng tài nhiều nước phát triển trên thế giới Bên cạnh đĩ, sự ra đời của Pháp lệnh cũng đã giải quyết được tình trạng thiếu một văn bản pháp luật thống nhất về trọng tài trong những năm qua

Tuy nhiên, do là một nền kinh tế đang hướng tới thị trường cùng với xu

hướng tồn cầu, hội nhập mà pháp luật nước ta vẫn là một hệ thống pháp luật đang

Trang 3

hướng đến thị trường Hiện nay, trong môi trường kinh tế toàn cầu hoá, đa dạng về chủ thể kinh doanh, lợi nhuận trở thành mục đích hàng đầu mà các nhà kinh doanh hướng tới, nhu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh cũng vì thế mà ngày càng phong phú và phức tạp, đặc biệt trong quá trình hội nhập hiện nay Việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam trong nhu cầu hội nhập quốc tế là một vấn đề cần thiết, mà cụ thể là pháp luật về giải quyết tranh chấp Trong đó, Trọng tài thương mại là một phương thức giải quyết tranh chấp mà Việt Nam cần phải hoàn thiện hơn cả do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan Từ những lý do trên và thấy được tính cấp thiết của việc cần phải hoàn thiện pháp luật trọng tài trong quá trình hội nhập

quốc tế hiện nay của Việt Nam mà người viết đã chọn đề tài “Hoàn thiện pháp

luật giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng con đường trọng tài trong quá trình

hội nhập quốc tế của Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cử nhân Luật của

2 Ý nghĩa, mục đích, phạm vi nghiên cứu

Luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu một cách tổng quát trên cơ sở lý

luận và các quy định của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam, có sự tham khảo pháp luật về trọng tài của một số nước trên thế giới, từ đó xác định việc quy định của pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam hiện nay có phù hợp với quy định của pháp luật trọng tài quốc tế, trong quá trình hội nhập quốc tế cũng như phù hợp về lý luận, thực tiễn áp dụng ở VIệt Nam để đưa ra những đề xuất, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu qủa của phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp cụ thể sau: Phân tích tổng hợp, so sánh,

phương pháp lịch sử… để giải quyết những vấn đề đặt ra trong luận văn

4 Kết cấu của luận văn

Mục lục

Lời nói đầu

Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về trọng tài thương mại

Chương 2: Pháp lệnh trọng tài thương mại 2003 với xu hướng hoàn thiện

pháp luật trọng tài thương mại trong quá trình hội nhập quốc tế

của Việt Nam

Kết luận

Tài liệu tham khảo

Trang 4

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1 KHÁI QUÁT VỀ TRỌNG TÀI THƯƠNG MẠI

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và vai trò của trọng tài thương mại

1.1.1.1 Khái niệm

Khái niệm về trọng tài

Trọng tài, theo định nghĩa của từ điển Tiếng Việt, là người trung gian điều

khiển, phân xử trong các cuộc thi đấu thể thao (trọng tài bóng đá); là người phân xử giải quyết những cuộc tranh chấp (trọng tài kinh tế)

Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản văn hoá thông tin Hà Nội năm

1999, trọng tài được coi là: “ người được các bên đối lập (tư nhân, thương gia…) công nhận là có thẩm quyền xử một vụ tranh chấp; là người được cử ra để điều khiển thể thao trong khuôn khổ điều lệ của bộ môn và công nhận các kết quả từng phần và cuối cùng”

Như vậy, Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa

thuận giữa các bên đối lập ủy thác cho một người hoặc một số người làm trung gian giải quyết sự xung đột trên cơ sở công bằng và khách quan

Khái niệm về thương mại

Khái niệm thương mại có rất nhiều cách hiểu khác nhau và là một vấn đề

gây ra nhiều tranh cãi trong quá trình xây dựng pháp luật của quốc gia

Khi khởi thủy, hoạt động thương mại chủ yếu là các hoạt động mua đi bán

lại để kiếm lời, vì thế khái niệm thương mại trong thời kì này cũng chỉ được hiểu theo một nghĩa hẹp là mua hàng hoá để bán với mục đích tìm kiếm một ít lợi nhuận Cùng với quá trình phát triển của kinh tế, khái niệm thương mại ngày càng được mở rộng Nó không chỉ là quan hệ mua đi bán lại mà nó còn là các hoạt động sản xuất công nghiệp, bảo hiểm, ngân hàng, chuyển giao công nghệ, đầu tư… Và

lúc này hoạt động thương mại được điều chỉnh bởi nhiều lĩnh vực pháp luật khác Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Trang 5

tế (UNCITRAL) thì khái niệm thương mại được hiểu theo một nghĩa rộng liên quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng

hoặc không phải quan hệ hợp đồng nhưng không giới hạn bởi các giao dịch: giao

dịch mua bán để cung cấp trao đổi hàng hoá, dịch vụ; thỏa thuận phân phối, đại diện hoặc đại lí thương mại; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận hoặc thăm dò khai thác; liên doanh hoặc các hình thức hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh khác; vận tải hàng hoá hoặc hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt hoặc đường bộ

Ở Việt Nam trong quá trình đổi mới, thuật ngữ “thương mại” được sử dụng

khá phổ biến trong hoạt động kinh tế, nhưng nó không được hiểu thống nhất với nhau trong quá trình xây dựng pháp luật thương mại Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 không đưa ra khái niệm “thương mại”, nhưng đã đưa ra khái niệm “kinh doanh” Theo hai đạo luật này thì “Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi” Đây là một khái niệm rộng và tương đồng với khái niệm thương mại được sử dụng phổ

biến trên thế giới

Tuy nhiên, đến khi Luật Thương mại ra đời vào năm 1997 thì khái niệm

thương mại chỉ được hiểu theo một phạm vi nhỏ hẹp: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoăc nhằm mục đích thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội”(khoản 2, điều 5 Luật thương mại Việt Nam 1997) Khái niệm “thương mại” ở đây chỉ bao gồm ba nhóm hành vi: thứ nhất, là việc mua bán hàng hoá; thứ hai, là các dịch vụ gắn liền với mua bán hàng hoá; và hoạt động thứ ba là xúc tiến thương mại

Cho đến ngày nay, với những cách hiểu khác nhau về “thương mại” đã tạo

nên tình trạng khó xác định được vị trí của các quan hệ pháp luật thương mại cũng như việc chọn luật áp dụng trong hoạt động kinh tế

Hiện nay, trong xu thế phát triển và hội nhập quốc tế, pháp luật Việt Nam đã

từng bước tiếp cận với pháp luật quốc tế mà khái niệm thương mại đã được hiểu Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện; đại lí thương mại; ký gởi; thuê, cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li-xăng; đầu tư; tài chính; ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò; khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”

Khái niệm về trọng tài thương mại

Theo bảng tổng hợp của luật sư Didie Xcoocichki, luật sư Tòa thượng thẩm

Trang 6

Paris thì:“Trọng tài là Tòa án tư, do ý chí đôi bên tranh chấp Vì vậy, trọng tài là Tòa án tư, cạnh tranh với Tòa án Nhà nước…”

1

Theo Nguyễn Ngọc Điệp, trong 1200 thuật ngữ pháp lý Việt Nam thì:

“Trọng tài quốc tế là cơ quan xét xử do các bên tranh chấp lập ra trên cơ sở thỏa thuận (hiệp định về trọng tài) để giải quyết tranh chấp Trọng tài có thể chỉ là một

cá nhân hoặc một hội đồng Quyết định của trọng tài có giá trị pháp lý bắt buộc đối với các bên tranh chấp”

Trọng tài thương mại là một tổ chức xã hội nghề nghiệp được tổ chức dưới

hai hình thức: trọng tài thường trực và trọng tài vụ việc “Trọng tài là quá trình giải quyết tranh chấp do các bên tự nguyện lựa chọn, trong đó bên thứ ba trung lập (trọng tài viên), sau khi nghe các bên trình bày, sẽ ra một quyết định có tính chất bắt buộc đối với các bên tranh chấp”

2

Như vậy, trọng tài thương mại là cơ quan xét xử do các bên đương sự thỏa

thuận thành lập để giải quyết tranh chấp giữa chính các bên đương sự đó Trong

quá trình giải quyết tranh chấp, các bên phải tôn trọng quy tắc tố tụng và phán quyết của trọng tài Về cơ bản, phán quyết của trọng tài vẫn đầy đủ thủ tục như một bản án và có giá trị bắt buộc thi hành

1.1 1.2 Đặc điểm

Trọng tài thương mại là một biện pháp lựa chọn rất phổ biến để giải quyết

tranh chấp trong nền kinh tế hiện nay ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam Ở những nước khác nhau có những đặc điểm kinh tế xã hội và tập quán pháp luật

1

Trọng tài thương mại quốc tế, Nhà pháp luật Việt Pháp, năm 1989, trang 72

2

Black’s Law Dictionary- West Pub.Co.1991

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Thứ nhất, các tổ chức trọng tài thương mại đều là một tổ chức phi chính

phủ, hoạt động mang tính nghề nghiệp Nó không nằm trong bộ máy Nhà nước, chính vì thế trọng tài thương mại không mang tính quyền lực Nhà nước

Thứ hai, các tổ chức trọng tài thương mại thường được lập trên sáng kiến và

sự tự nguyện của các trọng tài viên Như vậy có nghĩa là, chỉ những trọng tài viên mới có thể là thành viên của tổ chức trọng tài thương mại Các trọng tài viên khi có đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật, trên cơ sở tự nguyện họ tham gia thành lập một tổ chức trọng tài thương mại Hoạt động của tổ chức trọng tài dựa

Trang 7

trên cơ sở tự cân đối thu chi, áp dụng nguyên tắc tự hạch toán, dự trên uy tín là chủ yếu

Thứ ba, tuy là một tổ chức phi chính phủ nhưng hoạt động của trọng tài có

sự quản lý của Nhà nước Có nghĩa là, trong quá trình giải quyết tranh chấp của mình trọng tài cần có sự hỗ trợ rất lớn từ phía Nhà nước mà cụ thể là sự hỗ trợ từ

phía Tòa án để trọng tài có thể thực hiện chức năng giải quyết tranh chấp của mình một cách tốt nhất Ngoài ra, một trong những nội dung quan trọng trong việc quản

lý của Nhà nước đối với hoạt động trọng tài là việc phê chuẩn điều lệ của tổ chức, hoạt động trọng tài cũng như quy định về tiêu chuẩn của trọng tài viên

Thứ tư, các trọng tài viên chủ yếu là các luật gia và các thương gia Có thể

nói ngoài bộ phận chủ yếu là các luật gia thì thành phần thương gia là cơ sở cho việc hình thành và hoạt động của các tổ chức trọng tài Nhiều tổ chức trọng tài trên thế giới được thành lập là dựa trên sáng kiến của các thương gia

1.1.1.3 Vai trò của trọng tài thương mại

Trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay, cùng với xu thế toàn cầu hoá

thương mại, trọng tài thương mại đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế nói chung và thực tiễn giải quyết tranh chấp kinh tế nói riêng Vai trò của trọng tài thương mại cụ thể là :

-Trong môi trường kinh tế thị trường, các nhà kinh doanh với mục đích tìm

kiếm lợi nhuận cao, cùng với sự đòi hỏi bí mật trong kinh doanh cũng như sự nhanh chóng khi giải quyết tranh chấp mà trọng tài thương mại là phương thức tối

-Một vai trò không kém phần quan trọng nữa của trọng tài thương mại chính

là việc giảm bớt gánh nặng cho các Tòa án kinh tế Việc ra đời của các tổ chức trọng tài thương mại cũng chính là tạo ra cơ chế thi đua giữa Tòa án kinh tế và trọng tài thương mại trong sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, cũng như đáp ứng nhu cầu giải quyết tranh chấp trong kinh doanh ngày càng tăng cao

-Đảm bảo cho các nhà kinh doanh thực hiện quyền tự do kinh doanh mà ở

đây cụ thể là quyền tự do lựa chọn cơ quan tài phán

-Ngoài ra, việc hoàn thiện pháp luật trọng tài thương mại đóng vai trò quan

trọng trong việc tạo một môi trường đầu tư hấp dẫn trong quá trình quốc tế hoá của nhiều nước trên thế giới hiện nay

-Để củng cố cũng như phát triển mối quan hệ thương mại quốc tế bền vững

thì trọng tài thương mại đóng một vai trò quan trọng và vô cùng to lớn trong việc

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tranh chấp Trọng tài thương mại ngày càng khẳng định vị thế ưu việt của mình trong môi trường toàn cầu hoá kinh

tế như hiện nay

1.1.2 Trọng tài thương mại trong các phương thức giải quyết tranh chấp

1.1.2.1 Các phương thức giải quyết tranh chấp

Trong môi trường kinh tế đa dạng và phức tạp, các nhà kinh doanh khi tham

Trang 8

gia quan hệ thương mại trong mối quan hệ vừa cạnh tranh, vừa hợp tác với mục đích thu về lợi nhuận tối đa Chính vì thế, việc tranh chấp trong quá trình kinh doanh là điều không tránh khỏi, hơn thế nữa nó còn gay gắt hơn về mức độ tranh chấp cũng như phức tạp hơn về nội dung Việc có các phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh là một tất yếu khách quan, với mục đích bảo vệ quyền lợi của các bên tranh chấp cũng như nhằm ổn định và giữ vững nền kinh tế

Tranh chấp được hiểu là sự bất đồng ý kiến của các bên cùng tham gia quan

hệ về một vấn đề cụ thể Tranh chấp kinh tế có thể hiểu là sự bất đồng ý kiến của

các chủ thể cùng tham gia quan hệ kinh tế về quyền và lợi ích kinh tế

Giải quyết tranh chấp trong kinh doanh theo nghĩa chung nhất có thể được

hiểu là cách thức, phương pháp hay các hoạt động để điều chỉnh các bất đồng, các xung đột nhằm khắc phục và loại trừ các tranh chấp đã phát sinh, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể kinh doanh, bảo vệ trật tự kỷ cương của

Nhìn chung, pháp luật thương mại trên thế giới cũng như ở Việt Nam hiện

nay đều đảm bảo quyền tự do kinh doanh của các nhà kinh doanh mà trong đó cụ thể là quyền tự do lựa chọn cơ quan tài phán khi có tranh chấp kinh tế xảy ra Nhà nước luôn chủ trương khuyến khích các bên tranh chấp tự giải quyết với nhau, sau

đó mới hướng các bên đến phương thức tài phán để bảo vệ quyền và lợi ích của mình khi có tranh chấp xảy ra Hiện nay ở thế giới cũng như ở Việt Nam có các phương thức giải quyết tranh chấp sau:

Thương lượng trực tiếp

Thương lượng trực tiếp là hình thức các bên tranh chấp cùng nhau bàn bạc

và đi đến thỏa thuận một cách thức giải quyết tranh chấp mà không cần sự tác động hay giúp đỡ của người thứ ba

Thông thường, khi bắt đầu phát sinh tranh chấp, các bên thường cố gắng tìm

cách thương lượng trực tiếp với nhau để giải quyết những bất đồng với mục đích là giữ gìn mối quan hệ kinh doanh lâu dài và tốt đẹp giữa họ

Xét về lịch sử, thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp có sớm nhất

trong lịch sử loài người, và hiện nay nó là phương pháp khá phổ biến được các nước trên thế giới quan tâm, kể cả các nước có nền kinh tế phát triển hay là các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó có Việt Nam

Theo pháp luật thương mại Việt Nam, thương lượng là hình thức giải quyết

tranh chấp được lựa chọn trước tiên, sau đó mới đến các phương thức khác Thương lượng được xem như là hình thức hòa giải được Nhà nước khuyến khích

sử dụng Trong thực tế, thương lượng có thể được tiến hành độc lập hoặc tiến hành cùng với quá trình tố tụng

Hòa giải

Hòa giải, theo từ điển Tiếng Việt 1997 của Nhà xuất bản Đà Nẵng, là sự

thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột hoặc xích mích một cách ổn thỏa

Đóng vai trò là một trong những phương thức giải quyết tranh chấp kinh

Trang 9

doanh, hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua sự tham gia của bên thứ ba đóng vai trò trung gian hỗ trợ hoặc thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm chấm dứt xung đột Theo định nghĩa của Từ điển luật học Anh-

Mỹ của Black thì “hòa giải là một quá trình giải quyết tranh chấp mang tính chất Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Trong các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thì hòa giải là một

phương pháp giải quyết tranh chấp được các nhà kinh doanh quan tâm nghiên cứu

và sử dụng trong hoạt động thực tiễn kinh doanh bởi các ưu điểm của nó:

- Hòa giải có thể đảm bảo bí mật trong kinh doanh hay trong nghề nghiệp,

bằng hòa giải để giải quyết tranh chấp một cách thân thiện, không nhằm xác định lỗi của các bên tranh chấp mà nhằm tiếp tục giữ gìn và phát triển các mối quan hệ kinh doanh

- Bằng hòa giải có thể tập trung sự chú ý và quan tâm của các bên vào vấn

đề chính, cơ bản của nội dung tranh chấp, hạn chế tối đa sự hao phí thời gian và

tiền bạc vào các vấn đề mang tính chất hình thức tố tụng

- Bằng hòa giải để tăng cường sự tham gia trực tiếp và khả năng kiểm soát

của các nhà kinh doanh đối với quá trình giải quyết cũng như đối với kết quả giải

quyết tranh chấp

Hiện nay, trong hoạt động thương mại quốc tế, phương pháp hòa giải rất

được ưa chuộng dùng để giải quyết tranh chấp và các quy tắc hòa giải của các tổ

chức thường được lựa chọn là quy tắc hòa giải không bắt buộc của phòng thương mại quốc tế ICC (1998); quy tắc hòa giải của ủy ban Liên hiệp quốc về Luật thương mại (1980); quy tắc hòa giải của Trung tâm hòa giải Bắc kinh (1987); quy tắc hòa giải thương mại của hiệp hội trọng tài Mỹ AAA (1992)…

Ở các nước phát triển, trong đó Mỹ là nước đi tiên phong trong việc phát

triển các phương pháp lựa chọn để giải quyết tranh chấp thương mại, và hòa giải là một trong những phương pháp được lựa chọn Trong “Sách thực hành ADR”, John

J Wilkinson đã viết : “Trước tiên và trên hết, các phương pháp giải quyết tranh chấp tiết kiệm đáng kể chi phí của các bên tranh chấp Rõ ràng là chi phí kiện tụng

có thể giảm đi đáng kể nếu như các bên có thể hòa giải các tranh chấp của họ trong vòng sáu tháng thay vì kiện tụng kéo dài hàng năm”

4

Theo pháp luật Việt Nam, hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp

không mang tính chất nghi thức Hòa giải có thể được tiến hành ngoài thủ tục tố tụng, và có thể thực hiện theo thủ tục tố tụng của Tòa án hoặc trọng tài Hòa giải,

3

Trang 10

Black’s Law Dictionary- West Pub.Co.1991

4

Book of the ADR practice – Wiley Law Pub.1990

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Hòa giải là một biện pháp giải quyết tranh chấp không chính thức, mang

tính quần chúng hơn là có ý nghĩa về mặt pháp lý

Tòa án

Khi áp dụng phương pháp thương lượng, hòa giải để giải quyết tranh chấp

không có hiệu quả và các bên tranh chấp không thỏa thuận đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại trọng tài thì việc giải quyết sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án Giải quyết tranh chấp bằng Tòa án là hình thức giải quyết tranh chấp do cơ quan tài phán của Nhà nước thực hiện

Ở các nước có nền kinh tế phát triển, bên cạnh tổ chức trọng tài phi chính

phủ thì Tòa thương mại cũng góp phần đáng kể trong việc giải quyết tranh chấp thương mại Theo pháp luật của một số nước, tòa thương mại có thể tồn tại một cách độc lập như một Tòa chuyên trách Ví dụ như ở Pháp, thì Tòa thương mại tồn tại độc lập với các Tòa án thường về mặt tổ chức và chỉ có thẩm quyền xét xử sơ

thẩm, thẩm phán hầu hết là các thương gia giàu kinh nghiệm làm việc tình nguyện

và không hưởng lương Theo pháp luật của Cộng hoà Liên bang Đức, Tòa thương mại được thành lập với tư cách là một Tòa chuyên trách, có thẩm quyền giải quyết tranh chấp mà các đương sự là thương gia Ngoài ra, ở một số nước khác thì thẩm quyền giải quyết tranh chấp thương mại được trao cho Tòa dân sự trên cơ sở không

có sự phân biệt giữa tranh chấp dân sự và tranh chấp kinh tế (như Mỹ, Nhật, Ý, Thuỵ Sĩ,…)

Việc giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng Tòa án, theo quy định của pháp

luật Việt Nam, được giải quyết theo một hệ thống Tòa án tổ chức theo nhiệm vụ, quyền hạn và phân cấp thẩm quyền Tòa Kinh tế Việt Nam được thành lập là một

tòa chuyên trách trong hệ thống các cơ quan tòa án nhân dân song song với tòa dân

sự, tòa hình sự Chức năng chủ yếu của tòa án kinh tế là xét xử các vụ án kinh tế,

ngoài ra, tòa kinh tế còn có chức năng tuyên bố phá sản doanh nghiệp

Trang 11

được tổ chức dưới hai hình thức: trọng tài theo vụ việc và trọng tài thương mại thường trực,vừa là một thể thức giải quyết tranh chấp do sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đối kháng

Trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại rất phổ biến,

được sự ưa chuộng của các nhà kinh doanh ở các nước trên thế giới, đặc biệt là ở

các nước có nền kinh tế phát triển Có thể nói, phương thức trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp của nền kinh tế thị trường Không có nước nào có nền kinh tế thị trường mà lại không thừa nhận phương thức trọng tài

Ở một số nước như: Đức, Pháp tổ chức trọng tài có tên gọi là trọng tài

thương mại và nó xuất hiện gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế quốc gia Ở

các nước xã hội chủ nghĩa trước đây như: Liên Xô, Hungari…thì phương thức giải quyết bằng trọng tài cũng được sử dụng khá phổ biến dưới tên gọi là trọng tài kinh

tế Nhà nước Tuy nhiên, các tổ chức trọng tài này hoạt động kém hiệu quả với tính chất “vừa đá bóng, vừa thỗi còi” mà hiện nay đã không còn phù hợp và đang có sự thay đổi để theo kịp sự phát triển của nền kinh tề thị trường và nhu cầu toàn cầu hoá kinh tế của thế giới hiện nay

Phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng con đường trọng tài

cũng chiếm một vị thế quan trọng trong các phương thức giải quyết tranh chấp kinh doanh ở Việt Nam Ngay từ thời bao cấp, nước ta đã có sự tồn tại của trọng tài kinh

tế Nhà nước, Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường với nhu cầu tự do thương mại, thấy được khuyết điểm của trọng tài Nhà nước mà các trung tâm trọng tài kinh tế đã được thành lập theo Nghị định 116/CP và trọng tài quốc tế Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải theo Quyết định 204/TTG Và hiện nay, trong xu thế hội nhập kinh tế khu vực, cũng như hội nhập quốc tế, nhu cầu giải quyết tranh chấp kinh doanh bằng trọng tài ngày càng tăng, Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam đã ra đời và sẽ có hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2003 quy định về tổ chức và tố tụng trọng tài sẽ gải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại theo sự thỏa thuận của các bên

1.1.2.2 Ưu điểm của trọng tài thương mại

Qua thực tiễn giải quyết tranh chấp, phương thức giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài đã bộc lộ nhiều ưu điểm và được các nhà kinh doanh ưa chuộng và lựa

chọn là phương pháp giải quyết tranh chấp Cụ thể, các ưu điểm độc đáo của nó là : Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 13

Ưu điểm đầu tiên của trọng tài thương mại là việc đảm bảo rất cao nguyên

tắc tự định đoạt của các bên trong giải quyết tranh chấp Điều này thể hiện rõ ở việc các bên tự do lựa chọn cơ quan tài phán, lựa chọn người phân xử và tự định đoạt

luật áp dụng cũng như tự do lựa chọn ngôn ngữ xét xử, địa điểm hay là hình thức xét xử (ad-hoc hoặc là thường trực)…

Tiếp theo, đó chính là tính nhanh chóng trong phương thức này Khi giải

quyết tranh chấp, những người thực hiện công tác xét xử mong muốn công lý phải được thực hiện nhanh chóng, họ cố gắng bằng nhiều phương tiện, năng lực, nhiều

Trang 12

hành động với mong muốn giải quyết một cách nhanh nhất tranh chấp xảy ra Và chính ưu điểm nổi bật này, mà các nhà kinh doanh xem trọng tài thương mại là lựa chọn hàng đầu khi xảy ra tranh chấp, bởi vì, tâm lý chung của các nhà kinh doanh

“thời gian là tiền bạc, là cơ hội” Hai yếu tố này có thể nói là điều kiện tiên quyết

góp phần vào sự thành bại trong kinh doanh

Thứ ba là tính bí mật, ưu điểm này xuất phát từ nguyên tắc xét xử không

công khai của trọng tài Đây là một lợi thế rất lớn để các bên giữ gìn uy tín và bí mật trong kinh doanh Các công ty khi có tranh chấp xảy ra, họ thường không muốn đưa vụ việc ra tranh luận công khai, thứ nhất là do sự đòi hỏi bí mật trong kinh doanh, họ không muốn các công ty khác biết họ có tranh chấp, ngoài ra, báo

chí cũng là vấn đề mà các bên e ngại, vì chuyện “đổ thêm dầu vào lửa” khi kể lại

một vụ tranh chấp nào đó là việc rất có thể xảy ra

Năng lực của trọng tài viên cũng là một ưu điểm, họ là những người được

đào tạo chuyên môn và am hiểu về lĩnh vực tranh chấp Chính điều này tạo sự yên tâm cho các bên khi lựa chọn để giải quyết Nếu so sánh với phương pháp giải quyết bằng Tòa án thì năng lực của thẩm phán còn là vấn đề cần phải xem xét Điều này không có nghĩa là các thẩm phán thì không có năng lực, nhưng do trong quá trình xét xử từ cấp sơ thẩm cho đến khi hoàn thành vụ án rất có thể có những

người không có năng lực

Một khía cạnh cũng rất quan trọng, khi áp dụng phương thức giải quyết

bằng trọng tài có thể tránh phá vỡ các mối quan hệ trong kinh doanh, do sự uyển chuyển và linh hoạt của các phương pháp mà trọng tài đưa ra dễ được các bên chấp nhận

Một ưu điểm nữa có thể kể đến, chính là sự gần gũi và quan tâm của trọng

tài viên đối với các bên tranh chấp So với tố tụng tư pháp thông thường thì đây chính là một yếu tố vô cùng thuận lợi cho các bên tranh chấp khi sử dụng phương Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

lợi ích của các bên

Với tính chất là một tổ chức phi chính phủ, ưu điểm của trọng tài thể hiện ở

việc trọng tài viên hoàn toàn độc lập, không bị chi phối bởi một cơ quan chủ quản nào Họ xét xử vụ việc theo pháp luật và theo khả năng hiểu biết của mình

Ưu thế cuối cùng của trọng tài được xem xét đến chính là giá trị của phán

quyết trọng tài Theo quy định của pháp luật, phán quyết của trọng tài là chung thẩm, không thể bị kháng cáo, kháng nghị và có giá trị thi hành đối với các bên Ngoài ra, còn phải nhắc đến chính là khả năng thi hành phán quyết của trọng tài ở nước thứ ba

Tuy nhiên, cách đánh giá về ưu điểm của các phương thức giải quyết tranh

chấp là tùy thuộc vào điều kiện khách quan, chủ quan của mỗi quốc gia

Trang 13

1.2 SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA TRỌNG TÀI PHI CHÍNH

PHỦ Ở VIỆT NAM

1.2.1 Sự cần thiết phải thành lập trọng tài phi chính phủ ở Việt Nam

Bước ngoặc năm 1986, tại Nghị Quyết Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ VI,

Nhà nước ta đã vạch ra đường lối đổi mới chủ trương chuyển nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có sự quản lý của Nhà nước Sự chuyển hướng này được Hiến Pháp ghi nhận như là một nguyên tắc hiến định : “ Nhà nước phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước theo định hướng Xã hội chủ nghĩa”(điều 15 hiến pháp 1992) Cùng với chính sách mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài, đã tạo nên một môi trường kinh tế đa dạng và phức tạp

Chính vì thế, các quan hệ kinh tế cũng trở nên sống động và phức tạp, lợi

nhuận trở thành động lực thúc đẩy các bên tham gia quan hệ kinh tế Lúc này, khi

số lượng các chủ thể quan hệ kinh tế tăng lên, sự tự do thương mại ngày càng phong phú thì bất đồng, tranh chấp giữa các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế là điều khó tránh khỏi Các tranh chấp kinh doanh vì thế ngày càng nhiều về số lượng,

đa dạng về loại hình và chủ thể Từ những thực tế, việc cải cách pháp luật là cần Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Một lý do đáng kể cho sự cần thiết phải có trọng tài phi chính phủ là khi

chuyển sang một nền kinh tế thị trường mở cửa, tự do thương mại, Trọng tài Nhà nước ngày càng bộc lộ nhiều nhược điểm Cụ thể là :

- Do là một cơ quan Nhà nước, tuy có chức năng xét xử các tranh chấp

nhưng tổ chức này không thể hoạt động khách quan và hiệu quả, do tính chất “vừa

đá bóng, vừa thỏi còi” cùng một lúc đảm đương hai chức năng vừa quản lý các doanh nghiệp Nhà nước vừa giải quyết tranh chấp phát sinh giữa họ với nhau

- Bên cạnh đó, xét về thẩm quyền và thủ tục xét xử thì trọng tài Nhà nước

hoạt động có vẻ giống như của Tòa án Giữa hai cơ quan này không có sự phân biệt

cơ bản giữa bản chất tự nguyện của trọng tài và tính bắt buộc của Tòa án Hơn thế nữa, giải quyết tranh chấp bằng trọng tài theo nguyên tắc cơ bản là dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên tranh chấp, nhưng đối với trọng tài kinh tế Nhà nước, mối quan

hệ giữa trọng tài và các bên tranh chấp là dựa trên kế hoạch của Nhà nước Có thể nói, trọng tài kinh tế Nhà nước lúc này hoạt động vừa mang tính chất của một tổ chức trọng tài vừa có chức năng của một Tòa án

- Nhược điểm của trọng tài Nhà nước còn ở khả năng thi hành các quyết

định trọng tài Xét dưới góc độ lý luận, mục tiêu mà các bên tranh chấp khi lựa chọn phương pháp trọng tài là mong muốn đạt được nhanh chóng một quyết định giải quyết cũng như hiệu lực ràng buộc của các quyết định đối với các bên tranh

chấp Bằng phương pháp này, các bên hy vọng quyền và lợi ích của họ được bảo

vệ một cách tốt nhất Nhưng kết quả không theo ý muốn của họ, khi mà quyết định của trọng tài không có hiệu lực thi hành, mục tiêu không đạt được, đã tạo nên tâm

Trang 14

lý mất sự tin tưởng của các bên tranh chấp đối với phương pháp này

- Nhược điểm đáng kể, do hệ quả của nền kinh tế bao cấp, thẩm quyền xét

xử của trọng tài Nhà nước giới hạn trong phạm vi tranh chấp của các doanh nghiệp Nhà nước Trong khi đó, do sự phát triển của nền kinh tế, doanh nghiệp tư nhân

ngày càng phát triển, nhu cầu giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp này tăng nhanh Vấn đề được đặt ra, tổ chức nào có thẩm quyền để giải quyết các tranh chấp

tư nhân này

Qua thực tế nêu trên, trọng tài kinh tế Nhà nước trong nền kinh tế thị trường

đã tỏ ra không phù hợp với nhiều nhược điểm Có thể nói, tổ chức trọng tài như thế chỉ phù hợp với nền kinh tế tập trung, mệnh lệnh và quan liêu Với một nền kinh tế Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 16

tự do thương mại, đa dạng về loại hình kinh doanh cũng như chủ thể tham gia quan

hệ kinh tế thì đòi hỏi cần phải có một tổ chức phù hợp hơn, uyển chuyển và linh

hoạt trong phương thức giải quyết tranh chấp, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các nhà kinh doanh trong giải quyết tranh chấp

Thứ ba, việc ra đời của tổ chức trọng tài phi chính phủ là rất cần thiết trong

việc san sẽ gánh nặng cho Tòa án kinh tế Hơn thế nữa, do tính chất bí mật cũng

như nhu cầu nhanh chóng trong kinh doanh mà phương pháp Tòa án không được giới kinh doanh ưa chuộng.Từ thực tiễn của việc giải quyết tranh chấp, khi có tranh chấp xảy ra, các bên tranh chấp thường tự thương lượng với nhau và đi đến thỏa hiệp Ngoài ra, thủ tục giải quyết bằng Tòa án còn quá phức tạp, rườm rà không thể đáp ứng được đòi hỏi của các nhà kinh doanh Trọng tài phi chính phủ vẫn là yêu

cầu thiết yếu trong nền kinh tế mới chuyển hướng của Việt Nam

Cuối cùng là so với những phương thức giải quyết tranh chấp khác thì trọng

tài thương mại bộc lộ nhiều ưu điểm (như đã trình bày ở phần trước) Tuy hình thức thương lượng và hòa giải là những phương pháp giải quyết tranh chấp được Nhà nước khuyến khích sử dụng, nhưng nhìn chung giá trị pháp lý của các phương thức này không cao Do là một phương pháp không có quy định của pháp luật ràng buộc, không có một thủ tục rõ ràng, nên có rất nhiều cách hiểu và cách vận dụng khác nhau Chính vì thế, chúng cũng không là phương pháp lựa chọn tối ưu của doanh nghiệp khi phát sinh tranh chấp trong kinh doanh

Rõ ràng từ những điều trên, việc ra đời của một tổ chức trọng tài phi chính

phủ ở Việt Nam là một thực tế khách quan đáp ứng được yêu cầu quan trọng của nguyên tắc pháp chế Xã hội chủ nghĩa, góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế

xã hội, tạo một môi trường pháp lý thông thoáng, tạo sự an tâm cho các doanh nghiệp kinh doanh

1.2.2 Sơ lược về lịch sử hình thành trọng tài thương mại của Việt Nam

a Trọng tài trong nước

So với lịch sử hình thành trọng tài thương mại ở một số nước trên thế giới,

thì trọng tài thương mại ở Việt Nam là rất non trẻ Do những điều kiện về kinh tế, chính trị xã hội đặc thù của Nhà nước và pháp luật Việt Nam mà trọng tài thương

mại Việt Nam được thành lập khá muộn

Trang 15

Điểm mốc cho sự ra đời của trọng tài thương mại có thể tính là năm 1960,

khi Nhà nước ta cơ bản cải tạo xong nền kinh tế và bắt đầu xây dựng nền kinh tế xã Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 17

hội chủ nghĩa với hai thành phần kinh tế là: kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể

Sự ra đời của trọng tài thương mại gắn liền với với sự hình thành cơ chế hợp đồng kinh tế, và chính cơ chế này đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc thành lập một tổ chức giải quyết tranh chấp kinh tế đầu tiên ở Việt Nam, với tên gọi là Trọng tài kinh tế

Nhà nước theo tinh thần Nghị định 04/TTg ngày 01/04/1960 Và 10 ngày sau, ngày 14/04/1960 Nghị định 20/TTg về tổ chức ngành trọng tài kinh tế đã được ban hành Nhìn chung, các hoạt động trọng tài thời kỳ này được thành lập xuất phát từ nhu cầu quản lý một nền kinh tế kế hoạch nói chung và cơ chế hợp đồng kinh tế nói

riêng Ở giai đoạn này, các Hội đồng trọng tài hoạt động với tư cách là cơ quan lâm thời hoạt động với quy chế tạm thời của nó

Để đảm bảo cho hoạt động có hiệu quả của cơ quan trọng tài, Chính phủ đã

ban hành một loạt các Nghị định như: Nghị định số 23/CP ngày 23/02/1962, Nghị định số 47/CP ngày 13/03/1974 để giải quyết các nguyên tắc các Hội đồng trọng tài kinh tế ở Trung ương, các Tỉnh và các Bộ, mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài trong việc giải quyết cả các tranh chấp phát sinh giữa các đơn vị kinh tế đóng trên địa bàn phụ trách

Do sự phát triển của nền kinh tế, cụ thể là nhu cầu cần phải hoàn thiện cơ

chế của hợp đồng kinh tế, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/CP ngày

14/04/1975 nhằm đổi tên Hội đồng trọng tài kinh tế Nhà nước thành Trọng tài kinh

tế Nhà nước với nhiệm vụ và quyền hạn là giám sát việc thi hành các hợp đồng kinh tế được ký kết giữa các doanh nghiệp Nhà nước và giải quyết tranh chấp giữa

họ với nhau Tiếp đó, Nghị quyết 24/HĐBT ngày 10/08/1981 và Nghị định 62/HĐBT ngày 14/04/1984 được ban hành quyết định về ngạch trọng tài viên

Cuối cùng, tổ chức Trọng tài kinh tế Nhà nước được hoàn thiện theo pháp

lệnh Trọng tài kinh tế ban hành ngày 10/01/1990 Theo pháp lệnh này, trọng tài kinh tế Nhà nước được thành lập như là cơ quan Nhà nước có chức năng giải quyết tranh chấp hợp đồng kinh tế, ngoài ra kiêm luôn trách nhiệm giúp đỡ Chính phủ trong công tác quản lý hoạt động kinh tế

Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển của nền kinh tế mà tháng 07/1994 tổ chức

trọng tài này bị giải thể, các chức năng của trọng tài kinh tế Nhà nước được chuyển giao cho Tòa kinh tế trong hệ thống Tòa án nhân dân Và đánh dấu một bước phát triển mới của nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế tập trung, mệnh lệnh

sang nền kinh tế thị trường, sự ra đời của tổ chức trọng tài phi chính phủ theo Nghị định 116/CP ngày 05/09/1994 là một thực tế chứng minh.Theo Nghị định này, các trung tâm trọng tài kinh tế được tổ chức dưới hình thức là một tổ chức xã hội nghề Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Trang 16

Đặng Thị Lan Phương 18

nghiệp (tổ chức phi chính phủ) Đây là lần đầu tiên, pháp luật Việt Nam quy định cho phép một tổ chức không phải của Nhà nước được giao thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh tế theo yêu cầu và theo sự thỏa thuận của các bên tranh chấp (mà

trước đây đều thuộc thẩm quyền của cơ quan Nhà nước).Tổ chức trọng tài kinh tế theo tinh thần Nghị định này được thành lập bởi các trọng tài viên tư nhân, họ sẽ

tự thiết lập điều lệ và quy tắc của mình trên cơ sở tuân theo quy định của pháp luật Nhìn chung, so với sự phát triển chung của các tổ chức trọng tài thế giới và

quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây thì các trung tâm trọng tài kinh tế không thể đảm đương nỗi việc giải quyết tranh chấp kinh tế cho nhu cầu phát triển kinh tế của Việt Nam, và do nhiều nguyên nhân mà pháp

luật trọng tài thương mại Việt Nam cần phải có sự thay đổi cho phù hợp

Và hiện nay, việc ra đời của Pháp lệnh trọng tài thương mại là rất phù hợp

và cần thiết trong quá trình phát triển chung của nền kinh tế Việt Nam, cũng như quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tuy nhiên, phần này sẽ được đề cập ở chương

sau

b Trọng tài quốc tế Việt Nam

Trước khi có Quyết định 204-TTg ngày 28/04/1993, các tranh chấp thương

mại quốc tế ở Việt Nam do Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải giải quyết Đây là hai tổ chức được thành lập bên cạnh Phòng Thương mại

và Công nghiệp Việt Nam Nhìn tổng thể quá trình phát triển của trọng tài quốc tế Việt Nam, ta có thể chia thành hai giai đoạn mà trong đó Nhà nước đã có những chủ trương khác nhau giữa hai thời kỳ:

Thời kỳ 1960- 1993

Đây là thời kỳ mà Nhà nước kiểm soát mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Vì

vậy, các giao dịch thương mại quốc tế cũng nằm trong phạm vi kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Trong thời kỳ này, phần lớn các hoạt động giao dịch thương mại quốc tế đều do Nhà nước tiến hành thông qua các doanh nghiệp, tổ chức Nhà nước, chỉ có một số ít các hãng tư nhân được tham gia vào hoạt động ngoại thương nhưng phải chịu sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước Nhìn chung, trong khoảng thời gian này giao dịch ngoại thương của Việt Nam chủ yếu là ở các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây

Trong bối cảnh như thế, trọng tài thương mại quốc tế Việt Nam hình thành

do nhu cầu của việc giải quyết tranh chấp kinh tế quốc tế phát sinh từ các hoạt động Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Trang 17

¨ Hội đồng trọng tài ngoại thương là một tổ chức phi chính phủ được

thành lập theo nghị định số 59/CP ngày 30/04/1963 với chức năng giải quyết tranh chấp phát sinh giữa một bên Việt Nam với một bên nước ngoài về hợp đồng, giao dịch ngoại thương Đó là các tranh chấp liên quan đến thanh toán, trao đổi hàng hoá, vận chuyển hàng hoá, bảo hiểm…khi có ít nhất một trong các bên đương sự cư trú ngoài lãnh thỗ Việt Nam Tuy nhiên, đây là giai đoạn mà các giao dịch quốc tế chủ yếu nằm trong phạm vi kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước và giao dịch chủ yếu

là với các nước Xã hội chủ nghĩa (chiếm khoảng 75% tổng kim ngạch ngoại thương) Nhìn chung, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài ngoại thương chỉ hạn chế đối với các giao dịch ngoại thương Hoạt động xét xử của Hội đồng trọng tài này chủ yếu đối với các tranh chấp giữa các tổ chức, cá nhân kinh tế Việt Nam với tổ

chức, cá nhân kinh tế các nước Xã hội chủ nghĩa trong phạm vi thi hành hiệp định

¨ Hội đồng trọng tài hàng hải là một tổ chức trọng tài phi chính phủ

ra đời theo quyết định số 135/CP của Chính phủ Việt Nam ngày 05/10/1964 Nhìn chung, Hội đồng trọng tài hàng hải có điều lệ và quy tắc hoạt động giống như Hội đồng trọng tài ngoại thương Sự khác nhau giữa hai Hội đồng trọng tài chỉ ở thẩm quyền Theo điều 2 Điều lệ của Hội đồng trọng tài hàng hải, Hội đồng trọng tài hàng hải có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về các vấn đề giao thông vận tải đường biển khi có ít nhất một bên chủ thể tham gia là nước ngoài như : việc thuê tàu, vận chuyển hàng hoá bằng đường biển, công tác đại lý tàu biển, bảo hiểm hàng hải…Giống như Hội đồng trọng tài ngoại thương, Hội đồng trọng tài hàng hải không có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về hợp đồng dân sự hoặc kinh tế do các nhân hoặc tổ chức Việt Nam ký kết cả về tranh chấp đầu tư

Nhìn chung, thì phán quyết của cả hai Hội đồng trọng tài đều có giá trị

chung thẩm, không thể bị kháng cáo tại Tòa án hay bất kỳ một tổ chức nào

Qua thực tế, hoạt động trọng tài trong thời kỳ 1960 đến 1980 cả hai Hội

đồng trọng tài có rất ít vụ việc để giải quyết Hay nói cách khác, các tổ chức này Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

mua bán, quan hệ không còn giới hạn trong các nước Xã hội chủ nghĩa và mở rộng

ra nhiều nước trên thế giới Chính vì thế, giao dịch ngoại thương tăng lên tất yếu sẽ làm gia tăng số lượng tranh chấp giữa Việt Nam và các doanh nghiệp nước ngoài

Từ nhu cầu như thế, vấn đề hợp nhất hai tổ chức này được xem xét đến

Giai đoạn 1993 đến trước khi có pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời

Kể từ năm 1980, sự gia tăng của đầu tư vào Việt Nam và nhu cầu giao dịch

thương mại Việt Nam tăng nhanh, đòi hỏi phải có một tổ chức thích hợp để giải

quyết tranh chấp thương mại quốc tế Ngày 28/04/1993 Chính phủ đã ban hành

Trang 18

Quyết định 204/TTg thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) đặt bên cạnh Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam trên cơ sở hợp nhất Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải Đây là một bước phát triển của trọng tài thương mại Việt Nam, được xem như là một sự chuyển đổi thực chất

từ một tổ chức trọng tài chưa hẳn là phi chính phủ sang một tổ chức phi chính phủ Tuy nhiên, do nhu cầu phát triển và thu hút các doanh nghiệp mà trung tâm

đã ra Quyết định số 114-TTg ngày 16/02/1992 cho phép Trung tâm VIAC có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các quan hệ kinh doanh trong nước

Và đây chính là cơ sở mà Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông qua Quy tắc tố tụng trọng tài trong nước của trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Việt Nam ngày 25 và 26/03/1996 Tóm lại, trọng tài thương mại ở Việt Nam tuy xuất hiện khá muộn nhưng vẫn mang bản sắc của xã hội Việt Nam Tuy nhiên, ngay từ khi mới thành lập, trọng tài thương mại Việt Nam đã thiếu một hệ thống các quy định thống nhất về trọng tài hay một Luật quốc gia về trọng tài, và do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, các quy định pháp luật về trọng tài ở nước ta chưa hoàn thiện

Hiện nay, dưới góc độ của một nền kinh tế thị trường, trọng tài thương mại

Việt Nam đã bắt đầu thay đổi theo chiều hướng phù hợp với thông lệ quốc tế Pháp lệnh trọng tài thương mại Việt Nam đã ra đời và có hiệu lực thi hành vào 01/07/2003 sẽ tạo ra một bước phát triển mới trong giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ở Việt Nam

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 21

1.3 PHÁP LUẬT VỀ TRONG TÀI CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ

GIỚI VÀ XU HƯỚNG THỐNG NHẤT HÀI HÒA PHÁP LUẬT VỀ

TRỌNG TÀI

Việc đánh giá thực trạng phát triển của trọng tài thương mại ở bất kì nước

nào không thể tách rời với các điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội của nước đó Mặt khác, thực tế trọng tài ở một nước cũng khó có thể đánh giá được nếu không

so sánh với cơ chế trọng tài của các nước khác Hay nói một cách khác hơn, khi đánh giá sự phát triển của trọng tài thương mại ở Việt Nam cần phải có sự so sánh với trọng tài thương mại ở các nước khác trong khu vực và trên thế giới

Nhưng nhìn chung, hầu hết các quốc gia trên thế giới khi xây dựng luật

trọng tài quốc gia đều chịu ảnh hưởng chung của Luật mẫu về trọng tài của ủy ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (sau đây gọi là Luật mẫu UNCITRAL) 1.3.1 Luật mẫu trọng tài UNCITRAL, việc tiếp nhận luật mẫu ở một số nước

trên thế giới

Ủy ban của Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) được

thành lập năm 1966 có chức năng làm hài hoà và thống nhất luật pháp thương mại quốc tế Luật mẫu UNCITRAL được ra đời vào năm 1985 là một trong những mục tiêu chính của UNCITRAL, tạo ra một công cụ pháp lý nhằm thống nhất hóa cách tiếp cận cũng như sử dụng trọng tài thương mại quốc tế

Luật mẫu UNCITRAL được xây dựng nên với mục tiêu tự do hoá trọng tài

Trang 19

thương mại quốc tế bằng cách hạn chế hợp lí vai trò can thiệp của Tòa án quốc gia

và bằng cách khẳng định học thuyết về “tính độc lập của ý chí”, nghĩa là, cho phép các bên được tự do lựa chọn cách thức giải quyết tranh chấp; xác lập các quy định

có tính bắt buộc để đảm bảo cho quá trình trọng tài diễn ra một cách công bằng, hợp lí; tạo ra một khung pháp luật về trình tự tố tụng trọng tài thương mại quốc tế

để trong trường hợp các bên không thỏa thuận được với nhau về các vấn đề tố tụng

cụ thể thì vẫn có thể dựa vào khung pháp luật đó mà giải quyết tranh chấp; bổ sung các quy định để tăng thêm tính khả thi của các phán quyết trọng tài cũng như để giải quyết một số vấn đề thực tiễn khác

5

Sau khi được ban hành cho đến nay, Luật mẫu đã có ảnh hưởng mạnh mẽ và

tích cực đến việc xây dựng luật trọng tài ở các quốc gia trên thế giới Các nhà nghiên cứu cho rằng, không có một đạo luật trọng tài quốc gia nào mà không bị chi

phối bởi Luật mẫu Một trong những nước chịu ảnh hưởng mạnh mẽ và được xem

là nước đầu tiên tiếp nhận Luật mẫu chính là Canada (luật trọng tài Canada được ban hành năm 1986 chỉ một năm sau khi có Luật mẫu UNCITRAL) Ngoài ra, hầu hết các nước trên thế giới từ những nước theo truyền thống thông luật (Autralia, Hongkong, Newzealand, Singapore, …) hay những nước theo truyền thống luật Châu âu lục địa (Bulgaria, Cộng hoà liên bang Nga, Ukraine…) đến cả các nước

Xã hội chủ nghĩa như Trung Quốc đều có sự tiếp nhận và chuyển hoá Luật mẫu trong quá trình xây dựng luật trọng tài quốc gia

Có nhiều cách thức khác nhau để chuyến hoá, tiếp nhận Luật mẫu vào luật

trọng tài quốc gia Một số nước như Autralia, Bulgaria, Canada, Hongkong,

Nga,…là các nước tiếp nhận gần như trọn vẹn Luật mẫu Còn đối với một số nước khác, tuy không trực tiếp chuyển hoá Luật mẫu nhưng có sử dụng thuật ngữ và nhiều điều trong Luật mẫu như Hungaria, Tây Ban Nha,…Nhìn chung, việc tiếp nhận Luật mẫu trong quá trình xây dựng luật quốc gia của các nước trên thế giới chủ yếu tập trung ở một số nội dung chính :

- Phạm vi điều chỉnh của Luật mẫu về trọng tài

- Thẩm quyền của trọng tài

- Hủy phán quyết trọng tài

- Mối quan hệ giữa Toà án và trọng tài

- Công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

- Về hòa giải và quá trình trọng tài

Qua quá trình nghiên cứu ta có thể thấy được ảnh hưởng của Luật mẫu

UNCITRAL ở quy mô thế giới Hầu như tất cả các nước, dù theo những truyền thống pháp luật khác nhau, khi xây dựng luật trọng tài quốc gia đều có sự tiếp nhận

Trang 20

và chuyển hoá Luật mẫu Ở một số nước sự tiếp nhận này hoặc là chuyển hoá toàn

bộ hoặc là tiếp nhận có sửa đổi, bổ sung không nhiều, nếu không thì cũng tính đến các tiêu chuẩn nêu trong Luật mẫu

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Vào khoảng nữa thế kỉ XIX, việc phân xử không qua Tòa án đã ra đời ở Mỹ

Và hiện nay, việc phân xử bằng trọng tài ở Mỹ ngày càng phổ biến và quan trọng, đặc biệt là trong tranh chấp quốc tế

Mỹ có một hệ thống Luật liên bang, đây là luật phổ biến ở Mỹ Việc phân

xử bằng trọng tài ở Liên bang được điều chỉnh bởi Luật trọng tài Hoa Kỳ (FAA) FAA là nền tảng cho các luật đặc định của Liên bang về hàng hải, ngoại thương và

áp dụng giữa các tiểu bang Chương I của FAA được thông qua lần đầu tiên vào năm 1925 và sửa đổi cơ bản vào năm 1947 và năm 1988 Chương II được thêm vào năm 1970 phản ánh sự tham gia của Mỹ vào Công ước NewYork 1958 Chương III được thêm vào gần đây nhất có hiệu lực năm1990 quy định về thương mại quốc tế Bên cạnh đó, việc thông qua Luật mẫu UNCITRAL vào năm 1985 đã thúc

đẩy những nhà nghiên cứu về luật nước ngoài ở Washington nghiên cứu Luật mẫu với mục đích xem xét khả năng tiếp nhận Luật mẫu ở cả Liên bang và tiểu bang Qua nghiên cứu cho thấy rằng không cần thiết phải thông qua toàn bộ Luật mẫu đối với Luật liên bang

Ngoài Luật liên bang, hầu hết các tiểu bang đều có quy chế trọng tài riêng

Hơn một nữa các tiểu bang thông qua các điều khoản của Đạo luật trọng tài chung (UAA), được xây dựng vào những năm 1950, để góp phần hợp nhất các Luật thương mại ở các tiểu bang khác nhau UAA là một đạo luật áp dụng cho phân xử trọng tài trong nước và không có một điều khoản nào dành cho các vụ kiện quốc tế Luật UAA được xây dựng nên phần lớn dựa vào Dự luật trọng tài NewYork có hiệu lực vào thời gian này Là bang đầu tiên có sự công nhận của luật pháp về hiệu lực thỏa thuận tranh chấp trọng tài, NewYork còn đi đầu trong phát triển luật trọng tài hiện đại và hiện nay là một trung tâm của trọng tài trong nước và quốc tế Ở các tiểu bang của Hoa Kỳ hầu hết đều có sự tiếp nhận Luật mẫu UNCITRAL về trọng tài thương mại quốc tế với mục đích tạo ra một luật trọng tài quốc tế hấp dẫn cho

các tranh chấp quốc tế Trong số các luật của tiểu bang, luật của bang Connecticut theo sát với Luật mẫu, tuy nhiên, nó không thông qua các điều khoản về sự công nhận và thi hành các phán quyết trọng tài của Luật mẫu Các đạo luật Texas và California thì gần như là đồng nhất, và cơ bản theo Luật mẫu nhưng cũng có một số

sự khác biệt Florida là bang đầu tiên thông qua luật trọng tài quốc tế, và là bang không tôn trọng triệt để thể thức của Luật mẫu nhưng trong luật của tiểu bang này

Trang 21

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa luật tiểu bang và Luật liên bang thì rất phức tạp

và được giải quyết bởi các quyết định của Tòa án, các hiệp ước và các điều lệ Theo Hiến Pháp của Hoa Kỳ, thì các luật tiểu bang không được xung đột với Luật liên bang và được xem như là theo đuổi cùng một chính sách với Luật liên bang Ngoài

ra, luật tiểu bang có thể giúp Luật liên bang hoàn thiện những điều khoản chưa rõ Tuy nhiên, những điều khoản này phải không trái với những chính sách của liên bang về trọng tài

Các quyết định của Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích và

trình bày các luật trọng tài, đặc biệt là về trọng tài thương mại quốc tế Đã có một

số quyết định của Tòa án tối cao trong những năm gần đây có liên quan đến trọng tài trong vấn đề tranh chấp thương mại quốc tế

Hoa Kỳ là thành viên của công ước NewYork 1958 về công nhận và thi

hành phán quyết trọng tài nước ngoài (với nguyên tắc “có đi có lại” và các tuyên bố

về tranh chấp thương mại) Ngoài ra, Hoa kỳ còn tham gia vào công ước 1965 về

giải quyết tranh chấp đầu tư giữa Nhà nước và công dân của Nhà nước khác và Công ước Liên Hoa Kỳ 1975 về trọng tài thương mại quốc tế Hơn nữa, Hoa Kỳ còn là thành viên của nhiều hiệp ước song phương về tình hữu nghị, thương mại và hàng hải, rất nhiều trong số đó có liên quan đến trọng tài các tranh chấp cá nhân và thi hành các phán quyết trọng tài nước ngoài Hiện nay, ngày càng có nhiều hiệp ước đầu tư song phương được Hoa Kỳ tham gia có liên quan đến tranh chấp đầu tư

Tổ chức trọng tài hàng đầu ở Hoa Kỳ là Hiệp hội trọng tài Hoa Kỳ (AAA),

thành lập năm 1926 có trụ sở chính ở NewYork và các văn phòng ở khắp các thành phố lớn ở Hoa Kỳ AAA có hai chức năng đồng thời là xúc tiến chung vấn đề trọng tài và quản lý các vụ kiện trọng tài Ngoài ra, Hiệp hội còn có chức năng duy trì đội ngũ trọng tài viên và phát triển các luật chính thức cho các hình thức trọng tài chuyên môn cũng như luật lệ trọng tài thương mại cơ bản của nó Luật trọng tài quốc tế của AAA được thông qua vào ngày 1/3/1991 được sử dụng phổ biến cho

các vụ kiện quốc tế Nhìn chung, thì luật trọng tài quốc tế của AAA cũng có sự tiếp nhận Luật mẫu UNCITRAL ở việc ủy quyền và cung cấp các dịch vụ hành chính

cho phân xử trọng tài Trong những năm gần đây, AAA đã có những thỏa ước với Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Trang 22

hành chính Những thỏa ước như vậy đang có hiệu lực giữa AAA và Úc, Áo, Bulgari, Canada, Trung Quốc, Nam Tư, Pháp, Hy Lạp, Ý, Nhật, Hàn Quốc, Malaysia, Hà Lan và Vương quốc Anh Năm 1992, AAA ký kết Hiệp ước Điều khoản Tự chọn với Bộ Thương mại và Công nghiệp Nga và Viện Trọng Tài của Bộ Thương mại Stockholm (SCC), hiệp ước này đưa ra kế hoạch cho việc giải quyết tranh chấp hợp đồng giữa các hiệp hội của Hoa Kỳ, các xí nghiệp của Nga, các tổ chức hoạt động theo các điều khoản mẫu tự chọn của trọng tài Thụy Điển dưới các điều luật trọng tài của UNCITRAL và với SCC như là sự ủy quyền của chủ tịch Hiệp hội trọng tài

Ngoài AAA, Hoa Kỳ còn có rất nhiều tổ chức thương mại và tổ chức chuyên

môn, các trung tâm giải quyết tranh chấp thực hiện và thúc đẩy sự phát triển của việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Tuy nhiên, thì thẩm quyền của trọng tài chủ yếu là các vấn dề sau :

Thỏa thuận trọng tài

Cả FAA và UAA đều quy định về hiệu lực pháp lý và tính cưỡng chế thi

hành của thỏa thuận trọng tài hiện tại hoặc thỏa thuận trong tương lai phải thể hiện bằng văn bản (FAA, điều 2; UAA, điều1) Trong khi đó, thỏa thuận trọng tài bằng miệng thì không có giá trị và không có tính cưỡng chế (điều 4, FAA; điều2, UAA) Điều luật của FAA thì ghi nhận một thỏa thuận trọng tài bằng văn bản thì không nhất thiết phải ký kết mà Tòa án cần phải hiểu một cách rộng rãi bao gồm cả ý định của các bên như việc trao đổi thư từ hoặc điện tín hoặc là những điều kiện chung trong sự hiểu biết lẫn nhau của các bên tranh chấp

Trong luật của FAA miễn trừ các tranh chấp về lao động không giải quyết

bằng trọng tài, còn luật của UAA thì không đề cập đến vấn đề này Hiện nay ở Mỹ, những tranh chấp về bằng sáng chế được giải quyết bằng trọng tài và thỏa thuận trọng tài được lập nên bởi các bên tranh chấp, cả thỏa thuận hiện tại và thỏa thuận tương lai đều có hiệu lực

Năm 1974, Tòa án tối cao đã mở rộng giới hạn giải quyết tranh chấp bằng

trọng tài qua lĩnh vực giao dịch quốc tế và từ chối mở rộng lĩnh vực an ninh Người

ta nhận ra rằng, các điều khoản giao dịch quốc tế thu hút được nhiều quan tâm và

chính sách hơn là giao dịch nội địa Luật của Hoa Kỳ gần đây đã mở rộng những luật chống độc quyền trong giao dịch quốc tế Tòa án tối cao ủng hộ đạo luật này, Tòa án các quận liên bang đã mở rộng luật này sang các điều khoản về tổ chức hối Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Sự lựa chọn và từ chối trọng tài viên

Các bên tranh chấp có quyền tự do lựa chọn, chỉ định trọng tài viên và lựa

chọn phương pháp chỉ định Khi các bên không chỉ định được trọng tài viên hoặc là việc chỉ định trọng tài viên thất bại thì cần có sự giúp đỡ của Tòa án (điều 5, FAA; điều 3, UAA)

Không có một điều khoản nào của pháp luật quy định về việc từ chối trọng

Trang 23

tài viên Tuy nhiên, có thể từ chối trọng tài viên khi mà phán quyết trọng tài được đưa ra bởi sự không vô tư, khách quan của trọng tài viên khi phân xử trọng tài (điều10(b),FAA; UAA, điều 12(2)) Thủ tục từ chối trọng tài có thể được đưa ra trong thỏa thuận trọng tài hoặc là trực tiếp hoặc là tham khảo luật trọng tài Ví dụ như luật của FAA quy định việc từ chối các trọng tài viên được quyết định bởi AAA (điều 19)

AAA cùng với hiệp hội Luật sư của Mỹ đã xây dựng nên một bộ luật quy

định về quy tắc đạo đức của trọng tài viên Trong khi hầu hết các điều khoản của pháp luật không có quy định về trọng tài viên phải bảo mật, nhưng các Tòa án đã

đặt ra các nhiệm vụ này cho các trọng tài viên Ngoài ra, ở Hoa Kỳ còn có quy định

về trọng tài viên trung lập, các trọng tài viên này không nhất thiết phải tuân theo cùng mức chuẩn công bằng của quy tắc đạo đức trọng tài viên

Luật áp dụng

Các trọng tài viên tôn trọng ý định của các bên tranh chấp trong việc lựa

chọn luật áp dụng giải quyết tranh chấp Điều này thì phổ biến khi các bên thực hiện một hợp đồng với điều kiện các mối quan hệ của họ được điều chỉnh bởi luật đặc định của quyền xét xử đặc biệt (thường là ở một tiểu bang nhất định) Khi mà thỏa thuận trọng tài không có hiệu lực thì ý định của các bên tranh chấp vẫn được tôn trọng, các trọng tài viên trong trường hợp này xác định luật áp dụng phải xem xét sự biểu lộ ý định của các bên tranh chấp bắt nguồn từ sự chọn lựa địa điểm

phân xử trọng tài hay là quốc tịch của các trọng tài viên

Các phán quyết của trọng tài phải được ra trên cơ sở bình đẳng và công bằng

của trọng tài viên mặc dù quan điểm người hòa giải tử tế không phổ biến trong luật pháp Hoa Kỳ Tại điều 43 luật AAA quy định trọng tài viên có thể sửa chữa hoặc là giảm nhẹ phán quyết khi mà họ cho rằng điều đó là công bằng và thuộc phạm vi Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

sẽ xác định luật áp dụng dựa trên bất kì dấu hiệu nào của các bên tranh chấp như là

sự chỉ định địa điểm phân xử trọng tài

Luật áp dụng cho việc thi hành một thỏa ước trọng tài cũng như thủ tục thực

thi phán quyết trọng tài được xác định bởi Tòa án địa phương

Quá trình xét xử của trọng tài

Quyền lực của trọng tài viên theo quy định của luật pháp Hoa Kỳ thì bị hạn

chế ở một số vấn đề Các trọng tài viên có quyền triệu tập nhân chứng và yêu cầu

thu thập các tài liệu (điều 7, FAA; điều7, UAA) Luật của tiểu bang New York quy định luật sư đại diện cho các bên tranh chấp có thể triệu tập nhân chứng và thu thập tài liệu

Thỏa thuận trọng tài và hợp đồng thì có hiệu tách bạch nhau nhằm tránh việc

Trang 24

các bên tranh chấp sử dụng sự từ chối trọng tài như là một chiến lược trì hoãn Theo luật của tiểu bang New York, một bên tranh chấp không thể phản đối được phán quyết cuối cùng của trọng tài nếu không có cơ sở pháp lý

Luật pháp của Hoa Kỳ thì ủng hộ loại vụ kiện một chiều, có nghĩa là, khi

một bên tranh chấp đã khai báo thích đáng mà không xuất hiện thì trọng tài viên vẫn tiến hành vụ kiện (điều 5(a), UAA) Trong luật của FAA thì không quy định vấn đề này, luật của AAA thì ghi nhận cho phép vụ kiện một chiều, “trừ khi pháp

luật có quy định ngược lại”

Không có một điều khoản nào của luật pháp Hoa Kỳ quy định về việc thu

thập chứng cứ Quyền yêu cầu giám định tư vấn nằm dưới quyền triệu tập nhân

chứng của trọng tài viên Mặc dù luật pháp không chú ý đến quyền lực của trọng tài viên để yêu cầu các biện pháp bảo vệ tạm thời, nhưng trong thực tế thì người ta thường làm thế Luật của AAA quy định cho phép các trọng tài viên bảo tồn tài sản

“không làm thiệt hại đến quyền của các bên tranh chấp và quyết định cuối cùng của

sự tranh chấp” (điều 34)

Luật của FAA không đưa ra các bước thủ tục phải thực hiện nhằm bắt đầu

phân xử trọng tài, cũng không đặt ra tiêu chuẩn cho vấn đề trọng tài Các khía cạnh Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có sự hỗ trợ từ phía Tòa án có lợi thế

rất lớn do thủ tục đơn giản, đặc biệt là sự tôn trọng các bằng chứng và tỏ chức lắng nghe Phân xử trọng tài ở Hoa Kỳ chủ yếu là tranh tụng trực tiếp, mặc dù các bên

tranh chấp có thể thỏa thuận giải quyết trên giấy tờ Các trọng tài viên có nhiệm vụ chỉ định thời gian và địa điểm để các bên tranh chấp trực tiếp tranh tụng với nhau

và từ đó ghi nhận lại từ các bên Theo luật của tiểu bang New York, các trọng tài viên phải thề “trung thành và công bằng” vào đầu các vụ kiện để nghe và quyết định tranh chấp, các trọng tài viên còn có quyền hoãn lại các vụ kiện Các bên tranh chấp có quyền được nghe và đưa ra các bằng chứng và kiểm tra các nhân chứng Tuy nhiên, các điều này có thể bị sửa đổi hoặc hủy bỏ bởi sự thỏa thuận giữa các

bên tranh chấp.Các bên tranh chấp cũng có thể nhờ Luật sư trình bày Đối với luật của UAA, quyền này có thể bị khước từ trước vụ kiện

Địa điểm giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì thường do các bên tranh

chấp đưa ra Tòa án tối cao, đặc biệt trong những vụ kiện thương mại quốc tế, nhấn mạnh rằng, các Tòa án phải tôn trọng quyền lựa chọn địa điểm giải quyết tranh chấp của các bên Nếu các bên không chỉ định thì địa điểm giải quyết sẽ được xác định bởi một hiệp hội thích hợp (điều 11, AAA), hay bởi các trọng tài viên (điều 5(a), UAA)

Sự hỗ trợ của Tòa án

Nếu như một bên tranh chấp không thể chỉ định được trọng tài viên bằng

Trang 25

phương pháp hợp đồng hoặc là trọng tài viên bị từ chối và không chỉ định được người kế tiếp, thì bên tranh chấp có thể yêu cầu Tòa án chỉ định giúp (FAA, điều5; UAA, điều 3)

Tòa án thì không có quyền hạn thay đổi phương pháp giải quyết trong vụ

kiện mà các bên tranh chấp đã chọn phương pháp giải quyết bằng trọng tài Tòa án thì rất miễn cưỡng dính líu đến các vụ kiện trọng tài, đặc biệt là khi được yêu cầu

tịch thu hay giảm nhẹ trách nhiệm Tuy nhiên, có thể yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm khi đặc biệt cần thiết đối với các bên tranh chấp và sự giảm nhẹ phải duy trì được tình trạng hiện có và tránh sự bất công

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 29

Sự hỗ trợ của Tòa án còn thể hiện ở việc yêu cầu nhân chứng ra Tòa hay ở

việc thu thập chứng cứ (điều 7(a), UAA; điều 7, FAA)

Phán quyết của trọng tài

Luật trọng tài Hoa Kỳ không quy định hiệu lực của quyết định tạm thời, mà

chỉ tính đến quyết định cuối cùng đó là phán quyết của trọng tài Khi ra một phán

quyết thì quyền lực của trọng tài viên cũng kết thúc

Các bên tranh chấp trong quá trình phân xử trọng tài có thể tự hòa giải với

nhau Những trọng tài viên thì ghi nhận sự hòa giải này dưới hình thức là một phán quyết (điều 44, AAA)

FAA thì không có quy định về phán quyết của trọng tài Còn đối với UAA

thì đòi hỏi phán quyết của trọng tài phải lập thành văn bản, nó được đưa ra trong thời gian quy định của thỏa ước trọng tài và sau đó thì nó được phân phát cho các bên (điều 8).Phán quyết của trọng tài phải có chữ ký của các trọng tài viên (điều 8, UAA) Tuy không được quy định chính thức nhưng người ta đồng ý với nhau rằng trọng tài chính có thể vô hiệu một phán quyết trọng tài bằng cách từ chối ký tên

Phán quyết trọng tài phải được dựa trên quyết định chính của các trọng tài

viên Ngoại trừ các vụ kiện quốc tế phức tạp, các trọng tài viên thường không phải nêu lí do cho các phán quyết của họ Các bên tranh chấp có thể đưa ra yêu cầu của

họ hoặc là trực tiếp hoặc là tham khảo các luật trọng tài mà nó đòi hỏi cần phải có

lí do

Sự giám sát của Tòa án

Nếu một bên tranh chấp thất bại trong phân xử trọng tài thì bên còn lại có

thể xin Tòa án phân xử (FAA, điều 4; UAA, điều 2(a)) Tuy nhiên, trường hợp này chỉ tồn tại khi thỏa thuận có giá trị Đối với Tòa án liên bang, thỏa thuận trọng tài này sẽ do Ban hội thẩm quyết định, nếu thỏa thuận có giá trị thì các bên tranh chấp

sẽ được yêu cầu giải quyết tranh chấp bằng trọng tài phù hợp với thỏa thuận của

họ Nếu Tòa án bắt đầu giải quyết tranh chấp, yêu cầu phân xử trọng tài có thể được hoãn lại hoặc là tiếp tục vụ kiện (FAA, điều 3)

Không có một điều khoản nào trong FAA ghi nhận về việc hoãn thi hành

một phán quyết trọng tài Theo UAA, thì một bên tranh chấp có thể yêu cầu Tòa án hoãn lại một phán quyết khi mà phán quyết đó bị đe dọa hoặc chưa được quyết định trong trường hợp không có thỏa thuận về trọng tài (điều 2(b))

Trang 26

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 30

Một phán quyết của trọng tài được sự phê chuẩn của Tòa án là một thủ tục

pháp lý đơn giản, vì vậy, phán quyết bị thay đổi dưới một quyết định của Tòa án,

sau đó có thể thi hành như là một quyết định hơn là một phán quyết ( điều 9, FAA; điều 11, UAA) Phán quyết thì không bao gồm sự xét lại, nó phải được chấp nhận, ngoại trừ phán quyết được lưu ý để sửa đổi hay thay đổi Bên còn lại có thể kháng cáo lại quyết định này bằng cách sửa chữa lại phán quyết FAA yêu cầu phải thông báo việc phê chuẩn của kháng cáo đến bên đối kháng FAA ghi nhận ngôn ngữ như

là một bằng chứng mà các bên tranh chấp phải cung cấp cho phán quyết của Tòa án trong thỏa thuận trọng tài và việc chỉ định Tòa án của họ Những Tòa án liên bang

sẽ thừa nhận một phán quyết không có quyết định của Tòa án trong phán quyết thuật lại nếu như thỏa thuận trọng tài và tư cách các bên liên quan rõ ràng thì phán quyết sẽ được thi hành ở Tòa án liên bang

Theo luật của UAA và luật của tiểu bang New York, sự thừa nhận phán

quyết của trọng tài sẽ mặc nhiên có hiệu lực bằng việc từ chối bản kiến nghị của một phán quyết được dành riêng, ngay cả khi không có sự yêu cầu phê chuẩn được thực hiện (điều 12 (d), UAA) Theo luật của tiểu bang New York và Luật liên bang việc thực hiện sự phê chuẩn phải thực hiện trong thời hạn là một năm kể từ ngày phán quyết được ban ra Đối với những vụ kiện không thỏa thuận theo Công ước New York thì thời hạn là trong 3 năm

Những nền tảng cho việc thực hiện phán quyết được giới hạn bởi các đạo

luật Phạm vi của sự xem xét chỉ là một vài thiếu sót trong các thủ tục trọng tài, không đủ các chứng cứ hay bản chất của phán quyết Tòa án không điều tra liệu các trọng tài viên có mắc phải lỗi lầm trong việc áp dụng luật hay các sự kiện Đơn xin xét lại phán quyết trọng tài phải được làm trong vòng 90 ngày ở tiểu bang New York và ba tháng ở Tòa án liên bang, và phải dựa trên những vấn đề sau :

1 Có sự hối lộ, gian đối hay quản lý kém

2 Bằng chứng chỉ từ phía trọng tài viên

3 Lạm quyền của các trọng tài viên

4 Sai sót trong thủ tục của các vụ kiện trọng tài

(điều 10, FAA; điều 12, UAA)

Các Tòa án thì có khuynh hướng hạn chế phân tích vấn đề trên nhằm tránh

xem xét lại phán quyết khi cần thiết Ở tiểu bang New York, một bên tranh chấp có thể khước từ quyền đưa ra những sai sót bằng cách kiến nghị xin hủy bỏ phân xử, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Trang 27

các sự kiện (điều 11, FAA; điều 13, UAA)

Sự thi hành phán quyết trọng tài

Hình thức phổ biến của việc thi hành phán quyết trong nước là sự phê

chuẩn, một thủ tục pháp lý mà phán quyết được kết hợp với quyết định thi hành của Tòa án có hiệu lực pháp lý Trong thỏa thuận trọng tài, nếu các bên không có giới hạn việc thi hành phán quyết theo thủ tục pháp lý thì sự thi hành là hoàn hảo bằng cách thực thi các phán quyết Điều này thì đem lại một vụ kiện hoàn chỉnh Kiểu thi hành này thì không phổ biến ở Hoa Kỳ nhưng nó thì có giá trị khi mà sự thi hành

theo luật pháp (bằng phương pháp phê chuẩn) không thích hợp

Việc thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài nhìn chung được điều

chỉnh bởi hiệp ước, phổ biến nhất là bởi Công ước 1958 về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài Hoa Kỳ tham gia công ước vào năm

1970 Sự thự thi phán quyết của trọng tài được FAA quy định từ điều 201 đến 208, những Tòa án liên bang loại trừ những vụ kiện về tư pháp theo tinh thần của Công ước (điều 203) Khi phát sinh một vụ kiện theo như Công ước thì bắt đầu xét xử ở Tòa án tiểu bang, tuy nhiên người bị kiện có thể kháng cáo lên Tòa án liên bang (điều 205) Các bên tranh chấp có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định thi hành phán quyết theo quy định của Công ước trong thời hạn 3 năm kể từ ngày phán quyết chính thức được đưa ra (điều 207) Phán quyết này được công nhận, ngoại trừ Tòa án tìm thấy một trong những căn cứ để từ chối việc thực hiện theo công ước Những Tòa án của Hoa Kỳ có thể bắt buộc thi hành phân xử trọng tài phù hợp với thỏa thuận trọng tài, ở bất kì nơi nào mà thỏa ước được ký, ngay cả bên ngoài Hoa Kỳ (điều 206) Những điều khoản cơ bản của FAA áp dụng chỉ cho những trường hợp những điều khoản này không trái với những quy định của Công ước (điều 208)

Những phán quyết của Tòa án Hoa Kỳ làm tăng tính hiệu lực thi hành của

phán quyết và duy trì tinh thần của Công ước Trong một cuộc thảo luận về giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thì các hòa giải quốc tế được sự quan tâm xem xét bởi nhiều chính sách hơn là sự hòa giải trong nước

Trong trường hợp thiếu một Công ước đa phương có thể áp dụng được, việc

thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở Hoa Kỳ có thể được thực hiện theo Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 32

một hiệp ước song phương trong tình hữu nghị, hàng hải và thương mại mà Hoa

Kỳ là một thành viên Tuy nhiên, trong một số vụ kiện, những Tòa án Hoa Kỳ thực thi phán quyết của trọng tài nước ngoài không chịu ảnh hưởng của hiệp ước song phương hay đa phương trong sự thân thiện giữa các nước

1.3.2.2 Luật trọng tài Pháp

Trước năm 1980 Luật trọng tài Pháp được đặt trong Bộ Luật dân sự (BLDS)

về cơ bản giống như từ thời nó được ban hành vào năm 1806 Từ việc Pháp gia

tăng tầm quan trọng như là một trung tâm trọng tài quốc tế và để đáp ứng được việc Pháp tham gia vào các công ước trọng tài đa phương, các Tòa án Pháp đã thường xuyên thay đổi để thích nghi với phân xử trọng tài hiện đại, đặc biệt là ở mức độ

Trang 28

quốc tế

Năm 1980 và 1981 luật mới về trọng tài đã được ban hành với mục đích

soạn thành những luật lệ và cải tiến những quy định về luật kiện này Luật trọng tài mới được căn cứ vào quyển 4 của BLDS Pháp Nó quy định riêng rẻ 2 chế độ trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế, không đặt ra sự cản trở nào cho trọng tài quốc

tế, ngoại trừ sự khẩn cấp của “chính sách quốc tế chung”

Pháp là thành viên của nhiều công ước đa phương: Nghị định thư Giơnevơ

về điều khoản trọng tài năm 1923; công ước Giơnevơ về thi hành phán quyết trọng tài năm 1927; công ước Newyork về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài năm 1958( với nguyên tắc “có đi có lại” và tuyên bố về tranh chấp

thương mại); công ước Châu âu về trọng tài quốc tế năm 1961 và hiệp định có liên quan đến sự áp dụng của công ước năm 1962; công ước về hòa giải tranh chấp đầu

tư giữa những quốc gia và công dân của những quốc gia khác năm 1965 Ngoài ra, Pháp còn là thành viên của nhiều hiệp ước song phương với điều kiện nhờ đến phân xử bằng trọng tài và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài, như là hiệp ước song phương mở rộng khả năng áp dụng công ước Newyork đối với những quốc gia Châu phi nói tiếng Pháp

Trụ sở của Tòa án trọng tài của phòng thương mại quốc tế (ICC) ở Pari đóng

vai trò phát triển luật trọng tài Pháp Những tổ chức trọng tài quốc gia bao gồm hiệp hội trọng tài là tổ chức quản lý quan trọng của trọng tài trong nước và là ủy ban của Pháp về vấn đề trọng tài Những trung tâm ở LeHavre, Marseille, Rennes,

và Strasbourg đóng vai trò quản lý chính đối với trọng tài trong nước Thêm vào đó

có rất nhiều tổ chức chuyên môn và tổ chức thương mại, cả trong nước và quốc tế, Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 33

quản lý về trọng tài Những tổ chức đó bao gồm tổ chức trọng tài Hàng hải quốc tế

và phòng thương mại Châu âu- Ả rập

Năm 1985 Phòng Thương mại và Công nghiệp Pháp- Đức (COFACI), một

tổ chức với 2000 thành viên đặt trụ sở chính ở Paris và Dusseldorf, thành lập một

tổ chức trọng tài nhằm giải quyết những tranh chấp phát sinh trong thương mại giữa Pháp và Đức Tổ chức này bao gồm một trung tâm trọng tài , một đoàn thư ký

và một Tòa án trọng tài, với những phòng làm việc ở cả Paris và Dusseldorf Những tổ chức này xét xử trên nền tản luật hiện đại và hệ thống những điều khoản của luật trọng tài

Thỏa thuận trọng tài

Luật trọng tài của Pháp quy định giữa trọng tài trong nước và trọng tài quốc

tế có sự phân biệt cơ bản Theo BLDS xét xử trọng tài mang tính quốc tế khi tranh chấp có sự giao dịch thương mại quốc tế (điều 1492) Trong khi đó không có một nguyên tắc nào đưa ra để giải thích điều khoản này, nó thì có dụng ý như là việc soạn thảo thành luật lệ cho các vụ kiện ưu tiên đưa ra phạm vi rộng cho định nghĩa

“có tính chất quốc tế”

Luật trong nước phân biệt giữa một thỏa thuận giải quyết những tranh chấp

trong tương lai (điều khoản thỏa hiệp) và một thỏa thuận đưa ra ở một tranh chấp

Trang 29

hiện tại bằng trọng tài (thỏa hiệp) Cả hai thỏa thuận trên phải lập thành văn bản và phải quy định về hình phạt của sự vô hiệu của thỏa thuận, chỉ định trọng tài viên hoặc đưa ra một phương pháp để chỉ định trọng tài viên (điều 1443, 1448, 1449) Việc đưa ra những luật lệ của một tổ chức trọng tài thì phải có căn cứ Một điều khoản trọng tài có thể bao gồm sự trao đổi thư từ, telex hoặc những điều kiện chung nhất Một thỏa hiệp trọng tài phải hình thành theo đúng nội dung của tranh

chấp

Có những đòi hỏi không theo quy định của luật cho một thỏa thuận trọng tài

quốc tế, ngoài ra luật chỉ bao gồm đưa ra gián tiếp Những điều khoản riêng đưa ra cho các bên tranh chấp có thể xác định những hình thức bề ngoài của những điều khoản trọng tài trong thỏa ước của họ (điều 1493, 1494) Những yêu cầu về điều khoản thi hành phán quyết của trọng tài quốc tế như là một sự tồn tại của chứng cứ

và giá trị pháp lý của một phán quyết, một bên tranh chấp có thể yêu cầu thi hành nguyên bản phán quyết được đưa ra

Những nội dung của phân xử trọng tài thì có quan hệ với BLDS Một người

có thể đưa ra trọng tài phân xử bất kì tranh chấp nào khi mà quyền lợi của họ có thể Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 34

bị tước đoạt (điều 2059, BLDS) Điều này bao gồm ở những vấn đề thương mại

Những vấn đề có liên quan đến địa vị, năng lực của cá nhân, sự ly hôn, và bao gồm Những vấn đề về chính sách công cộng thì không thuộc phạm vi phân xử của trọng tài (điều 2060, BLDS) Trong phạm vi xét xử, sự phá sản và tranh chấp về bằng

sáng chế thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án

Sự lựa chọn và từ chối trọng tài

Tòa án trọng tài trong nước gồm một con số lẻ về số trọng tài viên (điều

1453) Thỏa ước trọng tài (điều khoản hay là thỏa hiệp trọng tài) phải có tên của trọng tài viên hoặc là thỏa thuận phương pháp chỉ định trọng tài viên Theo quy định của pháp luật, khi thấy cần thiết, thì Tòa án sẽ can thiệp vào quá trình chỉ định trọng tài viên Chỉ có những người có đủ quyền công dân mới có thể đáp ứng đủ tiêu chuẩn của trọng tài viên Trọng tài viên nước ngoài có thể giải quyết tranh chấp trong nước cũng như quốc tế

Một thỏa ước trọng tài quốc tế có thể chỉ định trọng tài viên hoặc ghi rõ

phương pháp chỉ định trọng tài Nếu như phân xử trọng tài ở Pháp hoặc đưa ra xử theo luật của Pháp , các bên tranh chấp có thể nhờ đến Tòa án của Pháp chỉ định trọng tài viên (điều 1493)

Một trọng tài viên trong vụ phân xử trong nước có thể từ chối như là một

thẩm phán, bao gồm sự quan tâm đến kết quả của sự tranh chấp, có mối quan hệ gia đình hoặc tài chính đối với bất cứ bên tranh chấp nào, và sự hiểu biết trước về tranh chấp (điều 8(1)) Trong thời gian chỉ định, trọng tài viên có trách nhiệm cho các bên tranh chấp biết về khả năng, nguyên nhân từ chối của mình (điều 1452(2)) Nếu như có kết quả, trọng tài viên chấp nhận việc chỉ định trên sự thỏa thuận của

các bên Điều này có nghĩa là loại trừ việc bên tranh chấp sử dụng việc từ chối bất ngờ như là chiến lược trì hoãn phân xử Một trọng tài viên, sau đó, có thể bị từ chối

Trang 30

do những lí do phát sinh sau khi đã hoàn thành việc chỉ định (điều 1463 (1)) Có những điều khoản quy định việc giúp đỡ của Tòa án khi nghe việc từ chối (điều

1463(2)) Không có một điều khoản nào quy định về việc từ chối của trọng tài trong phân xử quốc tế

Luật áp dụng

Không có một điều khoản nào quy định về luật có thể áp dụng về nội dung

của tranh chấp nội địa, ta chỉ có thể đoán chừng là do luật của Pháp là dùng ứng dụng Những trọng tài viên thì yêu cầu căn cứ vào những phán quyết của họ trên

“những nguyên tắc của luật”, loại trừ việc ủy quyền các bên tranh chấp để ra phán Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 35

quyết tất cả mọi điều (điều 1474) Trong phân xử quốc tế, các bên tranh chấp có

quyền tự do lựa chọn luật áp dụng để giải quyết tranh chấp Nếu họ không làm như thế, các trọng tài viên sẽ quyết định luật trọng tài để áp dụng (điều 1496) Sự trình bày “các điều của luật lệ” thì có hệ thống hơn là “luật lệ” có nghĩa là đem đến cho các bên tranh chấp cũng như các trọng tài viên sự linh hoạt hơn, từ đó không hạn chế họ trong việc chọn luật của bất kì một quốc gia nào Hơn thế nữa, cả tập quán thương mại và những nguyên tắc pháp lý chung đều được quan tâm xem xét, tạo nên một pháp lý thương mại quốc tế

Có thể đoán chừng rằng, luật của Pháp có những quy định về phân xử nội

địa, mặc dù nó không có những điều khoản quy định về hiệu lực Những quyết định của Tòa án gần đây định nghĩa về một phán quyết của trọng tài nội địa như là một phán quyết được đưa ra theo đúng tinh thần của thủ tục luật của Pháp Các bên tranh chấp trong phân xử quốc tế có thể thiết lập theo như thủ tục của luật pháp, hoặc là dựa theo thủ tục luật được thiết kế Khi thiếu việc chọn lựa các bên tranh chấp, các trọng tài viên có thể chọn luật để áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp (điều 1494) Ngay cả khi áp dụng luật của Pháp cho phân xử quốc tế, các bên tranh chấp có thể , do sự thỏa thuận, làm giảm đi những điều khoản dự định áp dụng cho các dự định trong nước và không can thiệp trong việc xác định phương pháp chỉ định trọng tài và tạo nên các luật lệ (điều 1495)

Sự phân biệt giữa trọng tài nội địa và trọng tài quốc tế có ý nghĩa loại trừ sự

cần thiết chọn luật áp dụng Không có nguyên tắc chủ đạo được đưa ra để giúp đỡ một trọng tài viên trong việc quyết định thủ tục và luật áp dụng cho một phân xử trọng tài quốc tế

Quá trình phân xử trọng tài

Trong những vụ kiện trong nước, các trọng tài viên điều khiển các thủ tục và

được giảm bớt hầu hết các luật áp dụng cho các luật lệ Tòa án sau đây (điều 1460) Các trọng tài viên có quyền buộc các bên đưa ra bằng chứng và quyết định tính xác thực của bằng chứng (điều 1466) Trong khi các trọng tài viên có quyền đưa ra quyết định tạm thời hoặc phương pháp bảo vệ với sự tôn trọng nội dung tranh chấp,

họ thì không có quyền thi hành của Tòa án

Tòa án trọng tài có quyền ra quyết định trong thẩm quyền của mình Trong

khi đó thẩm quyền của một trọng tài viên là hoàn thành việc đưa ra một phán quyết,

Trang 31

trọng tài viên còn có quyền thực hiện đúng, giải thích hoặc hoàn thành phán quyết Tòa án trọng tài thì có quyền cố vấn cho các chuyên gia với điều kiện nó không ủy Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Trong phân xử trọng tài trong nước, trọng tài viên thực hiện theo đúng thủ

tục, bao gồm việc chỉ định luật áp dụng, ngoại trừ các bên tranh chấp có yêu cầu khác (điều 1460) Trong khi đó họ không yêu cầu thực hiện theo tất cả những điều khoản quy định trong các luật lệ tòa án bình thường, họ phải tuân theo một trong những nguyên tắc của những điều luật cơ bản phản ánh trong BLDS (điều 4 đến

điều 11(1), điều 13 đến điều 21) Những điều này bao gồm việc quy định về nội

dung chủ yếu của tranh chấp, nghĩa vụ chứng minh điều mình nói là sự thật, và thực hiện những quyền lợi cơ bản như là những quyền được nghe, quyền được đại diện Nếu như thỏa ước trọng tài không có quy định giới hạn về thời gian Thì nhiệm vụ của trọng tài là sáu tháng kể cả ngày trọng tài viên cuối cùng đảm nhận nhịêm vụ của mình, ngoại trừ trường hợp các bên, tòa án trọng tài hoặc là Tòa án

có sự kéo dài thêm

Luật không quy định những điều khoản tranh chấp quốc tế Ngay khi các

bên áp dụng luật của Pháp để phân xử trọng tài, họ thì bằng thỏa thuận của mình có thể không theo những điều khoản của luật trong nước ( điều 1495)

Không có một điều khoản nào quy định về nơi phân xử trọng tài Thẩm

quyền của tòa án thì tham gia vào những vụ kiện trong nước, tuy nhiên, nơi phân

xử trọng tài thường được quy định trong thỏa ứơc trọng tài (điều 1457), nó có nghĩa là việc các bên tranh chấp thực hiện quyền chọn lựa của mình Khi mà thỏa ước không đề cập đến , thì việc chỉ định nơi phân xử trọng tài bị thất bại, trong cả phân xử trọng tài nội địa cũng như quốc tế, dưới những thẩm quyền của trọng tài viên cho việc thiết lập và thi hành phân xử trọng tài

Luật quy định những trọng tài viên sẽ quản lý việc kiện tụng và chuẩn bị hồ

sơ vụ kiện (điều 1461) Các bên tranh chấp có thể ủy quyền cho Tòa án trọng tài chỉ định một trong những thành viên của Tòa án mục đích này Trong khi đó không

có một quy định nào cho việc trình bày miệng được thừa nhận, nó chỉ là một tập quán thông thường

Sự hỗ trợ của Tòa án

Khi một bên tranh chấp thiếu sự hợp tác trong thỏa thuận điều khoản lựa

chọn trọng tài viên, việc chỉ định sẽ được thực hiện bởi tòa án có thẩm quyền (điều Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 37

Trang 32

1444) Tòa án cũng có thể yêu cầu chỉ định thêm trọng tài viên khi các bên tranh chấp đã lựa chọn rồi (điều 1454) và ra quyết định từ chối những trọng tài viên (điều 1463) Trong phân xử nội địa thì Tòa án có thẩm quyền là Tòa án được chỉ định trong thỏa ước hoặc không có bất cứ sự chỉ định nào thì Tòa án phân xử trọng tài là Tòa án nơi thỏa thuận trọng tài được thiết lập theo thỏa ước Nếu không có thỏa thuận nào về phân xử trọng tài thì Tòa án có thẩm quyền xét xử là Tòa án nơi cư trú của bị đơn Nếu bị đơn không có nơi cư trú ở Pháp thì Tòa án nơi cư trú của nguyên đơn là Tòa án có thẩm quyền (điều 1457)

Trong phân xử trọng tài quốc tế xét xử ở Pháp hoặc áp dụng luật của Pháp,

các bên tranh chấp có thể nhờ đến Tòa án tối cao ở Paris xét xử (điều 1493)

Trong khi luật không quy định về vấn đề này, các bên có thể đệ đơn xin Tòa

án áp dụng những biện pháp khẩn cấp bảo vệ tạm thời, đưa ra phương pháp xét xử không yêu cầu Tòa án xem xét lẽ phải trái của tranh chấp

Mặc dù không được quy định trong luật, một bên có thể kiến nghị lên Tòa

án có thẩm quyền yêu cầu sự có mặt của nhân chứng

Phán quyết trọng tài

Mặc dù không quy định trong luật nhưng Tòa án trọng tài có thể đưa ra

những phán quyết tạm thời Một phán quyết cuối cùng thì có hiệu lực pháp lý ngay khi nó được đưa ra và Tòa án trọng tài hoàn thành nhiệm vụ (điều 1476), ngoại trừ trường hợp cần thiết phải tôn trọng sự thật, sự giải thích cũng như việc hoàn thành (điều 1475)

Một phán quyết của trọng tài trong nước phải lập thành văn bản và bao gồm

cả tên những trọng tài viên cũng như có ngày phán quyết được đưa ra Một phán quyết còn bao gồm cả tên và địa chỉ của các bên tranh chấp và một bản tổng kết

của sự tranh cải và những lý lẻ của các bên tranh chấp Phán quyết bao gồm tên của những luật sư hoặc tên của những người đại diện của các bên tranh chấp (điều 1471,1472)

Phán quyết phải được thiết lập trên việc bỏ phiếu lấy quyết định đại đa số và

có chữ ký của tất cả các trọng tài viên Tuy nhiên, nếu có một số ít trọng tài viên không đồng ý ký thì điều này phải được ghi trong phán quyết, và phán quyết đó

vẫn có hiệu lực như phán quyết có đầy đủ chữ ký của các trọng tài viên (điều 1473) Phán quyết phải được chứng minh bởi các lý lẽ (điều 1470,1471)

Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp

Cử nhân Luật

Đặng Thị Lan Phương 38

Sự giám sát của Tòa án

Luật trọng tài ghi nhận việc đình chỉ vụ phân xử Nó liên quan đến sự đình

chỉ vụ kiện trong trường hợp chết hoặc là phá sản hơn là theo các quy định của Tòa

án Tuy nhiên, không thể có sự gián đoạn khi đã có sự trao đổi giữa trọng tài với các bên tranh chấp Khi có sự gián đoạn thì tiến trình này phải được tóm tắt một cách tự nguyên hay bởi lệnh của Tòa án Luật trọng tài quy định rằng trong trường hợp các vụ kiện về tội phạm giả mạo thời gian giới hạn cho việc hoãn phân xử trọng tài là cho đến khi đạt được một giới hạn nhất định (điều 1467) Việc phân xử

Ngày đăng: 07/04/2013, 11:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w