1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

111 278 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 768,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tại Việt Nam, theo quy chế về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán quy định: “ Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Cùng với sự phát triển và hội nhập của nền kinh tế, thị trường chứng khoán Việt Nam ( TTCK VN ) ngày càng thể hiện được tính năng và vai trò quan trọng trong việc huy động vốn cho nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu phát triển và thực hiện công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước Và để thị trường chứng khoán hoạt động có hiệu quả thì tất nhiên phải kể đến vai trò của các công ty chứng khoán (CTCK)

CTCK là một trong những tổ chức tài chính trung gian với vai trò huy động vốn cho nền kinh tế, góp phần điều tiết giá, can thiệp trên thị trường, cung cấp một cơ chế chuyển ra tiền mặt Ngoài ra CTCK còn thực hiện tư vấn đầu tư và tạo ra các sản phẩm mới Tất cả những vai trò trên được thực hiện thông qua các nghiệp vụ của công ty chứng khoán

Song hành cùng những bước thăng trầm trên TTCK là sự phát triển

và trưởng thành hơn của các công ty chứng khoán Thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu hình thành từ năm 2000 nhưng chỉ phát triển mạnh từ năm

2005 Từ cuối năm 2006, chứng khoán thật sự trở nên sôi động với những phiên đấu giá cổ phần lần đầu ra công chúng (IPO) và niêm yết cổ phiếu trên sàn chứng khoán ngày càng sôi động Thời điểm này thì số lượng các CTCK bắt đầu tăng đáng kể, tính đến nay đã có 105 CTCK Tuy nhiên thực trạng hoạt động của các công ty như thế nào thì bài nghiên cứu này sẽ góp phần làm rõ hơn thông qua 4 nghiệp vụ chủ yếu của các CTCK là : môi giới, tự doanh, tư vấn đầu tư và bảo lãnh phát hành

Trang 3

Vì kiến thức hạn hẹp nên bài làm còn nhiều thiếu sót, mong cô và các bạn đóng góp thêm Chúng em xin chân thành cảm ơn!

Trang 4

I- Sự cần thiết của công ty chứng khoán

I- Lý thuyết nghiệp vụ môi giới 10 1- Khái niệm 10

2-Phân loại 11 II-Thực trạng Hoạt động môi giới tại VN

Trang 6

I- Lý thuyết

26

1- Khái niệm 26

2-Điều kiện để được bảo lãnh phát hành chứng khoán 27

3- Một số phương thức bảo lãnh phát hành 28

4- Hạn chế bảo lãnh phát hành 29

II- Thực trạng bảo lãnh phát hành tại Việt Nam

29

1-Tổng quan về bảo lãnh phát hành chứng khoán 29

2- Thực trạng bảo lãnh phát hành chứng khoán 2007- 2009 30

3- Gỉai pháp phát triển bảo lãnh phát hành hiện nay 35

D-NGHIỆP VỤ TƯ VẤN ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN

Trang 8

I- Một số lý do dẫn đến việc các công ty chứng khoán phải sát nhập

Trang 9

C- Những thách thức và giải pháp đối với hoạt động sát nhập, mua bán

Phần 1: SỰ CẦN THIẾT VÀ VAI TRÒ CÔNG TY CHỨNG KHOÁN

TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN

I- Sự cần thiết của công ty chứng khoán

Nguyên tắc trung gian là một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản nhất của thị trường chứng khoán Theo nguyên tắc này, mọi hoạt động mua bán

Trang 10

diễn ra trên thị trường chứng khoán tập trung đều phải thông qua tổ chức trung gian, đó là công ty chứng khoán Công ty chứng khoán là một định chế tài chính trung gian chuyên kinh doanh chứng khoán, là đơn vị có tư cách pháp nhân, có vốn riêng và hoạch toán độc lập Tại Việt Nam, theo quy chế

về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán quy định: “ Công ty chứng khoán là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn thành lập hợp pháp tại Việt Nam, được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp giấy phép thực hiện một hoặc một số loại hinh kinh doanh chứng khoán: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu

tư chứng khoán”

 Điều kiện cấp giấy phép kinh doanh chứng khoán tại Việt Nam + Có phương án hoạt động kinh doanh phù hợp với mục tiêu phát triển

kinh tế, xã hội và phát triển ngành chứng khoán

+ Có đủ cơ sở vật chất kỉ thuật cho kinh doanh chứng khoán

+ Có mức vốn pháp định theo từng loại hình kinh doanh

+ Giám đốc, Phó giám đốc ( Tổng giám đốc, Phó tổng giám đốc), các

nhân viên kinh doanh của công ty chứng khoán phải đáp ứng đầy đủ điều kiện để được cấp chứng chỉ hành nghề kinh doanh chứng khoán do Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cấp

+ Giấy phép bảo lãnh phát hành chỉ được cung cấp cho công ty chứng khoán tự doanh

Quy định về vốn đối với công ty chứng khoán:

- Môi giới chứng khoán : 25 tỷ đồng Việt Nam

Trang 11

- Tự doanh chứng khoán : 100 tỷ đồng Việt Nam.

- Bảo lãnh phát hành chứng khoán : 165 tỷ đồng Việt Nam

- Tư vấn đầu tư chứng khoán : 10 tỷ đồng Việt Nam

II- Vai trò công ty chứng khoán

Vai trò của công ty chứng khoán được thể hiện qua các nghiệp vụ của công

ty chứng khoán Thông qua các hoạt động này, các công ty chứng khoán dã thực sự tạo ra sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng và của cả nền kinh tế nói chung Công ty chứng khoán đã trở thành tác nhân quan trọng không thể thiếu trong quá trình phát triển của thị trường chứng khoán

Công ty chứng khoán có 3 chức năng chủ yếu trên thị trường tài chính:

- Tạo ra cơ chế huy động vốn bằng cách nối những người có tiền (nhà đầu tư) với những người muốn huy động vốn ( người phát hành chứng khoán)…

- Cung cấp một cơ chế giá cả cho giá trị của khoản đầu tư

- Cung cấp cơ chế chuyển ra tiền mặt cho các nhà đầu tư

Khi thực hiện các chức năng của mình, các công ty chứng khoán cũng tạo ra sản phẩm, vì các công ty này hoạt động với tư cách đại lý hay công ty ủy thác trong quá trình mua bán các chứng khoán được niêm yết hoặc không được niêm yết, đồng thời cung cáp dịch vụ tư vấn đầu tư cho các cá nhân đầu tư, các công ty cổ phần và cả Chính phủ nữa

1- Vai trò huy động vốn

Các ngân hàng, các công ty chứng khoán và các quỹ đầu tư đều là các trung gian tài chính với vai trò huy động vốn Nói một cách đơn giản , các tổ chức

Trang 12

này có vai trò làm chiếc cầu nối và đồng thời là các kênh dẫn cho vốn chảy

từ một hay một số bộ phận nào đó của nền kinh tế có dư thừa vốn (vốn nhàn rỗi) đến các bộ phận khác của nền kinh tế đang thiếu vốn ( cần huy động vốn) Các công ty chứng khoán thường đảm nhiệm các vai trò này qua các hoạt động bảo lãnh phát hành và môi giới chứng khoán

2- Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả

Nghành công nghiệp chứng khoán nói chung, công ty chứng khoán nói riêng, thông qua các Sở giao dịch chứng khoán và thị trường OTC, có chức năng cung cấp một cơ chế giá cả nhằm giúp nhà đầu tư có sự đánh giá đúng thực tế và chính xác về giá trị khoản đầu tư của mình Các Sở giao dịch chứng khoán niêm yết giá cổ phiếu của các công ty từng ngày một trên các báo tài chính Ngoài ra, chứng khoán của nhiều công ty lớn không được niêm yết ở Sở giao dịch chứng khoán cũng có thể được công bố trên các tờ báo tài chính

Công ty chứng khoán còn có một chức năng quan trọng là can thiệp trên thị trường, góp phần điều tiết giá chứng khoán Theo quy định của các nước, công ty chứng khoán bắt buộc phải dành ra một tỷ lệ nhất định giao dịch của mình để mua chứng khoán vào khi giá chứng khoán trên thị trường giảm và bán ra khi giá chứng khoán cao

3- Vai trò cung cấp một cơ chế giá cả ra tiền mặt

Các nhà đầu tư luôn muốn có được khả năng chuyển tiền mặt thành chứng khoán có giá và ngược lại trong một môi trườn đầu tư ổn định Các công ty chứng khoán đảm nhận được chức năng chuyển đổi này, giúp cho nhà đầu tư

ít thiệt hại nhất khi tiến hành đầu tư

4- Thực hiện tư vấn đầu tư

Trang 13

Các công ty chứng khoán với đầy đủ các dịch vụ không chỉ thực hiện mệnh lệnh của khách hàng mà còn tham gia vào nhiều dịch vụ tư vấn khác nhau thông qua việc nghiên cứu thị trường rồi cung cấp các thông tin đó cho các công ty và cá nhân đầu tư.

5- Tạo ra các sản phẩm mới

Ngoài các cổ phiếu, trái phiếu, các công ty chứng khoán hiện còn bán trái phiếu Chính phủ (Trung ương và địa phương), chứng quyền, trái phiếu, các hợp đồng tương lai, hợp đồng lựa chọn và các sản phẩm lai tạo đa dang khác phù hợp với sự thay đổi trên thị trường và môi trường kinh tế

Phần 2: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG TY

Giai đoạn đầu, khoảng từ năm 2000-2002, thị trường chứng khoán Việt

Nam mới thành lập, tâm lý nhà đầu tư còn ngại ngùng, mới chỉ có số ít tổ chức, hầu hết là ngân hàng, tổ chức có khả năng tài chính vững mạnh đứng

Trang 14

tư và Phát triển Việt Nam (BSC) (7/7/2000), Công ty Cổ phần Chứng khoán

Bảo Việt (BVSC) (26/11/1999)… Cuối 2001, chỉ mới có 8 công ty được

Trang 15

Ngân hàng thương mại thực hiện

nghiệp vụ lưu ký chứng khoán

5 (2 trong nước và 3 nước ngoài)

Số tài khoản giao dịch 21000

TK giao dịch thường xuyên 1000

Bảng 2: số CTCK tính đến tháng 6/ 2005

Năm 2006 đánh dấu bước nhảy vọt về giá cổ phiếu, khối lượng giao dịch, số

lượng nhà đầu tư và số lượng các công ty chứng khoán Giai đoạn cuối năm

2006 trước khi Luật Chứng khoán có hiệu lực, số lượng công ty chứng khoán là 55 công ty

Tháng 6/2007, thị trường chứng khoán Việt Nam có

Số công ty chứng khoán 56

Số phòng giao dịch 14

Số tài khoản giao dịch 240.000

Mức vốn hóa của thị trường 304.000 tỷ đồng (31%GDP)

Bảng 3 : số CTCK tính đến tháng 6/ 2007

Năm 2007 mặc dù số lượng CtyCK đi vào hoạt động từ năm 2007 tăng gấp

3-4 lần so với năm 2006, nhưng kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2007 của nhiều CtyCK vẫn khá tốt, điển hình là các CtyCK đã có thời gian hoạt

Trang 16

CtyCK ACB (ACBS) - lợi nhuận sau thuế đạt 141 tỷ đồng, CtyCK Bảo Việt (BVSC) - lợi nhuận sau thuế đạt 156,8 tỷ đồng và một số CtyCK tuy mới triển khai hoạt động nhưng không chịu lép vế trước các CtyCK đàn anh như: CtyCK Ngân hàng Sài Gòn Thương tín (SBS) - lợi nhuận sau thuế đạt 125,2

tỷ đồng, CtyCK Đại Việt - lợi nhuận sau thuế đạt 39,4 tỷ đồng, CtyCK Quốc

Tế Việt Nam - lợi nhuận sau thuế đạt 23,7 tỷ đồng

Trong quá trình hoạt động, các CtyCK luôn đẩy mạnh việc phát triển mạng lưới, tính đến hết ngày 30/6/2007, ngoài 56 trụ sở chính, mạng lưới hoạt động của các công ty gồm 25 chi nhánh, 14 phòng giao dịch, 24 đại lý nhận lệnh (so với mạng lưới gồm 12 chi nhánh, 9 phòng giao dịch và 13 đại lý nhận lệnh tại thời điểm 31/12/2006) Cùng với việc mở rộng chi nhánh, hoàn thiện bộ máy tổ chức, nhiều CtyCK đã thực hiện tăng vốn điều lệ nhằm nâng cao năng lực tài chính và đáp ứng quy định vốn pháp định theo yêu cầu của Nghị định 14 hướng dẫn Luật Chứng khoán Trong 6 tháng đầu năm 2007, 4 CtyCK gồm Sao Việt (tăng từ 20 tỷ đồng lên 36 tỷ đồng), CtyCK An Bình – ABS (tăng từ 50 tỷ đồng lên 330 tỷ đồng), CtyCK Hà Thành (tăng từ 18 tỷ đồng lên 60 tỷ đồng), CtyCK Kim Long (tăng từ 18 tỷ đồng lên 315 tỷ đồng) Cuối năm 2007, toàn thị trường đã có tới 78 công ty

Thời điểm năm 2008 được coi là khó khăn nhất đối với các công ty chứng

khoán Nhiều dự báo lúc đó cho rằng, thị trường buộc phải chứng kiến nhiều công ty chứng khoán phải sáp nhập, giải thể… Nhưng rút cục, tình

hình không bi đát như dự báo Tính đến tháng 4/2008, số lượng công ty chứng khoán được cấp phép chính thức tại Việt Nam là 98 công ty và hiện tại một số công ty đang trong quá trình thẩm định Trong đó, hơn 80 công ty

đã hoạt động thực sự với vai trò là thành viên của hai sàn…

Trang 17

Năm 2009 là năm nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn do tác động của

khủng hoảng tài chính toàn cầu Tuy nhiên, TTCK Việt Nam đã có dấu hiệu hồi phục, tạo đà cho các bước tăng trưởng của những năm tiếp theo Trong năm 2009 hoạt động của các công ty chứng khoán (CTCK) được thể hiện trên các mặt sau:

Thứ nhất, mạng lưới, quy mô hoạt động của CTCK ngày càng được mở

rộng, với 80 chi nhánh, 42 phòng giao dịch đang hoạt động tập trung ở nhiều tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, T.p Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Nha Trang, Cần Thơ, Hải Phòng Cùng với sự phát triển mạng lưới hoạt động, số lượng tài khoản giao dịch tại các CTCK cũng tăng mạnh với tổng số tài khoản trên 800.000 tài khoản, tăng 1,5 lần so với năm 2008

Thứ hai, Cùng với sự gia tăng khối lượng giao dịch, các CTCK đã thực hiện

trên 5.000 hợp đồng tư vấn và bảo lãnh phát hành Tính đến cuối năm 2009

đã có gần 80 CTCK hoạt động có lãi trong năm 2009 Quy mô vốn hoạt động của các CTCK ngày càng được nâng cao Tính đến cuối năm 2009, tổng số vốn điều lệ của các CTCK là 24.855 tỷ đồng, tăng 9,4% so với năm 2008

Về quy mô thị trường, tính đến ngày 01/10/2009 thị trường đã có tổng cộng trên 700.000 tài khoản, trong đó đã có tới trên 600 tài khoản tổ chức nước ngoài và gần 12.200 tài khoản cá nhân nước ngoài đã được đăng ký

Thứ ba, Số lượng người hành nghề kinh doanh chứng khoán ngày càng tăng

Tính đến nay, UBCKNN đã cấp chứng chỉ người hành nghề chứng khoán cho 2.744 nhân viên

Trang 18

Đến tháng 3 năm 2010, Việt Nam đang có 105 công ty chứng khoán đang

hoạt động…(phụ lục) Có thể kể đến một số công ty chứng khoán hàng đầu như công ty chứng khoán Sài Gòn (SSI), công ty chứng khoán Thăng Long(TSC)

Giai đoạn khó khăn nhất của TTCK Việt Nam có thể nói là đã đi qua, thị trường đã xác lập “đáy” ở mức 237 điểm vào ngày 27/2/2009 Từ thời điểm

đó đến nay thị trường đã có những bước tăng điểm ấn tượng, kèm theo đó là khối lượng giao dịch cũng đã tăng vọt, thị trường đã thu hút được sự quan tâm trở lại của đại đa số các nhà đầu tư Với sự khởi sắc trở lại của thị trường, chắc chắc các CTCK sẽ chuyển từ trạng thái cầm cự sang đẩy mạnh họat động Vì thế trong thời gian tới, sự cạnh tranh sẽ trở nên khốc liệt hơn trong việc chia sẻ thị phần giữa các công ty chứng khoán Đánh giá về hoạt động môi giới, thị trường sẽ dần hướng đến các hình thức đầu tư phái sinh như futures, options, giao dịch ký quỹ, và kể cả bán khống nếu Nhà nước cho phép

Như vậy, sự cạnh tranh giữa các CTCK sẽ tập trung đến việc cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích như các loại đòn bẩy tài chính cho khách hàng, cũng như nhanh chóng đưa ra các dịch vụ mới khi được luật pháp cho phép

Điều này đòi hỏi các công ty chứng khoán phải năng động, linh hoạt trong việc huy động các nguồn vốn và có hệ thống công nghệ hiện đại kiểm soát tốt, giảm thiểu rủi ro cho chính công ty cũng như khách hàng

Trang 19

Về hoạt động tư vấn cho khách hàng tổ chức, các CTCK cũng sẽ đóng vai trò chủ động hơn trong việc cung cấp các nghiệp vụ và nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ cung cấp

Đặc biệt phải kể đến các nghiệp vụ tài chính bậc cao và phức tạp như tư vấn M&A, bảo lãnh phát hành trên thị trường trong nước cũng như quốc tế, niêm yết cổ phiếu trên thị trường quốc tế

Như vậy, các công ty chứng khoán phải nhanh chóng tìm hiểu về khung pháp lý, chuẩn mực các quy trình nghiệp vụ, nâng cao tiềm lực tài chính, đầu

tư nguồn nhân lực có chất lượng cao để hòa nhập nhanh chóng cùng sự phát triển của thị trường chứng khoán trong khu vực và trên thế giới

Phần 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÔNG TY CHỨNG

KHOÁN

A- NGHIỆP VỤ MÔI GIỚI

I- Lý thuyết nghiệp vụ môi giới

1- Khái niệm

Môi giới chứng khoán là một hoạt động kinh doanh của công ty chứng khoán trong đó công ty chứng khoán đại diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó

Trang 20

Khi thực hiện nghiệp vụ môi giới, công ty chứng khoán phải mở tài khoản giao dịch chứng khoán và tiền cho từng khách hàng trên cơ sở hợp đồng ký kết giữa khách hàng và công ty.

2-Phân loại

Tùy theo qui định của mỗi nước, cách thức hoạt động của từng Sở giao dịch chứng khoán mà người ta có thể phân chia thành nhiều loại nhà môi giới khác nhau như sau :

° Môi giới dịch vụ (Full Service Broker) :

Là loại môi giới có thể cung cấp đầy đủ dịch vụ như mua bán chứng khoán, giữ hộ cổ phiếu, thu cổ tức, cho khách hàng vay tiền, cho vay cổ phiếu để bán trước, mua sau và nhất là có thể cung cấp tài liệu, cho ý kiến cố vấn trong việc đầu tư

° Môi giới chiết khấu (Discount Broker):

Là loại môi giới chỉ cung cấp một số dịch vụ như mua bán hộ chứng khoán Đối với môi giới loại này thì khoản phí và hoa hồng nhẹ hơn môi giới toàn dịch vụ vì không có tư vấn, nghiên cứu thị trường

° Môi giới ủy nhiệm hay môi giới thừa hành:

Đây là những nhân viên của một công ty chứng khoán thành viên của một

Sở giao dịch, làm việc hưởng lương của một công ty chứng khoán và được

bố trí để thực hiện các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay cho khách hàng của công ty trên sàn giao dịch Vì thế họ có tên chung là môi giới trên sàn (Floor Broker) Các lệnh mua bán được chuyển đến cho các nhà môi giới thừa hành này có thể tư văn phòng công ty, cũng có thể từ các môi giới đại diện (Registered Representative)

Trang 21

° Môi giới độc lập hay môi giới 2 đô la:

Môi giới độc lập (Independent Broker) chính là các môi giới làm việc cho chính họ và hưởng hoa hồng hay thù lao theo dịch vụ Họ là một thành viên

tự bỏ tiền ra thuê chỗ tại Sở giao dịch (sàn giao dịch) giống như các công ty chứng khoán thành viên

Họ chuyên thực thi các lệnh cho các công ty thành viên khác của Sở giao dịch Sở dĩ có điều này là tại các Sở giao dịch nhộn nhịp, lượng lệnh phải giải quyết cho khách hàng của các công ty chứng khoán đôi khi rất nhiều, các nhân viên môi giới của các công ty này không thể làm xuể hoặc vì một

lý do nào đó vắng mặt Lúc đó các công ty chứng khoán sẽ hợp đồng với các nhà môi giới độc lập để thực hiện lệnh cho khách hàng của mình và trả cho người môi giới này một khoản tiền nhất định

Ban đầu các nhà môi giới độc lập được trả 2 đô la cho một lô tròn chứng khoán (100 cổ phần) nên người ta quen gọi là “môi giới 2 đô la”

Môi giới độc lập cũng được gọi là môi giới trên sàn (floor broker), họ đóng vai trò không khác gì một môi giới thừa hành, chỉ khác là họ có tư cách độc lập – tức họ không đại diện cho bất kỳ một công ty chứng khoán nào cả

° Nhà môi giới chuyên môn:

Các Sở giao dịch chứng khoán thường qui định mỗi loại chứng khoán chỉ được phép giao dịch tại một điểm nhất định gọi là quầy giao dịch (Post), các quầy này được bố trí liên tiếp quanh sàn giao dịch (floor) Trong quầy giao dịch có một số nhà môi giới được gọi là nhà môi giới chuyên môn hay chuyên gia Các chuyên gia này chỉ giao dịch một số loại chứng khoán nhất định Nhà môi giới chuyên môn thực hiện 2 chức năng chủ yếu là thực hiện các lệnh giao dịch và lệnh thị trường

Trang 22

Tại VN các công ty chứng khoán đều đăng ký thực hiện nghiệp vụ này và là nghiệp vụ quan trọng nhất trong giai đoạn hiện nay Qua 5 năm hoạt động, TTCK VN đã có những bước phát triển tuy không tạo được những bước đột phá nhưng là sự phát triển vững chắc đều đặn, trong đó hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán đã từng bước song hành với hoạt động giao dịch trên thị trường

Để thu hút người đầu tư, các công ty chứng khoán đã đầu tư khá tốt cơ sở vật chất cho hoạt động môi giới như xây dựng hệ thống sàn giao dịch rộng rãi với đầy đủ các thiết bị công bố thông tin như bảng giao dịch điện tử, bảng công bố thông tin, xây dựng website để giúp người đầu tư tiếp cận thông tin mọi lúc mọi nơi

Ngoài ra, các công ty chứng khoán đã thực hiện một số chính sách nhằm thu hút người đầu tư đến với công ty, như cung cấp dịch vụ tư vấn đầu tư miễn phí, đa dạng các hình thức nhận lệnh giao dịch (qua điện thoại, fax ), áp dụng chính sách thu phí linh hoạt theo hướng khuyến khích giao dịch (giảm phí môi giới cho khách hàng có giá trị giao dịch lớn theo từng lệnh hoặc theo cộng dồn định kỳ theo khoảng thời gian ), kết hợp với các ngân hàng thương mại cung cấp thêm một số dịch vụ phụ trợ cho khách hàng (cầm cố chứng khoán, ứng trước tiền bán chứng khoán) Nhờ đó, số lượng người đầu

tư đến mở tài khoản giao dịch tại các công ty chứng khoán và giá trị giao dịch chứng khoán trong thời gian qua đã không ngừng tăng lên

Có thể nói, đây là nghiệp vụ được các công ty chứng khoán thực hiện tốt nhất trong giai đoạn đầu khi thị trường đi vào hoạt động, các công ty chứng khoán đã thể hiện được vai trò trung gian trên TTCK, kết nối giữa người đầu

tư có vốn với các doanh nghiệp có nhu cầu huy động vốn cho đầu tư phát triển

Trang 23

II-Thực trạng Hoạt động môi giới tại VN

1- Thực trạngvề hoạt động môi giới

có 24.525 tài khoản, chiếm 9,61% Bên cạnh đó, một số CtyCK tuy mới triển khai hoạt động nhưng đã thu hút được khá nhiều nhà đầu tư, như SBS đạt 7.720 tài khoản, chiếm 3,03% thị phần, ABS đạt 6.104 tài khoản, chiếm 2.39% thị phần, CtyCK Vndirect đạt 5.195 tài khoản, chiếm 2.04% thị phần

Tổng giá trị giao dịch chứng khoán của nhà đầu tư trong tháng 6/2007 qua các CtyCK đạt 25.196 tỷ đồng Những CtyCK có doanh số môi giới giao dịch lớn đa số là những công ty đã có nhiều năm hoạt động, có nhiều nhà đầu tư mở tài khoản (xem bảng dưới đây)

Công ty chứng

khoán

Doanh số giao dịch tháng 6/2007

Thị phần giao dịch tháng 6/2007

Trang 24

Sự khác biệt tiếp tục thể hiện rõ về thị phần, tính theo khối lượng mua – bán

và doanh số giao dịch Theo thống kê của HoSE, 10 CTCK lớn nhất nắm gần 50% thị phần môi giới cổ phiếu trong nước, trong đó dẫn đầu là CTCK Sài Gòn (SSI) với 8,53%

Vị trí thứ hai là VCBS với 6,11% Đối với mảng môi giới cổ phiếu cho nhà đầu tư nước ngoài, 10 công ty lớn nhất nắm trên 87% thị phần, trong đó SSI đứng số 1 với 36,91% thị phần, gấp đôi thị phần của công ty đứng thứ hia là BVSC với 18,64% thị phần

Trong mảng môi giới chứng chỉ quỹ, SSI tiếp tục đứng đầu khi nắm 10,42% thị phần môi giới trong nước và 48,03% thị phần môi giới nước ngoài Mảng môi giới trái phiếu, VCBS đứng đầu khi nắm 27,92% thị phần môi giới

Trang 25

trong nước và 65,78% thị phần môi giới nước ngoài

 Năm 2009

Năm 2009, TTCK Việt Nam trải qua nhiều biến động, nhưng thanh khoản toàn thị trường được cải thiện mạnh mẽ khi áp dụng phương thức giao dịch không sàn Đây cũng là năm sự cạnh tranh giữa các CTCK diễn ra gay gắt hơn bao giờ hết

Số liệu thống kê về thị phần môi giới của 10 CTCK dẫn đầu trên Sở Giao dịch chứng khoán TP HCM (HOSE) vừa công bố Đằng sau sự vinh danh

10 CTCK là các chiêu thức giành thị phần, sự khác biệt về chiến lược phát triển và trên hết là sự khác biệt về hiệu quả kinh doanh 2009 - vấn đề vẫn chưa được công ty nào chính thức công bố

Trang 26

Đây là năm thứ hai HOSE công bố công khai thị phần môi giới của các CTCK Tuy nhiên, giữa hai lần công bố có một sự khác biệt nhỏ về cách tập hợp số liệu: trong lần đầu, số liệu thị phần được chia nhỏ theo từng tiêu chí tốp 10 môi giới cổ phiếu, tốp 10 môi giới chứng chỉ quỹ, tốp 10 môi giới trái phiếu (chia nhỏ cho 2 mảng dành cho khối NĐT trong nước và nước ngoài) Điều này khác với lần hai- số liệu được công bố dạng tổng hợp Do đó, việc cân nhắc so sánh vị trí của từng CTCK trong năm qua là khá khó khăn

Năm 2008, CTCK Sài Gòn (SSI) đứng đầu trong tất cả các mảng môi giới trong nước và ngoài nước, trừ trái phiếu Sang năm 2009, ngôi vương mà SSI nắm giữ trong nhiều năm liền đã nhường chỗ cho một gương mặt mới - CTCK Thăng Long (TSC) Đây cũng là năm đầu tiên TSC vươn lên vị trí cao nhất, dù trước đó Công ty thường xuyên có mặt trong tốp 10 Điều tương

tự với CTCK Sacombank (SBS) Năm 2008, SBS có mặt trong topten,

nhưng chưa gây nhiều ấn tượng Bất ngờ năm 2009, một số tháng SBS vươn lên dẫn đầu thị phần môi giới, có quý ở vị trí số 2, kết thúc năm ở vị trí số 3 Xét về mức độ thăng tiến, bên cạnh các công ty gây ấn tượng mạnh từ TSC

và SBS, nhiều sự tiến bộ còn đến từ HSC, FPTS, KEVS và VIS Trong đó HSC thể hiện sự ổn định đáng kể, FPTS và KEVS tỏ ra không hề hụt hơi trong cuộc cạnh tranh với nhiều CTCK có tên tuổi, thâm niên khác VIS là một bất ngờ khi có mặt trong topten vào thời điểm cuối năm

3 CTCK còn lại trong Top 10, nhiều hay ít đều có sự thoái lui so với chính mình của 1 năm trước đó Tuy nhiên, xét rộng ra trong Top 20, những vị trí cuối của "Top Ten" và 10 CTCK tiếp theo không có nhiều chênh lệch về thị phần, sự đổi ngôi có thể diễn ra bất cứ lúc nào

Con số thị phần của các CTCK cho thấy điều gì? Đầu tiên các CTCK tiến bộ

Trang 27

bứt phá mạnh mẽ trong năm 2009 đang phát triển theo hướng "cú nhảy lớn": hoạt động môi giới được đẩy mạnh trên nguyên tắc đầu cơ cao bởi hoạt động

tư vấn từ broker Đòn bẩy tài chính tập trung ở nhóm khách hàng VIP cũng được các công ty này triển khai mạnh

Thứ hạng thị phần được cải thiện nhanh chóng theo tốc độ vòng quay của tiền nhiều hơn là số tài khoản được mở Ở hướng thứ hai, một số CTCK phát triển theo hướng bền vững, chắc chắn và đồng bộ hơn, từ nhân sự, công nghệ tới quản trị rủi ro Một số công ty có định hướng sẽ xác lập vị thế ổn định trong vài năm tới Ở nhóm này, các CTCK có sự tham khảo kỹ những

mô hình thành công và linh nghiệm từ nước ngoài

Phần còn lại trong tốp 10 là những CTCK từng có tên tuổi, có thâm niên hoạt động, nhưng chiến lược phát triển không rõ ràng, hoặc CTCK đang trực thuộc pháp nhân khác, nên thiếu quyền tự quyết trong hoạt động, hoặc vẫn đơn giản xoay xở trong tấm áo chật của cơ chế Đây là lý do chính của

do các CTCK này chỉ tư vấn một chiều (thị trường sẽ lên)

Vòng xoáy giải chấp trên diện rộng khi thị trường đi xuống đã đẩy nhiều khách hàng VIP của CTCK này phải "nhảy cóc” trở thành khách hàng

thường của CTCK khác! Hướng phát triển nhanh có thể đẩy công ty rơi vào cảnh "bạo phát, bạo tàn", vị giám đốc này nhận định Tuy nhiên, ở nhóm thứ

Trang 28

hai, sự thận trọng cũng khiến các công ty này bỏ lỡ một số cơ hội để bứt xa hơn

Thị phần không đồng nghĩa với gia tăng lợi nhuận

Tiêu chí thị phần không đồng nghĩa với lợi nhuận của các CTCK Điều này

có hai lý do, thứ nhất hoạt động tự doanh của các CTCK vẫn chiếm một tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu lợi nhuận năm 2009 Lý do thứ hai, tế nhị hơn Một số CTCK lớn hướng phát triển thị phần tập trung vào khách hàng VIP, khách hàng NĐT tổ chức hay NĐT nước ngoài

Năm 2009, vai trò của NĐT tổ chức và NĐT nước ngoài khá mờ nhạt, bộ phận tự doanh và khách hàng VIP của các CTCK là hạt nhân chính châm ngòi cho các đợt bùng nổ của thị trường Tuy nhiên, khách hàng VIP được hưởng khá nhiều ưu đãi, chẳng hạn phí môi giới thấp (0,15 - 0,2%)

Một số CTCK còn cho khách hàng VIP giao dịch cùng loại cổ phiếu trong ngày (tài khoản thứ 2 là tài khoản được ủy quyền), nhưng công ty chỉ thu phí một chiều Vì thế, theo giới quan sát, sự bùng nổ về thị phần môi giới của CTCK không đồng nghĩa với sự gia tăng của lợi nhuận Trong thời gian sắp

Trang 29

tới, khi báo cáo tài chính của khối CTCK được công bố, sẽ rất thú vị khi NĐT có thể đánh giá hiệu quả thực sự trong hoạt động tư vấn môi giới tại các CTCK qua chỉ tiêu lợi nhuận.

2- Hạn chế về hoạt động môi giới

Hoạt động môi giới tiến triển chậm chạp cũng phản ảnh những hạn chế chủ quan và khách quan như sau:

- Về phía công ty chứng khoán: hoạt động môi giới tuy được hiểu là thực hiện theo lệnh của khách hàng, nhưng chính tình trạng giới hạn về năng lực

và kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên hoạt động môi giới đã khiến nghiệp

vụ này chưa thật sự đáp ứng được sự mong đợi của khách hàng Chất lượng

tư vấn đầu tư trực tiếp của công ty chứng khoán đi kèm với hoạt động môi giới chưa thật sự thuyết phục các nhà đầu tư giao dịch thường xuyên và tăng doanh số giao dịch, bởi vì họ vẫn chưa thấy được lợi ích thiết thực và tính hiệu quả cao của hoạt động này

- Về phía nhà đầu tư : Công tác quảng bá tuyên truyền về TTCK hoạt động chưa đồng bộ, chưa đúng tầm nên chưa đủ sức thuyết phục vận động người dân tham gia TTCK Chưa thay đổi được thói quen tập quán đầu tư của người dân VN Họ vẫn nhìn TTCK với một vẻ e ngại và xa lạ Vấn đề đưa kiến thức TTCK quảng bá sâu rộng vào các tầng lớp dân chúng vẫn chưa làm được Trong lúc đó một số nhà đầu tư đã từng tiếp cận với TTCK thì cũng chỉ coi việc đầu tư vào TTCK là một thử nghiệm, chưa thật sự tin tưởng vào tính hiệu quả của thị trường Do đó, vấn đề nhận thức của người

Trang 30

dân là một hạn chế lớn nhất đối với hoạt động của TTCK hiện nay và ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán

- Về phiá thị trường còn những tồn tại trong hoạt động giao dịch cũng làm hạn chế hoạt động môi giới của công ty chứng khoán như :

Thứ nhất là về phương thức khớp lệnh Việc áp dụng hệ thống khớp lệnh

định kỳ rất tốt cho các nhà đầu tư trong giai đoạn đầu tham gia thị trường, còn bỡ ngỡ Tuy nhiên, phương thức khớp lệnh này cũng hạn chế nhà đầu tư đặt lệnh một khi thị trường giao dịch yếu, vì họ có thể tính toán được lượng cung và cầu hiện tại căn cứ vào khối lượng khớp lệnh dự kiến Việc làm này

sẽ có ảnh hưởng rất lớn cho các phiên giao dịch tiếp theo hoặc sâu xa hơn nữa là tạo cung cầu giả tạo cho thị trường

Thứ hai là về hệ thống giao dịch tại trung tâm Hệ thống giao dịch hiện tại

được áp dụng tại Trung tâm giao dịch chỉ có thể quản lý tối đa 4.000 loại chứng khoán, xử lý tối đa 300.000 lệnh trong một phiên giao dịch và kết nối với khoảng 30 công ty chứng khoán Tuy nhiên hạn chế lớn nhất của hệ thống giao dịch này là do hệ thống giao dịch của Thái Lan cung cấp chỉ có một số tính năng nhất định, về lâu dài không thế đáp ứng được những yêu cầu phát triển của thị trường nói chung và của các công ty chứng khoán nói riêng Đặc biệt là khi triển khai các giải pháp mang tính kỹ thuật cho thị trường

Thứ ba là về hệ thống thanh toán bù trừ Hệ thống này vẫn còn nhiều công

đoạn thực hiện thủ công như khâu nhập dữ liệu vào, khâu chuyển chứng từ thanh toán cho các công ty chứng khoán Do vậy khi khối lượng giao dịch tăng lên sẽ dễ xảy ra sai sót, cập nhật không kịp thời làm ảnh hưởng đến các giao dịch của nhà đầu tư

Trang 31

3- Giải pháp phát triển nghiệp vụ môi giới

Trong số các nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán thì hoạt động môi giới là quan trọng nhất và phổ biến nhất, đóng góp quan trọng cho việc tăng tính thanh khoản cho thị trường và mở rộng qui mô giao dịch thị trường Hoạt động môi giới của các công ty chứng khoán VN thời gian qua được đánh giá

là nghiệp vụ được các công ty chứng khoán thực hiện tốt nhất trong giai đoạn đầu khi TTCK mới đi vào hoạt động Các công ty chứng khoán đã thể hiện được vai trò trung gian trên TTCK, tuy nhiên, để phát triển thêm nghiệp

vụ này công ty chứng khoán cần phải thực hiện các biện pháp sau:

° Mở rộng giao dịch qua mạng Internet

Giao dịch chứng khoán qua mạng Internet là một hình thức phổ biến trên thế giới hiện nay, nhưng ở nước ta hình thức này chỉ mới xuất hiện, còn mới mẻ trong công chúng và các nhà đầu tư Ngoài ra, các công ty chứng khoán cũng chưa chú trọng nhiều vào việc triển khai dịch vụ này Giao dịch qua mạng có ưu điểm vượt trội là thuận lợi cho nhà đầu tư không có điều kiện đến trực tiếp giao dịch tại công ty chứng khoán vẫn có thể giao dịch bình thường

Với sự phát triển của công nghệ thông tin hiện đại, các công ty hoàn toàn có thể triển khai hoạt động này Để triển khai giao dịch qua mạng ngày càng phát triển, thu hút nhiều nhà đầu tư cần phải:

- Có một văn bản pháp qui qui định cụ thể về hình thức giao dịch này Kinh nghiệm ở Trung Quốc cho thấy khi các công ty chứng khoán bắt đầu triển khai nghiệp vụ giao dịch chứng khoán qua mạng thì cơ quan quản lý TTCK Trung Quốc đã ban hành ngay văn bản “Biện pháp thi hành tạm thời về quản

lý dịch vụ môi giới chứng khoán trên mạng Internet” (năm 2000) Nội dung

Trang 32

chính của văn bản qui định về hình thức dịch vụ, phương thức vận hành khi tham gia giao dịch trên mạng Internet Văn bản ngay lập tức đã kích thích các nhà đầu tư và các công ty chứng khoán sử dụng hỗ trợ giao dịch qua mạng Chỉ một năm sau đó hơn 60% các công ty chứng khoán tại thị trường Trung Quốc đã đăng ký tham gia và đủ tư cách kinh doanh dịch vụ này Hiện tại Trung Quốc có gần 120 công ty chứng khoán

Giao dịch chứng khoán qua mạng chắc chắn sẽ được ưa chuộng trong tương lai vì đây sẽ là một cách thức các công ty chứng khoán có thể cạnh tranh về dịch vụ môi giới Phương thức này cũng sẽ giúp thu hút ngày càng có nhiều nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào hoạt động của thị trường

° Xây dựng mô hình hoạt động môi giới trên cơ sở mở rộng thêm một cấp cho các nhà môi giới

Mô hình này sẽ tương tự như mô hình tổ chức đại lý của các công ty bảo hiểm Với mô hình mới này , có thêm sự xuất hiện của môi giới đại lý – môi giới phụ (Sub-brokers) Nhà đầu tư lúc này sẽ có 2 kênh đặt lệnh là thông qua môi giới đại lý hoặc thông qua môi giới tại công ty

Các nhà môi giới đại lý hay môi giới phụ sẽ là những người trực tiếp đi giới thiệu hoạt động giao dịch chứng khoán, tìm kiếm khách hàng mới cho các công ty Họ là những người nắm bắt các thông tin của nhà đầu tư chính xác, khả năng tiếp cận các nhà đầu tư cao hơn môi giới tại công ty

° Thiết lập các phòng giao dịch, đại lý nhận lệnh trên cơ sở tận dụng lợi thế của chính ngân hàng mẹ

Trong số 13 công ty chứng khoán hoạt động trên thị trường có 8/13 công ty chiếm hơn 60% là các công ty được thành lập từ các ngân hàng Điểm lợi thế cho các công ty này là hoạt động của các chi nhánh, các quỹ tiết kiệm khắp

Trang 33

các tỉnh, thành phố trong cả nước Tận dụng lợi thế này trong việc mở các chi nhánh công ty , đại lý giao dịch , đại lý nhận lệnh dựa trên cơ sở các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm hiện có của ngân hàng mẹ sẽ thu hút các công

ty chứng khoán nói riêng và thị trường nói chung một lượng rất lớn các nhà đầu tư giao dịch tiềm năng trên khắp cả nước, không chỉ tập trung ở 2 thành phố lớn như hiện nay

Mặt khác, các công ty chứng khoán có thể tận dụng hệ thống đường truyền nội bộ của ngân hàng mẹ trong việc chuyển và nhận lệnh Bằng cách này sẽ giúp công ty tiết kiệm được chi phí phát sinh

° Nâng cao hơn nữa chất lượng hoạt động của các dịch vụ hỗ trợ hoạt động môi giới chứng khoán

Hoạt động tư vấn hiệu quả sẽ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động môi giới ví nó cho nhà đầu tư thấy được tính lợi ích và hiệu quả của việc đầu tư vào chứng khoán Việc tăng số lượng tài khoản của các nhà đầu tư cũng như việc ra lệnh mua bán thường xuyên sẽ làm phát triển cả về chất lẫn lượng của môi giới chứng khoán Muốn vậy, công tác đào tạo nâng cao năng lực cho nhân viên tác nghiệp là rất cần thiết

Ngoài ra có thể phát triển thêm các dịch vụ hỗ trợ khác như hình thức ứng trước tiền bán chứng khoán, cho vay cầm cố chứng khoán, cho vay bảo chứng, cho vay thế chấp bất động sản … mà thực chất là hoạt động tín dụng, các công ty chứng khoán có thể kết hợp chặt chẽ với các ngân hàng trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ này theo hướng nhanh gọn về thủ tục, chặt chẽ về pháp lý, gọn nhẹ và nhanh chóng cho nhà đầu tư sẽ khiến cho nhà đầu tư kịp thời quay nhanh vòng vốn của mình, góp phần tăng cao doanh số giao dịch

Trang 34

° Xây dựng chính sách phí và lệ phí cho nhà đầu tư mang tính cạnh tranh lành mạnh

Dựa trên thực tiễn thị trường và khả năng cạnh tranh giữa các công ty , cần xây dựng chính sách thu phí hoạt động môi giới theo hướng:

- Mức phí tối thiểu: dùng để hạn chế các giao dịch nhỏ và không kinh tế , mức phí này là cách tốt nhất để từ chối việc thực hiện giao dịch nhỏ

- Mức phí theo tỷ lệ giao dịch: để tránh sự đồng nhất về mức phí giữa nhà đầu tư lớn và nhà đầu tư nhỏ Chính sách thu phí này rất hiệu quả trong trường hợp ta cần khuyến khích giao dịch trong giai đoạn đầu để phát triển nghiệp vụ môi giới Khi nghiệp vụ đã phát triển thì có thể thu theo mức cố định

- Mức phí tối đa: cần thiết để khuyến khích các giao dịch lớn, mức phí này

có thể áp dụng cho các định chế tài chính chuyên nghiệp: ngân hàng, bảo hiểm, công ty quản lý quỹ …

° Cải tiến hệ thống giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán:

Tiến tới phương thức khớp lệnh liên tục, hiện đại hoá hệ thống giao dịch, hệ thống thanh toán bù trừ sẽ hạn chế tối đa những sai sót trong giao dịch, rút ngắn thời gian thanh toán Biện pháp này cũng chống lại hoạt động đầu cơ, làm giá, củng cố lòng tin cho các nhà đầu tư vào một thị trường công bằng

và hiệu quả

Các biện pháp này cũng phải được thực hiện đồng bộ với các biện pháp phát triển TTCK nói chung như hoàn thiện khung pháp lý, tăng cung cầu chứng khoán… thì mới có thể tạo ra những bước đột phá trên TTCK, trong đó việc hoàn thiện hoạt động môi giới chứng khoán đóng góp một vai trò quan trọng

Trang 35

 Chứng khoán niêm yết

 Chứng khoán chưa niêm yết

 Chứng khoán lô lẻ của khách hàng

2- Quy định về hoạt động tự doanh

+CTCK phải có đủ tiền và chứng khoán

+CTCK phải ưu tiên thực hiện lệnh của khách hàng trước

+Phải công bố cho khách hàng biết khi mình là đối tác trực tiếp trong giao dịch với khách hàng

+Nếu lệnh mua/ bán CK của khách hàng có thể ảnh hưởng lớn tới giá của loại chứng khoán đó, CTCK không được mua/ bán trước cùng loại chứng khoán đó cho chính mình hoặc tiết lộ thông tin cho bên thứ ba mua/ bán loại chứng khoán đó

+Khi khách hàng đặt lệnh giới hạn, công ty chứng khoán không được mua

và bán cùng loại chứng khoán đó cho mình ở mức giá bằng hoặc tốt hơn mức giá của khách hàng trước khi lệnh của khách hàng được thực hiện

+Khi tiến hành nghiệp vụ tự doanh, CTCK không được:

Trang 36

 Đầu tư vào cổ phiếu của công ty có sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán

 Đầu tư quá 20% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức niêm yết

 Đầu tư quá 15% tổng số cổ phiếu đang lưu hành của một tổ chức không niêm yết

3- Những yêu cầu trong hoạt động tự doanh

- Tách biệt quản lí

- Ưu tiên khách hàng

- Bình ổn thị trường

4- Quy trình nghiệp vụ tự doanh

Xây dựng chiến lược đầu tư

Khai thác, tìm kiếm các cơ hội đầu tư

Phân tích, đánh giá chất lượng cơ hội đầu tư

Trang 37

II- Thực trạng nghiệp vụ tự doanh

1- Tổng quan về hoạt động tự doanh ở Việt Nam

Thông thường chức năng chính của CTCK là cầu nối giữa nhà đầu tư với Trung tâm giao dịch chứng khoán, người chơi chứng khoán sẽ phải đến các CTCK để thực hiện một số thủ tục như mở tài khoản chứng khoán, lưu ký chứng khoán vào các CTCK Khi đã là thành viên của Trung tâm Lưu ký chứng khoán, sẽ phải mở tài khoản lưu ký của bản thân công ty tại Trung tâm này và đồng thời mở tài khoản lưu ký cho khách hàng của mình Tất nhiên với dịch vụ này, CTCK sẽ thu được một mức phí nhất định

Thực hiện đầu tư

Quản lí đầu tư và thu hồi vốn

Trang 38

Song, với nghiệp vụ tự doanh, CTCK sẽ tham gia mua bán chứng khoán như một tổ chức độc lập, bằng chính nguồn vốn của công ty, chứ không phải bằng tài khoản của khách hàng.

Tuy nhiên đây là một hoạt động khó khăn và phức tạp, hoạt động này có thể mang lại cho CTCK những khoản lợi nhuận lớn nhưng cũng có thể gây ra những tổn thất không nhỏ Để thực hiện nghiệp vụ này thành công, ngoài đội ngũ nhân viên phân tích thị trường có nghiệp vụ giỏi và nhanh nhậy với những biến động của thị trường, CTCK còn phải có một chế độ phân cấp quản lý và đưa ra những quyết định đầu tư hợp lý, trong đó việc xây dựng chế độ phân cấp quản lý và ra quyết định đầu tư là một trong những vấn đề then chốt, quyết định sự sống còn của CTCK

Ở các nước phát triển có thị trường chứng khoán phát triển thì nghiệp vụ tự doanh là rất phổ biến, bởi lẽ các CTCK có kinh nghiệm và quản lý tốt chẳng tội gì mà không kinh doanh chứng khoán

Một câu hỏi được đặt ra là: Ở Việt Nam vào thời điểm hiện nay các CTCK

sẽ thực hiện nghiệp vụ tự doanh như thế nào? Hoạt động tự doanh của các CTCK vào thời điểm hiện nay vẫn chưa thực sự nổi bật, các CTCK mới chỉ tập trung vào hoạt động môi giới Điều này có thể được nhìn nhận dưới rất nhiều lý do khác nhau như: tính chất phức tạp của hoạt động tự doanh hay các CTCK chỉ muốn tập trung hoàn thiện nghiệp vụ môi giới trước để từ đó rút kinh nghiệm triển khai các hoạt động có liên quan trong tương lai

2000 - 2002: các công ty tập trung vào tự doanh các cổ phiếu niêm yết

Trang 39

2003 – nay: các công ty tập trung vào trái phiếu và cổ phiếu niêm yết.

Năm 2004, cùng với môi giới, nghiệp vụ tự doanh cũng được các công ty chú trọng thực hiện, nhiều công ty tăng vốn điều lệ để được thực hiện nghiệp

vụ này như CTCK Sài Gòn tăng vốn 2 lần lên 20 tỷ đồng, CTCK Thăng Long tăng vốn từ 9 tỷ lên 43 tỷ đồng, CTCK Ngân hàng ĐT&PT và CTCK Ngân hàng NN&PTNT tăng vốn lên 100 tỷ để gia tăng tiềm lực tài chính, có điều kiện mở rộng các loại hình kinh doanh chứng khoán Tổng giá trị giao dịch và doanh thu tự doanh đã tăng mạnh qua các năm mặc dù mức độ có khác nhau ở từng công ty

2- Tự doanh ở các công ty chứng khoán 2007-2009

 Năm 2007

Tổng giá trị chứng khoán tự doanh tính tại thời điểm ngày 30/6/2007 đạt 9.667 tỷ đồng (tăng 4.671 tỷ đồng, tương đương 48,31% so với thời điểm 01/01/2007) Đối với 14 CtyCK đã hoạt động lâu năm, giá trị chứng khoán

tự doanh (2 công ty là SCBS và BSC không báo cáo số liệu này) tính tại thời điểm ngày 30/6/2007 đạt 5.997 tỷ đồng (tăng 1.000 tỷ đồng, tương đương 16,69% so với giá trị ngày 01/1/2007) Một số công ty có giá trị tự doanh cuối kỳ tăng khá nhanh và đạt giá trị cao

Đối với khối CtyCK được cấp phép vào cuối năm 2006, tại thời điểm đầu

kỳ, giá trị tự doanh không đáng kể vì công ty chưa triển khai hoạt động thì đến thời điểm 30/6/2007, giá trị chứng khoán tự doanh của khối công ty này

Trang 40

công ty đã đẩy nhanh nghiệp vụ tự doanh mặc dù hoạt động chưa lâu như: CtyCK ngân hàng Sacombank (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 571 tỷ đồng), CtyCK Vndirect (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 587 tỷ đồng), CtyCK Ngân hàng Đông Nam Á (giá trị chứng khoán tự doanh đạt 458 tỷ đồng).

 Năm 2008

Gần 70% trong số 26 công ty chứng khoán - CTCK (xem bảng) đã công bố báo cáo tài chính (BCTC) năm 2008 có lợi nhuận âm, một số công ty có mức thua lỗ rất lớn Số CTCK còn lại có lợi nhuận, nhưng không đáng kể, ngoại trừ SSI Tỷ lệ thua lỗ này khá tương đồng với cảnh báo mà ông Nguyễn Thanh Kỳ, Tổng thư ký Hiệp hội Kinh doanh chứng khoán (VASB)

đã đưa ra từ giữa năm 2008.

Những số lỗ khổng lồ

Bất ngờ nhất có lẽ là khoản lỗ lên tới 554 tỷ đồng của CTCK Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) Với khoản lỗ này, BSC chỉ còn vỏn vẹn 274 tỷ đồng vốn chủ sở hữu, trong khi vốn điều lệ của công ty này là

700 tỷ đồng (vào thời điểm cuối năm 2008, tổng các khoản trích lập dự phòng giảm giá của BSC là gần 633,5 tỷ đồng) Tuy nhiên, tỷ lệ lỗ/vốn điều

lệ của BSC chỉ là 79,16%, không phải là mức thua lỗ lớn nhất Xét theo tiêu chí này, kỷ lục tạm thời thuộc về CTCK Bảo Việt (BVSC) Với khoản lỗ

452 tỷ đồng trên vốn điều lệ 451 tỷ đồng, tương đương 100,2% vốn điều lệ,

Ngày đăng: 15/05/2015, 15:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: số CTCK tính đến tháng 6 / 2003 - ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Bảng 1 số CTCK tính đến tháng 6 / 2003 (Trang 14)
Bảng 2: số CTCK tính đến tháng 6/ 2005 - ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Bảng 2 số CTCK tính đến tháng 6/ 2005 (Trang 15)
Bảng 4: Doanh số giao dịch và thị phần một số CTCK. Đơn vị: tỷ đồng - ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Bảng 4 Doanh số giao dịch và thị phần một số CTCK. Đơn vị: tỷ đồng (Trang 24)
Hình  thức  bảo  lãnh - ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
nh thức bảo lãnh (Trang 55)
Bảng 9: Số lượng CTCK ở một số nước Châu Á - Nguồn: Uỷ ban Chứng - ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Bảng 9 Số lượng CTCK ở một số nước Châu Á - Nguồn: Uỷ ban Chứng (Trang 82)
Bảng 10 Số lượng CTCK qua các năm-  Nguồn: Tổng hợp từ HOSE và   HASTC - ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Bảng 10 Số lượng CTCK qua các năm- Nguồn: Tổng hợp từ HOSE và HASTC (Trang 86)
Bảng 10: Vốn điều lệ của các CTCK năm 2008- Nguồn: Tổng hợp từ HOSE - ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN
Bảng 10 Vốn điều lệ của các CTCK năm 2008- Nguồn: Tổng hợp từ HOSE (Trang 88)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w