luận văn nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi và đặc điểm sinh vật học bọ xít đen bắt mồi orius sauteri (poppius) của sâu hại chính trên đậu rau vụ xuân hè 2005 tại thường tín hà tây luận văn nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi và đặc điểm sinh vật học bọ xít đen bắt mồi orius sauteri (poppius) của sâu hại chính trên đậu rau vụ xuân hè 2005 tại thường tín hà tây luận văn nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi và đặc điểm sinh vật học bọ xít đen bắt mồi orius sauteri (poppius) của sâu hại chính trên đậu rau vụ xuân hè 2005 tại thường tín hà tây
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo trường đại học nông nghiệp i
-
nguyễn VĂN VịNH
Nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi và đặc
điểm sinh vật học bọ xít đen bắt mồi orius sauteri (poppius) của sâu hại chính trên đậu rau
vụ xuân hè 2005 tại thường tín - hà tây
Luận văn thạc sĩ nông nghiệp
Chuyên ngành : Bảo vệ thực vật Mã số : 60.62.10
Người hướng dẫn khoa học: TS TRầN ĐìNH CHIếN
Hà nội - 2005
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và ch−a hề đ−ợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đ2 đ−ợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đ2 đ−ợc chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vịnh
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Sau đại học, trường
Đại học Nông nghiệp I Hà Nội đ2 giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với bà con nông dân các x2 Vân Tảo, Hồng Vân, Hà Hồi - Thường Tín - Hà Tây, cùng toàn thể gia
đình, bạn bè đ2 giúp đỡ, động viên tôi hoàn thành chương trình đào tạo và luận văn của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Văn Vịnh
Trang 43.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 23
4.1.1 Thành phần sâu hại và mức độ phổ biến của chúng trên đậu rau
4.1.2 Đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của bọ trĩ sọc vàng (T
4.1.2 Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi sâu hại
đậu rau vụ xuân hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây 384.1.3 Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius
sauteri) trên đậu đũa vụ xuân hè 2005 tại x2 Vân Tảo - Thường Tín -
Trang 54.1.4 Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius
sauteri) trên đậu đũa vụ xuân hè 2005 tại Hồng Vân - Thường Tín -
4.1.5 Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius
sauteri) trên đậu trạch vụ xuân hè 2005 tại Hà Hồi - Thường Tín - Hà
4.2.1 Hình thái và kích thước từng pha phát dục của bọ xít đen bắt mồi
4.2.6 Tỷ lệ trứng nở trong ngày của bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) 594.2.7 Tỷ lệ giới tính của bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) ngoài đồng
Trang 6Danh mục các bảng
Bảng 1: Thành phần sâu hại và mức độ phổ biến của chúng trên
đậu rau vụ xuân hè 2005 tại 3 x2 Vân Tảo, Hà Hồi, Hồng Vân - Thường
Bảng 2: Tỷ lệ các loài sâu hại trên đậu rau trong vụ xuân hè 2005
Bảng 3: Thành phần và mức độ phổ biến của côn trùng bắt mồi sâu
hại đậu rau vụ xuân hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây 38Bảng 4: Tỷ lệ các loài côn trùng bắt mồi trên đậu rau trong vụ xuân
Bảng 5: Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius
sauteri) trên đậu đũa vụ xuân hè 2005 tại x2 Vân Tảo - Thường Tín - Hà Tây 44Bảng 6: Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius
sauteri) trên đậu đũa vụ xuân hè 2005 tại Hồng Vân - Thường Tín - Hà Tây 46Bảng 7: Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius
sauteri) trên đậu trạch vụ xuân hè 2005 tại Hà Hồi - Thường Tín - Hà Tây 48Bảng 8: Kích thước từng pha phát dục của bọ xít đen bắt mồi (Orius
Bảng 9: Thời gian phát dục của bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) 54Bảng 10: Khả năng ăn bọ trĩ của bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) 56Bảng 11: Khả năng đẻ trứng của bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) 57Bảng 12: Khả năng đẻ trứng của trưởng thành bọ xít đen bắt mồi
Bảng 13: Tỷ lệ trứng nở trong ngày của bọ xít đen bắt mồi (O sauteri) 59Bảng 14: Tỷ lệ giới tính của bọ xít đen bắt mồi (O sauteri) ngoài
Trang 7Danh mục các Đồ THị
Đồ thị 1: Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt
mồi (Orius sauteri) trên đậu đũa vụ xuân hè 2005 tại Vân Tảo -
Đồ thị 2: Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt
mồi (Orius sauteri) trên đậu đũa vụ xuân hè 2005 tại Hồng Vân -
Đồ thị 3 Diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt
mồi (Orius sauteri) trên đậu trạch vụ xuân hè 2005 tại Hà Hồi -
Đồ thị 4: Khả năng đẻ trứng của trưởng thành bọ xít đen bắt mồi
Trang 81 Mở đầu
1.1 Đặt vấn đề
Rau là cây thực phẩm rất cần thiết trong đời sống hàng ngày và không
thể thay thế, vì rau có vị trí rất quan trọng đối với sức khoẻ con người Rau
cung cấp cho cơ thể những chất quan trọng như: Protein, lipit, vitamin, muối
khoáng, axít hữu cơ và các chất thơm, v.v (Hồ Hữu An và Ctv, 2000) [1]
Theo thống kê của tổng cục thống kê năm 1997, diện tích trồng rau ở
nước ta là 374.000 ha, sản lượng là 4.830,5 ngàn tấn Diện tích trồng đậu các
loại là 212.800 ha, sản lượng 138,4 ngàn tấn [1]
Các loại cây đậu ăn quả: đậu đũa, đậu cô ve, đậu xanh, đậu bở, thuộc
họ đậu (Fabaceae), bộ đậu (Fabales) Họ đậu có khoảng 12.000 loài, phân bố
khắp thế giới Trong số hàng chục nghìn loài đ2 biết hiện nay chỉ vài chục loài
được sử dụng phổ biến, chủ yếu làm thức ăn cho người và vật nuôi (Đường
Hồng Dật, 2002) [4]
Giá trị dinh dưỡng của các loài đậu rau rất cao, đậu cung cấp các hợp
chất như cacbon, các loại vitamin (A, B, C, ), các chất khoáng giống như
các loại rau khác Ngoài ra đậu còn cung cấp thêm protit, là chất mà các loại
rau khác không có Trong các loại hạt đậu ngoài protit, còn có lipit, số khác
còn chứa nhiều gluxit Một số loại hạt đậu còn là nguyên liệu cho công nghiệp
chế biến, công nghiệp đồ hộp, giải khát (Vũ Hải và Ctv, 2000) [6]
Trong trồng trọt cây đậu ăn quả thường bị rất nhiều loại côn trùng gây
hại, điển hình như: sâu đục quả, sâu ăn lá, giòi đục lá, rệp đậu, vài năm gần
đây, bọ trĩ (Thrips palmi) đ2 gây hại thành dịch trên nhiều loại cây trồng trong
đó có đậu rau, chúng gây hại nặng nề đến năng suất nếu không có biện pháp
Formatted: Bullets and Numbering
Trang 9phòng trừ thích hợp Mặt khác, thực tế trên đồng ruộng luôn tồn tại một lực lượng đối địch với sâu hại - kẻ thù tự nhiên (còn gọi là thiên địch) là một trong những những tố quan trọng hạn chế sự gây hại của sâu hại, dịch hại
Hiện nay, trong sản xuất nông nghiệp người nông dân sử dụng thuốc hoá học để phòng trừ sâu hại là phổ biến (đặc biệt là nghề trồng rau) (7 - 10 lần trong 1 vụ đối với rau ngắn ngày) Việc sử dụng thuốc hoá học trừ sâu hại như vậy, ngoài tác dụng diệt trừ sâu hại còn gây ảnh hưởng xấu đến các loài thiên địch vốn có ý nghĩa trên đồng ruộng, mặt khác còn ảnh hưởng đến môi trường, đến chất lượng nông sản, gián tiếp ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Trong khi đó các biện pháp khác trong phòng trừ sâu hại còn chưa được chú ý nhiều, đặc biệt là biện pháp sinh học trên cây đậu rau vẫn chưa được quan tâm
đúng mức
Do nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng, để tăng hiệu quả kinh tế
và phát triển nghề trồng rau phù hợp với các nhu cầu đó thì việc nghiên cứu những biện pháp kỹ thuật như tạo giống mới có năng suất chất lượng cao, sử dụng thuốc hoá học trong phòng trừ sâu hại ít độc hại, thuốc có tính chọn lọc cao và các biện pháp phòng trừ khác, đặc biệt là nghiên cứu biện pháp sinh học để phòng trừ sâu hại trong sản xuất đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà khoa học
Để góp phần vào việc giảm thiểu sử dụng thuốc hoá học, tăng cường sử dụng biện pháp sinh học, đồng thời góp phần xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp sâu hại trên đậu rau (IPM) Chúng tôi thực hiện đề tài: "Nghiên cứu thành phần côn trùng bắt mồi và đặc điểm sinh vật học bọ xít đen bắt mồi Orius sauteri Poppius của sâu hại chính trên đậu rau vụ Xuân Hè
2005 tại Thường Tín - Hà Tây"
Trang 101.2 Mục đích yêu cầu
1.2.1 Mục đích
Trên cơ sở điều tra, nắm được thành phần sâu hại, côn trùng bắt mồi, diễn biến mật độ, mối quan hệ giữa bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) trên cây đậu rau, vụ xuân hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây, từ
đó góp phần đề xuất biện pháp phòng chống bọ trĩ hại đậu rau đạt hiểu quả cao 1.2.2 Yêu cầu
- Xác định thành phần sâu hại và thành phần côn trùng bắt mồi trên đậu rau vụ Xuân Hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây
- Điều tra diễn biến, mật độ của bọ trĩ (Thrips palmi) và mật độ của bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) trên cây đậu rau vụ Xuân Hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) (kích thước, thời gian phát dục, vòng đời, khả năng đẻ trứng, khả năng ăn mồi )
Trang 112 Tổng quan tài liệu
2.1 Cơ sở khoa học
Sản xuất nông nghiệp là một trong những ngành sản xuất chịu nhiều rủi
ro nhất, bên cạnh những rủi ro do điều kiện thời tiết, chính sách, nền kinh tế x2 hội, giá cả thị trường, thì còn có một rủi ro khác, gây ảnh hưởng trực tiếp
đến năng suất của cây trồng, đó là dịch hại
Đối với cây đậu rau, các loài sâu hại như sâu đục quả, ruồi đục lá, sâu
đục thân, rệp đậu, và đặc biệt là bọ trĩ, là những loài sâu hại đặc biệt quan trọng, gây ảnh hưởng lớn tới năng suất và phẩm chất của quả đậu
Việc phòng chống các loài sâu hại trên hiện nay vẫn đang gặp nhiều khó khăn, do đó là những loài sâu hại đa thực, chúng gây hại trên hầu hết các loại cây trồng, đặc biệt là loài bọ trĩ (Thrips palmi) Bên cạnh đó, việc phát hiện thiên địch của các loài sâu hại để khống chế sự phát triển của chúng chưa
được nghiên cứu nhiều Mặt khác, trên thực tế, ngoài đồng ruộng, để phòng trừ sâu hại người nông dân chủ yếu vẫn sử dụng biện pháp hoá học là chủ yếu Hơn nữa, vì lợi nhuận, người trồng rau đ2 quá lạm dụng thuốc hoá học Vì vậy, hiệu quả phòng chống sâu hại chưa cao, độ an toàn của sản phẩm thấp và làm ô nhiễm môi trường sinh thái
Đề tài chúng tôi nghiên cứu trên cơ sở đi sâu tìm hiểu thành phần sâu hại, côn trùng bắt mồi, diễn biến của sâu hại chính (bọ trĩ (Thrips palmi)) và thiên địch của sâu hại chính (bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri)), đồng thời tìm hiểu một số đặc tình sinh vật học của bọ xít đen bắt mồi (O sauteri), từ đó
đề xuất biện pháp phòng chống sâu hại chính đạt hiệu quả kinh tế cao
Trang 122.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài
2.2.1 Thành phần sâu hại và ý nghĩa kinh tế của chúng trên đậu rau
Trên thế giới đ2 có nhiều công trình nghiên cứu về sâu hại trên đậu rau,
đặc biệt là nghiên cứu trên đậu cô ve (Phaseolus vulgaris) và đậu đũa (Vigna neiguiculata), đó là 2 loại đậu được trồng phổ biến nhất
Theo Bohec J Le, 1982 [25], ở Pháp người ta đ2 phát hiện được 25 loài sâu hại trên đậu cô ve Trên đậu cô ve trồng ở vùng Đông nam á đ2 phát hiện
có 13 loài sâu hại thuộc 3 bộ côn trùng (Waterhouse, 1993) [52] ở vùng
Đông Uttar Paradesh (ấn Độ), trong năm 1978 – 1979, người ta đ2 điều tra
được 20 loài côn trùng gây hại trên đậu đũa (Gupta và Ctv, 1982) [31] Số lượng các loài sâu hại trên đậu đũa đ2 được ghi nhận ở từng nước Đông nam á như sau: Malaysia có 26 loài, Thái Lan có 20 loài, Singapore có 17 loài, Indonesia có 15 loài, Myanmar và Campuchia mỗi nước có 11 loài, Lào có 10 loài và ít nhất là Brunei có 5 loài [52]
* Sâu hại chính trên đậu rau
Sâu hại chính trên đậu rau rất khác nhau ở các nước trên thế giới
Cụ thể trên đậu cô ve, ở Brazil, sâu hại chính là loài rầy xanh (Empoasca kraemeri Ross and Moore) (Hohmann và Ctv, 1982) [32], nhưng ở Pháp, sâu hại chính trên đậu cô ve lại là rệp muội (Acyrthosiphon pisum (Harris)) và ruồi (Delia platara (Mg.)) [25]
ở các nước Đông nam á, quần thể sâu hại trên đậu cô ve là khá đa dạng
và phong phú, tuy nhiên mỗi nước đều chỉ có một số loài sâu hại chính, cụ thể như ở Myanmar và Thái Lan, số lượng các loài sâu hại chính tuy nhiều (Myanmar có 4 loài, Thái Lan có 9 loài) nhưng chỉ có loài sâu xanh (Helicoverpa armigera (Hubn.)) là sâu hại quan trọng Trong khi đó ở Brunei
và Campuchia ngoài loài sâu xanh (H armigera), còn có loài sâu đục quả (Maruca vitrata Geyer) là sâu hại quan trọng [52]
Trang 13Trong 4 loài sâu hại chính đ2 phát hiện được ở nước Lào, thì cũng có
loài sâu xanh (H armigera) ngoài ra còn có loài ruồi đục thân (Ophiomyia
phaseoli Trybon) là sâu hại quan trọng Tại Malaysia đ2 ghi nhận 11 loài sâu
hại chính trên đậu cô ve, trong đó sâu hại quan trọng là sâu xanh (H armigera), ruồi đục lá ngoằn ngoèo (Chromatomyia horticola (Gour)),
ruồi đục thân (O phaseoli), sâu đo xanh (Anomis flava (Fabr.)), sâu đục quả
(M vitrata) và mọt đậu (Callosobruchus chinensis (L.)) [52]
Trên những vùng trồng đậu cô ve ở Philippine, cũng có tới 5 loài sâu hại
quan trọng đó là sâu xanh (H armigera), sâu đo (Chrysodeixis eriosoma
(Double)), bọ cánh cứng (Olene mendosa Hubner), ruồi đục thân (O phaseoli) và sâu đo xanh (Anomis flava) [52]
Tóm lại, quần thể sâu hại trên đậu cô ve là khá đa dạng và phong phú ở
mỗi nước, tuy nhiên nổi lên có các loài sâu hại quan trọng, đó là sâu xanh (H
arnmigera), sâu đục quả (Maruca vitrata), ruồi đục thân (Ophiomyia phaseoli), sâu
đo xanh (Anomis flava), ruồi đục lá (Chromatomyia horticola)
Trên cây đậu đũa, số lượng sâu hại chính cũng đa dạng và phong phú,
như ở Nam Nigeri, loài rầy xanh (Empoasca colichi Paoli) và sâu đục quả
(Cydia plychora (Meyr.)) là những loài sâu hại phổ biến (Eruch và Ctv, 1984)
[28] Còn ở vùng Đông Uttar Paradesh (ấn Độ), số lượng sâu hại quan trọng
lại nhiều hơn (8 loài), đó là Madurasia obscurella (Jac.), rầy xanh (Empoasca
kerri Pruthi), ruồi đục thân (O phaseoli), rệp đậu (Aphis craccivora Koch),
Acrocercops spp., sâu đục quả đậu (Euchrysops cnejus (F.)), bọ trĩ hại hoa
(Megalurothrips distalis (Karny)) và bọ xít (Riptortus sp) [31]
ở vùng Bắc Kinh (Trung Quốc), sâu đục quả đậu (Maruca vitrata (Geyer))
và sâu đục quả (Lampides boeticus (L.)) được coi là những sâu hại quan trọng trên
đậu đũa (Luo và Ctv, 1992) [33] Còn bọ trĩ hại hoa (Megalurothrips usitatus
(Bagn.)) lại là loài sâu hại quan trọng trên đậu đũa ở Đài Loan (Niann, 1990) [38]
Trang 14Có 11 loài sâu hại chính trên đậu đũa ở Myanmar và Campuchia, nhưng
ở Myanmar chỉ có 2 loài là sâu hại quan trọng, đó là sâu xanh (H armigera) và sâu khoang (Spodoptera litura (L.)) Còn ở Campuchia có 4 loài là sâu hại quan trọng, đó là sâu xanh (H armigera), rệp (Aphis modicella), sâu đục quả đậu (M vitrata) và sâu khoang (S litura)
Tại 2 nước, Thái lan và Singapore cũng đ2 ghi nhận được nhiều loài sâu hại chính (Thái Lan 20 loài, Singapore 17 loài), nhưng mỗi nước chỉ có 2 loài sậu hại quan trọng trên đậu đũa, ở Thái Lan là sâu xanh (H armigera) và sâu khoang (S litura), ở Singapore là sâu khoang (S litura) và Valanga nigricornis (Burmeis) Còn ở Brunei có 4 loài sâu hại chính trên đậu đũa, bao gồm sâu đục quả đậu (M vitrata), sâu xanh (H armigera), sâu khoang (S litura), rệp đậu (Aphis craccivora) và rệp (A modicella)
ở Lào, trong 10 loài sâu hại chính cũng có 4 loài sâu hại quan trọng, đó
là rệp (A modicella), sâu xanh (H armigera), câu cấu xanh lớn (Hypomeces squamosus (Fabr.)) và ruồi đục thân đậu (O phaseoli) Trên ruộng trồng đậu
đũa ở Malaysia có 26 loài sâu hại chính, trong số đó có tới 7 loài sâu hại quan trọng là sâu xanh (H armigera), sâu khoang (S litura), câu cấu xanh lớn (H squamosus), ruồi đục thân đậu (O phaseoli), sâu đục quả đậu (M vitrata),
bọ xít dài (Leptocorisa acuta (Thurb.)) và mọt (Callosobruchus chinensis (L.))
Có tới 7 loài quan trọng, trong số 15 loài sâu hại chính trên đậu đũa ở Indonesia đó là sâu xanh (H armigera), ruồi đục thân đậu (O phaseoli), bọ xít dài (L acuta), sâu sa (Agrius convolvuli (L.)), bọ nẹt (Parasa lepida (Cramer)), sâu khoang (S litura) và rệp đậu (A craccivora)
Số lượng các loài sâu hại quan trọng ở Philipine lớn hơn ở Indonesia, với
8 loài, trong 11 loài sâu hại chính, đó là sâu xanh (H armigera), sâu đục quả
đậu (Euchrysops cnejus (Fabr.)), bọ cánh cứng (O mendosa), bọ nẹt (Prasa lepida), sâu khoang (S litura), ruồi đục thân đậu (O phaseoli), rệp đậu (A craccivora) và bọ xít dài (Leptocorisa acuta) [52]
Trang 15Trên cây đậu đũa, cũng tồn tại quần thể sâu hại rất đa dạng và phong phú, tuy nhiên, mỗi vùng có một quần thể riêng ở vùng Đông nam á, những loài sâu hại quan trọng, có thể kể đến là sâu xanh (H armigera), sâu đục quả
đậu (M vitrata và Euchrysops cnejus (Fabr.)), sâu khoang (S litura), ruồi đục thân
đậu (O phaseoli), rệp đậu (A craccivora) và bọ xít dài (Leptocorisa acuta)
Gần đây các loài bọ trĩ đ2 trở thành những đối tượng gây hại phổ biến
và quan trọng trên nhiều loại rau trong đó có cả nhóm đậu rau
Theo Wang, ở Đài Loan có loài bọ trĩ hại hoa (Megalurothrips usitatus (Bagnall)) là đối tượng gây hại quan trọng trên các loại đậu rau, bao gồm đậu
đũa quả dài (Vigna sesquipedalis), đậu đũa thường (V sinensis), đậu cô ve vàng (Phaseolus vulgaris) và đậu cô ve xanh (P limensis) (Niann, 1991) [39] Loài bọ trĩ hại hoa (M usitatus) này cũng thường xuyên gây hại trên đậu đũa
và đậu cô ve ở Malaysia (Fauziah và Ctv, 1991) [29]
Trên đậu cô ve ở vùng Đông nam á thường bị ba loài bọ trĩ là bọ trĩ hại
ớt (Scirtothrips dorsalis (Hood)), bọ trĩ sọc vàng (Thrips palmi Karny) và bọ trĩ hại thuốc lá (Thrips tabaci Lind) phá hoại thường xuyên gây ảnh hưởng tới năng suất (Sherpard và CTV, 1999) [47]
Trên đây là một số nghiên cứu ở nước ngoài về thành phần sâu hại trên các loại đậu ăn quả Có thể thấy rằng, do mỗi nơi có vùng sinh thái khác nhau dẫn đến thành phần sâu hại chính, sâu hại quan trong có sự khác nhau Tuy nhiên, dù thành phần sâu hại có nhiều hay ít thì sự gây hại của chúng cũng rất lớn nếu không có biện pháp phòng trừ thích hợp
Về ý nghĩa kinh tế của các loài sâu hại trên đậu rau, có nhiều nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau, nhưng các kết quả đó chỉ cụ thể ở một số loài sâu hại mà thôi Theo kết quả nghiên cứu của Singh và Allen (1980) [48], sâu
đục quả đậu (Maruca vitrata) có thể làm giảm năng suất hạt của các loại đậu
từ 20 - 60% nếu không phòng trừ ở Băngladesh, sâu đục quả gây ra tới 54,4%
Trang 16quả đậu đũa bị đục khi thu hoạch và làm giảm năng suất khoảng 20% (Ohno
và Alam, 1989) [41] Còn theo Ogunwolu (1990) [40], ở Nigiêria năng suất hạt đậu đũa giảm từ 48 - 72% do sâu hại và Bal (1991) [23] nếu không phòng trừ bọ trĩ, thì bọ trĩ có thể làm giảm năng suất đậu từ 30 - 90%
2.2.2 Một số nghiên cứu về bọ trĩ (Thrips sp.)
Bọ trĩ là loài côn trùng có kích thước nhỏ, chúng là loại sâu hại nguy hiểm trên nhiều loại cây trồng: bầu bí, đậu đỗ, dưa chuột, khoai tây, cho đến nay đ2 có nhiều công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về bọ trĩ
Bọ trĩ (Thrips sp.), thuộc lớp côn trùng (Insecta), bộ cánh tơ (Thysanoptera)
Có khoảng 5000 loài bọ trĩ đ2 được biết, trong đó chỉ có khoảng 1% số loài gây hại trên cây trồng Bọ trĩ có kích thước cơ thể nhỏ, dao động từ 0,5 - 1,5 (mm) (Mark S Hoddle, 2002) [35] Đa số các loài bọ trĩ đều chích hút dịch cây, một
số loài bắt mồi, các loài khác ăn phấn hoa, nấm, tàn dư thực vật,
Trong tất cả các loài bọ trĩ hại cây trồng thì bọ trĩ (Thrips palmi Karny)
là loài gây hại quan trọng và đang trở thành dịch hại nguy hiểm ở nhiều vùng trồng rau, trong đó có đậu rau trên toàn thế giới
Năm 1925, lần đầu tiên bọ trĩ (Thrips palmi) đ2 được mô tả bởi H Karny khi lấy mẫu bọ trĩ (Thrips sp.) trên cây thuốc lá vùng Sumatra, nhưng lúc đó nó lại không được quan tâm nhiều, cho đến khi nó được mô tả trong bảng phân loại của Bhatti vào năm 1980 (Bhatti, 1980) [24], từ đó đến nay, loài bọ trĩ này được nhiều nhà khoa học chú tâm nghiên cứu
Về nguồn gốc của bọ trĩ (Thrips palmi Karny), các tác giả có ý kiến khác nhau, theo Graham Young và Zhang (1998) [30] cho rằng bọ trĩ (Thrips palmi) có nguồn gốc từ Malaysia và phía Tây Indonesia, còn Yoshimi Hiroshi
và Ctv (1993) [55] thì lại cho rằng, bọ trĩ (Thrips palmi) có nguồn gốc từ Thái Lan, ấn Độ, sau đó loài này lây lan tới nhiều vùng khác như các nước ở Đông nam á, Nhật Bản, các vùng còn lại ở Châu á, Bắc Châu Phi, Trung và Nam
Trang 17Phi, Caribe và các hòn đảo ở Châu Đại Dương
Nhiều loại cây trồng là ký chủ của bọ trĩ, như ở Brazil, khoảng 287 loài cây trồng thuộc 218 giống và 84 họ được xác định là ký chủ của bọ trĩ, trong
đó ký chủ chính của bọ trĩ (Thrips palmi) là các loại cây họ cà, họ đậu và họ bầu bí (Renata, 2001) [44]
Theo Ogunwolu (1990) [40], ở Nigeria năng suất hạt đậu đũa gảm từ 48
- 72% do sâu hại và Bal (1991) [23], nếu không phòng trừ bọ trĩ nó có thể làm giảm năng suất đậu từ 30 - 90%,
Bọ trĩ (Thrips palmi) gây hại trên nhiều loại cây trồng khác nhau, ở mỗi môi trường sinh thái khác nhau thì đặc tính sinh vật học, sinh thái học của chúng cũng khác nhau
Theo kết quả nghiên cứu của Vijaya Laskshnai (1994) [49], tại trường
Đại học Nông nghiệp ấn Độ khi nuôi và theo dõi đặc điểm sinh học của bọ trĩ (Thrips palmi) ở các điều kiện nhiệt độ khác nhau, đưa ra nhận xét rằng: ở nhiệt độ trên dưới 250C là nhiệt độ thích hợp cho sự sinh sản của bọ trĩ
Còn theo Graham Young và Ctv (1998) [30], khi nuôi bọ trĩ Thrips palmi ở nhiệt độ 250C thì chúng có vòng đời là 14 - 16 (ngày), ở 300C thì vòng
đời là 12 (ngày) Nghiên cứu của EPPO (1989) [27] cho thấy, bọ trĩ (Thrips palmi) có 6 giai đoạn phát dục là: trứng, sâu non tuổi 1, tuổi 2, tiền nhộng, nhộng và trưởng thành Pha nhộng được tìm thấy trong đất, các pha còn lại tìm thấy trên cây, ở 320C vòng đời là 11 (ngày), ở 220C vòng đời là 26 (ngày) 2.2.3 Thiên địch của sâu hại trên đậu rau
Có nhiều nghiên cứu về thiên địch của sâu hại chính trên đậu rau trên toàn thế giới, tuy nhiên trong các tài liệu tham khảo được, chưa có tài liệu thống kê hoàn chỉnh số lượng các loài thiên địch trên đậu rau, một số tài liệu dưới đây chỉ nêu đến thiên địch của một số loài sâu hại cụ thể
Theo kết quả nghiên cứu của Sharma (1998) [46], thiên địch của sâu
Trang 18đục quả đậu (M vitrata) khá phong phú về thành phần, bao gồm 57 loài, trong
đó có 33 loài ký sinh, 19 loài bắt mồi và 5 loài vi sinh vật gây bệnh ở Kenya, loài ký sinh nhộng (Antrocephalus sp.), loài nguyên sinh động vật (Nosema sp.) và vi khuẩn (Bacillus sp.) là những thiên địch rất phổ biến của sâu đục quả đậu (M vitrata) Các loài ký sinh và sinh vật gây bệnh gây tỷ lệ chết cho quần thể sâu đục quả đậu ở mức 35,6 - 40,7 (%) (Okeyo - owuor và Ctv, 1991) [42] Còn ở Sri Lanka đ2 ghi nhận đ−ợc 9 loài ký sinh sâu đục quả đậu, loài ký sinh nhộng (Antrocephalus nr subelongatus) có vai trò quan trọng hơn cả, nó gây chết 12 – 20 (%) nhộng của sâu đục quả đậu (M vitrata), loài ong
ký sinh (Phanerotoma hendecasisella) có tỷ lệ ký sinh là 6 - 7 (%) trên pha ấu trùng của sâu đục quả đậu (M vitrata) (Waterhouse và Ctv, 1987) [51] Quần thể của ruồi đục lá (Liriomyza sp.) trong tự nhiên tự giảm đi sau một vài năm phát sinh với mật độ cao Nhiều nhà nghiên cứu giả thiết rằng đó
là do hoạt động của các loài thiên địch, theo Waterhouse và Norris (1987) [51] thì quần thể ruồi đục lá (Liriomyza sp.) ở Vanuatu bị kiềm chế bởi ong ký sinh thuộc họ Eulophidae
Khi nghiên cứu về rệp đậu (Aphis craccivora), nhiều tác giả đ2 chỉ ra rằng, có nhiều loài thiên địch tấn công và hạn chế số l−ợng của loài rệp này, trong đó quan trọng nhất là các loài bọ rùa, điển hình là bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus (F.), bọ rùa vằn chữ nhân (Coccinella repanda (Thunb.), bọ rùa 2 mảng đỏ (Lemnia biplagiata (Swartz.)), bọ rùa tám vạch
đen (Harmonia dimidiata (F.)) (Parasuraman, 1989) [43]
Đ2 phát hiện đ−ợc 13 loài ký sinh và 3 loài bắt mồi ăn thịt của sâu đục quả (Cydia ptychora (Meyrich)) và chúng đóng góp một phần trong sự điều hoà số l−ợng sâu đục quả này (Eruch và CTV, 1984) [28]
2.2.4 Thiên địch của bọ trĩ (Thrips palmi) trên đậu rau
Thiên địch của bọ trĩ (T palmi) rất đa dạng và phong phú, trên thế giới
Trang 19có rất nhiều nhà khoa học đ2 nghiên cứu về thiên địch của loàI bọ trĩ này và
thu được nhiều kết quả quan trọng
Kết quả nghiên cứu của EPPO (1989) [27] chỉ ra rằng, có 20 loài
thiên địch của bọ trĩ (Thrips palmi), trong đó quan trọng có 7 loài bọ xít bắt
mồi, gồm 6 loài thuộc họ Anthocoridae (Orius insidiosus, O masidentex,
O minutus, O sauteri, O similis, O tantillus) và 1 loài thuộc họ Miridae
(Campylomma sp.)
Theo kết quả nghiên cứu của Yoshimi Hiroshi (1993) [55], tác giả đ2 xác
định được 8 loài thiên địch của bọ trĩ (Thrips palmi) trong đó có 3 loài thuộc bộ
cánh nửa Hemiptera là bọ xít (Bilia sp.) (họ Anthocoridae) tấn công sâu non và
trưởng thành của bọ trĩ (Thrips palmi), bọ xít bắt mồi (Orius sp.) (họ
Anthocoridae) tấn công sâu non và trưởng thành bọ trĩ (T palmi) và 1 loài bọ xít
xanh bắt mồi (Campylomma sp.) (họ Miridae) tấn công sâu non bọ trĩ (T palmi)
Cũng theo tác giả Yoshimi Hiroshi và Ctv (1999) [56], xác định được 4
loài thiên địch của bọ trĩ (Thrips palmi) và đều thuộc bộ cánh nửa (Hemiptera),
đó là bọ xít (Piocoris varius (Uhler)) (họ Lygaeidae) tấn công sâu non, bọ xít
bắt mồi (O tantillus (Motschulsky)) (họ Anthocoridae) tấn công sâu non và
trưởng thành, bọ xít bắt mồi (O strigicollis (Poppius)) (họ Anthocoridae) cũng
tấn công sâu non và trưởng thành và bọ xít xanh bắt mồi (Campylomma
chinensis (Schuh)) (Họ Miridae) tấn công sâu non bọ trĩ (T palmi)
Kết quả nghiên cứu của Lynn Wunderlich (2000) [34], thì thiên địch
của bọ trĩ (T palmi) có 3 loài, đó là bọ trĩ bắt mồi (Aeolothrips sp.), bọ xít bắt
mồi (Orius sp.) (Hemiptera, Anthocoridae) và bọ xít bắt mồi (Geocoris sp.)
(Hemiptera, Lygaeidae) Ngoài bọ trĩ, chúng còn tấn công cả rệp đậu và
trưởng thành giòi đục lá
Trang 202.2.5 Những nghiên cứu về bọ xít bắt mồi Orius sp (Anthocoridae, Hemiptera)
Trong số các loài thiên địch của bọ trĩ (T palmi), các loài bọ xít bắt mồi thuộc họ Anthocoridae có vai trò quan trọng trong phòng trừ, điều khiển mật
Trong số các loài thuộc họ Anthocoridae thì các loài thuộc giống Orius
là có ý nghĩa hơn cả trong việc phòng trừ bọ trĩ (Thrips palmi), các loài thuộc giống Orius này đ2 và đang đ−ợc nghiên cứu nhiều trên thế giới
Về phân bố, theo tài liệu CABI Protection (1999) [26], Orius spp thuộc lớp côn trùng (Insecta), bộ cánh nửa (Hemiptera), bộ phụ (Heteroptera) họ Anthocoridae Các loài thuộc giống Orius này có phạm vi phân bố rộng: Đông nam á, Trung Quốc, ấn Độ, Israel, Nhật Bản, Châu Phi, ả Rập,
Về phổ ký chủ, các loài bọ xít bắt mồi thuộc giống Orius là ký chủ của nhiều loài côn trùng khác nhau, trong đó nổi bật là có các loài bọ trĩ, nh− bọ xít bắt mồi (Orius albidipennis) là ký chủ của 13 loài sâu hại trong đó có 5 loài bọ trĩ là (Aeolothrips fasciatus, Frankliniella occidentalis, Gynaikothrips ficorum, M sjostedti và Thrips tabaci),
Loài bọ xít bắt mồi (Orius insidiosus) là ký chủ của 33 loài sâu hại, trong đó có 8 loài bọ trĩ là (Caliothrips phaseoli, Frankliniella occidentalis,
F tritici, Haplothrips subitilissimus, Leptothrips mali, Scricothrips variabilis
và Thrips palmi), còn loài bọ xít bắt mồi (O laevigatus) là ký chủ của 5 loài sâu hại, trong đó chỉ có 1 loài là bọ trĩ (F occidentalis)
Bọ xít bắt mồi (Orius maxidentex) là ký chủ của 7 loài sâu hại, trong đó
Trang 21có tới 6 loài bọ trĩ, đó là (Anaphotrips sudanensis, F schultzei, H ganglbaueri, Scirtothrips dorsalis, Sterchaetothrips biformis và T palmi), còn loài Orius minutus là ký chủ của những 24 loài, trong đó lại chỉ có 6 loài bọ trĩ
là F schultzei, 2 loài Haplothrips sp., M distalis, Pseudodendrothrips mori
và T palmi)
Bọ xít đen nhỏ bắt mồi (O sauteri) là ký chủ của 10 loài sâu hại, trong
đó chỉ có 2 loài bọ trĩ là F intonsa và Thrips palmi, loài O similis là ký chủ của 5 loài sâu hại, trong đó có 1 loài bọ trĩ (T palmi), loài O tantillus là ký chủ của 3 loài sâu hại (có 2 loài bọ trĩ) và loài O tristicolor là ký chủ của 15 loài sâu hại (có 2 loài bọ trĩ) [26]
Khi nghiên cứu về đặc tính sinh học của Orius sp trong phòng thí nghiệm sử dụng bọ trĩ (Thrips palmi) làm vật mồi, Nagai (1990) [37] đ2 chỉ ra rằng, vòng đời của Orius sp ngắn lại khi nhiệt độ tăng lên ở Nhật Bản, trong
điều kiện phòng thí nghiệm ở 250C, một trưởng thành cái Orius sp trung bình
ăn 22 sâu non tuổi 2 hoặc 26 trưởng thành bọ trĩ (T palmi) trong 1 ngày, tuy nhiên Orius sp không ăn trứng của bọ trĩ
Tại Trung Quốc, Wang (1994) [50] cho biết: một cá thể Orius similis
có thể ăn tới 400 cá thể bọ trĩ (T palmi) trong 1 vòng đời của chúng
Theo Murai và Ctv (2001) [36], khi nuôi Orius sauteri ở 240C bằng bọ trĩ (Thrips palmi) thì nó có thời gian phát dục từ khi trứng nở đến khi trưởng thành là 12,9 (ngày) (con đực) và 13,3 (ngày) (con cái), thời gian đẻ trứng của một trưởng thành cái là 41,5 (ngày), tổng lượng trứng đẻ là 108,7 (quả/con), tỷ lệ trứng nở là 97,1 (%), việc bảo quản trứng ở nhiệt độ từ 2,5 - 12,50C trong 1 tuần trứng vẫn có khả năng đạt tỷ lệ nở cao
Còn theo Yano E và Ctv (2001) [54], khi nuôi O sauteri bằng trứng Ephestia kuehniella ở 250C, thời gian phát dục của trứng là 4,8 (ngày), tỷ lệ trứng nở là 80 (%), tỷ lệ sâu non sống sót là 93,2 (%), thời gian phát dục của
Trang 22trưởng thành cái là 27,9 (ngày), trưởng thành đực là 36,4 (ngày), trưởng thành
đẻ trung bình 103,9 (trứng/con cái) và trung bình mỗi ngày đẻ 3,4 (quả) Nghiên cứu của Weeden và Ctv (1994) [53] cho thấy, trưởng thành cái Orius sp đẻ trứng sau giao phối 2 - 3 (ngày), trứng được đẻ vào trong mô lá,
từ khi trứng nở tới giai đoạn "nhộng" phát triển qua 5 giai đoạn ấu trùng (5 tuổi), thời gian phát dục của trứng 3 - 5 (ngày) ở điều kiện bình thường thời gian phát dục từ trứng đến trưởng thành 20 ngày, trưởng thành cái đẻ trung bình 129 (quả/con), trưởng thành sống khoảng 35 (ngày)
2.3 Những nghiên cứu trong nước
2.3.1 Những nghiên cứu về thành phần sâu hại và ý nghĩa kinh tế
Trong kết quả điều tra cơ bản côn trùng năm 1967 - 1968 ở phía Bắc
và điều tra cơ bản côn trùng hại cây trồng ở các tỉnh phía Nam năm 1977 -
1978 đ2 công bố danh mục thành phần sâu hại trên hầu hết các loại cây trồng chính ở nước ta Về thành phần sâu hại trên các cây họ đậu chỉ có 2 danh mục: một danh mục cho cây đậu tương và một danh mục khác chung cho các cây đậu đỗ (Viện BVTV, 1976, 1999) [17], [18]
Danh lục "Côn trùng hại đậu đỗ" trong kết quả điều tra cơ bản côn trùng năm 1967 - 1978 ghi nhận có 39 loài sâu hại, trong đó có 5 loài thu thập được trên đậu đũa và đậu cô ve, đó là bọ xít ve (Coptosoma subaencus (Westwood)), bọ xít xanh vai vàng (Nezara torquata (Fabricius)), ruồi đục thân (Ophiomiya sp.), bọ xít xanh cách gụ (Plautia crossota (Dallas)) và sâu
đo xanh (Plusia eriosoma (Doubleday)) [17]
Danh lục côn trùng hại "Các loại cây họ đậu đỗ - Leguminosaceae" trong kết quả điều tra côn trùng hại ở các tỉnh phía Nam năm 1977 - 1978 công bố có
60 loài sâu hại, nhưng không ghi nhận có sâu hại trên đậu ăn quả [18]
Theo Hoàng Anh Cung và Ctv (1996) [3], khi nghiên cứu sử dụng thuốc hợp lý trên rau đ2 ghi nhận được 5 loài sâu hại đậu ăn quả là sâu xám (Agrotis
Trang 23ypsilon Rott.), rệp đậu (Aphis laburni Kalt.), sâu đục quả đậu (Maruca vitrata (Geyer)), bọ phấn (Bemisia myricae Kuway) và sâu khoang (Spodoptera litura Fab.)
Vài năm gần đây, bọ trĩ sọc vàng (Thrips palmi) và nhện đỏ (Tetranychus sp.) gây hại thành dịch trên nhiều cây trồng như dưa chuột, dưa hấu, cà chua, nho, bông, vải, (Cục Bvtv, 1998) (dẫn theo Trần Thị Thiên An
và Ctv, 2003 [2])
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Nhung (2000) [13], khi nghiên cứu về sâu hại trên cây đậu rau, đ2 xác nhận có 39 loài sâu hại ở ngoại thành Hà Nội và phụ cận, trong đó phổ biến có 8 loài là sâu đục quả (Maruca vitrata (Geyer)), ruồi đục lá đậu (Liriomyza sativae (Blanchard)), rệp đậu màu
đen (Aphis craccivora (Koch)), nhện đỏ 2 chấm (Tetranychus cinnabarinus (Boisd.)), nhện trắng (Polyphagotarsonemus latus (Bank.)), sâu khoang (Spodoptera litura (Fabricius)), sâu cuốn lá (Hedylepta indicata (Fabricius))
và bọ trĩ màu vàng (chưa định danh) Trong những loài này thì các loài sâu
đục quả đậu (M vitrata), ruồi đục lá (L sativae), rệp đậu màu đen (A craccivora), nhện đỏ 2 chấm (T cinnabarinus) được ghi nhận là rất quan trọng Trong vụ xuân 2003 tại Gia Lâm - Hà Nội, Đặng Thị Dung (2004) [5] đ2 ghi nhận 41 loài sâu hại trên đậu rau, trong đó có 4 loài sâu hại chính là sâu cuốn lá đậu tương (Hedylepta indicata (Fabricius)), đục quả đậu (Maruca testulalis (Geyer)), sâu khoang (Spodoptera litura) và ruồi đục lá (Liriomyza sativae (Blanch.))
Theo Phạm Thị Nhất (2002) [11], thì thiệt hại do sâu đục quả đậu (M testulalis) gây ra ở các vụ và ở các địa phương còn tuỳ thuộc vào thời vụ gieo trồng, nhưng nói chung tỷ lệ hại vào khoảng 10-15(%), có khi lên đến 40(%) (đặc biệt là đậu đũa vụ Hè vào cuối tháng 5, đầu tháng 6)
2.3.2 Một số nghiên cứu về bọ trĩ Thrips sp
Trên thế giới bọ trĩ Thripis palmi Karny đ2 được quan tâm nghiên cứu
Trang 24từ lâu Nhưng ở Việt Nam, những năm gần đây loài sâu hại này mới được chú
ý tới Trước đây bọ trĩ là sâu hại thứ yếu đối với ngành sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành sản xuất rau nói riêng Việc thâm canh cây trồng bằng cách tăng việc sử dụng phân bón đ2 tạo điều kiện cho nhiều loài sâu hại phát triển, để phòng trừ sâu hại người nông dân đ2 sử dụng một cách quá lạm dụng các loại thuốc hoá học, dẫn đến sự mất cân bằng sinh thái Một số sâu hại có kích thước nhỏ bé như bọ trĩ đ2 chiếm ưu thế, tăng trưởng về số lượng trong quần thể sinh vật và trở thành sâu hại chủ yếu trên đồng ruộng
ở Việt Nam, trong những năm gần đây đ2 có một số tác giả quan tâm nghiên cứu về thành phần, tác hại, phổ ký chủ và đặc tính sinh học của một số loài bọ trĩ gây hại chính
Công trình nghiên cứu về bọ trĩ đầu tiên là của Tôn Thất Trình (1974) [15] trên cây bông, tác giả cho biết có 2 loài bọ trĩ gây hại là bọ trĩ hại thuốc lá (Thrips tabaci Trybon) và bọ trĩ ống (Frankliniella fusca)
Theo Phạm Thị Vượng (1998) [19] có 4 loài bọ trĩ gây hại trên cây lạc
đó là Scirtothrips dorsalis Hood, F schultzei, Thrips palmi Karny và M.usitatus Trong đó bọ trĩ sọc vàng (T palmi) chỉ là sâu hại thứ yếu
Nhưng kết quả nghiên cứu của Trần Văn Lợi (2001) [10] tại Bắc Ninh,
đ2 chỉ ra rằng, có 12 loài cây trồng là ký chủ của bọ trĩ (T palmi), trong đó có
đậu cô ve, đậu xanh, dưa chuột, cà tím, khoai tây, và bọ trĩ (T palmi) gây hại chủ yếu trên khoai tây Cũng theo tác giả khi nuôi bọ trĩ (T palmi) trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 16,1 - 26,50C thì thời gian phát dục của các pha tương ứng là trứng 3,79 (ngày), sâu non tuổi 1 là 3,33 (ngày), sâu non tuổi 2 là 4,18 (ngày), nhộng là 4,44 (ngày) và trưởng thành là 10,7 (ngày)
Khi nghiên cứu bọ trĩ hại bông vùng Ninh Thuận, Hoàng Anh Tuấn (2002) [16] đ2 xác định được 3 loài bọ trĩ gây hại là Scirtothrips dorsalis Hood, Ayyaria chactophora Karny và T palmi Karny Trong đó T palmi là
đối tượng gây hại quan trọng nhất khi bông ở giai đoạn cây non
Trang 25Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Hùng và Ctv (2005) [8] cho biết có 4 loài bọ trĩ thường thấy xuất hiện gây hại trên đậu rau, đó là Thrips palmi Karny, Scirtothrips dorsalis Hood, Caliothrips sp., Frankliniella sp., trong đó loài gây hại phổ biến phải kể đến là bọ trĩ sọc vàng (Thrips palmi) và bọ trĩ hại
ớt (Scirtothrips dorsalis)
Theo Yorn Try, Hà Quang Hùng (2005) [22], vòng đời của T palmi khi nuôi ở 3 loại ký chủ khác nhau thì có sự khác nhau, ngắn nhất là ở ký chủ đậu xanh 19,67 (ngày), thứ 2 là trên đậu cove xanh 21,35 (ngày) và vòng đời dài nhất là trên đậu đũa 29,79 (ngày)
Khi nghiên cứu thành phần thiên địch của bọ trĩ T palmi hại trên đậu rau tại Viện nghiên cứu rau quả Hà Nội, Yorn Try và Hà Quang Hùng (2003) [21] đ2 đưa ra kết luận, bọ trĩ T palmi bắt đầu xuất hiện trên ruộng đậu rau từ
đầu tháng 1 (đầu vụ xuân) sau đó tăng dần, mật độ bọ trĩ cao nhất vào đầu mùa hè (16,48 con/lá), sau đó giảm dần đến cuối vụ
2.3.3 Những nghiên cứu về thiên địch của sâu hại trên đậu rau
Trước những năm 2000, đ2 có nhiều công bố về thiên địch của sâu hại trên những cây trồng chính ở Việt Nam, tuy vậy không có công bố nào chuyên
về thiên địch trên đậu rau Từ những năm 2000 đến nay, đ2 có một số tác giả nghiên cứu về thiên địch của sâu hại đậu rau và thu được một số kết quả
Nguyễn Thị Nhung và Ctv (2000) [12], khi nghiên cứu sâu hại đậu rau
ở vùng rau ngoại thành Hà Nội và phụ cận đ2 đưa ra kết luận, thành phần và mật độ thiên địch trên đậu trạch, đậu đũa, đậu cove là tương tự nhau và rất nghèo nàn, qua điều tra ghi nhận được 3 loài bọ rùa (bọ rùa đỏ, bọ rùa chữ nhân, bọ rùa 6 chấm), 1 loài giòi ăn rệp, 1 vài loài nhện lớn, bọ cánh cứng cánh ngắn, bọ 3 khoang, chúng tồn tại trên đồng ruộng với mật độ thấp (< 1 (con/m2)), còn vào tháng 6, 7, 10, 11 mật độ cao hơn (khoảng 1 - 3 (con/m2)) Trong thời gian 1996 - 2001, Phạm Văn lầm và Ctv (2002) [9] thu thập
được 40 loài thiên địch của sâu hại trên nhóm cây đậu rau, nhưng mới xác
Trang 26định được tên khoa học của 30 loài (trong 30 loài này có 13 loài thuộc bộ cánh cứng (Coleoptera), 6 loài thuộc bộ cánh màng (Hymenoptera), 6 loài thuộc bộ hai cánh (Diptera), bộ nhện (Araneae) có 3 loài và 2 loài virus gây bệnh cho sâu hại) Trong số những loài thu thập và xác định được tên, chỉ có 4 loài bắt gặp ở mức độ trung bình là bọ rùa 6 chấm (Menochilus sexmaculatus (Fabr.)),
bọ rùa đỏ (Micraspis discolor (Fabr.)) và 2 loài ruồi ăn rệp là (Episyrphus balteatus (Deg.) và Ischiodon scutellaris (Fabr)) Phần lớn thiên địch đ2 xác
định được là các loài côn trùng bắt mồi Tuy nhiên, mức độ phổ biến không cao, họ bọ rùa ghi nhận 8 loài, nhưng mật độ quần thể các loài bọ rùa nói chung là rất thấp (cao nhất: 2,5 con/m2: Phú Diễn - Từ Liêm - Hà Nội - vụ Xuân Hè), vì vậy chưa thấy rõ được vai trò hoạt động hữu ích của các loài côn trùng bắt mồi này, nguyên nhân hiện tượng này có lẽ là do việc sử dụng thuốc hoá học chưa hợp lý
Theo Đặng Thị Dung (2004) [5], khi nghiên cứu về thành phần côn trùng ký sinh của 4 loài sâu hại chính trên đậu rau (sâu cuốn lá, sâu đục quả, sâu khoang, ruồi đục lá) đ2 phát hiện được 14 loài côn trùng ký sinh, trong đó
12 loài thuộc bộ cánh màng, 2 loài thuộc bộ 2 cánh Tỷ lệ sâu hại bị ký sinh là khá cao, sâu cuốn lá đậu bị ký sinh từ 8,6% - 27,0%, sâu đục quả từ 4,0 - 26,8%, ruồi đục lá 32,2 - 46,1%
2.3.4 Thiên địch của bọ trĩ (Thrips palmi) hại trên đậu rau
Nói về thiên địch của bọ trĩ (Thrips palmi) trên đậu rau chúng ta có thể
kể ra một số kết quả nghiên cứu dưới đây
Khi nghiên cứu về thành phần thiên địch của bọ trĩ (Thrips palmi), tác giả Phạm Thị Vượng (1998) [19], đ2 xác định được 9 loài thiên địch trên cây lạc (thuộc họ đậu), trong đó quan trọng là cánh cộc nâu (Paederus sp.), bọ rùa vằn chữ nhân (Coccinella transversalis) và chân chạy (Chlaenius sp.)
Còn kết quả nghiên cứu của Trần Văn Lợi (2001) [10], cho biết tại Bắc
Trang 27Ninh có 9 loài thiên địch của bọ trĩ (T palmi) trong đó có bọ rùa đỏ, bọ xít
đen bắt mồi, nhện bắt mồi,
Theo Hoàng Anh Tuấn (2002) [16], tác giả xác định được 6 loài thiên
địch của bọ trĩ (Thrips palmi) có mặt trên cây bông vùng Ninh Thuận, trong
đó quan trọng là 1 loài bọ xít bắt mồi (Orius sp.) và một loài bọ trĩ bắt mồi (Scolothrips sexmaculatus) Còn theo nghiên cứu của Hà Quang Hùng và Ctv (2002) [7] thì bọ xít bắt mồi (Orius sauteri) là loài côn trùng bắt mồi có ý nghĩa trong điều hoà số lượng bọ trĩ (Thrips palmi) hại khoai tây vùng Hà Nội
bộ cánh tơ có 4 loài, cánh cứng có 3 loài, cánh màng có 1 loài Tác giả đ2 đưa
ra 2 loài bọ xít bắt mồi có ý nghĩa trong điều hoà số lượng bọ trĩ (Thrips palmi) hại đậu rau là bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) và bọ xít (Orthotylus sp.) Cũng theo nghiên cứu của Yorn Try và Hà Quang Hùng (2005) [21], đ2 xác định đựơc 6 loài bọ xít bắt mồi bọ trĩ (Thrips palmi) trên đậu rau tại Gia Lâm - Hà Nội, trong đó 2 loài bọ xít bắt mồi (Orius sauteri và Campyloma chinensis) là có ý nghĩa hơn cả trong điều hoá số lượng bọ trĩ (Thrips palmi) trên đồng ruộng, hai loài này xuất hiện với mức độ rất phổ biến (+++), là những loài có triển vọng nhân nuôi hàng loạt để phòng chống bọ trĩ (Thrips palmi) trên cây đậu rau
2.3.5 Những nghiên cứu về bọ xít bắt mồi Orius sp
Kết quả nghiên cứu của Hà Quang Hùng và Bùi Thanh Hương (2002)
Trang 28[7] đ2 ghi nhận, bọ xít đen bắt mồi (O sauteri) là côn trùng bắt mồi có ý nghĩa trong điều hoà số lượng bọ trĩ (T palmi) trên khoai tây vùng Hà Nội và phụ cận Trứng ngài gạo (Corcyra cephalonica) được coi là ký chủ phụ tốt để nhân nuôi hàng loạt bọ xít đen bắt mồi (O sauteri) Vòng đời của O sauteri
là 21,58 (ngày) khi nuôi bằng bọ trĩ (T palmi) và 23,08 ngày khi nuôi bằng trứng ngài gạo (C cephalonica), khả năng ăn vật mồi bọ trĩ (T palmi) là 35,02 (con/ngày) và vật mồi trứng ngài gạo (C cephalonica) là 32,44 (trứng/ngày) Theo Bùi Thế Tình và Ctv (2003) [14], khi nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh học của bọ xít bắt mồi (Orius sp.) trên bông tại Nha Hố - Ninh Thuận đ2 ghi nhận kết quả, bọ xít bắt mồi (Orius sp.) là loài bọ xít nhỏ ăn thịt, ấu trùng phát triển quả 5 tuổi Cả ấu trùng và trưởng thành đều có khả năng tấn công con mồi, thức ăn ưa thích là bọ trĩ Khi nuôi bọ xít bắt mồi (Orius sp.) bằng bọ trĩ trong
điều kiện tự nhiên thì vòng đời của Orius sp là 14,4 (ngày) (trong đó trứng là 2,5 (ngày), ấu trùng tuổi 1 là 2,2 (ngày), tuổi 2 là 2,4 (ngày), tuổi 3 là 2,1 (ngày), tuổi 4 là 2,3 (ngày) và tuổi 5 là 1,9 (ngày), giai đoạn trước đẻ trứng của trưởng thành là 1 - 2 (ngày), trưởng thành sống trung bình là 13,5 (ngày)) Thời gian sống và khả năng sinh sản của trưởng thành bọ xít bắt mồi (Orius sp.) chịu ảnh hưởng của các loại thức ăn khác nhau, con trưởng thành nuôi bằng bọ trĩ vừa có thời gian sống dài vừa có khả năng đẻ trứng và tỷ lệ trứng nở cao (63,4 (trứng/con cái), 92,8(%)) Trưởng thành Orius sp có thể ăn 38 (bọ trĩ/ngày)
Còn theo Trần Thị Thiên An và Ctv (2003) [2] ghi nhận, trưởng thành
bọ xít bắt mồi (Orius sp.) có màu đen, cánh trắng đục, bụng 8 đốt, đốt bàn chân có 2 móc hình lưỡi câu, mắt kép màu nâu đỏ, râu 4 đốt, cơ thể dài 2,03 (mm), rộng 0,79 (mm), bọ xít non có 5 tuổi, tuổi 5 có cơ thể dài 2,02 (mm), rộng 0,79 (mm) Cả bọ xít non và trưởng thành đều hoạt động săn mồi trên búp ngọn hoặc mặt dưới lá Vòng đời khi nuôi bằng bọ trĩ là 18,93 (ngày), khả năng đẻ trứng là 54,33 (trứng/ngày), có khả năng ăn 23,2 (bọ trĩ/ngày)
Theo kết quả nghiên cứu của Yorn Try và Hà Quang Hùng (2005) [22],
Trang 29trứng của O sauteri (Poppius) có màu trắng sữa hoặc vàng nhạt, kích thước rất nhỏ (0,40 x 0,12 (mm)), trứng được đẻ vào gân chính và gân phụ của lá, sâu non 5 tuổi (từ tuổi 1 đến tuổi 5 màu thay đổi từ trắng sữa đến vàng nâu, kích thước tăng dần từ 0,54 x 0,14 (mm) đến 0,7 x 0,17 (mm)), trưởng thành màu nâu tối, kích thước (con cái: 1,95 x 0,85 (mm), con đực là: 1,68 x 0,75 (mm))
Trang 303 Nội Dung và phương pháp nghiên cứu
3.1 Đối tượng, vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
- Sâu hại chính trên đậu ăn quả: bọ trĩ và các loài sâu hại khác
- Côn trùng bắt mồi: bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) và các loại côn trùng bắt mồi khác
3.1.2 Vật liệu nghiên cứu
- Cây ký chủ: đậu trạch, đậu bở, đậu côve, đậu đũa
+ Đậu trạch: Phaseolus vulgaris (L.)
+ Đậu cô ve xanh: Vigna radiata
+ Đậu cô ve vàng: Phaseolus vulgaris L
+ Đậu đũa: Vigna unguiculata
- Dụng cụ nghiên cứu:
+ ống hút côn trùng, vợt thu mẫu, bẫy côn trùng
+ Lồng lưới nuôi sâu
+ Giá nuôi sâu
+ ống nghiệm từ φ 0,5 (cm) - φ 2,5 (cm)
+ Hộp nhựa thí nghiệm, đĩa petri các loại
+ Tủ sinh thái (ổn định ôn, ẩm độ)
+ Nhiệt kế, ẩm kế Trung Quốc
+ Kính lúp cầm tay, kính lúp điện tử, pince, kéo, bút lông, kim cắm mẫu cỡ 0,1, lọ đựng mẫu, sổ sách ghi chép số liệu điều tra, số liệu thí nghiệm
+ Chậu trồng cây, giống đậu sạch, phân bón
+ Một số loại thuốc hoá học người nông dân đang sử dụng
Trang 313.1.3 Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại:
- Các hợp tác x2 Vân Tảo, Hồng Vân, Hà Hồi - Thường Tín - Hà Tây
- Phòng sinh thái Bộ môn côn trùng - Khoa Nông Học - Trường ĐHNN
I - Hà Nội
3.1.4 Thời gian nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu từ 01/2005 – 06/2005
3.2 Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Nội dung nghiên cứu
1 Xác định thành phần sâu hại và côn trùng bắt mồi trên đậu rau vụ xuân hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây
2 Điều tra diễn biến mật độ bọ trĩ (Thrips palmi) và diễn biến bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) trên đậu rau vụ xuân hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây
3 Nuôi sinh học bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) trong phòng thí nghiệm để tìm hiểu một số đặc điểm sinh vật học của chúng
3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.2.1 Nghiên cứu ngoài đồng
a Điều tra thành phần sâu hại và côn trùng bắt mồi trên đậu rau
- Điều tra định kỳ 5 - 7 ngày 1 lần theo phương pháp điều tra tự do, không cố định điểm (càng nhiều điểm càng tốt)
+ Quan sát bằng mắt để phát hiện sâu hại, côn trùng bắt mồi, đồng thời theo dõi hoạt động của chúng (săn mồi, đẻ trứng, giao phối )
+ Thu mẫu về phòng thí nghiệm để giám định và phân loại
+ Điều tra mức độ phổ biến của các loài sâu hại, côn trùng bắt mồi
* Đối với bọ trĩ: Để xác định thành phần bọ trĩ, chúng tôi chọn 10 điểm ngẫu nhiên trên khu đồng điều tra, thu mẫu bằng cách ngắt ngẫu nhiên bộ
Trang 32phận cây trồng có bọ trĩ gây hại (10 - 15 (lá/điểm điều tra)), cho vào túi nilon mang về phòng thí nghiệm, đổ cồn 70o, lắc đều cho bọ trĩ chết rồi dùng bút lông thu bọ trĩ đặt vào lọ đựng mẫu (chứa cồn 70o), ngoài lọ có ghi: ngày thu mẫu, địa điểm thu mẫu, giai đoạn sinh trưởng của cây, bộ phận của cây Sau
đó đem ra giám định và phân loại
* Đối với bọ xít bắt mồi bọ trĩ: Những côn trùng bị nghi ngờ là bọ xít bắt mồi chúng tôi tiến hành: thu mẫu đem về phòng thí nghiệm, chuyển chúng vào hộp petri (1 cá thể 1 hộp) không có vật mồi, không có lá đậu, bỏ đói 24 giờ Sau đó đưa chúng sang hộp petri mới có lá đậu rau và khoảng 30 sâu non
bọ trĩ (Thrips palmi) Sau đó quan sát, nếu là côn trùng bắt mồi của bọ trĩ thì chỉ vài phút sau chúng sẽ tấn công bọ trĩ ngay lập tức: thu mẫu, giám định và phân loại
b Điều tra diễn biến của bọ trĩ (Thrips palmi) và bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri)
- Tại mỗi x2 chúng tôi tiến hành điều tra trên 3 ruộng đậu rau cố định,
điều tra định kỳ 5 - 7 ngày 1 lần, mỗi ruộng điều tra chọn 5 điểm chéo góc, mỗi điểm có diện tích 1 (m2), tại mỗi điểm thu thập ngẫu nhiên 10 lá (giai
đoạn cây con đến khi bắt đầu ra hoa), 5 lá và 5 chồi (giai đoạn cây ra hoa đến hết thu hoạch), đếm trực tiếp số lượng bọ trĩ (Thrips palmi) (sâu non, trưởng thành) cũng như số lượng bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) (sâu non, trưởng thành) Ghi nhận số liệu vào bảng điều tra
3.2.2.2 Nghiên cứu trong phòng
* Phương pháp nuôi bọ xít đen bắt mồi (Orius sauteri) bằng thức ăn
là bọ trĩ (Thrips palmi)
Chúng tôi thu bắt trưởng thành bọ xít đen bắt mồi (O sauteri) rồi thả vào hộp nuôi sâu Trong hộp nuôi sâu có đặt lá đậu rau (lá sạch được trồng trong lồng lưới), sau 24 giờ đem lá đậu ra kiểm tra dưới kính lúp 2 mắt, để
Trang 33đếm số lượng trứng đẻ được Chúng tôi tiếp tục theo dõi hàng ngày đến khi trứng nở thành sâu non, ghi nhận ngày trứng nở, sau đó lại chuyển chúng vào hộp nuôi sâu khác trong đó có đặt giấy lọc giữ ẩm lá đậu sạch và sâu non bọ trĩ (Thrips palmi) tuổi 1 hoặc tuổi 2 Ghi nhận số sâu non bọ trĩ bị ăn hàng ngày Khi sâu non chuyển sang tuổi 3, chúng tôi tăng số bọ trĩ cho ăn hàng ngày lên, ghi nhận khả năng ăn hàng ngày ở mỗi hộp Tiếp tục nuôi như vậy cho
đến khi tất cả các cá thể theo dõi đều hoá trưởng thành Sau đó lại lần lượt đặt từng cặp trưởng thành (đực, cái) bọ xít vào các hộp nuôi sâu có giấy lọc giữ ẩm lá
đậu sạch và sâu non bọ trĩ tuổi 1 hoặc tuổi 2 để làm giá thể cho bọ xít đẻ trứng Quan sát đo đếm kích thước các pha phát dục của bọ xít, theo dõi thời gian phát dục từng pha của bọ xít, khả năng ăn vật mồi của bọ xít non các tuổi
và khả năng ăn mồi của trưởng thành, tỷ lệ đực cái cho đến khi kết thúc thí nghiệm
3.2.3 Phương pháp giám định loài
Các mẫu côn trùng gây hại và côn trùng bắt mồi trên đậu rau được TS Trần Đình Chiến và GS., TS Hà Quang Hùng trong Bộ môn côn trùng, Khoa Nông học, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội giám định
3.2.4 Chỉ tiêu theo dõi
- Tần suất xuất hiện các loài sâu gây hại và côn trùng bắt mồi
Tổng số lần xuất hiện Tần suất xuất hiện (%) =
Tổng số lần điều tra * 100
- Mật độ sâu hại chính (con/lá)
Tổng số sâu bắt gặp Mật độ sâu hại chính (con/lá) =
Tổng số lá điều tra
- Mật độ thiên địch (con/lá)
Tổng số cá thể bắt mồi Mật độ thiên địch (con/lá) =
Tổng số lá điều tra
Trang 34- Thêi gian ph¸t triÓn tõng pha (ngµy, giê)
ΣXini
X =
N X: Thêi gian ph¸t triÓn trung b×nh
Xi: Thêi gian ph¸t triÓn cña c¸ thÓ thø i
ni: Sè ngµy sèng cña c¸ thÓ thø i N: Tæng sè c¸ thÓ theo dâi
- KÝch th−íc tõng pha ph¸t dôc (mm)
ΣXini
X =
N X: KÝch th−íc trung b×nh cña tõng pha ph¸t dôc (mm)
Xi: KÝch th−íc cña c¸ thÓ thø i
ni: Sè c¸ thÓ theo dâi thø i N: Tæng sè c¸ thÓ theo dâi
Trang 354 Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Những nghiên cứu ngoài đồng
4.1.1 Thành phần sâu hại và mức độ phổ biến của chúng trên đậu rau vụ xuân hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây
Nghê trồng trọt nói chung, nghề trồng rau nói riêng luôn chịu tác động của khí hậu thời tiết, của các loài sâu hại Để xác định thành phần sâu hại chính trên cây đậu rau, chúng tôi tiến hành điều tra thành phần sâu hại và mức
độ phổ biến của chúng trên cây đậu rau, trong vụ xuõn hố 2005, tại 3 x2 thuộc huyện Thường Tớn - Hà Tõy Đó thu thập và xỏc ủịnh ủược 34 loài, thuộc 7
bộ, 17 họ cụn trựng gõy hại Kết quả ủược trỡnh bày ở bảng 1, bảng 2
Kết quả bảng 1, 2 cho thấy, trong 7 bộ cụn trựng gõy hại thu thập ủược thì bộ cánh vảy (Lepidoptera) có số lượng họ nhiều nhất (4 họ chiếm 23,53%)
và cũng là bộ có số lượng loài phong phú nhất (10 loài chiếm 29,41%) Tiếp
đến là bộ cánh nửa (Hemiptera) có 3 họ (chiếm 17,65%) và 5 loài (chiếm 14,71%) Bộ cánh đều (Homoptera) cũng có 3 họ (chiếm 17,65%), tuy nhiên lại chỉ có 3 loài (chiếm 8,82%) Còn có tới 3 bộ có hai họ (chiếm 11,76%), nhưng số lượng loài lại khác nhau, trong đó bộ cánh cứng (Coleoptera) có số lượng nhiều nhất (5 loài, chiếm 14,71%), bộ hai cánh (Diptera) có 4 loài (chiếm 11,76%) và ít nhất là bộ cánh thẳng (Orthoptera) có 3 loài (chiếm 8,82%) Ngoài ra còn có bộ cánh tơ (Thysanoptera), chỉ có 1 họ, nhưng có tới
4 loài xuất hiện và gây hại (chiếm 11,76%)
Từ bảng 1, cho thấy trong vụ xuân hè 2005 tại Thường Tín - Hà Tây, có tới 5 loài có mức độ phổ biến rất cao và là những loài quan trọng trên cây đậu
Trang 36Bảng 1: Thành phần sâu hại và mức độ phổ biến của chúng trên đậu rau
vụ xuân hè 2005 tại 3 xã Vân Tảo, Hà Hồi, Hồng Vân-Thường Tín- Hà Tây
Hồng Vân (5)
Hà Hồi (6)
Bộ cánh cứng –Coleoptera
Họ Curculionidae
1 Câu cấu xanh lớn Hypomeces squamosus Fabr + +
2 Câu cấu xanh nhỏ Platymycterus sieversi Reit + + +
Họ Meloidae
3 Ban miêu đen sọc trắng Epicauta gorhami Mars + - -
4 Ban miêu đen Epicauta impressicornis Pic - -
5 Ban miêu khoang vàng Mylabris phalerata Dallas +
Bộ hai cánh – Diptera
Họ Agromyzidae
6 Ruồi đục lá Liriomyza sativae Blanch +++ +++ +++
7 Ruồi đục thân đậu Ophiomyia phaseoli Trybon ++ ++ ++
8 Ruồi đục thân đậu tương Melanagromyza sojae Zehnt ++ ++ ++
Trang 37(1) (2) (3) (4) (5) (6)
Họ Pentatomidae
12 Bọ xít xanh vai đỏ Piezodorus hybneri Gmelin -
13 Bọ xít xanh cánh gụ Plautia crossota Dallas - +
20 Sâu xanh Helicoverpa armigera Hubn ++ + ++
22 Sâu keo da láng Spodoptera exigua Hubn ++ + +
23 Sâu khoang Spodoptera litura Fabr ++ + ++
Trang 38(1) (2) (3) (4) (5) (6)
Họ Pyralidae
24 Sâu đục quả đậu tương Etiella zinckenella Treits ++ ++ ++
25 Sâu cuốn lá đậu tương Hedylepta indicata Fabr ++ + ++
26 Sâu đục quả đậu Maruca testulalis Geyer ++ ++ ++
29 Châu chấu Trung Hoa Oxya chinensis Thunb + + +