1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội

79 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay tình trạng thoái hóa giống cây trồng nói chung và các giống câylương thực mang tính đặc sản nói riêng đang diễn ra nhanh chóng do kĩ thuật gieotrồng và để giống quá nhiều vụ của

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đãnhận được sự giúp đỡ quý báu của rất nhiều thầy, cô giáo, người thân trong giađình và bạn bè

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo hướng dẫn Th.S Ngô ThịHồng Tươi người đã tận tình chỉ bảo tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo Bộ môn Di truyền và Cchọngiống cây trồng, Học vViện Nông nghiệp Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi vàtận tình giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả bạn bè và gia đình, nhữngngười đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài tốt nghiệp này

Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2014

Sinh viên

Hoàng Văn Thắng

Trang 2

Phần I.: MỞ ĐẦU

1. 1.Đặt Vấn Đề

Cây lúa là nguồn cung cấp lương thực thiết yếu đảm bảo sự sống cho hơnmột nửa dân số thế giới, cây lúa được 250 triệu người dân trồng, là lương thựcchính của của 1,3 tỉ người nghèo trên thế giới, là nguồn cung cấp năng lượng chínhcho con người [6].(Em thay tất cả các số bằng tên tác giả nhé)

Theo thống kê của tổ chức lương thực và nông nghiệp thế giới (FAO) thìhiện nay có tới 50% dân số trên hành tinh chúng ta đang bị đói protein do ảnhhưởng của việc tăng dân số quá nhanh Tình trạng này tập trung chủ yếu ở cácnước đang phát triển ở châu Phi, châu Á đặc biệt là với đối tượng trẻ em và ngườigià ở vùng nông thôn nhất là vùng trung du và miền núi, vùng sâu vùng xa [12] Đểgiải quyết việc bù đắp lượng protein bị thiếu, người ta thường hướng tới nguồnprotein thực vật vì nguồn protein thực vật là nguồn protein vô tận và rẻ nhất Theotính toán của các nhà khoa học thì hàng năm thực vật cung cấp cho con ngườikhoảng 80% tổng số protein, trong đó 70% từ hạt ngũ cốc [8]

Hiện nay tình trạng thoái hóa giống cây trồng nói chung và các giống câylương thực mang tính đặc sản nói riêng đang diễn ra nhanh chóng do kĩ thuật gieotrồng và để giống quá nhiều vụ của người dân đã làm suy giảm các đặc tính quýcủa giống như năng suất chất lượng , tính chống chịu với các điều kiện bất thuậnlợi của ngoại cảnh như nhiệt độ, đất bị chua hóa, sâu và bệnh hại [17]

Đặc biệt, nhu cầu về các giống lúa có chất lượng cao ngày càng gia tăng trongnhững thập kỷ gần đây, do yêu cầu của thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng.Gạo có chất lượng cao được xác định bởi rất nhiều yếu tố như: hình dạng hạt, giátrị dinh dưỡng, hương thơm, chất lượng sau khi chế biến [8]…Trong đó, hươngthơm được xem là một trong những đặc tính quan trọng Trong khi giá gạo của các

Trang 3

giống lúa truyền thống suy giảm, các loại lúa gạo đặc sản, nhất là những loại gạothơm vẫn giữ được giá cao và ổn định [23].

Khi bắt đầu thực hiện cuộc cách mạng xanh, hầu hết các chương trình chọngiống lúa đều tập trung phát triển các giống lúa có tính trạng chống chịu sâu bệnh

và cho năng suất cao Lúa cẩm cũng là 1 trong những giống lúa chất lượng caotheo nghiên cứu thì giá bao tiêu lúa cẩm cao hơn 1,5 lần so với các giống lúa chấtlượng cao khác, trong khi giá thành sản xuất lúa cẩm thấp hơn lúa chất lượng caokhoảng 1.000 đồng/kg Như vậy việc phát triển và mở rộng lúa cẩm là 1 vấn đề cực

kì quan trọng góp phần không nhỏ cho nền nông nghiệp nói riêng và nền kinh tếnước nhà nói chung [22], [48]

Ở Việt Nam lúa cẩm đã được gieo trồng ở một số tỉnh và được sử dụng vàochế biến rượu Tuy nhiên, các giống lúa cẩm thường được phản ứng với ánh sángngày ngắn và chưa được đánh giá một cách đầy đủ về chỉ tiêu chất lượng, chưa cóhướng sử dụng đúng giá trị của nó Các giống lúa cẩm này thường cao cây, năngsuất thấp, chỉ trồng một vụ một trong năm

Hiện nay nhu cầu về dinh dưỡng lúa đen có vai trò rất lớn trên thế giới vàtrong nước Nhiều nước trồng lúa trên thế giới đặc biệt là các nước cChâu áÁ,thường xảy ra bệnh thiếu sắt trong máu (IDA – Iron Ddeficiency Aanaemia), bệnhthiếu vitamin A gây chứng mù mắt ở trẻ em Theo juliano trong gạo các giống lúađen chứa nhiều sSắt, cCanxi và một số loại vitamin cần thiết cho sức khỏe conngười Tuy nhiên ở nước ta, công tác nghiên cứu tuyển chọn giống lúa cẩm có hàmlượng dinh dưỡng cao chưa được quan tâm đúng mức ( theo Lê Vĩnh Thảo, 2008)

Chính vì vậy, chúng tôi đã tiến hành đề tài nghiên cứu “ So sánh một sốdòng lúa tẻ cẩm mới ở vụ Mùa 2014 tại Gia Lâm-Hà Nội” Nhằm đánh giá và chọn

ra được các dòng cho năng suất và chất lượng tốt

Trang 4

2.Mục tiêu đề tài.

- Đánh giá được khả năng sinh trưởng, phát triển, năng suất và chống chịuvới một số sâu bệnh hại của các dòng tẻ cẩm mới Chọn ra dòng cho năng suất cao

và chất lượng tốt

3.Yêu cầu của đề tài

- Bố trí thí nghiệm so sánh, theo dõi các chỉ tiêu nông sinh học của cácdòng tẻ cẩm mới

- Thu thập xử lý số liệu phục vụ cho kết quả nghiên cứu

- Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của các dòng tẻ cẩm mới

- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất, chất lượng của cácdòng tẻ cẩm mới

Trang 5

Phần II : TỔNG QUAN TÀI LIỆU

I Giới thiệu chung

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài.

Lúa gạo là một trong những loại cây lương thực chủ yếu trên thế giới, có vaitrò rất quan trọng ở cả lĩnh vực kinh tế và vấn đề an ninh lương thực Lúa đượctrồng rộng khắp từ 30o Nam vĩ tuyến đến 40o Bắc vĩ tuyến [3]

Lúa là cây lương thực quan trọng có diện tích 148,4 triệu ha ở thế giới,(trong đó cChâu Á 135 triệu ha) Việt Nam có diện tích sản xuất lúa 4,36 triệu ha,sản lượng 34,6 triệu tấn, năng suất bình quân 4,67 tấn/ha, xuất khẩu 4 triệu tấn gạonăm 2003 (Đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng lúa 17,6 triệu tấn, năng suất4,61tấn/ha), (theo Nguyễn Văn Tân, 2008)

Lúa gạo là phần lương thực quan trọng của hơn 1/2 dân số thế giới Vì vậychất lượng gạo là vấn đề được nhiều người quan tâm đặc biệt ở các nước lấy gạo làlương thực chính Chất lượng gạo là một khái niệm rộng bao gồm các lĩnh vực:Chất lượng kinh tế, chất lượng thương trường, chất lượng dinh dưỡng và chấtlượng nấu nướng Mỗi lĩnh vực có những chỉ tiêu cụ thể để đánh giá: độ trong củahạt, tỉ lệ gạo gãy, hình dạng hạt, hàm lượng xenlulose [26], [28]. Các quốc gia khácđều có cách đánh giá và hệ thống kiểm tra chất lượng riêng biệt và các hệ thốngnày thường không thống nhất Do vậy gây ra nhất nhiều trở ngại cho việc tiêu thụlúa gạo trên thế giới đặc biệt cho việc thiết lập sản xuất lúa gạo chất lượng cao[30]

1.2 Vài nét về lúa cẩm.

Gạo nếp cẩm và tẻ cẩm có màu đen còn gọi là bổ huyết mễ, là loại gạo cóhàm lượng dinh dưỡng cao như: hàm lượng protein trong gạo nếp cẩm cao hơn

Trang 6

6,8%, chất béo cao hơn 20% so với gạo khác, ngoài ra trong gạo nếp cẩm còn chứacaroten, 8 loại axit amin (trong đó có Anthocyanin) và các nguyên tố vi lượng (sắt,kẽm) cần thiết cho cơ thể (United Press Iinternational – UPI, 2010) Lúa nếp cẩm

là những giống đặc sản lâu đời và được sử dụng với nhiều mục đích khác nhautrong đời sống của người dân Các sản phẩm làm từ gạo nếp, nếp cẩm có mặt tronghầu hết các lễ hội và nó tạo lên nền văn minh mang bản sắc văn hóa của Việt Nam.Giống lúa cẩm được trồng ở nhiều địa phương, nhiều vùng sinh thái khác nhau vàrất đa dạng về kiểu hình Việc nghiên cứu đa dạng nguồn gen của tập đoàn lúa cẩmkhông chỉ mang ý nghĩa lựa chọn vật liệu cho chọn tạo giống lúa chất lượng cao ởViệt Nam (theo Nguyễn Văn Hoan và cs., Phạm Văn Cường, Ngô Thị Hồng Tươi,

2014)

1.3 Nguồn gốc phân loại cây lúa

Tổ tiên cây lúa đã tồn tại từ đầu kỷ Phấn trắng Vào giữa kỷ này, xuất hiện

một trong những loại nguyên thuỷ nhất thuộc họ Oryzae, đó là loại Streptochasta Schrad Đến cuối kỷ Phấn trắng xuất hiện các loại tre (Bambusa) và lúa (Oryza).

Một số loại khác xuất hiện muộn hơn vào kỷ thứ ba, thời kỳ phát triển mạnh nhất

của họ Hoà thảo (Gramineae) Các loài lúa Oryza spp có cùng tổ tiên chung xuất

hiện vào thời địa cầu Gondwanaland, sau khi trái đất tách rời thành năm lục địa[1]

Theo Chang (1985),: lúa trồng Oryza sativa được tiến hoá từ cây lúa dại hàng năm Oryza nivara Do điều kiện khí hậu, đặc biệt là nhiệt độ, lúa Oryza

sativa tiếp tục tiến hoá theo ba nhóm: Indica thích hợp với khí hậu nhiệt đới, Japonica thích ứng với khí hậu lạnh và Javanica có đặc tính trung gian [13] Tác

giả Oka (1988) lại cho rằng Oryza sativa có nguồn gốc từ cây lúa dại lâu năm

Oryza rufipogon [39] Đến năm 2003, khi nghiên cứu di truyền tiến hoá của 101

giống lúa, bao gồm cả lúa trồng và lúa dại, Cheng (năm) đã chia loài lúa trồng

Oryza sativa thành hai nhóm tương ứng với hai loài phụ là Indica và Japonica.

Trang 7

Trong khi đó Oryza rufipogon được chia thành bốn nhóm là: nhóm Oryza

rufipogon hàng niên và ba nhóm Oryza rufipogon đa niên Tác giả cũng đã chỉ ra

các giống lúa Japonica có quan hệ gần gũi với một nhóm Oryza rufipogon đa niên, còn các giống lúa Indica có quan hệ gần với nhóm lúa Oryza rufipogon hàng niên [16] Ở châu Phi cũng thấy xuất hiện cả hai loài lúa dại Oryza longistaminata (đa niên) và Oryza brevigulata (hàng niên), do đó nhiều tác giả cho rằng Oryza

glaberrima có nguồn gốc từ Oryza breviligulata [1]

Cho đến nay, nhiều nhà khoa học đã đồng ý rằng lúa Glaberrima và lúa

Sativa có cùng chung nguồn thủy tổ vào thời kỳ lục địa nguyên thuỷ

Gondwanaland Sau khi các lục địa tách rời nhau, lúa Sativa và Glaberrima tự tiến

hoá từ các loài lúa dại bản địa ở hai châu lục là châu Á và châu Phi (hình 1) [36]

Lục địa Gondwanalands

Tổ tiên chung

Nam và Đông Nam Á Tây Phi Châu

Lúa dại đa niên O rufipogo O longistaminata

Lúa dại hàng niên O nivara O breviligulata

Lúa trồng O Sativa O sativa O glaberrima

Indica Japonica

Ôn đới Nhiệt đới

Trang 8

Hình 1 : Sơ đồ tiến hoá của hai loài lúa trồng

Do những ảnh hưởng khắc nghiệt của môi trường như khô hạn, nhiệt độ thayđổi quá lớn… nhiều loài lúa dại nguyên thủy đa niên đã trở thành loài lúa hàngniên để thích ứng với phong thổ địa phương, khí hậu gió mùa Về phương diệnsinh thái và địa dư, cây lúa châu Á đã trải qua quá trình tiến hóa lâu dài để thích

ứng với môi trường khác nhau và được phân chia thành 3 nhóm chính: Indica,

Japonica (hay Sinica) và Javanica (Japonica nhiệt đới) Hiện nay lúa Indica được

trồng trên 80% diện tích trồng lúa trên thế giới và cung cấp nguồn lương thực cho

hơn 3 tỷ người, chủ yếu các nước đang phát triển, còn lại hai loại lúa Japonica và

Javanica chỉ chiếm tương đương 11% và 9% Ba loại lúa này được nhận biết qua

sự khác nhau về hình thái như thân, lá, hạt và thành phần cấu tạo hạt, đặc biệt làhàm lượng amyloza, amylopectin, khả năng chống hạn, kháng lạnh v.v [31], [32]

- Lúa Japonica (hay Sinica): Có hạt tròn, ngắn, thường không có đuôi, gié ngắn,

nhiều chồi thẳng đứng, cây thấp giàn, dễ chịu lạnh và không kháng hạn, hàm lượngamyloza thấp (14 - 17%) và thường được trồng ở các vùng ôn đới

- Lúa Indica: Có hạt dài thon, có hàm lượng amyloza cao (trên 21%), không cóđuôi, gié trung bình, thân cây tỏa rộng, cao giàn, không chịu lạnh và có thể chịuhạn hán và được trồng rất phổ biến ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới

- Lúa Javanica (Japonica nhiệt đới): Có tính chất trung gian giữa lúa Japonica và lúa Indica Lúa Javanica có hạt to rộng, hàm lượng amyloza cao, thường có đuôi,

trấu có lông dài, ít chồi, gié dài, thân cây dày thẳng đứng, cây rất cao giàn, chịuhạn hán nhưng không chịu lạnh và được trồng ở Indonesia, chủ yếu Java vàSumatra

(Chú ý không chấm sau các mục)

Trang 9

1.4 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới.

Chỉ vài tháng trước, triển vọng về sản xuất lúa gạo thế giới năm 2013 đã xấu

đi đáng kể khi mà sản lượng gạo tại Trung Quốc và Ấn Độ, hai quốc gia sản xuấtgạo đứng đầu thế giới, có xu hướng giảm Theo đó, sản lượng gạo thế giới năm

2013 được FAO dự báo ở mức 494 triệu tấn, tăng 0,9% tương đương 4,2 triệu tấn

so với năm 2012 Con số này cho thấy trong 10 năm trở lại đây, sản lượng gạo thếgiới trung bình tăng 10 triệu tấn một năm Nếu đạt được mức này, năm 2013 sẽ lànăm liên tiếp thứ 2 mà sản lượng gạo thế giới có mức tăng trưởng tương đối chậm(theo FAO, 2012)

Phần lớn sự gia tăng về sản lượng lúa gạo năm 2013 trên thế giới là do sứctăng về sản lượng tại châu Á, đặc biệt là Ấn Độ - nơi mà tình hình sản xuất đanghồi phục nhờ điều kiện thời tiết khá thuận lợi Tuy nhiên, thiệt hại do thiếu mưa tạicác vùng phía Đông và do cơn bão Phailin hồi đầu tháng 10 đã khiến sản lượnggạo của Ấn Độ giảm 2 triệu tấn xuống còn 106 triệu tấn Như vậy, sản lượng gạocủa nước này sẽ giảm 1,5% so với mùa vụ năm 2012 [10] Hầu hết các quốc giachâu Á khác dự kiến đang trong giai đoạn thu hoạch, với mức sản lượng tăng đáng

kể, đặc biệt là tại Bangladesh Philippines, Campuchia, Hàn Quốc, Myanmar,Pakistan, Sri Lanka và Thái Lan Vì thời tiết quá ẩm ướt và thiếu ánh nắng mặttrời, nên dự báo sản lượng lúa gạo tại Inđônêxia sẽ không đạt được mục tiêu màchính phủ nước này đưa ra Tuy nhiên, sản lượng lúa gạo của Inđônêxia vẫn vượtqua mức kỷ lục năm ngoái Tương tự, sản xuất lúa gạo tại Việt Nam được dự báotăng mạnh so với năm ngoái Tại Trung Quốc, lượng mưa trái mùa và không đủ đãkhiến sản lượng lúa gạo tại các vùng ở phía trung đông giảm, nên dự báo chỉ giữđược mức sản lượng của năm ngoái Ngoài ra, dự báo sản lượng vụ mùa cuối cũnggiảm 6% do điều kiện thời tiết tiếp tục khô hạn; khiến sản lượng lúa gạo năm 2013của Trung Quốc được dự báo đạt 138,9 triệu tấn, giảm 0,7% tương đương 1 triệu

Trang 10

tấn so với năm 2012 và là năm suy giảm đầu tiên về sản lượng trong vòng 10 nămtrở lại đây [38], [39], [42].

Giai đoạn 2008-2013, sSản lượng lúa tăng, duy có năm 2009 là giảm nhưngkhông đáng kể đạt 714,56 triệu tấn, trong đó sản lượng lúa châu Á đạt 646,918580chiếm 90,01% Nam Mỹ đạt 24,52 chiếm 3,41% Bắc Mỹ, trung Mỹ đạt 23,52chiếm 3,2% Châu Phi đạt 26,33 chiếm 3,6% Châu Âu và châu Đại dương đạt4,63 chiếm 0,064

Bảng 1.1 Sản lượng lúa trên thế giới và các châu lục giai đoạn 2008-2013

Năm 2009

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

-Toàn thế

giới

triệutấn 688,414 686,957 701,9986

726,121

+Châu Phi triệutấn 24,365 23,547 26,373 26,120 28,282 29,318

Nguồn:( FAOSTAT), năm 2013

Trang 11

Sản xuất lúa gạo tại châu Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê được kỳ vọng là hồiphục, mặc dù không đạt được mức sản lượng hồi năm 2011 Hầu hết các quốc giatrong khu vực sẽ có vụ mùa bội thu nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, đặc biệt là tạiBrazil, Guyana, Paraguay và Venezuela Trong khi đó, tại Bolivia, giá gạo thấpcộng với điều kiện thời tiết bất lợi đã khiến sản lượng gạo nước này được dự báogiảm 26%.

Tại châu Đại dương, mặc dù điều kiện nuôi trồng không ổn định, nhưngAustralia vẫn đạt được mức sản lượng kỷ lục hơn 10 tấn/ha Ngoài ra, diện tích lúagạo được mở rộng đã đưa sản lượng gạo nước này đạt mức kỷ lục kể từ năm 2002.Tuy vậy, trong khi cả nước đang chuẩn bị gieo trồng cho mùa vụ 2014, đã có một

số lo ngại về tình trạng thiếu nước, dự báo một sự sụt giảm về sản lượng trong mùa

vụ tới

Sản lượng gạo khu vực châu Phi được dự báo sẽ giảm 1% trong năm nay Sựsuy giảm này chủ yếu là do sản lượng tại Madagascar, nước sản xuất gạo lớn thứ 2trong khu vực, giảm 21% vì thiếu mưa và nạn dịch châu chấu Tình trạng tương tự

cũng đang diễn ra tại Benin, Burkina Faso và Senegal [4]

Tại châu Âu, sản lượng gạo dự báo giảm 9% do tình hình sản xuất tại một sốnước trong khu vực giảm mạnh Tại Italia, lượng mưa quá nhiều và nhiệt độ thấptrong mùa hè đã khiến cây lúa không phát triển Còn tại Tây Ban Nha, giá gạogiảm đã khiến người nông dân thu hẹp diện tích trồng lúa [5]

Tại Bắc Mỹ, sản lượng lúa gạo của Hoa Kỳ cũng được dự báo giảm 7% mặc

dù năng suất đạt mức kỷ lục

Ngày nay, người ta có xu hướng hạn chế các hóa chất tổng hợp trong thâmcanh lúa,chú trọng chỉ tiêu chất lượng hơn số lượng làm cho xu hướng năng có có

Trang 12

chút ít chững lại hoặc tăng chút ít Tuy nhiên, ở những nước có nền khoa học kỹthuật phát triển, năng suất lúa vẫn cao hơn hẳn Để dễ hình dung chúng ta quan sát

số liệu thống kê của 10 nước có sản lượng lúa hàng đầu thế giới (theo FAO, 2013)

Bảng 1.2 Diện tích, năng suất và sản lượng của 10 nước trồng lúa hàng

đầu thế giới năm 2013 Tên nước Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn)

Nguồn: (FAOSTAT,), năm 2013

Theorong số liệu của bảng 1.2 thì trong 10 nước trồng lúa có sản lượng trên

10 triệu tấn đã có 9 nước nằm ở châu Á Chỉ có 1 đại diện châu khác đó là Brazin(Nam Mỹ) Trung Quốc và Việt Nam là 2 quốc gia có nNăng suất cao hơn hẳn.Trung Quốc đạt 67,2 (tạ/ha) và Việt Nam là (55,7 tạ/ha) Điều đó chứng tỏ TrungQuốc vẫn là 1 nước đi tiên phong trong lĩnh vực trồng lúa áp dụng các tiến bộ khoahọc trong nông nghiệp, Việt Nam cũng đã vươn lên đứng thứ 2 trên thế giới vềnăng suất, Việt Nam đã cải thiện được rất nhiều phương thức lao động truyềnthống thay vào đó là áp dụng các thiết bị khoa học kĩ thuật hiện đại trong nông

Trang 13

nghiệp Thái lan tuy là nước nhiều năm đứng đầu trong lĩnh vực xuất khẩu gạonhưng năng suất cũng chỉ đạt 31,3 tạ/ha

1.3.1 Dự báo tình hình sản xuất lúa gạo năm 2014

Về thị trường, trong năm 2014 dự báo Trung Quốc và các nước Đông Nam

Á vẫn là thị trường xuất khẩu gạo chủ lực

Tổ chức Nông – Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) dự báo sản lượng gạo thếgiới sẽ tăng lên kỷ lục 497 triệu tấn trong niên vụ 2013-2014, tăng khoảng 1,3% sovới khoảng 491 triệu tấn niên vụ 2012-2013 Hầu hết sản lượng tăng sẽ đến từ châu

Á

Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) đã hạ dự báo sản lượng gạo toàn cầu

2013-2014 xuống 473,2 triệu tấn gạo, giảm khoảng 3,6 triệu tấn so với dự báo trước đónhưng vẫn tăng gần 1% so với năm 2012-2013 Dự báo tiêu thụ gạo toàn cầu 2013-

2014 cũng đã được hạ 1,4 triệu tấn xuống 473,1 triệu tấn, vẫn là mức cao kỷ lục(theo FAO, 2013)

1.5 Tình hình sản xuất và xuất khẩu lúa gạo ở Việt Nam.

1.5.1 Tình hình sản xuất lúa trong nước

Nghề trồng lúa ở Việt Nam có lịch sử lâu đời nhất so với các nước châu Á,

người dân Việt Nam tự hào về hơn 4000 năm nền văn minh lúa nước của nướcnhà.Việt Nam nằn trong khu vực nhiệt đới nóng ẩm, lượng bức xạ mặt trời cao vàđất đai phù hợp nên có thể trồng được nhiều vụ lúa trong 1 năm với nhiều giống(theo Bùi Bá Bổng, 2010) [21]

Trang 14

Từ xa xưa, cây lúa đã trở thành cây lương thực chủ yếu có ý nghĩa quantrọng với đời sống của người dân Suốt từ Bắc vào Nam đi đâu cũng thấy ngườidân trồng lúa song diện tích lúa chỉ tập trung ở 2 vùng là: Đồng bằng Châu tThổ

sSông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long [33]

Bảng 1.3 : Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam trong vài

năm trở lại đây giai đoạn 2008-2013.

Năm Diện tích(triệu ha) Năng suất(tạ/ha) Sản lượng(triệu tấn)

Nguồn:( FAOSTAT,), năm 2013

Sản lượng lúa cả năm 2013 đạt 44,03 triệu tấn, tăng 400 nghìn tấn sovới năm trước (n N ăm 2012 tăng 1,3 triệu tấn so với năm 2011), trong đó diệntích gieo trồng đạt 7,9 triệu ha, tăng 138,7 nghìn ha, năng suất đạt 55,7 tạ/ha,giảm 0,6 tạ/ha Nếu tính thêm 5,2 triệu tấn ngô thì tổng sản lượng lương thực

có hạt năm nay ước tính đạt 49,3 triệu tấn, tăng 558,5 nghìn tấn so với nămtrước (n N ăm 2012 tăng 1,5 triệu tấn so với năm 2011) [20]

Trong sản xuất lúa, diện tích gieo trồng lúa đông xuân đạt 3140,7 nghìn ha,tăng 16,4 nghìn ha so với vụ đông xuân trước; sản lượng đạt 20,2 triệu tấn, giảm

Trang 15

54,4 nghìn tấn do năng suất đạt 64,4 tạ/ha, giảm 0,5 tạ/ha Diện tích gieo trồng lúa

hè thu đạt 2146,9 nghìn ha, tăng 15,1 nghìn ha so với vụ trước; sản lượng đạt 11,2triệu tấn, giảm 81,6 nghìn tấn do năng suất chỉ đạt 52,2 tạ/ha, giảm 0,8 tạ/ha Một

số địa phương có sản lượng lúa hè thu giảm nhiều là: Sóc Trăng giảm 86,4 nghìntấn; Trà Vinh giảm 16,7 nghìn tấn; Bến Tre và Thừa Thiên - Huế cùng giảm 17,3nghìn tấn; Quảng Trị giảm 10,7 nghìn tấn; Cà Mau giảm 9,8 nghìn tấn; An Gianggiảm 8,9 nghìn tấn Riêng vụ thu đông 2013, ở vùng Đồng bằng sông Cửu Longtăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng Diện tích gieo trồng đạt 626,4 nghìn

ha, tăng 99 nghìn ha, năng suất đạt 51,7 tạ/ha, tăng 1,3 tạ/ha; sản lượng đạt 3,2triệu tấn, tăng 578,8 nghìn tấn

Diện tích gieo trồng lúa mùa đạt 1985,4 nghìn ha, tăng 7,6 nghìn ha sovới vụ mùa năm 2012 nhờ chủ động trong luân canh trồng lúa Tuy nhiên, sảnlượng lúa mùa ước tính đạt gần 9,4 triệu tấn, giảm 104,4 nghìn tấn do năng suấtchỉ đạt 47,3 tạ/ha, giảm 0,7 tạ/ha Sản lượng lúa mùa của các địa phương phíaBắc đạt 5677,2 nghìn tấn, giảm 181,3 nghìn tấn; năng suất đạt 47,9 tạ/ha, giảm1,6 tạ/ha Sản lượng lúa mùa của các địa phương phía Nam đạt 3706,3 nghìn

ha, tăng 76,9 nghìn tấn, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long tăng 67,6 nghìntấn

Sản xuất cây vụ đông ở các tỉnh phía Bắc tăng so với năm trước, trong

đó lạc đạt 492,6 nghìn tấn, tăng 5,2%; vừng đạt 33,2 nghìn tấn, tăng 9,9%; raucác loại đạt 14,6 triệu tấn, tăng 5,2%, chỉ có đậu tương đạt 168,4 nghìn tấn,giảm 3% ( theo thống kê của Bộ NN&PTNT, 2013)

1.5.2 Xuất, nNhập khẩu gạo ở Việt Nam.

Trang 16

Năm 2013, cả nước đã xuất khẩu gần 6,6 triệu tấn gạo, giảm hơn 1,4 triệutấn (tức giảm 17,76%) so với năm 2012, kim ngạch đạt gần 2,93 tỷ USD, giảm20,36%, đây là mức xuất khẩu thấp nhất trong 3 năm qua Với kết quả này, ViệtNam đã giảm xuống xếp thứ 3 sau Ấn Độ và Thái Lan trên bảng tổng xếp xuấtkhẩu gạo không đáp ứng được mục tiêu xuất khẩu gạo đã đề ra 7,5 triệu tấn hồi đầunăm 2013; xuất khẩu gạo Việt Nam sụt giảm là do áp lực cạnh tranh cao và sụtgiảm nhu cầu của các thị trường truyền thống như Malaysia, Philippines vàIndonesia Năm 2014, Việt Nam phấn đấu xuất khẩu 7 triệu tấn gạo [29].

Các thị trường xuất khẩu gạo chính của Việt Nam trong năm 2013 gồmTrung Quốc, Malaysia, Philippines, Singapore, Hồng Kông và Bờ biển Ngà TrungQuốc vẫn là nước nhập khẩu gạo lớn nhất của Việt Nam trong năm 2013 Trongnăm 2013, Trung Quốc nhập khẩu hơn 2,15 triệu tấn gạo, với trị giá 901,86 triệuUSD, tăng 3,21% về khối lượng và 0,38% về giá trị, chiếm 30,83% tổng kimngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam

Nhìn chung năm 2013, xuất khẩu gạo sang đa số các thị trường bị sụt giảm

so với năm 2012; trong đó một số thị trường sụt giảm mạnh như: Indonesia (giảm83,13% về lượng và giảm 80,08% về kim ngạch); Senegal (giảm 74,65% về lượng

và giảm 73,6% về kim ngạch); Philippines (giảm 54,64% về lượng và giảm52,57% về kim ngạch); Đài Loan (giảm 53,29% về lượng và giảm 49,46% về kimngạch)

Tuy nhiên, xuất khẩu sang một số thị trường vẫn đạt mức tăng trưởng caotrên 100% về lượng và kim ngạch như: xuất sang Nga (tăng 495,8% về lượng vàtăng 458,73% về kim ngạch); Ucraina (tăng 224,56% về lượng và tăng 177,04% vềkim ngạch); U.A.E (tăng 121,22% về lượng và tăng 113,14% về kim ngạch); Hà

Trang 17

Lan (tăng 241,85% về lượng và tăng 145,62% về kim ngạch) và Ba Lan (tăng156,87% về lượng và tăng 97,04% về kim ngạch) (theo thống kê của BộNN&PTNT, 2013)

2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu lúa chất lượng cao

Lúa chất lượng là giống lúa không những có kích thước, hình dạng thon dài

mà còn có phôi nhũ, hàm lượng amyloza cao và đặc biệt các giống lúa chất lượng

có mùi thơm đặc trưng

2.1 Các chỉ tiêu đánh giá lúa chất lượng

Các nhà chọn giống ở viện Nghiên cứu lúa Quốc tế (IRRI) chia các chỉ tiêuđánh giá chất lượng thành 4 nhóm:

-Nhóm: Chất lượng xay xát: Tỉ lệ gạo xay, tỉ lệ gạo trắng, tỉ lệ gạo nguyên, tỉ

-Nhóm 4: Chất lượng ăn uống: Nhiệt hóa đồ, độ bền thể gen, mùi thơm, độtrắng, độ bong, độ dẻo, độ ngon của cơm

2.12 Tình hình nghiên cứu lúa và chọn tạo lúa chất lượng cao trên thế giới.

Trang 18

Trong sản xuất nông nghiệp, giống là tư liệu sản xuất quan trọng không kém

gì đất đai, phân bón và công cụ sản xuất Người dân Việt Nam đã đúc kết thànhcâu ngạn ngữ: Nhất nước nhì phân, tam cần, tứ giống Qua đó cho thấy giống câytrông nói chung và giống lúa nói riêng có tầm quan trọng như thế nào.Vì thế việcnghiên cứu chọn lọc, lai tạo giống đã được các nhà khoa học, các Viện nghiên cứu

và các trường đại học về nông nghiệp ưu tiên hàng đầu Vào đầu những năm 1960,Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI) đã được thành lập tại Losbanos, Laguna,Philippin Sau đó các viện nghiên cứu nông nghiệp quốc tế khác cũng được thànhlập ở các châu lục và tiểu vùng sinh thái khác nhau như IRAT, EAT, CIAT,ICRISAT Tại các viện này việc chọn lọc và lai các giống lúa đã được ưu tiên hàngđầu [14] Chỉ tính riêng Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế (IRRI) cũng đã lai tạo vàđưa ra sản xuất hàng nghìn giống lúa các loại tiêu biểu là các giống như: IR5, IR6,IR8, IR30, IR34, IR64, Jasmin… đặc biệt là 2 giống IR64 và Jasmin là nhữnggiống có phẩm chất gạo tốt, được trồng nhiều nơi trên thế giới, trong đó có ViệtNam Hiện nay viện IRRI đang tập trung vào nghiên cứu chọn tạo ra các giống cónăng suất siêu cao có thể đạt 13 tấn/vụ đồng thời tập trung vào nghiên cứu chọn tạocác giống lúa có chất lượng cao (giàu vVitamin, giàu protein, giàu lLisine, có mùithơm…) để vừa hỗ trợ các nước giải quyết vấn đề an ninh lương thực, vừa đáp ứng

đủ nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng (Cada,E.C,1997) [23]

Trung Quốc là 1 nước trồng lúa hàng đầu thế giới nên công tác chọn giống

đã được chú trọng đặc biệt Vào những năm 60 và 70 của thế kỷ trước, Trung Quốc

đã cho ra đời hàng loạt các giống lúa có năng suất cao, phẩm chất tốt như: Đoànkết, Bao Thai, Trân Châu Lùn, Mộc Tuyền [54], [37] … các giống này cũng đãnhập vào Việt Nam và cho tới nay nhiều giống vẫn được một số địa phương gieotrồng vì chất lượng gạo tốt, phù hợp với điều kiện gieo trồng và đất đai của địaphương Bước vào đầu những năm 1970, Trung Quốc đã thử nghiệm và lai tạo

Trang 19

thành công các giống lúa lai 3 dòng và gần đây là các giống lúa lai 2 dòng có đặctính ưu việt hơn hẳn về năng suất, chất lượng và khả năng chống chịu sâu bệnh Cóthể nói Trung Quốc là nước đi tiên phong trong lĩnh nghiên cứu và ứng dụng lúalai ra sản xuất đại trà Nhờ đó làm tăng năng suất, sản lượng lúa của Trung Quốclên gấp đôi trong vòng 3 thập kỉ qua, góp phần đảm bảo an ninh lương thực cho 1nước có hơn 1,3 tỉ dân [62].

Ấn độ là một trong những nước trồng lúa với diện tích đứng hàng đầu thếgiới Ấn độ cũng là một nước đi đầu trong công cuộc cách mạng xanh lần thứ nhất

về cải tiến giống lúa Viện nghiên cứu giống lúa trung ương của Ấn Độ được thànhlập vào năm 1946 tại Cuttuck bang Orisa, đóng vai trò đầu tàu trong việc nghiêncứu, chọn tạo các giống lúa mới phục vụ sản xuất Ngoài ra, tại các bang của Ấn

Độ đều có các cơ sở nghiên cứu, trong đó các cơ sở quan trọng ở Madrasheydrabat,Kerala, hoặc Viện nghiên cứu cây trồng Á nhiệt đới (IRRISAT) Ấn độ cũng lànước có những giống lúa chất lượng cao nổi tiếng thế giới như: Basmati,Brimphun, trong đó giống Basmati có giá thị trường tới 850USD/tấn (trong khigiống gạo thơm Thái Lan nổi tiếng trên thế giới cũng chỉ có giá 460USD/tấn,(Nnông thôn 2004)

Từ lâu Thái Lan đã nổi tiếng lá nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới Nướcnày cũng được thiên nhiên ưu đãi với những vùng châu thổ trồng lúa phì nhiêu.Các trung tâm nghiên cứu giống lúa được thành lập ở nhiều tỉnh và khu vực.Nhiệm vụ của các cơ sở này là tiến hành chọn lọc, phục tráng, lai tạo ra các giốnglúa tốt phục vụ cho nội tiêu và đặc biệt là xuất khẩu Tiêu chí chọn giống lúa củacác nhà khoa học Thái Lan là các giống lúa có thời gian sinh trưởng từ trung bìnhđến dài ngày (vì phần lớn ở Thái Lan chỉ trồng được 1 vụ/năm) hạt gạo dài vàtrong, ít gãy dập khi xay sát, có hương thơm, coi trọng chất lượng hơn là năngsuất…Điều này cho chúng ta thấy tại sao giá gạo xuất khẩu của Thái Lan luôn cao

Trang 20

hơn Việt Nam.Theo hướng này, Thái Lan đã tạo ra các giống lúa có chất lượng nổitiếng thế giới, trong đó phải kể đến các giống như: Khao dawk mali, Jasmin Cácgiống lúa này cũng được gieo trồng ở Việt Nam và các nước khác.[48]

Ở khu vực Đông Á còn có các nước trồng lúa quan trọng khác như: HànQuốc, Bắc Triều Tiên, Đài Loan, các giống lúa ở đây thuộc loại Japonica, có hạtgạo tròn, cơm dẻo và có chất lượng cũng rất tốt Các giống lúa nổi tiếng của khuvực này phải kể đến như: Ton gil (Hàn Quốc), Tai chung 1, Tai chung 2, Gangchangi, Ddeee-Geo-Gen ( Đài Loan)…[49]

2.3 Tình hình nghiên cứu và chọn tạo lúa chất lượng cao ở Việt Nam.

Ngày nay nước ta đã xuất khẩu gạo sang hơn 85 nước trên thế giới, trongtương lai xuất khẩu gạo vẫn là tiềm năng lớn của Việt Nam Tuy nhiên, chất lượnggạo của chúng ta chưa cao do bộ giống lúa của chúng ta chưa đa dạng, chưa đápứng với nhu cầu sản xuất, trong đó xu hướng yêu cầu chất lượng gạo cao trên thịtrường ngày càng tăng Hiện nay cùng với nhiều giống lúa đặc sản truyền thống,nhiều giống lúa có chất lượng cao cũng đang được nhập khẩu và lai tạo trong nướcnhằm đáp ứng nhu cầu xuất khẩu và nâng cao giá trị hàng hóa của cây lúa [9]

Việc chọn tạo giống lúa ở Việt Nam được khởi xướng từ những năm 60 củathế kỷ XX và được tập trung chủ yếu vào lúa tẻ (Indica) Các phương pháp chọntạo giống lúa chất lượng cao bao gồm: Nhập nội, lai tạo, gây đột biến gen, khaithác tế bào soma đã được thực hiện tại Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp ViệtNam, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, Vviện Nghiên cứu lúa Đồng Bằngsông Cửu Long, Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Thu thập đánh giá nguồn vật liệu giống lúa địa phương phục vụ chọn tạogiống lúa cho vùng canh tác nhờ nước trời vùng núi Tây Bắc Việt Nam của Học

Trang 21

viện Nông nghiệp Việt Nam với phương pháp điều tra, thu thập, phân loại giốngđịa phương và chọn lọc cá thể theo chu kỳ để làm vật liệu di truyền lai tạo giốnglúa cho vùng núi nước trời phía Bắc Việt Nam như G4, G6, G10, G13, G14, G19,G22, G24 [18], [19], [22].

Các giống lúa chất lượng cao truyền thống đã và đang được trồng rộng rãi ởnước ta có thể kể đến là: Tám Xoan, Tám Ôn ở Tiền Hải (Thái Bình), Hải Hậu(Nam Định), Phú Xuyên (Hà Nội); Tám Canh ở Hải Hậu; Di Hương ở An Lão(Hải Phòng), Lâm Thao (Phú Thọ); Nếp Hoa Vàng ở Vĩnh Phúc; Nếp Rồng ở HảiDương; Nếp Bạc ở Hưng Yên; Nàng Thơm Chợ Đào ở Cần Được (Long An).Trong đó, Nàng Thơm Chợ Đào và Tám Xoan là hai giống được trồng rộng rãinhất

Nghiên cứu các giống lúa phẩm chất cao phục vụ Đđồng bằng sông CửuLong của Viện Nghiên cứu lúa Đồng bằng sông Cửu Long với phương pháp ứngdụng công nghệ sinh học (marker phân tử, nuôi cấy túi phấn) kết hợp với khảonghiệm đồng ruộng để chọn tạo giống lúa ngắn ngày, năng suất cao, chất lượnggạo tốt như OM1490, OM2517, OM3536, OM2717, OM2718, OM3405, OM4495,OM4498, OM2514 trồng rộng rãi ở vùng sản xuất ngập lũ Đồng bằng sông CửuLong [33]

Nghiên cứu chọn giống lúa chống chịu khô hạn của Viện Cây lương thựcthực phẩm với phương pháp thu thập nguồn vật liệu giống lúa cạn chịu hạn địaphương và các dòng lúa cải tiến nhập nội từ IRRI với phương pháp lai hữu tính kếthợp với gây đột biến để tạo ra các tổ hợp lai có khả năng chịu hạn khá và năng suấtcao như CH2, CH3, CH 133, CH5 trồng rộng rãi ở vùng Trung du miền núi phíaBắc, Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nguyên [34]

Trang 22

Phần III VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Vật liệu.

- Gồm 5 dòng lúa tẻ cẩm mới kýí hiệu: LĐ1, LĐ2, LĐ3, LĐ4, LĐ5

- Đối chứng: BT7 ( là giống Bắc Thơm số 7 (BT7)

3.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm

Đề tài được thực hiện tại khu thí ngiệm đồng ruộng,Bộ môn Di truyền và

Cchọn giống cây trồng- khoa Nông học-Học vViện Nông nNghiệp Việt Nam

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu Vvụ Mùa 2014

3.3 Nội dung và Pphương pháp nghiên cứu

3.3.1 Nội dung

- Đánh giá các đặc điểm nông sinh học của các dòng tẻ cẩm mới, tham gia thí nghiệm

Trang 23

- Đánh giá khả năng chống chịu 1 số sâu, bệnh hại thông thường trên đồng ruộng (sâu đục thân, bạc lá…)

- Đánh giá năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các giống tham gia thí nghiệm dòng tẻ cẩm mới

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Các chỉ tiêu theo dõi : Theo thang điểm của IRRI (, năm 2002)

Các đặc điểm nông sinh học được đánh giá theo thang điểm của IRRI

dõi 7 ngày/1 lần

- Các giai đoạn sinh trưởng:

+Ngày bén rễ hồi xanh: Khi có 80% số cây bén rễ hồi xanh

+Ngày bắt đầu đẻ nhánh, đẻ rộ, kết thúc đẻ nhánh

+Ngày trỗ 10%, 50%, trỗ hoàn toàn

Trang 24

+Ngày chínchín

- *Đặc điểm giai đoạn mạ:

+ Gieo riêng từng dòng, cắm thẻ ở mỗi dòng, quây nilon chống chuột.+ Khi mạ được 3 lá thì bắt đầu đánh dấu số lá: lá thứ 3 đánh dấu một chấm sơn trắng, lá thứ 5 đánh dấu 2 chấm, lá thứ 7 đánh dấu 3 chấm, theo dõi đến khi ra lá đòng ghi số liệu số lá/ thân chính, mỗi dòng đánh dấu 15 cây để theo dõi

+Đo chiều cao cây mạ: Đo chiều cao từ mặt đất đến mút lá cao nhất+ Số lá mạ

+Màu sắc lá mạ

+Tình hình sâu bệnh thời kì mạ

-*Thời kì lúa

- Theo dõi đặc điểm hình thái trong quá trình sinh trưởng của cây:

- Động thái sinh trưởng (theo dõi 10 cây được cắm que cố định, 7 ngày theo dõi 1 lần)

+Động thái đẻ nhánh: đếm số nhánh của 10 cây theo dõi

+Động thái tăng trưởng chiều cao: đo từ mặt đất vuốt lá đến đỉnh cao nhất

+Động thái ra lá trên thân chính: đánh dấu sơn từ lá thứ 3 đến lá đòng

-Chỉ tiêu khác

Trang 25

-*Chiều dài, cChiều rộng, góc lá đòng

-+Chiều dài lá đòng: Đo từ gối lá đến mút đầu lá

+- Chiều rộng lá đòng: Đo từ mép lá bên này đến mép lá bên kia chỗ rộng nhất

- +Góc lá đòng: Tính từ góc của lá đòng so với thân chính

- *Chiều dài, chiều rộng hạt thóc, hạt gạo

+Đánh giá mức độ nhiễm sâu bệnh trong suốt thời kì sinh trưởng phát triển của cây lúa với các đối tượng gây hại chủ yếu :sâu đục thân, bệnh bạc lá,đạo ôn, khô vằn

- *Các yếu tố cấu thành năng suất.

+-Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất (Khi cây lúa chín vàng tiến hành lấy 10 cây (cả gốc) ở 5 điểm chéo góc mỗi điểm lấy 2 cây, rửa sạch gốc, đeo thẻ, phơi khô sau đó đo đếm các chỉ tiêu sau:

+Chiều cao cây cuối cùng (cm): Đo từ vết cắt ở gốc đến mút đầu bông, không kể râu

Trang 26

+Chiều dài bông lúa (cm): Đo từ cổ bông đến chóp bông.

+Chiều dài cổ bông (cm): tính từ cổ bông đến phần bắt đầu xuất hiện bông

+Số bông trên khóm: Đếm tất cả các bông có hạt mẩy

- Số bông/m2 (A): Số bông/khóm x Mật độ (35 khóm/m2)

- Số hạt/bông (B): tính tất cả các hạt của các bông/khóm, sau đó lấy trung bình

Trang 27

+Năng suất thực thu : Tiến hành gặt 5m2 trên mỗi ô, tuốt hạt phơi khô làmsạch rồi quy về độ ẩm chuẩn sau đó tính ra khối lượng thực thu theo tạ/ha.

3.3.3 Phương pháp phân tích và xử lí số liệu

-Số liệu thí nghiệm được sử lí bằng các chương trình excel 2010, chương trình IRISSTAT 5.0

3.3.3 Một số công thức

- Tính giá trị trung bình: X

= n Xi

n i

- Hệ số biến động CV(%): X

S

x100

Trong đó n: là số mẫu quan sát

S2: là phương sai mẫu

Xi: là giá trị thực của tính trạng quan sát ở tính trạng thứ i

Trang 28

3.3.43 Phương pháp phân tích và xử lýí số liệu

-Số liệu thí nghiệm được sử lí bằng các chương trình Eexcel 2010,

chương trình IRISSTAT 5.0

Phần IV.: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm sinh trưởng của giai đoạn mạ của các dòng, giống lúa thí

nghiệmtẻ cẩm mới

Bảng 4.1 Đặc điểm của giai đoạn mạ của các dòng tẻ cẩm vụ Mùa tại Gia Lâm

– Hà Nộicác dòng, giống lúa thí nghiệm

Số lá mạ

Số nhánh

Trang 29

5 LĐ5 21 38,5 Xanh nhạt 6,3 1,3

Giai đoạn đầu trong quá trình sinh trưởng của cây lúa là giai đoạn mạ Giaiđoạn này kéo dài bao lâu phụ thuộc vào phương thức gieo, mùa vụ gieo cấy, tậpquán canh tác của từng địa phương Thông thường tuổi mạà ở vụ xuân kéo dàikhoảng 25-40 ngày, ở vụ mùa là 20-30 ngày, thời gian này không dài so với đờisống cây lúa Mạ gieo trên nền cứng, đất khô hay trong khay có tuổi ngắn hơn (10-

15 ngày ở vụ mùa, 18-20 ngày ở vụ xuân) Tuổi mạ có xu hướng rút ngắn dần thậmchí không có thời kì mạ (lúa gieo thẳng) nhưng lại có ý nghĩa quan trọng đến sựsinh trưởng, phát triển của cây lúa, là tiền đề quyết định đến năng suất

Mạ tốt cần đạt những tiêu chuẩn sau: cây cứng, phát triển cân đối, đồng đều,không nhiễểm sâu bệnh, chịu rét Mạ khỏe sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các bướcsinh trưởng phát triển tiếp theo Ngược lại, nếu mạ yếu sẽ khiến cây lúa sinhtrưởng phát triển chậm, đẻ nhánh lai rai, sức chống chịu kém Kết quả đo đếm vàtheo dõi giai đoạn mạ của các giống dòng tẻ cẩm được trình bày tại bảng 4.1

Đặc điểm sinh trưởng của mạ ở các giốngdòng khác nhau có sự khác nhau

Số liệu ở bảng 4.1 cho thấy

Trong vụ Mùa 2014, tuổi mạ là 21 ngày, số lá mạ của các giống dòng, giống daođộng từ 5,0-6,3 lá/cây

Về chiều cao cây mạ: và động thái ra lá Chiều cao cây mạ của các dòng,giống lúa biến động từ 37,4-56,1 cm , giống BT7(đối chứng) có chiều cao cây mạthấp nhất là 37,4 cm Các dòng lúatẻ cẩm trong thí nghiệm đều có chiều cao câylớn hơn giống đối chứng BT7 Cao nhất là dòng LĐ2 với 56,16 cm Động thái ra lá

Trang 30

giai đoạn mạ của các dòng,giống dao động từ 0,6-0,8 cm/tuần, giống BT7 có độngthái ra lá thấp nhất là 0,6cm/tuần và cao nhất là dòng LĐ1 với 0,8cm/tuần.

(giai đoạn này không nhận xét động thái, nếu có thì phải nói trên bao nhiêungày)

Màu sắc lá mạ là một chỉ tiêu xác định sức sinh trưởng phát triển của mạ.Trong các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm, mạ của dòng LĐ3 có màu xanhđậm nhất so với các dòng còn lại Giống BT7 có màu vàng

Số nhánh cũng là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tốc độ sinh trưởng củacủa cây lúa ở Ở bảng 4.1 cho ta thấy số nhánh của các dòng dao động từ 0,2-1,4nhánh/cây Cao nhất là dòng LĐ1 với số nhánh là 1,4 và thấp nhất là giống BT7

Bảng 4.2 Thời gian các giai đoạn sinh trưởng của các dòong tẻ cẩm vụ Mùa 2014 tại Gia Lâm – Hà Nội, giống lúa thí nghiệm (hè 2014) Đơn vị tính :

(ngày)

STT Tên Ddòng,

giống

Tuổi mạ

gian trỗ

Thời gian chín

Thời gian sinh

Trang 31

Bén

rễ hồi xanh

Đẻ nhánh rộ

Kết thúc đẻ nhánh

Bắt đầu trỗ

Số liệu bảng 4.2 cho thấy: Thời gian từ cấy đến bén rễ hồi xanh của các

dòng, giống lúa thí nghiệm dao động trong khoảng 9-11 ngày Do thời tiết vụ mùanắng ráo, nhiệt độ tương đối cao nên mạ bén rễ hồi xanh nhanh

Thời gian từ cấy đến khi đẻ nhánh rộ là một đặc trưng của giống, ngoài racòn phụ thuộc vào điều kiện thời tiết, các giống khác nhau có sự khác nhau Kếtquả bảng 4.2 cho thấy: các dòng LĐ2 LĐ3 có thời gian từ cấy đến đẻ nhánh rộ là

23 ngày lâucao hơn so với giống BT7 là 3 ngày, và thấp ngắn hơn so với các dòngLĐ1, LĐ5 là 1 ngày, dòng LĐ4 có thời gian từ gieo đến đẻ nhánh rộ là cao dài

nhất là 25 ngày

Trang 32

Thời gian từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh là thời gian quyết định số nhánh/đơn

vị diện tích, nó ảnh hưởng trực tiếp đến số bông/đơn vị diện tích Thông thườngcác dòng, giống lúa đẻ sớm, thời gian đẻ kéo dài cho số bông/đơn vị diện tích cao

và ngược lại các giống lúa đẻ muộn, đẻ tập trung thường có số bông/đơn vị diệntích thấp hơn Đây là một chỉ tiêu quan trọng trong quá trình chọn tạo giống lúamới để từ đó có thể đưa ra biện pháp canh tác để giống mới có thể có năng suất caonhất Qua bảng 4.2 cho thấy các dòng, giống lúa khác nhau có thời gian đẻ nhánhkhác nhau trong điều kiện vụ Mùa 2014, thời gian từ cấy đến kết thúc đẻ nhánh củacác dòng, giống lúa thí nghiệm biến động từ 36-40 ngày

Thời gian từ cấy đến trỗ bông được tính từ khi cấy đến khi đạt 10% sốkhóm/ ô thí nghiệm có bông trỗ hoàn toàn Thời gian này dài hay ngắn phụ thuộcchủ yếu vào đặc điểm di truyền của dòng, giống Ngoài ra còn phụ thuộc vào thời

vụ gieo cấy và kĩ thuật thâm canh Kết quả theo dõi cho thấy: Các dòng, giống lúathí nghiệm có thời gian từ cấy đến trỗ dao động trong khoảng 47-52 ngày DòngLĐ1 có thời gian từ cấy đến trỗ ngắn nhất ( 47 ngày), dòng LĐ5 có thời gian từ cấyđến trỗ dài nhất ( 52 ngày), giống BT7 có thời gian từ cấy đến trỗ là 49 ngày, dòngLĐ4 có thời gian từ cấy đến trỗ là 51 ngày, các giống còn lại có thời gian từ cấyđến trỗ dài hơn so với giống đối chứng BT7(49-50 ngày)

Thời gian trỗ được tính từ khi ruộng lúa trỗ bông được 10% số khóm đến khi85% số khóm lúa có bông trỗ thoát Thời gian trỗ phụ thuộc vào đặc tính củagiống Các giống lúa trỗ tập trung, trỗ thoát nhanh thường có năng suất cao Kếtquả bảng 4.2 cho thấy: Thời gian trỗ của các dòng, giống lúa thí nghiệm biến độngtrong khoảng 8- 10 ngày, dòng LĐ5 có thời gian trỗ ngắn nhất ( 8 ngày), bằngsotương đương với giống đối chứng BT7 (8 ngày), các dòng LĐ1 và LĐ2 có thờigian trỗ dài nhất (10 ngày) , các dòng LĐ3 và LĐ4 có thời gian trỗ tương đươngnhau (9 ngày) và dài hơn giống đối chứng

Trang 33

Thời gian sinh trưởng của cây lúa được tính từ khi gieo đến khi chín và đượctrải qua các thời kì: Thời kì mạ ( đối với phương thức cấy), thời gian kỳì sinhtrưởng sinh dưỡng, thời kỳì sinh trưởng sinh thực và chín Thời gian sinh trưởngphụ thuộc chủ yếu vào đặc điểm di truyền của giống, ngoài ra còn phụ thuộc vàođiều kiện ngoại cảnh khác.

Quá trình chín của lúa trải qua 3 thời kì: Chín sữa, chín sáp và chín hoàntoàn Các giai đoạn này được phân biệt dựa vào sự biến đổi về hình thái, màu sắc,chất dự trữ và khối lượng hạt Đây là thời gian quyết định đến năng suất, chấtlượng gạo và chịu ảnh hưởng lớn của các yếu tố nhiệt độ, ánh sáng, nước, dinhdưỡng…

Kết quả bảng 4.2 cho thấy: Trong cùng điều kiện, các dòng, giống lúa khácnhau có thời gian sinh trưởng khác nhau do đặc điểm di truyền của giống Thờigian sinh trưởng của các dòng, giống lúa tham gia thí nghiệm dao động trongkhoảng 114- 117 ngày Các dòng: LĐ2, LĐ3, LĐ4 và LĐ5 có thời gian sinhtrưởng dài hơn giống đối chứng BT7 Dòng LĐ1 có thời gian sinh trưởng ngắnnhất là 114 ngày

4.3 Động thái sinh trưởng của các dòng, giống lúa tẻ cẩm mới thí nghiệm

4.3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây

Chiều cao là một đặc điểm hình thái quan trọng phản ánh bản chất củagiống, thời vụ và điều kiện thâm canh từng vùng Trước giai đoạn trỗ, thân cây lúachỉ là thân giả bao gồm các bẹ lá ôm lấy nhau, và chiều cao của cây lúa được tính

từ mặt đất đến vút lá cao nhất Sau giai đoạn làm đốt làm đòng, quá trình tăng

Trang 34

trưởng chiều cao cây lúa là quá trình phát triển lóng và kéo dài các lóng Chiều cao

cây lúa từ lúc trỗ trở đi được tính từ mặt đất đến vút bông (không kể râu)

Động thái tăng trưởng chiều cao là một chỉ tiêu đánh giá sức sinh trưởng của

lúa trên ruộng cấy, đồng thời cũng là chỉ tiêu thể hiện sự tác động của các yếu tố

môi trường (nhiệt độ, ánh sáng, độ ẩm, dinh dưỡng…) tới sinh trưởng của cây lúa

Chiều cao cây lúa không chỉ có ý nghĩa trong thâm canh, liên quan đến tính chống

đổ mà còn phản ánh độ thuần của một giống Kết quả theo dõi động thái và tốc độ

tăng trưởng chiều cao cây của các dòng, giống lúa thí nghiệm được trình ở bảng

4.3 và đồ thị 4.1

Từ kết quả của bảng 4.3 cho thấy: chiều cao của các dòng, giống tăng chậm

trong vòng 10 ngày sau cấy Sau cấy 10 ngày chiều cao của các dòng, giống dao

động từ 36,4-47,2 cm trong đó giống đối chứng BT7 có chiều cao thấp nhất

(36,4cm) và cao nhất là dòng LĐ2 ( 47,2cm) Giai đoạn từ 17-38 ngày sau cấy

chiều cao cây của các dòng, giống tăng mạnh hơn, trung bình từ 10-15 cm trên 1

chu kỳ theo dõi (7 ngày) Sau cấy 38 ngày chiều cao cây của các dòng, giống đạt từ

77,3-94,2 cm Thấp nhất vẫn là giống BT7 (77,3cm) và cao nhất là dòng LĐ1

(94,2cm) Các dòng còn lại có chiều cao từ 81,6-90,9cm

Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng tẻ cẩm mới

vụ Mùa 2014 tại Gia Lâm – Hà Nội, giống lúa thí nghiệm (Đơn vị: (cm)

Trang 35

Giai đoạn từ 45 ngày sau cấy-, khi lúa chín chiều cao cây tăng nhưng rất

chậm, mà rất đều nhau dao động từ 5-10cm trong vòng 7 ngày Khi thu hoạch

Cchiều cao cây cuối cùng của các dòng, giống dao động từ 105,9-128,3cm Ccao

nhất là dòng LĐ2 (128,3cm), cao hơn so với giống BT7 là 15,5 cm (BT7 là

112,8cm) Dòng LĐ3 có chiều cao thấp nhất là 105,9 thấp hơn giống BT7 là 6,7

cm Dòng LĐ1 có chiều cao là 110,6cm vẫn thấp hơn so với giống đối chứng BT7

là 2,2cm Cònác dòng LĐ4 và, LĐ5 có chiều cao lớn hơn so với giống BT7 lần

lượt là 1,7cm; 3,9 cm

Trang 36

Hình Đồ thị 4.1 Đồ thì biểu diễn Đđộng thái tăng trưởng chiều cao của các

dòng, giống lúa thí nghiệm 4.3.2 Động thái ra lá

Lá là cơ quan chủ yếu thực hiện chức năng quang hợp của cây Hoạt độngquang hợp là quá trình tạo ra các hợp chất hữu cơ, hợp chất hữu cơ đó được tíchlũy là phần cơ bản tạo nên năng suất Lá lúa được hình thành qua 4 giai đoạn: Phânhóa mầm lá- hình thành bẹ lá- hình thành phiến lá – lá thật xuất hiện, mỗi giai đoạnhình thành lá thường cách nhau một bước

Tốc độ phát triển số lá phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời tiết và mùa vụ.Trong điều kiện thời tiết ấm áp hoặc vụ mùa thì tốc độ phát triển số lá nhanh hơn

so với điều kiện thời tiết lạnh rét và vụ xuân Ngoài ra, tốc độ phát triển số lá giaiđoạn mạ và sau cấy thường nhanh hơn so với giai đoạn lúa kết thúc đẻ nhánhchuyển sang giai đoạn làm đòng kết quả theo dõi động thái ra lá được trình bày ởbảng 4.4 và đồ thị 4.2

10 ngày sau cấy, số lá của các dòng, giống lúa thí nghiệm biến động từ 6,8 lá Dòng LĐ1, LĐ4 có số lá tương đương nhau là 6,7 lá Cao nhất là 2 dòngLĐ5, BT7 có số lá đều là 6,8 Giống LĐ3 có số lá thấp nhất là 6,3 lá

6,3-17 ngày sau cấy, các dòng, giống lúa thí nghiệm có số lá biến động từ 9,4 Dòng LĐ2, LĐ5 có số lá ít nhất là 8,6 lá Dòng LĐ1 có số lá là 8,7 DòngLĐ4 có số lá thấp hơn giống BT7 với (8,9 lá) Cao nhất là 2 dòng LĐ3 và giốngBT7 là 9,4 lá

8,6-24 ngày sau cấy, các dòng, giống lúa thí nghiệm có số lá biến động từ 11,2 lá, cao nhất là dòng LĐ3 11,2 lá 31 ngày sau cấy, các giống lúa thí nghiệm có

Trang 37

Bảng 4.4 Động thái ra lá của các dòng lúa tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 tại

Gia Lâm – Hà Nộithí nghiệm

Trang 38

Hình Đồ thị 4.2 Đồ thị biểu diễn Đđộng thái ra lá của các dòng, giống lúa

tham gia thí nghiệm 4.3.3 Động thái đẻ nhánh

Đẻ nhánh là một đặc điểm nông sinh học của cây lúa có liên quan chặt chẽđến quá trình hình thành số bông và năng suất lúa sau này Khả năng đẻ nhánh của

cây phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Giống, phân bón, đất đai, các yếu tố khí hậu,

Trang 39

chế độ thâm canh… Những giống lúa đẻ nhánh sớm, đẻ nhánh tập trung sẽ có tỉ lệbông hữu hiệu cao Ngược lại những giống lúa đẻ nhánh muộn, đẻ nhánh lai rai thì

tỉ lệ bông hữu hiệu sẽ thấp hơn Kết quả theo dõi quá trình đẻ nhánh được trình bàytại bảng 4.5a, 4.5b và đồ thị 4.3

Trong tuần đầu sau cấy tốc độ đẻ nhánh của các giống chậm do chúng mất

4-6 ngày bén rễ hồi xanh 10 ngày sau cấy, tốc độ đẻ nhánh của các dòng, giốnglúa thí nghiệm biến động từ 0-1,5 nhánh/tuần Giống BT7 có tốc độ đẻ nhánh caonhất là 1,5 nhánh/tuần, dòng LĐ1 có tốc độ đẻ nhánh thấp nhất Các dòng, giốngcòn lại có tốc độ đẻ nhánh dao động từ 0,4- 1,1nhánh/tuần

17 ngày sau cấy, tốc độ đẻ nhánh của các dòng, giống biến động từ 2,2-4,1nhánh vì các giống đã trải qua giai đoạn bén rễ hồi xanh nên tốc độ đẻ nhánh caohơn so với 10 ngày đầu tiên khi cấy Cao nhất là dòng LĐ4 với tốc độ 4,1nhánh/tuần Thứ 2 là giống BT7 với tốc độ 4 nhánh/tuần Tthấp nhất là dòng LĐ5với 2,2 nhánh/tuần Các dòng còn lại đều có tốc độ đẻ thấp hơn so với dòng đốichứng và dao động từ 2,4-3,1 nhánh/tuần

24 ngày sau cấy, tốc độ đẻ nhánh của các dòng, giống tham gia thí nghiệmtăng lên cao nhất, biến động từ 2,9-5,4 nhánh/tuần Cao nhất là giống BT7 với 5,4nhánh/tuần Dòng LĐ1, LĐ4 có tốc độ đẻ thấp nhất với 2,9 nhánh/tuần Các dòngLĐ2, LĐ3, LĐ5 có tốc độ đẻ nhánh lần lượt là 4,6; 4,2; 3,0 nhánh/tuần

31 ngày sau cấy, tốc độ đẻ nhánh của các dòng, giống giảm dần, dao động từ2-3,3nhánh/tuần Cao nhất là dòng LĐ4 với 3,3 nhánh/tuần Thấp nhất là giốngBT7 với tốc độ 2 nhánh/tuần Các dòng còn lại đều có tốc độ đẻ nhánh cao hơn sovới giống đối chứng dao dộng trong khoảng 2,2-2,4 nhánh/tuần

38 ngày sau cấy, tốc độ đẻ nhánh của các dòng, giống lúa tiếp tục giảmmạnh, có dòng còn âm Biến động từ -0,3-0,6 nhánh/tuần Dòng LĐ1 có tốc độ đẻ

Ngày đăng: 15/05/2015, 16:26

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sản lượng lúa trên thế giới và các châu lục giai đoạn 2008-2013 - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 1.1. Sản lượng lúa trên thế giới và các châu lục giai đoạn 2008-2013 (Trang 10)
Bảng 1.3. : Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam trong vài - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 1.3. Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của Việt Nam trong vài (Trang 14)
Bảng 4.1 Đặc điểm của giai đoạn mạ của các dòng tẻ cẩm vụ Mùa tại Gia Lâm - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.1 Đặc điểm của giai đoạn mạ của các dòng tẻ cẩm vụ Mùa tại Gia Lâm (Trang 28)
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng tẻ cẩm mới - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao cây của các dòng tẻ cẩm mới (Trang 34)
Bảng 4.4 Động thái ra lá của các dòng lúa tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 tại - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.4 Động thái ra lá của các dòng lúa tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 tại (Trang 37)
Hình Đồ thị 4.2 Đồ thị biểu diễn Đđộng thái ra lá của các dòng, giống lúa - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
nh Đồ thị 4.2 Đồ thị biểu diễn Đđộng thái ra lá của các dòng, giống lúa (Trang 38)
Bảng 4.5a Động thái đẻ nhánh của các dòng tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 tại - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.5a Động thái đẻ nhánh của các dòng tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 tại (Trang 40)
Bảng 4.5a Động thái đẻ nhánh của các dòng lúa thí nghiệm - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.5a Động thái đẻ nhánh của các dòng lúa thí nghiệm (Trang 41)
Bảng 4.5b Tốc độ đẻ nhánh của các dòng lúa tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 tại Gia - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.5b Tốc độ đẻ nhánh của các dòng lúa tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 tại Gia (Trang 41)
Bảng 4.7. Một số tính trạng số lượng của các dòng tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.7. Một số tính trạng số lượng của các dòng tẻ cẩm mới vụ Mùa 2014 (Trang 46)
Bảng 4.8. Mức độ nhiễm sâu bệnh hại tự nhiên của các dòng tẻ Tình hình xuất hiện  cẩm  mới  vụ Mùa 2014 tại Gia Lâm –Hà Nội   (điểm)sâu bệnh trên các giống lúa thí nghiệm - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.8. Mức độ nhiễm sâu bệnh hại tự nhiên của các dòng tẻ Tình hình xuất hiện cẩm mới vụ Mùa 2014 tại Gia Lâm –Hà Nội (điểm)sâu bệnh trên các giống lúa thí nghiệm (Trang 48)
Bảng 10.9 khả năng chống đổ của các dòng,giống tham gia thí - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 10.9 khả năng chống đổ của các dòng,giống tham gia thí (Trang 49)
Bảng 4.11 Năng suất lý thuyết, năng suất thực thu và so sánh năng suất (bỏ - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
Bảng 4.11 Năng suất lý thuyết, năng suất thực thu và so sánh năng suất (bỏ (Trang 53)
Đồ thị 4.4. Năng suất thực thu của các dòng, giống lúa thí nghiệm 4.8 Một số tính trạng chất lượng của các dòng tẻ cẩm mới - So sánh một số dòng lúa tẻ cẩm mới vụ mùa 2014 tại gia lâm hà nội
th ị 4.4. Năng suất thực thu của các dòng, giống lúa thí nghiệm 4.8 Một số tính trạng chất lượng của các dòng tẻ cẩm mới (Trang 54)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w