1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam từ kinh nghiệm ở các nước trên thế giới

120 814 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 635,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá X về tăng cường sựlãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu ban

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

––––––

ĐINH QUỲNH MÂY

XÂY DỰNG CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM Ở

CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

––––––

ĐINH QUỲNH MÂY

XÂY DỰNG CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM TỪ KINH NGHIỆM Ở

CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI

Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người

Mã số : Chương trình đào tạo thí điểm

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: GS.TSKH ĐÀO TRÍ ÚC

HÀ NỘI – 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Đinh Quỳnh Mây

Trang 4

M C L CỤC LỤC ỤC LỤCNỘI DUNG

Tran g

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Luận văn

2 Tình hình nghiên cứu luận văn

3 Mục tiêu và nội dung nghiên cứu của luận văn

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5 Những nét mới của Luận văn

6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của Luận văn

7 Kết cấu của Luận văn

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN TIẾP CẬN

THÔNG TIN VÀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG

TIN

1 Quan niệm về cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

1.1 Quyền tiếp cận thông tin – quyền cơ bản của công dân

1.2 Khái niệm và nội dung cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

2 Kinh nghiệm một số nước trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông

tin của người dân

2.1 Hoàn thiện thể chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

2.1.1 Phạm vi cung cấp thông tin

2.1.2 Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin

2.1.3 Chủ thể cung cấp thông tin – Các cơ quan có nghĩa vụ cung cấp

thông tin

2.1.4 Trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin

2.1.5 Phí tiếp cận thông tin

Trang 5

2.2 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc bảo đảm quyền tiếpcận thông tin của người dân

2.3 Kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin

2.4 Giải quyết khiếu nại, khiếu kiện quyền tiếp cận thông tin

2.4.1.Cơ sở giải quyết khiếu nại, khiếu kiện

2.4.2 Quy trình giải quyết khiếu nại, khiếu kiện

2.5 Một số biện pháp khác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin được thựcthi

2.5.1 Các biện pháp khuyến khích thực thi pháp luật về quyền tiếp cậnthông tin

2.5.2 Biện pháp bảo vệ người cung cấp thông tin

2.5.3 Tăng cường các biện pháp chế tài đối với vi phạm quyền tiếpthông tin

2.5.4 Ứng dụng khoa học công nghệ thông tin

KẾT LUẬN CHƯƠNG ICHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾPCẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

2.1 Cơ sở pháp lý của quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam

2.2 Thực trạng pháp luật về bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở ViệtNam

2.2.1 Giới hạn của quyền tiếp cận thông tin

2.2.2 Các hình thức công khai thông tin và cách thức cung cấp thông tin2.2.3 Quyền yêu cầu cung cấp thông tin của người dân

2.2.4 Trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước

2.2.5 Trình tự thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin

2.2.6 Cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về tiếp cận thông tin

2.3 Thực trạng tiếp cận thông tin trong một số lĩnh vực ở Việt Nam2.3.1 Tiếp cận thông tin trong lĩnh vực quy hoạch đô thị

2.3.2 Tiếp cận thông tin trong lĩnh vực đất đai

Trang 6

2.4 Những khó khăn, hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông

tin và nguyên nhân

2.4.1 Nhận thức về quyên tiếp cận thông tin còn hạn chế

2.4.2 Thế chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin còn nhiều hạn chế, bất

cập

2.4.3 Thiếu các điều kiện bảo đảm cho việc cung cấp thông tin

2.4.4 Nguyên nhân của những khó khăn, hạn chế trong việc bảo đảm

quyền tiếp cận thông tin

KẾT LUẬN CHƯƠNG IICHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, CÁC GIẢI PHÁP XÂY DỰNG VÀ

HÒAN THIỆN CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

Ở VIỆT NAM

3.1 Quan điểm, định hướng xây dựng và hòan thiện cơ chế bảo đảm

quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam

3.2 Các giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp

cận thông tin ở Việt Nam

3.2.1 Khẩn trương xây dựng và ban hành Luật Tiếp cận thông tin

3.2.2 Xây dựng cơ chế theo dõi, giám sát việc bảo đảm quyền tiếp cận

thông tin

3.2.3 Hoàn thiện cơ chế xử lý việc khiếu nại, tố cáo, khiếu kiện

3.2.4 Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin

3.2 5 Một số giải pháp khác bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

KẾT LUẬN CHƯƠNG IIITÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Hộp 2.1 Quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng thực phẩm

Hộp 2.2 Tiếp cận và khai thác thông tin sở hữu công nghiệp thuộc cơ sở dữ

liệu quốc giaHộp 2.3 Cung cấp thông tin cho báo chí

Hộp 2.4 Cung cấp thông tin đất đai từ hồ sơ địa chính

Hộp 3.1 Nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

Trang 7

Hộp 3.2 Các trường hợp từ chối yêu cầu cung cấp thông tin

Hộp 3.3 Cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin

Hộp 3.4 Khái niệm cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tin

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của Đề tài Luận văn

Quyền tiếp cận thông tin (right to access to information) không phải làkhái niệm mới Khái niệm này đã được đề cập trong nhiều văn kiện quốc tế,được hiến định hoặc trong các đạo luật về tiếp cận thông tin của các quốc gia.Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của công dân được tiếp cận các thôngtin được ban hành và lưu giữ tại các cơ quan, tổ chức công quyền, đặc biệt là các

cơ quan hành chính nhà nước Quyền tiếp cận thông tin được quy định tại Tuyênngôn thế giới về quyền con người năm 19481, Công ước quốc tế về các quyềndân sự và chính trị năm 1966, Công ước của Liên Hợp quốc về chống thamnhũng2, Tuyên bố Rio về Môi trường và phát triển và Công ước UNECE về tiếpcận thông tin môi trường và nhiều quốc gia trên thế giới hiến định và ban hànhcác đạo luật để đảm bảo việc thực hiện quyền này

Ở nước ta, quyền được thông tin của công dân, tổ chức được thể hiệntrong nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Cương lĩnh xâydựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và hiến địnhtrong Hiến pháp năm 1992 cũng như nhiều văn bản pháp luật liên quan trongcác lĩnh vực khác nhau về quy hoạch, về xây dựng, về đất đai, về các dự án, về

1 Khoản 2 Điều 19 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người quy định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnh vực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in hoặc dưới hình thức nghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựa chọn của họ"

2 Công ước này được Việt Nam phê chuẩn ngày 30 tháng 6 năm 2009.

Trang 8

vệ sinh, an toàn thực phẩm, về chi tiêu ngân sách, như Luật Phòng, chốngtham nhũng, Luật xây dựng, Luật đầu tư, Luật đất đai, Luật ban hành văn bảnquy phạm pháp luật, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồngnhân dân, Uỷ ban nhân dân, Luật ngân sách, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,phường, thị trấn Quyền tiếp cận thông tin tiếp tục được kế thừa và hiến địnhtrong Hiến pháp sửa đổi 2013, xác định đây là một quyền cơ bản của công dân

Tuy nhiên, qua nghiên cứu hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hiệnhành cho thấy việc thể chế và chi tiết hoá quyền được thông tin trong Hiến phápcòn chậm và chưa bao quát đầy đủ các lĩnh vực của cuộc sống; chưa có một cơchế pháp lý cụ thể, đơn giản để bảo đảm thực hiện quyền này một cách có hiệuquả Hầu hết các văn bản hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc xác định tráchnhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước cũng như quyền tự do thôngtin mang tính nguyên tắc, chủ yếu giao quyền tự quyết định việc cung cấp thôngtin cho cơ quan nắm giữ thông tin thuộc lĩnh vực mà cơ quan đó phụ trách và kếtquả là mỗi cơ quan, mỗi lĩnh vực lại có những quy định khác nhau về cách thức,quy trình cung cấp thông tin Điều này, cũng được thể hiện trên thực tế việc tiếpcận thông tin của người dân do các cơ quan nhà nước nắm giữ gặp nhiều khókhăn Thông tin được cung cấp thường không đầy đủ, thiếu chính xác và kịpthời Có tình trạng áp dụng pháp luật không thống nhất, thiếu bình đẳng donhững người thi hành pháp luật, công chức thực thi pháp luật thiếu thông tin;tình trạng tham nhũng, dễ dàng vi phạm pháp luật và sự tuỳ tiện của các cán bộ,công chức khi thừa hành công vụ cũng do thiếu thông tin Có tình trạng lợi dụngđặc quyền, đặc lợi của những người có điều kiện, vị trí công tác đã sử dụngthông tin để trục lợi, gây nên sự bất bình đẳng, công bằng trong xã hội, biểu hiện

rõ nhất là trên lĩnh vực đất đai, đền bù giải toả, dự án ưu đãi, các khoản tín dụng,cứu trợ thiên tai, kinh doanh, đầu tư Người dân thiếu ý thức về quyền của họ

và thiếu sự tin tưởng vào cơ chế minh bạch và cởi mở trong tiếp cận thông tin,

và do đó, cũng thiếu sự tham gia của tổ chức, công dân vào việc giám sát, phảnbiện để hoàn thiện các chính sách, quy định pháp luật của Nhà nước Việc cungcấp thông tin còn phụ thuộc vào ý chí chủ quan của cán bộ, công chức Việc

Trang 9

chia sẻ thông tin cũng rất hạn chế trong hệ thống các cơ quan nhà nước Các cán

bộ, công chức thường có tâm lý tránh rủi ro và kiểm soát thông tin, thiếu ý thức

và thiện ý trong việc thực hiện trách nhiệm cung cấp thông tin.3 Tại Báo cáo số135/BC-CP ngày 1/10/2010 của Chính phủ Báo cáo Sơ kết triển khai kế hoạch

số 900/UBTVQH11 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện Nghị quyết số48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống

pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 chỉ rõ “Một số

quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp quy định nhưng chưa được cụ thể hóa thành luật như quyền lập hội, quyền được thông tin ” 4 Nghị quyết Hội

nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng (Khoá X) về tăng cường sựlãnh đạo của Ðảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã đề ra

nhiệm vụ nghiên cứu ban hành Luật bảo đảm quyền được thông tin của công dân và coi đây là một trong các biện pháp phòng, chống tham nhũng của Đảng,

Thứ nhất, hầu hết các văn bản hiện hành mới chỉ dừng lại ở việc xác định

trách nhiệm cung cấp thông tin của các cơ quan nhà nước và trao quyền tự quyếtđịnh việc cung cấp thông tin cho các cơ quan nhà nước chứ chưa quy địnhquyền được chủ động yêu cầu cung cấp thông tin của công dân, tổ chức Điềunày dẫn đến tâm lý e ngại, thiếu chủ động của công dân, tổ chức khi yêu cầu cơquan nhà nước cung cấp thông tin

Thứ hai, các quy định hiện hành chưa bao quát hết các lĩnh vực cần cung

cấp thông tin trong đời sống kinh tế - xã hội, vì vậy, chưa phúc đáp đầy đủ nhucầu được cung cấp thông tin đang ngày càng gia tăng của công dân, tổ chức

3 Bộ Tư pháp, Báo cáo đánh giá tác động pháp luật Dự án Luật tiếp cận thông tin, 2010.

4Báo cáo số 135/BC-CP ngày 1/10/2010 của Chính phủ, Báo cáo Sơ kết triển khai kế hoạch số 900/UBTVQH11

của Uỷ ban thường vụ Quốc hội thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, tr 22.

5 Bộ Tư pháp, Tờ trình Dự án Luật tiếp cận thông tin, năm 2009.

Trang 10

Thứ ba, pháp luật hiện hành chưa thiết lập cơ chế pháp lý cụ thể để bảo

đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin một cách có hiệu quả, nhất là thiếu cácbiện pháp cần thiết bảo đảm thực hiện; thiếu quy định về quy trình, thủ tục cungcấp thông tin hoặc nếu có quy định thì còn thiếu rõ ràng, không thuận tiện choviệc tiếp cận thông tin của người dân

Dự án Luật Tiếp cận thông tin được khởi động từ năm 20086 và được Bộ

Tư pháp trình Chính phủ năm 2010 nhưng chưa được Chính phủ, Quốc hộithông qua Theo lộ trình xây dựng luật thì Dự án này sẽ tiếp được đưa ra thảoluận tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XII tới Đặc biệt, khi hiến pháp 2013 tiếptục hiến định đây là quyền cơ bản của công dân thì việc thể hóa quyền này làmột nhiệm vụ hết sức cần thiết

Như vậy, nhiệm xây dựng và hòan thiện cơ chế đảm bảo quyền tiếp cậnthông tin ở Việt Nam là hết sức cấp thiết Để thực hiện nhiệm vụ này thì việcnghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới trong việc xây dựng cơchếđảm bảo quyền tiếp cận thông tin cũng như đánh giá việc thực trạng cơ chếđảm bảo quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam để từ đó hoàn thiện thể chế đảmbảo quyền tiếp cận của người dân và các giải pháp để đảm bảo các quy định đóđược thực thi trên thực tế là điều hết sức cần thiết, đó là lý do của việc lựa chọn

đề tài “Xây dựng cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam từ kinh nghiệm ở các nước trên thế giới” làm đề tài nghiên cứu của luận văn thạc sỹ

của mình

2 Tình hình nghiên cứu Đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin là một vấn đề quan trọng hiệnnay đặt ra trong quá trình hoàn thiện thể chế ở Việt Nam Đây là nội dungnghiên cứu đánh giá một cách tổng thể hệ thống pháp luật quốc tế và pháp luậtcũng như tình hình thực thi các quy định về cơ chế đảm bảo quyền tiếp cậnthông tin ở Việt Nam trong thời gian qua Đây là công trình nghiên cứu mang

6 Nghị quyết số 27/2008/QH12 về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội khoá XII

Trang 11

tính thực tiễn và ứng dụng, nhất là trong điều kiện hiện nay khi chúng ta xâydựng Dự án Luật Tiếp cận thông tin

Liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài, trong những năm gần đây đã

có một số công trình nghiên cứu chủ yếu là các bài viết dưới dạng tham luận,báo cáo khoa học viết cho các hội thảo hoặc đăng trên các tạp chí tiếp cận dướicác góc độ khác nhau hoặc đề cập đến lý luận, thực tiễn về quyền tiếp cận thôngtin, trong đó, có các công trình nghiên cứu đáng chú ý như: Các tham luận trong

kỷ yếu hội thảo “Tiếp cận thông tin – quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam,Đan Mạch” và hội thảo “ Tiếp cận thông tin – thực tiễn Việt Nam và kinhnghiệm của Vương quốc Anh tổ chức tháng 10/2007 tại Hà Nội (Nguyễn Chí

Dũng – Quyền tiếp cận thông tin: Yêu cầu của quản lý nhà nước hiệu quả, vì

phát triển; TS Dương Thanh Mai – Quyền được thông tin và sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam; TS Nguyễn Đức Thủy

– Quyền tiếp cận thông tin – Kinh nghiệm Việt Nam và Vương quốc Anh; TS Vũ Công Giao – Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan ở Việt

Nam; TS Tường Duy Kiên – Quyền được thông tin – cách tiếp cận quốc tế và đặc điểm chung của luật tiếp cận thông tin một số nước trên thế giới; ) Các

tham luận trong kỷ yếu hội thảo “Xây dựng Luật tiếp cận thông tin tại ViệtNam” tổ chức tháng 5/2009 tại Hà Nội (James Anderson, Chuyên gia cao cấp về

quản trị quốc gia của Ngân hàng thế giới – Kinh nghiệm của một số nước Đông

Âu trong việc thực thi Luật tiếp cận thông tin; Jairo Acuna Alfaro, Cố vấn chính

sách về cải cách hành chính và chống tham nhũng của UNDP tại Việt Nam –

Quyền tiếp cận thông tin tại các nước khu vực Đông Nam Á; Matt Ottoson, Đại

sứ quán Thụy Điển – Kinh nghiệm của Thụy Điển về việc thực thi Luật Tiếp cận

thông tin; Ts Hoàng Thị Ngân – Kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về Luật tiếp cận thông tin của một số quốc gia trên thế giới; ) Các tham luận tại

hội thảo “Luật tiếp cận thông tin – kinh nghiệm một số nước trên thế giớ” tổ

chức ngày 19-20/8/2009 tại Nha Trang (GS.TSKH Đào Trí Úc – Tổng quan về

luật tiếp cận thông tin và vai trò của các tổ chức xã hội dân sự trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin ở các nước trên thế giới; GS.TSKH Lê Cảm –

Trang 12

Pháp luật và phát triển – vai trò của giới luật gia trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin; Toje R Ruud - Luật tiếp cận thông tin của Na Uy và vai trò của các tổ chức xã hội trong việc xây dựng và thực hiện luật này.; GS Sung Nak In,

Đại học quốc gia Seoul – Luật tiếp cận thông tin (Luật công khai thông tin của

các cơ quan nhà nước) ở Hàn Quốc và vai trò của các tổ chức xã hộii trong việc xây dựng và thực hiện luật này; ); Các tham luận tại kỷ yếu hội thảo “ Xây

dựng luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam” tổ chức ngày 23-24/9/2010 tại tỉnh

Hòa Bình (TS Dương Thanh Mai – Những vấn đề chung về quyền tiếp cận

thông tin; TS Nguyễn Ngọc Anh – Giới hạn của quyền tiếp cận thông tin ).

Các bài viết đăng trên tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17 tháng 09/2009

(PGS.TS Thái Vĩnh Thắng, Quyền tiếp cận thông tin – điều kiện thực hiện các

quyền con người và quyền công dân; ThS Dương Thị Bình – Thực trang quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam; TS Nguyễn Thị Thu Vân – Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ) Các bài viết trong số chuyên đề “Xây dựng luật tiếp

cận thông tin năm 2010 của Tạp chí Dân chủ và pháp luật (Lê huy – Khái niệm

và cơ sở chính trị, pháp lý của quyền tiếp cận thông tin; Thoa Quế - Cơ quancung cấp thông tin – Kinh nghiệm quốc tế và hướng quy định trong dự thảo Luậttiếp cận thông tin của Việt Nam; Mai Nguyễn – Cung cấp thông tin theo yêu cầu– cơ chế hữu hiệu bảo đảm quyền tiếp cận thông tin; ) TS Phan Huy Hồng -Quyền và đảm bảo quyền tiếp cận thông tin trong pháp luật quốc tế, luật nước

ngoài và Luật Việt Nam; TS Vũ Công Giao – Luật Tiếp cận thông tin, một số

vấn đề lý luận, pháp luật thực tiễn trên thế giới, Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật

học 26 (2010); ACT!ONAID - Truyền thông có sự tham gia của cộng đồng một

số mô hình giúp người dân tiếp cận thông tin; Bộ Tư pháp, Đề tài nghiên cứu

khoa học cấp bộ 2011 – Cơ sở lý luận và thực tiến của việc hòan thiện pháp luật

về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng Luật tiếp cận thông tin

Ở mỗi công trình nghiên cứu thì các nhà nghiên cứu đều có cách nhìn, phântích trên các bình diện khác nhau về lịch sử phát triển, khái niệm quyền tiếp cậnthông tin, các quy định về các quyền tiếp cận thông tin trong các văn kiện quốc

tế, trong các đạo luật về tiếp cận thông tin Các nội dung các nhà nghiên cứu

Trang 13

thường đề cập đến đó là phạm vi áp dụng, nội hàm của quyền tiếp cận thông tin,chủ thể cung cấp thông tin, phương thức cung cấp thông tin, trình tự giải quyếtyêu cầu cung cấp thông tin, cơ chế giám sát, giải quyết khiếu nại, khiếu kiện vềtiếp cận thông tin Do đó, có thể nói có rất nhiều công trình nghiên cứu liênquan đến nội dung của đề tài tác giả đang chọn Tuy nhiên, qua nghiên cứu bướcđầu tác giả thấy rằng, các công trình nghiên cứu hiện hành về kinh nghiệm quốc

tế thường chỉ dưới dạng liệt kê các quy định đang có ở các nước chưa khái quátdưới dạng mô hình, xu hướng Đặc biệt các công trình này chưa có sự đối chiếu

so sánh với các quy định về nội dung mới nhất của Dự thảo Luật tiếp cận thôngtin ở Việt Nam để đưa ra những nhận định Việt Nam cần theo “con đường nào”

để giải quyết vấn đề đó Do đó, người nghiên cứu thấy rằng, việc tiếp tục nghiêncứu kinh nghiệm các nước trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin để từ đóxây dựng, hoàn thiện cơ chế ở Việt Nam là hết sức quan trọng

2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài

Có rất nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực này ở khía cạnh chiều

rộng và chiều sâu như Freedom of information: Patrick Birkinshaw (2011), The

Law, the Practice and the Ideanl Tác phẩm phân tích cụ thể những vấn đề liên

quan tới kinh nghiệm xây dựng các khung thể chế và thiết chế cụ thể để đảm bảothực thi quyền được thông tin theo các chuẩn mực quốc tế Công trình cũngnghiên cứu các quy định và thực thi quyền được thông tin ở một số quốc giađiển hình như Hoa Kỳ, Canada, Đức ; John Wadham, Jonathan Grifiths andKelly Marris (2002), Blackstone’s Guide to the freedom of information act.Công trình phân tích so sánh quyền tiếp cận thông tin trong mối quan hệ với cácquyền khác của con người đã được quy định trong các điều ước quốc tế nhưquyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do báo trí, vai trò của các quyền nàytrong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Patrick Birkinshaw (2006), Freedom

of information and opennes: fundamental human rights? Công trình phân tíchsâu các quan điểm đa chiều của giới luật học về ưu điểm cũng như hạn chế củapháp luật quyền được thông tin của một số nước trên thế giới; E Eur Const.Rev.102 (2000), Freedom of information and state secrects: phân tích mối quan

Trang 14

hệ quyền tự do thông tin và bí mật nhà nước Qua nghiên cứu các công trìnhnghiên cứu về tiếp cận thông tin cho thấy các công trình nghiên cứu về tiếp cậnthông tin trên thế giới rất đa dạng và nghiên cứu rất sâu Tuy nhiên, do nhữnghạn chế nhất định về ngôn ngữ, thời gian nên chúng tôi chưa thể nghiên cứuđược nhiều các công trình nước ngoài này.

3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3.1 Mục tiêu của đề tài: Hoàn thiện các quy định pháp luật trong việc đảm

bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân

3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Những vấn đề chung về Quyền tiếp cận thôn tin

- Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin ở các nước trên thế giới và bàihọc kinh nghiệm cho Việt Nam

-Thực trạng pháp luật và cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin củangười dân trong thời gian qua ở Việt Nam

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm đảm bảoquyền tiếp cận thông tin của người dân ở Việt Nam

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở

phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước và pháp luật và các quan điểm, chủ trương can Đảng và Nhà nước ta vềdân chủ, quyền con người, quyền công dân

4.2 Các phương pháp nghiên cứu

a Phương pháp nghiên cứu tại chỗ.

Nghiên cứu hệ thống văn bản pháp luật, thu thập, nghiên cứu các tài liệutrong và ngoài nước về các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của Đề tài

b Thu thập, thống kê số liệu:

+ Số liệu thống kê từ các website về cơ sở dữ liệu luật như:

http://chinhphu.vn; http://congbao.chinhphu.vn; dien-tu.html

Trang 15

http://ria.net.vn/VN/Thu-vien-+ Số liệu thống kê từ Cục kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, Vụ cácvấn đề chung về xây dựng pháp luật, Cục Kiểm soát thủ tục hành chính,

+ Phương tiện truyền thông, báo chí, internet…

c Phân tích, tổng hợp Để đi đến những kết quả cuối cùng một trong

những phương pháp không thể thiếu chính là sự phân tích, đánh giá, tổng hợp

mà tác giả nghiên cứu cần phải tiến hành sau khi đã có đầy đủ các thông tin, dữliệu cần thiết

5 Những điểm mới của Luận văn

Đây là một trong những công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về cơchế bảo đảm quyền tiếp cận thông từ kinh nghiệm các nước trên thế giới và thựctiễn đối ởViệt Nam một cách tương đối toàn diện và có hệ thống

Luận văn làm rõ khái niệm, nhận diện đúng bản chất về quyền tiếp cậnthông tin, khác với các công trình nghiên cứu trước khi nghiên cứu về kinhnghiệm các nước trên thế giới về quyền tiếp cận thông tin thì luận văn tiếp cậndưới góc độ khái quát pháp luật tiếp cận thông tin ở các nước khác nhau để đưachúng vào các nhóm, các xu thế khác nhau và rút ra kinh nghiệm trong việchòan thiện thể chế ở Việt Nam Bên cạnh đó, Luận văn còn đánh giá một cáchtoàn diện về thực trạng cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam từ

đó đề xuất một số các giải pháp trong việc xây dựng và hòan thiện cơ chế đảmbảo quyền tiếp cận thông tin được thực thi khi chúng ta xây dựng Luật tiếp cậnthông tin trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn

Luận văn được nghiên cứu trong bối cảnh Bộ Tư pháp đang trong quátrình xây dựng và hòan thiện Dự án Luật tiếp cận thông tin Theo đó, những pháthiện, ý kiến của tác giả là một trong những nguồn tài liệu để Tổ biên tập, Bansoạn thảo tham khảo Với tư cách là một cán bộ đang công tác tại Bộ Tư phápthì tác giả sẽ tham gia tích cực hơn nữa trong công tác xây dựng và hòan thiện

Dự án luật này thông qua việc phản ánh, bày tỏ quan điểm cá nhân liên quancác quy định trong dư thảo luật

Trang 16

Các kết quả của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo phục vụ việcnghiên cứu, giảng dạy và học tập trong các cơ sở đào tạo về luận học và phầnnào có ý nghĩa đối với các cán bộ làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực pháp luật

để tìm hiểu, vận dụng các quy định hiện hành trong việc giải quyết các yêu cầucủa người dân trong việc tiếp cận các thông tin, tài liệu hiện nay

7 Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, mục lục, danh mục từ viết tắt, danh mục bảng biểuthì luận văn được kết cầu gồm 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề chung về quyền tiếp cận thông tin và cơ chếđảm bảo quyền tiếp cận thông tin

Chương 2 Thực trạng cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thong tin ở ViệtNam

Chương 3 Phương hướng, các giải pháp xây dựng và hoàn thiện cơ chếbảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam

Trang 17

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của quyền tiếp cận thông tin

1.1 Khái niệm quyền tiếp cận thông tin

Khái niệm quyền được thông tin xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1766 tạiThụy Điển trong Luật về tự do báo chí Đạo luật này cho phép công dân cóquyền tự do ngôn luận “trừ trường hợp báng bổ và chỉ trích Nhà nước” vàquyền “tiếp cận tài liệu công”7 Việc Thụy Điển ghi nhận quyền tiếp cận thôngtin xuất phát từ quan niệm cho rằng, các cơ quan công quyền nắm giữ các thôngtin không phải cho chính bản thân các cơ quan này mà là phục vụ lợi ích cộngđồng Theo đó, các thành viên trong cộng đồng phải được trao khả năng tiếp cậnvới các thông tin do các cơ quan công quyền nắm giữ, trừ trường hợp có lợi íchcông cộng khác quan trọng hơn buộc phải giữ bí mật Quyền tự do ngôn luận vàquyền tiếp cận thông tin ở Thụy Điển được xem là nền tảng để quyền tiếp cậnthông tin được chính thức ghi nhận trong hai công ước quốc tế là Tuyên Ngônquốc tế nhân quyền 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị

1966 Theo Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định “Ai cũng cóquyền tự do quan niệm và tự do phát biểu quan điểm; quyền này bao gồm quyềnkhông bị ai can thiệp vì những quan niệm của mình, và quyền tìm kiếm, tiếpnhận cùng phổ biến tin tức và ý kiến bằng mọi phương tiện truyền thông không

7 Hội Luật gia Việt Nam (2009), Tài liệu Hội thảo quốc tế Nghiên cứu về Luật Tiếp cận thông tin của Bắc Âu,

Hà Nội.

Trang 18

kể biên giới quốc gia”8 và khoản 2, Điều 29 Công ước quốc tế về quyền dân sự

và chính trị 1966 “Mọi người có quyền tự do ngôn luận Quyền này bao gồm tự

do tìm kiếm, tiếp nhận và truyền đạt mọi thông tin, ý kiến, không phân biệt lĩnhvực, hình thức tuyên truyền bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thứcnghệ thuật, thông qua bất kỳ phương tiện thông tin đại chúng nào tuỳ theo sự lựachọn của họ”9 “Các văn kiện về nhân quyền không quy định một cách cụ thể vềquyền đối với thông tin, do đó vào thời điểm các văn kiện này được thông quanhững bảo đảm chung về quyền tự do ngôn luận đã không được hiểu là bao gồmbảo đảm với quyền tiếp cận thông tin được nắm giữ bởi các cơ quan côngquyền”10 Tuy nhiên, quyền tiếp cận thông tin được ghi nhận trong các công ướcnày vẫn được tòa án áp dụng, điều này được thể hiện trong phán quyết của Tòa

án châu về về nhân quyền “Hiệp định châu âu về nhân quyền là một văn bảnsống và nó cần phải giải thích và hiểu trong bối cảnh thực tế”11 hay phán quyếtcủa Tòa án về nhân quyền Hoa Kỳ “các điều ước quốc tế về nhân quyền là cácvăn bản sống, việc giải thích và hiểu chúng phải phù hợp với từng thời kỳ, cụthể là với các điều kiện sống hiện tại”12

Quyền tiếp cận thông tin sau đó tiếp tục được ghi nhận trong các vănkiện pháp lý quốc tế như Công ước của Liên hợp quốc về chống tham nhũng

2003, Tuyên bố RIO về môi trường và phát triển 1992, Công ước Aarhus –Công ước về tiếp cận thông tin, tham gia của công chúng và tiếp cận công lý đốivới các vấn đề môi trường 1998 Điều này thể hiện trong xu hướng ngày càng

có nhiều quốc gia ghi nhận đây là quyền hiến định và ban hành luật tiếp cậnthông tin Tính đến năm 2009, đã có 86 nước ghi nhận thông qua đạo luật về tiếpcận thông tin với tên gọi khác nhau như Luật về tự do thông tin hay Luật Tiếpcận thông tin (Cộng hòa Slovenia, Canada), Luật tiếp cận của công chúng đối

8 http://thuvienphapluat.vn/archive/Dieu-uoc-quoc-te/Tuyen-ngon-quoc-te-nhan-quyen-1948-vb65774t31.aspx

9 dan-s-chinh-tr-1966&catid=6:b-lut-nhan-quyn-quc-t&Itemid=20

http://hcrc.hcmulaw.edu.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=11:cong-c-quc-t-v-cac-quyn-10 Lê Huy, Khái niệm và cơ sở chính trị, pháp lý của Quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí dân chủ pháp luật (2010),

số chuyên đề xây dựng Luật tiếp cận thông tin, Hà Nội.

11 Lê Huy, Khái niệm và cơ sở chính trị, pháp lý của Quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí dân chủ pháp luật (2010),

số chuyên đề xây dựng Luật tiếp cận thông tin, Hà Nội.

12 Lê Huy, Khái niệm và cơ sở chính trị, pháp lý của Quyền tiếp cận thông tin, Tạp chí dân chủ pháp luật (2010),

số chuyên đề xây dựng Luật tiếp cận thông tin, Hà Nội.

Trang 19

với tài liệu hành chính công (Na Uy, Vương Quốc Anh) hay Pháp lệnh về côngkhai thông tin của Chính quyền (Trung Quốc), Luật tiếp cận các hồ sơ hànhchính công (Đan Mạch), Luật thúc đẩy tiếp cận thông tin (Nam Phi) Dù có têngọi khác nhau như quyền được thông tin hay còn gọi là quyền tự do thông tinhoặc quyền tiếp cận thông tin thì hầu hết các quốc gia có chung quan điểm côngnhận quyền tiếp cận thông tin là một quyền con người, quyền cơ bản của côngdân và quyền này có tác dụng củng cố cho nền dân chủ và được ghi nhận nhưmột trong những quyền cơ bản của con người, công dân

Dưới góc độ pháp lý, khái niệm quyền được thông tin được sử dụng đểbiểu đạt một loại quyền rất căn bản mà mọi người ở tất cả các quốc gia đều cóquyền được hưởng Đó là quyền được tiếp cận các thông tin đang được các cơquan công quyền quản lý, kiểm soát để thỏa mãn nhu cầu trong của sống củamình hay để bảo vệ và thực hiện các quyền năng khác được pháp luật ghi nhận.Thông tin theo cách hiểu của Luật mẫu bao gồm tất cả các tài liệu được nắm giữbởi một số tổ chức, cơ quan nào đó Thông tin không phân biệt hình thức vàcách thức được lưu trữ, nguồn gốc thông tin và ngày sản xuất Theo đó, quyềntiếp cận thông tin bao gồm quyền được xem các tác phẩn, tài liệu, hồ sơ, đượcghi chép, trích dẫn, sao chụp các tài liệu, hồ sơ đó, được thu thập thông tin dướidạng các đĩa mền, thẻ nhớ hoặc bất kỳ dạng thiết bị điện tử nào

Ở Việt Nam quyền tiếp cận thông tin được hiến định trong nhóm quyền

cơ bản của con người, công dân tại Điều 25, Hiến pháp 2013 “Công dân cóquyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểutình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Đây không phải làlần đầu tiên Việt Nam hiến định về quyền tiếp cận thông tin, bởi quyền nàytrong Hiến pháp 1992 sửa đổi, bổ sung 2001 đã hiến định với tên gọi là quyềnđược thông tin tại Điều 69 Hiến pháp 1992 Bên cạnh đó, trong các văn kiện,cương lĩnh của Đảng qua các thời kỳ luôn hướng đến tối đa hóa các thông tin mànhà nước đang nắm giữ phổ biến, cung cấp cho người dân Trong các lĩnh vực

cụ thể khác nhau thì nhà nước cũng ban hành các đạo luật có các quy định liênquan đến quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước

Trang 20

trong việc công khai, minh bạch và các văn bản, tài liệu thuộc các lĩnh vực khácnhau như luật đất đai, luật doanh nghiệp, luật phòng, chống tham nhũng…đặcbiệt là Luật Báo chí 1989 và Pháp lệnh dân chủ cơ sở 2007 thể hiện được quyềnlàm chủ và quyền được thông tin của người dân Mặc dù, pháp luật hiện hànhchưa đươc ra được cách hiểu, khái niệm thế nào là quyền tiếp cận thông tin tuynhiên, thực tiễn ban hành hành và thực thi pháp luật về tiếp cận thông tin trongkhoa học pháp lý thì cũng không có nhiều tranh luận về khái niệm về quyền tiếpcận thông tin mặc dù về tên gọi trong pháp luật các nước, văn bản quốc tế khônghoàn toàn giống nhau “Theo nghĩa hẹp nhất quyền tiếp cận thông tin là quyềncủa mỗi cá nhân đối với việc xem xét hoặc sao chụp các tài liệu được các cơquan nhà nước nắm giữ; Quyền tiếp cận thông tin theo nghĩa rộng nhất bao quát

cả quyền tự do thể hiện ý kiến và thông tin qua việc tự do tìm kiếm , tiếp nhận

và truyền bá thông tin”13

Như vậy, khái niệm quyền tiếp cận thông tin không phải là khái niệmmới Quyền tiếp cận thông tin trải qua quá trình phát triển, được xuất phát từquyền được biết sự thật và phản ánh nghĩa vụ của nhà nước bảo đảm mọi ngườibiết sự thật về các vấn đề khác nhau của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội, quản

lý tư pháp, quản lý hành chính và các vấn đề liên quan đến bảo vệ quyền và sự

tự do của mọi cá nhân, công dân Tinh thần của quyền tiếp cận thông tin chính là

sự công khai hóa các hoạt động, các thông tin do Nhà nước nắm giữ đối vớicông chúng Các thông tin được tiếp cận được xác định là thông tin do cơ quancông quyền thay mặt người dân nắm giữ, do đó các cơ quan này phải có tráchnhiệm lưu giữ và tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, công dân được tiếp cận.Việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin có ý nghĩa quan trọng trong sự phát triển

xã hội, góp phần thúc đẩy sự công bằng, thực thi pháp luật,dân chủ trong xã hội,góp phần củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và xã hội Việc bảo đảm quyềntiếp cận thông tin sẽ góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân,làm tăng tính hiệu quả, minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan nhànước Đây là một sự bảo vệ quan trọng chống lại các hình thức làm dụng, các

13Viện Khoa học Pháp lý (2011), Đề tài khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp

luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng luật tiếp cận thông tin”, Hà Nội 2011.

Trang 21

việc làm sai trái và tham nhũng Quyền này cũng có thể đem lại lợi ích choChính phủ qua việc đem lại sự minh bạch và cởi mở trong quá trình ra quyếtđịnh và cải thiện lòng tin của công chúng đối với các hoạt động của Chính phủ

1.2 Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin

Cơ chế là chuyển ngữ của từ mécanisme của phương Tây Từ điển Le

Petit Larousse (1999) giảng nghĩa "mécanisme" là "cách thức hoạt động của một

tập hợp các yếu tố phụ thuộc vào nhau"14 Theo cuốn Đại từ điển Tiếng Việt,

“Cơ chế là cách thức tổ chức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ cở theo

đó mà thực hiện” Nội hàm của khái niệm cơ chế bao hàm vấn đề cơ cấu và thủtục Do đó, cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin là nói đến cơ cấu tổ chức,các quy trình, thủ tục để đảm bảo thực hiện quyền này của người dân, tráchnhiệm của cơ quan công quyền và các điều kiện đảm bảo để người dân thực hiệnđược quyền đó Trong chuyên đề nghiên cứu của TS Nguyễn Thị Thu Vân khinghiên cứu kinh nghiệm quốc tế và kiến nghị về cơ chế bảo đàm quyền tiếp cậnthông tin trong Dự án Luật tiếp cận thông tin tác giả đi theo hướng giải quyết 02vấn đề chính đó là bảo đảm về thủ tục quyền tiếp cận thông tin của người dân,bảo đảm liên quan đến trách nhiệm của cơ quan nhà n ước trong việc chủ độngcung cấp tông tin cho công chúng Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi thì

02 vấn đề đó chưa đủ để tạo thành cơ chế đủ để bảo đảm quyền tiếp cận thôngtin của người dân trong thực tế Theo TS Vũ Công Giao “về bản chất, cơ chếđảm bảo quyền tiếp cận thông tin chính là nói đến các quy định và cách thức tổchức nhằm bắt buộc các cơ quan công cộng phải công khai các hoạt động và cácquyết định giải quyết công việc trên các phương tiện thông tin đại chúng”15.Chúng tôi đồng ý với quan điểm này bởi, cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thôngtin chính là giải quyết mối quan hệ giữa bên nắm giữ thông tin và bên đề nghị,

có quyền được thông tin Để giải quyết được mối quan hệ này theo chúng tôi thìyếu tố thể chế mà trực tiếp hệ thống các quy định pháp luật và yếu tố thiết chế -

14 http://vi.wikipedia.org/wiki/Wikipedia:B%C3%A0n_tham_kh%E1%BA%A3o/C%C6%A1_ch%E1%BA

%BF_l%C3%A0_g%C3%AC%3F

15 TS Vũ Công Giao, Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam Nguồn: Khoa Luật – Đại học Quốc gia (2011), Tiếp cận thông tin: Pháp luật và Thực tiến trên thế giới và ở Việt Nam., NXB ĐHQG, Hà Nội.

Trang 22

đó là cơ cấu, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan đảm bảocho quyền tiếp cận thông tin của người dân là hai yếu tố cơ bản nhất đảm bảocho quyền tiếp cận thông tin được thực thi trên thực tế Theo PGS.TS PhạmDuy Nghĩa thì điều kiện tiên quyết “để đảm bảo cho tự do thông tin thì cần đếnđiều kiện pháp luật và thể chế tổng thể hơn”16 Điều này có ý nghĩa rằng, yếu tốthể chế mà trực tiếp là các quy định pháp luật điều chỉnh đảm bảo quyền tự dothông tin của người dân có vai trò quan trọng để người dân thực hiện quyền vàcác cơ quan khác can thiệp, bảo vệ quyền đó của người dân.

Từ cách hiểu trên, chúng tôi cho rằng cơ chế đảm bảo quyền tiếp cậnthông tin bao gồm các nội dung sau: (i) Các quy định pháp luật làm cơ sở, nềntảng pháp lý để người dân thực hiện quyền của mình như hiến định, luật hóaquyền tiếp cận thông tin, các quy định về trình tự, thủ tục thực hiện quyền tiếpcận thông tin; (ii) các quy định về trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin;(iii) cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; (iv) cơchế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện quyền tiếp cận thông tin Tất cả các yếu tốnày có mỗi liên hệ tương quan hỗ trợ cho nhau cùng hướng đến một mục tiêuchung đó là đảm bảo quyền của người dân trong việc tiếp cận các thông tin Nhànước đang nắm giữ

2 Kinh nghiệm một số nước trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin

2.1 Hoàn thiện thể chế trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin

Xuất phát từ ý nghĩa và sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về quyền tiếpcận thông tin đã và đang nhiều quốc gia trên thế giới công nhận rộng rãi TheoTony Mendel, chuyên gia nghiên cứu hàng đầu của Liên hợp quốc về tiếp cậnthông tin thì “Quyền với thông tin ngày càng nhận được nhiều sự công nhận vớimột số lý do đầy thuyết phục Điều đáng ngạc nhiên là đã mất một thời gian khádài để đạt được một sự công nhận rộng rãi về quyền con người để làm nền tảngquan trọng cho nền dân chủ Quan điểm phổ biến hiện nay là các cơ quan côngquyền nắm giữ thông tin không phải cho chính bản thân họ mà là cho lợi ích

16 Phạm Duy Nghĩa (2009), Tương quan giữa Luật tiếp cận thông tin, Luật tự do báo chí và Pháp lệnh bảo vệ bí mật nhà nước ở Việt Nam, Nha Trang.

Trang 23

công cộng đã in sâu vào ý nghĩ mọi người trên khắp thế giới”17 Ở một số quốcgia như Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Pakistan, Israel, Pháp, tòa án nhân dân tốicao đã ra phán quyền rằng, quyền tiếp cận thông tin là quyền hiến định và là mộtyếu tố điển hình về quyền tự do ngôn luận và quyền tự do báo chí “Theo Báocáo tự do thông tin thế giới năm 2006 có trên 90 quốc gia ghi nhận quyền tiếpcận thông tin trong Hiến pháp của nước họ”18 và ghi nhận đây là quyền cơ bảncủa công dân Việc hiến định và ban hành đạo luật riêng để đảm bảo quyền tiếpcận thông tin đã trở thành xu thế tất yếu được cộng đồng quốc tế khuyến khích

và đưa ra yêu những yêu cầu có tính ràng buộc trong việc đảm bảo quyền tiếpcận thông tin Theo Tổ chức quốc tế về quyền đời tư, tính đến tháng 9/2009 có

140 nước ban hành luật tiếp cận thông tin19 Đối với báo cáo phục vụ dự án xâydựng luật tiếp cận thông tin của Bộ Tư pháp thì “tính đến thời điểm năm 2009

có 86 nước ban hành Luật về tiếp cận thông tin”20 và các quốc gia này nằm ở tất

cả các châu lục

Do phạm vi thông tin nhà nước nắm giữ ở các lĩnh vực, hoạt động khácnhau là khác nhau nên pháp luật tiếp cận thông tin các nước đều thừa nhận chỉquy định mang tính chất nguyên tắc, “luật khung” và thường có những nội dungnhư: Phạm vi cung cấp thông tin/giới hạn cung cấp thông tin; các nguyên tắcbảo đảm quyền tiếp cận thông tin; Các cơ quan có nghĩa vụ cung cấp thông tin;Chủ thể của quyền tiếp cận thông tin; nội dung quyền tiếp cận thông tin; Trình

tự, thủ tục thực hiện quyền tiếp cận thông tin; giải quyết khiếu nại, khiếu kiệnquyền tiếp cận thông tin, phí cung cấp thông tin

Như vậy, quyền tiếp cận thông tin là một trong những quyền cơ bản củacông dân đã được Hiến pháp nhiều nước trên thế giới ghi nhận và được cụ thểhóa bằng một đạo luật riêng để đảm bảo quyền này của người dân Việc hiếnđịnh và cụ thể hóa bằng các văn bản pháp luật là một trong những cơ sở quantrọng đề người dân thực hiện quyền và đảm bảo quyền đó được thực thi trên

17 Thái Vĩnh Thắng, Lịch sử hình thành và phát triển của quyền tiếp cận thông tin,Khoa luật ĐHQG

18 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ

19 Vũ Công Giao (2010), Luật Tiếp cận thông tin: Một số vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn trên thế giới, Hà Nội.

20 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ

Trang 24

thực tế Ở Việt Nam thì quyền được thông tin21, nay là quyền tiếp cận thôngtin22 cũng đã được hiến định Để cụ thể hóa quy định này, Việt Nam cũng đã đưaviệc xây dựng Luật tiếp cận thông tin vào chương trình xây dựng luật tại Nghịquyết số 27/2008/QH1223 ngày 15/11/2008 của Quốc hội về chương trình xâydựng luật, pháp lệnh năm 2009 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháplệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2007-2011) Tuy nhiên, đến nay Luậttiếp cận thông tin vẫn chưa được Chính phủ trình và thông qua Do đó, việc tiếptục nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về pháp luật tiếp cận thông tin để từ đó xâydựng, hoàn thiện cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam là hết sứccần thiết, đặc biệt khi Hiến pháp sửa đổi 2013 tiếp tục hiến định quyền tiếp cậnthông tin là quyền cơ bản của công dân.

2.1.1 Phạm vi cung cấp thông tin

Quyền tiếp cận thông tin là quyền cơ bản của công dân nhưng bị giới hạntrong phạm vi nhất định Điều này thể hiện không phải thông tin nào nhà nướccũng phải cung cấp cho công dân khi họ yêu cầu Trong những trường hợp nhấtđịnh nhà nước sẽ loại trừ, hạn chế cung cấp một số thông tin để đảm bảo an ninhquốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, sự ổn định của nhà nước, chế độ văn hóa xã hội, ảnhhưởng đến quan hệ quốc tế, ảnh hưởng đến quá trình tố tụng Các trường hợphạn chế cung cấp thông tin được coi như những ngoại lệ và ngoại lệ này khôngnên mở rộng, phải được giới hạn càng ít càng tốt

Pháp luật tiếp cận thông tin ở các nước không giống nhau và thườngđược quy định ở hai dạng chính:

(i) Cách thứ nhất, liệt kê danh mục các thông tin cơ quan công quyền có

trách nhiệm cung cấp, công bố và liệt kê danh mục các thông tin được miễn trừ.Điều này thể hiện trong luật tiếp cận thông tin các nước Ấn Độ, Nga, TrungQuốc Ví dụ, Điều 4 Luật về tiếp cận thông tin của Ấn Độ liệt kê các thông tin

mà các cơ quan nhà nước phải công bố như chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền

21 Hiến pháp 1992

22 Hiến pháp 2013

23 lenh-nam-2009-va-bo-sung-chuong-trinh-xay-dung-luat-phap-lenh-cua-Quoc-hoi-nhiem-ky-XII-

http://thuvienphapluat.vn/archive/Nghi-quyet/Nghi-quyet-27-2008-QH12-chuong-trinh-xay-dung-luat-phap-vb81885t13.aspx

Trang 25

của cơ quan đố, danh bạ điện thoại, ; Điều 8 thì liệt kê các thông tin mà Nhànước không có nghĩa vụ cung cấp đó là các thông mà việc tiết lộ có thể gâynhững tác động tiêu cực tới chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ấn Độ, cácthông tin bị tòa án cấm công bố hoặc việc công bố có thể ảnh hưởng đến hoạtđộng của tòa án ; Đối với Trung Quốc, tại Điều 9 Pháp lệnh về công khai thôngtin của chính quyền liệt kê các thông tin mà Chính quyền phải cung cấp như lợiích cốt yếu của công dân, pháp nhân hoặc tổ chức khác, các yêu cầu mở rộngkiến thức hoặc sự tham gia của công chúng ; Đối với các thông tin không đượcphép tiết lộ, Nhà nước được miễn trừ Trung Quốc không quy định cụ thể đó làthông tin nào mà chỉ quy định mang tính nguyên tắc tại Điều 8 của Pháp lệnh đó

là “cơ quan Nhà nước không được gây tổn hại tới an ninh quốc gia, trật tự côngcộng, an ninh kinh tế và sự ổn định xã hội khi công bố thông tin của chínhquyền”24

(ii) Cách thứ hai, chỉ xác định, liệt kê những thông tin không công khai,

hạn chế và miễn trừ tiếp cận Đối với cách thức này luật tiếp cận thông tin một

số nước sử dụng như Luật về công khai các thông tin của các cơ quan chínhquyền của Hàn Quốc 1996, Luật về tiếp cận các tài liệu hành chính công củaĐan Mạch 1985, Luật về tiếp cận tài liệu của cơ quan hành chính nhà nước của

Na Uy 2009, Theo đó, các tài liệu hành chính docow quan hành chính nắm giữ

sẽ phải cung cấp cho bất kỳ người nào khi có yêu cầu, trừ các trường hợp ngoại

lệ đối với quyền tiếp cận Theo đó, phạm vi tiếp cận thông tin của người dân đốivới cách cách thức ghi nhận này rất rộng, các cơ quan Nhà nước chỉ được phép

từ chối nếu yêu cầu cung cấp thông tin, tài liệu do Nhà nước đang nắm giữ đókhông thuộc danh mục được miễn trừ, từ chối cung cấp

Ở các quốc gia khác nhau, danh mục hạn chế cung cấp hoặc từ chốicung cấp thông tin cũng khác nhau Các cơ quan công quyền chỉ được từ chốicung cấp thông tin nếu những thông tin đó thuộc danh mục này Theo nguyêntắc thứ 4 của Bộ nguyên tắc của Liên hợp quốc, một số thông tin sau đây có thểđược đưa vào danh mục miễn trừ: (i) Những thông tin liên quan đến an ninh

24Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội (2011), Pháp lệnh về công khai thông tin của Chính quyền của nước

CHND Trung Hoa 2007, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội.

Trang 26

quốc gia, quốc phòng và quan hệ quốc tế; (ii) Những thông tin mà việc miễn trừ,không cung cấp chính là để đảm bảo sự an toàn cho công chúng; (iii) Nhữngthông tin liên quan đến việc phòng ngừa, điều tra và khởi tố hành vi phạm tội vàhình sự; (iv) Những thông tin liên quan đến bí mật thương mại, lợi ích kinh tế;(v) Những thông tin liên quan đến chính sách kinh tế, tiền tệ, tỷ giá; (vi) Một sốthông tin đang trong quá tình thảo luận, chưa có quyết định chính thức về chínhsách của các cơ quan công quyền Bên cạnh đó, Bộ Nguyên tắc của Uỷ ban nhânquyền Liên hợp quốc cũng đưa ra nguyên tắc số 2 và nguyên tắc số 5 liệt kê cácloại thông tin quan trọng mà Nhà nước có trách nhiệm công bố cho công chúngbiết rộng rãi (bao gồm các thông tin về hoạt động của cơ quan bao gồm chi phícho các hoạt động đó, mục tiêu, ; các thông tin về yêu cầu khiếu nại hoặc hànhđộn trực tiếp khác mà công chúng đã thực hiện trong quan hệ với cơ quan;Những hướng dẫn về quy trình, thủ tục, ) và có trách nhiệm cung cấp khi cóyêu cầu.

Trên cơ sở kinh nghiệm pháp luật tiếp cận thông tin các nước và các vănkiện quốc tế trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin khi quy định về phạm

vi tiếp cận thông tin, Việt Nam có thể nghiên cứu, tham khảo về cách thức khiquy định các loại thông tin như các thông tin nhà nước chủ động công bố, cácthông tin được cung cấp khi có yêu cầu và các thông tin bị hạn chế, nhà nướcđược quyền từ chối cung cấp Đối với các loại thông tin cụ thể, đặc biệt cácthông tin mà nhà nước được miễn trừ, được quyền từ chối cung cấp cần thamkhảo các nguyên tắc của Luật mẫu về tự do thông tin nhằm đảm bảo hạn chế tối

đa các thông tin mà Nhà nước được miễn trừ

2.1.2 Chủ thể có quyền tiếp cận thông tin

Theo pháp luật tiếp cận thông tin của các quốc gia thì chủ thể của quyềntiếp cận thông tin có thể là cá nhân hoặc tổ chức Với quan niệm đây là mộtquyền cơ bản của con người, công dân nên pháp luật tiếp cận thông tin đa số cácnước đều quy định theo hướng mở rộng phạm vi của chủ thể có quyền tiếp cậnthông tin theo hướng quy định theo hướng phổ quát như dùng cụm từ “mọi

Trang 27

người”, “bất kể ai”25, “công chúng”26, “mọi người dân”27 Đối với các cá nhân,pháp luật tiếp cận thông tin các nước cho phép các cá nhân được tiếp cận tài liệulưu trữ do các cá nhân hoặc các tổ chức nắm thông tin về cá nhân đó, đồng thờicho phép tiếp cận hoặc sửa đổi các tài liệu lưu trữ cá nhân Đối với cá nhân khitiếp cận thông tin thì có nước quy định phải là công dân của nước đó như luậttiếp cận thông tin một số nước như Tây Ban Nha, Ấn Độ quy định đối với cáctài liệu hành chính và hồ sơ của cơ quan nhà nước phải là công dân mới đượctiếp cận Luật tiếp cận thông tin Ấn Độ quy định khi một người đến yêu cầu tiếpcận thông tin phải đưa ra các chứng cứ chứng minh mình là công dân Ấn Độ.Tuy nhiên, đa số pháp luật tiếp cận thông tin các nước quy định phạm vi chủ thểtiếp cận thông tin khá rộng, cho phép bất kỳ người nào dù là công dân haykhông đều có thể tiếp cận thông tin, thậm chí pháp luật tiếp cận thông tin củamột số nước mở rộng đến các trường hợp mà không cần tính đến việc họ có lợiích pháp lý liên quan hay không như Hiến pháp của Nam Phi, đặc biệt ở PhầnLan người đề nghị cung cấp thông tin có thể dưới dạng vô danh nhằm đảm bảorằng người yêu cầu cung cấp thông tin không bị phân biệt đối xử.

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm các nước khi quy định về vấn đề chủthể thực hiện quyền tiếp cận thông tin, chúng tôi thấy rằng Việt Nam khi quyđịnh vấn đề chủ thể thực hiện quyền tiếp cận thông tin nên thừa nhận cả đối với

cá nhân và pháp nhân, tổ chức Đối với cá nhân, Việt Nam cũng cần cân nhắctrong việc có mở rộng theo hướng bất kỳ cá nhân nào bởi Điều 25 Hiến pháp

2013 mới chỉ dừng lại đây là quyền của công dân Do đó, Việt Nam nên quyđịnh giới hạn chủ thể tiếp cận thông là công dân Việt Nam và chấp nhận một sốngoại lệ có điều kiện Người yêu cầu tiếp cận thông tin phải xác định đích danh

và phải có mỗi liên hệ với các thông tin cần tiếp cận

25 Điều 2, Luật Tiếp cận thông Canada 1985

26 Mục 4, Luật tiếp cận thông tin của Albani 1999

27 Điều 6, Luật về công khai thông itn của các cơ quan chính quyền Hàn Quốc 1996

Trang 28

2.1.3 Chủ thể cung cấp thông tin – Các cơ quan có nghĩa vụ cung cấp thông tin

Xuất phát từ nguyên tắc các cơ quan công quyền nắm giữ thông tin cótrách nhiệm cung cấp thông tin cho người dân nên hầu hết luật tiếp cận thông tincác nước đều quy định các cơ quan nhà nước mà chủ yếu là cơ quan hành chính

có trách nhiệm cung cấp thông tin Bên cạnh đó, “luật tiếp cận thông tin một sốnước cũng mở rộng quy định Tòa án, cơ quan lập pháp cũng là chủ thể cung cấpthông tin trong một số trường hợp nhất định”28 Cách thức quy định chủ thể cungcấp thông tin ở các nước khác nhau cũng khác nhau Có nước đưa ra định nghĩacác cơ quan nhà nước rất rộng bao hàm tất cả các cơ quan thực thi của Chínhphủ như Luật tiếp cận các tài liệu hành chính của Bồ Đào nha áp dụng đối với

“các cơ quan của Nhà nước hoặc các khu vực tự trị có thực thi chức năng hànhchính, các cơ quan, các thiết chế Nhà nước hoặc hiệp hội công cộng, các cơquan chính quyền địa phương, cơ quan của các hiệp hội hoặc liên minh củachính quyền địa phương cũng như bất kỳ cơ quan có thực thi chức năng theoquy định của pháp luật”29 Đối với Nhật bản, cơ quan hành chính nhà nước đượchiểu bao gồm Nội các, các cơ quan chịu sự kiểm soát của Nội các theo quy địnhcủa pháp luật, các cơ quan được luật khác quy định là cơ uan hành chính nhànước và ủy ban kiểm toán Các cơ quan tư pháp cũng như doanh nghiệp khôngthuộc phạm vi điều chỉnh của Luật.30 Có nước khi quy định chủ thể cung cấpthông tin dưới dạng liệt kê theo một danh sách các cơ quan chịu sự điều chỉnhcủa luật và các cơ quan không phải áp dụng luật như luật tiếp cận thông tin củaIreland Tuy nhiên, với cách thức quy định như vậy sẽ không tránh khỏi trườnghợp “khi một cơ quan được thành lập, thay đổi tên hoặc sửa đổi mục đích và cơcấu tổ chức của mình thì danh sách mới phải được cập nhật thông qua Quốc hội

mà việc này thường mất nhiều thời gian.”31 Ngoài các cơ quan nhà nước nắmgiữ thông tin là chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin thì pháp luật tiếp cận

28 David Banisarr, Báo cáo tự do thông tin thế giới năm 2006 – Khảo sát toàn cầu về Luật tiếp cận thông tin

Chính phủ, Privacy Interrnational.

29 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ xây dựng Dự án luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội.

30 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ xây dựng Dự án luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội.

31 TS Nguyễn Thị Kim Thoa 2010, Những vấn đề cơ bản được giải quyết trong luật tiếp cận thông tin của một

số nước trên thế giới, Tạp chí dân chủ pháp luật (2010), số chuyên đề xây dựng Luật tiếp cận thông tin, Hà Nội.

Trang 29

thông tin một số nước còn quy định thêm các tổ chức tư nhân nắm giữ thông tincũng là chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin như Luật tiếp cận thông tincủa Nam Phi, Đan Mạch Tuy nhiên, theo đánh giá của các chuyên gia quốc tếthì việc quy định “tổ chức tư nhân như ở Nam phi có trách nhiệm cung cấpthông tin có tính hiệu quả rất thấp”32 Đối với các cơ quan được miễn trừ khôngthuộc phạm vi điều chỉnh của luật thường là các cơ quan an ninh, cơ quan tìnhbáo như Luật tự do thông tin của Vương quốc Anh, Ấn Độ.

Trên cơ sở kinh nghiệm pháp luật tiếp cận thông tin các nước khi quyđịnh về vấn đề chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin thì Việt Nam có thểnghiên cứu cách thức quy định dưới dạng khái quát, định nghĩa hoặc theo dạngliệt kê theo danh mục các chủ thể có trách nhiệm cung cấp thông tin Bên cạnh

đó, phạm vi các cơ quan cung cấp thông tin có thể giới hạn đôi với các cơ quanhành chính hoặc bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước hoặc bao gồm tất cả các

cơ quan nhà nước và tổ chức có sử dụng ngân sách, tài sản Nhà nước Đối vớiviệc mở rộng chủ thể là các tổ chức tư nhân sử dụng ngân sách nhà nước thì hiệntại Việt Nam chưa nên quy định đối với loại chủ thể này, bởi thực tế ít nước quyđịnh loại chủ thể này vào, đối với các nước ghi nhận chủ thể này thì tính hiệuquả theo đánh giá cũng chưa cao “Điều này cũng phù hợp với điều kiện củaViệt Nam đang trong quá trình cải cách, chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nước

và việc quy định như vậy sẽ khó đảm bảo tính khả thi”33

2.1.4 Trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin

Theo kinh nghiệm pháp luật tiếp cận thông tin các nước đều quy định,khi nhận được yêu cầu cung cấp thông tin từ công dân thì cơ quan có tráchnhiệm cung cấp thông tin xử lý nhanh và theo đúng trình tự pháp luật quy định.Việc quy định về trình tự thủ tục nhằm đảm bảo thực hiện quyền tiếp cận thôngtin một cách nhanh chóng và tạo cơ chế để các cơ quan liên quan giám sát, giải

32 Toby Mendel, Freedom of information (2008), A comparative legal survey, Second Edition, United Nation,

UNESCO, Pari 2008, tr 44.

33 Thoa Quế (2010), Cơ quan cung cấp thông tin Kinh nghiệm quốc tế và hướng quy định trong Dự thảo Luật tiếp cận thông tin của Việt Nam, Tạp chí dân chủ pháp luật (2010), Số chuyên đề……….

Trang 30

quyết, xử lý các vi phạm phát sinh trong quá trình người dân thực hiện quyềntiếp cận thông tin

Pháp luật tiếp cận thông tin các nước khi quy định về trình tự, thủ tụctiếp cận thông tin thường trải qua 04 bước sau: (i) Trình yêu cầu tiếp cận thôngtin; (ii) Cơ quan có thẩm quyền thụ lý yêu cầu tiếp cận thông tin; (iii) hồ sơ thựchiện việc tiếp cận thông tin (iv) Thông báo giải quyết việc yêu cầu tiếp cậnthông tin; (v) Thời hạn để giải quyết yêu cầu cung cấp thông tin, từ chối cungcấp thông tin

Phần lớn luật tiếp cận thông tin các nước đều hướng tới quy định mộthình thức đơn giản nhất để người dân có thể sử dụng khi yêu cầu cung cấp thôngtin Thông thường các yêu cầu này thể hiện dưới dạng văn bản Một số quốc giacòn chấp nhận cả hình thức yêu cầu bằng miệng (lời nói) Bên cạnh đó, để tạođiều kiện người dân tiếp cận thông tin một cách nhanh chóng, các cơ quan giữthông tin xây dựng các dữ liệu thống kê, thư viện dưới dạng hệ thống dữ liệuđiện tử mở để người nhân có thể trực tiếp truy cập và lấy các thông tin cần thiết.Công dân cũng có quyền yêu cầu các loại tài liệu cụ thể, mã tài liệu nếu biết.Nội dung yêu cầu tiếp cận thông tin bao gồm các nội dung như tên cơ quan tiếpnhận yêu cầu, các thông tin về tên, địa chỉ liên hệ của người yêu cầu, mô tả chitiết các thông tin cần tiếp cận Đối với việc trả lời yêu cầu cung cấp thông tin cóthể thực hiện bằng cách được giải thích bằng miệng, trực tiếp nghe trả lời, trựctiếp xem thông tin qua việc đọc, nhìn, nghe, được cung cấp bản sao tài liệu,được sao chép thông tin qua các trang thiết bị của người yêu cầu, chỉ rõ nguồn

mở tài liệu hoặc cung cấp nội dung của tài liệu những thông tin thuộc tráchnhiệm nhà nước Bên cạnh đó, công dân cũng có quyền được biết các thông tinthông qua tham dự các cuộc họp, buổi tường trình, các thông báo, trực tiếphoặc gián tiếp thông qua các phương tiện, thông tin đại chúng, truyền hìnhinternet

Sau khi tiếp nhận yêu cầu tiếp cận thông tin cơ quan có tiếp nhận mà trựctiếp là nhân viên tiếp nhận xem xét thẩm quyền của cơ quan tiếp nhận và cấpgiấy biên nhận cho người yêu cầu về việc đã thụ lý yêu cầu Đối với việc xử xự

Trang 31

của cơ quan trong trường hợp không nắm giữ thông tin, không thuộc thẩmquyền thì có nước quy định cơ quan đó có trách nhiệm chuyển yêu cầu tới cơquan có liên quan hoặc cơ quan có thẩm quyền và thông báo cho người yêu cầu

về việc đó (Điều 20 Luật tiếp cận thông tin công của Cộng hòa Slovania 2003)nhưng cũng có nước chỉ dừng lại ở việc trả lại yêu cầu và hướng dẫn tiếp chođương sự đến cơ quan có thẩm quyền để giải quyết Việc cấp giấy biên nhận có

ý nghĩa quan trọng trong quá trình giải quyết các vấn đề khiếu nại, vi phạmtrong quá trình thực hiện việc tiếp cận thông tin Ngoài ra cán bộ tiếp nhận yêucầu phải ghi các thông tin về việc tiếp cận thông tin (tên, địa chỉ người yêu cầu,thông tin cần tiếp cận, hình thức trả lời, ) vào sổ thụ lý “Ở một số nước đơnyêu cầu còn được đăng ký tại cơ quan đăng ký trung ương và ghi rõ của côngchức nhận đơn, ngày nhận đơn và việc giải quyết yêu cầu đó ra sao.”34

Trên cơ sở yêu cầu tiếp cận thông tin, luật tiếp cận thông tin hầu hết cácnước đều quy định một thời hạn hợp lý để cơ quan có trách nhiệm cung cấpthông tin giải quyết yêu cầu tiếp cận thông tin bằng việc ra thông báo đáp ứngyêu cầu hay từ chối yêu cầu tiếp cận thông tin Thông thường việc thông báo trảlời của cơ quan thụ lý yêu cầu dưới dạng văn bản Luật tiếp cận thông tin một sốnước quy định trong trường hợp quá thời hạn gửi yêu cầu giải quyết yêu cầu thìđược hiểu là đã chấp nhận yêu cầu tiếp cận thông tin Nội dung thông báo giảiquyết yêu cầu tiếp cận thông tin bao gồm có hay không chấp nhận việc tiếp cậnthông tin, số phí phải nộp, hình thức tiếp cận, thời điểm, địa điểm đáp ứng yêucầu cung cấp thông tin Trường hợp từ chối tiếp cận phải nêu rõ lý do từ chối.Việc thông báo giải quyết yêu cầu tiếp cận thông tin với các nội dung trên là cơ

sở người yêu cầu thực hiện việc khiếu nại và các cơ quan liên quan giám sát,kiểm tra thực thi luật

Trường hợp cơ quan tiếp nhận yêu cầu chấp nhận yêu cầu, pháp luật tiếpcận thông tin các nước đều quy định thời hạn đáp ứng yêu cầu tiếp cận thôngthường từ 7 đến 30 ngày tùy thuộc vào thông tin mà người yêu cầu muốn tiếpcận.Ví dụ, Luật về quyền thông tin của Mehico 2002 quy định “trong thời hạn

34 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ xây dựng dự án Luật tiếp cận thôn tin tại Việt Nam, Hà Nội

Trang 32

10 ngày kể từ khi ra thông báo trả lời cho phép tiếp cận thông tin (nếu việc tiếpcận thông tin có yêu cầu phải trả phí thì tính từ ngày đương sự hoàn tất thủ tụcnộp phí tiếp cận thông tin) cơ quan nhà nước có trách nhiệm phải tổ chức chongười yêu cầu tiếp cận thông tin”35 Đối với Luật tiếp cận thông tin của Bungaria

2000 quy định “khi cho phép tiếp cận thông tin phải thông báo phạm vi thông tinđược cung cấp, thời gian mà người yêu cầu có thể tiếp cận trong vòng 30 ngày,địa điểm tiếp cận, hình thức tiếp cận, chi phí tiếp cận (nếu có)”36

Như vậy, pháp luật về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin của các nướckhác nhau có quy định khác nhau nhưng tựu chung đều thông nhất là các quyđịnh cụ thể về trình tự, thủ tục tiếp cận thông tin là cơ sở cho việc thực hiệnquyền tiếp cận thông tin của người dân Đây cũng là cơ sở pháp lý xác địnhthẩm quyền của các chủ thể trong quy trình tiếp cận thông tin, bảo đảm việcphân công công việc một cách hợp lý cho các chủ thể này Trình tự, thủ tục đơngiản, công khai, minh bạch có ý nghĩa trong việc giảm thiểu các khiếu nại và là

cơ sở để giải quyết các khiếu nại phát sinh trong quá trình thực thi quyền tiếpcận thông tin của người dân Xuất phát từ ý nghĩa trên, việc nghiên cứu trình tựthủ tục tiếp cận thông tin thật đơn giản, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của ViệtNam là một vấn đề đã và đang đặt ra cho Việt Nam trong quá trình soạn thảo Dự

án Luật tiếp cận thông tin

2.1.5 Phí tiếp cận thông tin

Luật tự do thông tin các nước đều cho phép Chính phủ được thu phí đốivới người yêu cầu cung cấp thông tin Ở các nước khác nhau thì mức độ quyđịnh về phí tiếp cận thông tin cũng khác nhau và tuyệt đại các nước chỉ quy địnhnguyên tắc chung về phí tiếp cận thông tin để làm cơ sở cho các cơ quan quyđịnh cụ thể về mức phí tiếp cận thông tin (Cộng hòa Sec, Slovakia, Tajikistan,

Ba Lan, ) Luật Tiếp cận thông tin của một số nước quy định giao quyền tự chủcho các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông itn được quyên quyếtđịnh mức phí mà người yêu cầu tiếp cận thông tin phải trả, đồng thời cũng quy

35 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ xây dựng dự án Luật tiếp cận thôn tin tại Việt Nam, Hà Nội

36 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ xây dựng dự án Luật tiếp cận thôn tin tại Việt Nam, Hà Nội

Trang 33

định trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức này trong việc thông báo cho ngườiyêu cầu về mức phí tiếp cận thông tin khi chấp nhận yêu cầu cung cấp thông tin.Việc xác định phí tiếp cận thông tin phải dựa trên nguyên tắc giữa quyền côngdân và trách nhiệm của nhà nước, phải kết hợp hài hòa lợi ích của Nhà nước vàcủa công dân Theo GS.TSKH Đào Trí Úc, “việc phí cung cấp thông tin ở cácnước khá cao không phù hợp với khả năng và nhu cầu tiếp cận thông tin củatầng lớp nghèo và khó khăn trong xã hội, từ đó dẫn đến hiện tượng độc quyềnthông tin hoặc đầu cơ thông tin”37, cản trở việc tiếp cận thông tin.

Thông lệ quốc tế khi quy định về phí tiếp cận thông tin gồm có 4 loạidạng: Chi phí tìm kiếm thông tin, chi phí liên quan đến việc chuẩn bị hoặc kiểmtra thông tin, chi phí sao chụp hoặc cung cấp thông tin và chi phí gửi thông tincho người yêu cầu “Một số nước chỉ quy định phí tiếp cận thông tin chỉ có phísao chụp thông tin (Mexico, Jamaica và Peru)”38 Để đảm bảo thống nhất về biểuphí và hạn chế áp lực thu phí, luật tiếp cận thông tin nhiều nước như Ấn Đô,Nhật Bản và Thụy Điển quy định cơ quan trung ương duy nhất có thẩm quyềnđặt ra biểu phí Biểu phí tiếp cận thông tin ở các nước cũng có sự khác nhau,được áp dụng cho từng loại thông tin và theo đối tượng yêu cầu Ví dụ, tạiMexico khi tiếp cận dữ liệu thông tin cá nhân được miễn phí; Ở Hoa kỳ người

đề nghị cung cấp thông tin là thương nhân khác với đối tượng khác Theo đó,thương nhân sẽ phải trả phí tìm kiếm, nhân bản và rà soát tài liệu còn các cơ sởgiáo dục, nhà khoa học chỉ phải trả phí tìm kiếm và phí nhân bản

Trước khi người đề nghị được hưởng quyền tiếp cận thông tin thì họ phảithực hiện nghĩa vụ nộp phí, ví dụ điểm 2, khoản 9 Luật Tự do thông tin VươngQuốc Anh 2000 quy định “ có quan công quyền không có nghĩa vụ phải thựchiện nghĩa vụ cung cấp thông tin cho đến khi chi phí đó được thanh toán trongtrong thời hạn 3 tháng kể từ ngày thông báo chi phí được gửi đến nguyên đơn”39.Xuất phát từ nguyên tắc: Nhà nước có nghĩa vụ cung cấp thông tin cho người

37 GS.TSKH Đào Trí úc (2011), Thực tiễn và những yêu cầu thúc đẩy tiếp cận thông tin để xây dựng Nhà nước

pháp quyền ở Việt Nam, Khoa luật Đai học quốc gia Hà Nội (2011), Tiếp cận thông tin pháp luật và thực tiễn trên thế giới và ở Việt Nam, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội.

38 Mai Nguyễn, Cung cấp thông tin theo yêu cầu – cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân, Tạp chí dân chủ pháp luật (2010), Số chuyên đề xây dựng Luật tiếp cận thông tin, Hà Nội.

39 Luật Tự do thông tin Vương Quốc Anh, Khoa luật…….

Trang 34

dân pháp luật nhiều nước khi quy định vấn đề phí tiếp cận thông tin phải dựatrên nguyên tắc hoàn trả chi phí cần thiết của Nhà nước đã bỏ ra để cung cấpthông tin nhưng không tạo rào cản đối với quyền tiếp cận thông tin.

Trên cơ sở nghiên cứu các quy định về phí tiếp cận thông tin của cácquốc gia, chúng tôi rút ra một số điểm trong trường hợp Việt Nam xây dựng cácquy định về phí tiếp cận thông tin

Thứ nhất, Phí tiếp cận thông tin là cần thiết và người dân phải trả khi

tiếp cận thông tin Mặc dù nhà nước có trách nhiệm cung cấp thông tin cho cộngđồng nhưng nó cũng là một hoạt động mang tính chất dịch vụ công Khoản tiềnngười dân phải trả khi tiếp cận thông tin cần được xác định không phải là lệ phí

mà là một khoản phí Khoản phí này không được quy định mang tính chất kinhdoanh, vì lợi nhuận và phải đảm bảo người dân chấp nhận được, không cảm thấy

sợ phải nộp khi tiếp cận thông tin Khoản phí này là cần thiết nhằm đảm bảo bùđắp một phần các chi phí hoạt động cho cơ quan nhà nước, tránh tình trạng quátải cho ngân sách nhà nước và tránh tình trạng công dân yêu cầu cung cấp thôngtin một cách tùy tiện

Thứ hai, Phí tiếp cận thông tin phải đảm bảo nguyên tắc không cản trở

việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin Các quy định về phí tiếp cận thông tin làmột trong những vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến tính thực thi của luật nênrất được quan tâm vầ là vấn đề thường gây ra tranh cãi Việc quy định về khoảnphí sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tiếp cận thông tin, có thể làm tăng hoặcgiảm các yêu cầu cung cáp thông tin từ phía các cơ quan Chính phủ Khoản lệphí tiếp cận thông tin có thể tạo rào cản hành chính không cần thiết và làm giảm

số các yêu cầu hơn là một cơ chế bồi hoàn các chi phí đã bỏ ra Do đó, việc quyđịnh phí tiếp cận thông tin phải ở mức độ hợp lý, đảm bảo hoàn trả những chiphí cần thiết của Nhà nước đã bỏ ra và không tạo rào cản hành chính với quyềntiếp cận thông tin Kinh nghiệm cho thấy, tốt nhất nên hạn chế các khoản phítrong việc chi trả các chi phí thực sự của việc cung cấp thông tin và không baogồm khoảng thời gian để cơ quan đó giải quyết về việc áp dụng các trường hợp

Trang 35

có ngoại lệ hay không, hay cung cấp các thông tin vì lợi ích công cộng và khôngnên thu phí với việc khiếu nại.

Thứ ba, pháp luật tiếp cận thông tin chỉ quy định mang tính chất nguyên

tắc đối với quy định về phí tiếp cận thông tin Mức phí cụ thể giao cho Chínhphủ quy định đối với từng trường hợp Điều này cũng xuất phát từ chức năngcủa luật tiếp cận thông tin là giải quyết xung đội giữa quyền tiếp cận thông tin

và quyền bảo mật Thông tin nhà nước nắm dưới nhiều dạng, phức tạp do đóluật chỉ quy định mang tính chất nguyên tắc không thể quy định riêng lẻ, cụ thể

về tiếp cận thông tin từng lĩnh vực Do tính chất của luật khung nên luật tiếp cậnthông tin chỉ cần quy định mang tính nguyên tắc mà không cần mọt chươngriêng, không quy định mức phí cụ thể Điều này cũng phù hợp với thông lệ quyđịnh về các loại phí, lệ phí ở Việt Nam

2.2 Trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân

Việc quyền tiếp cận thông tin của người dân có được thực thi hay không

phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động của các cơ quan nắm giữ thông tin, đặc biệt lànăng lực, thái độ phục vụ của cán bộ phụ trách giải quyết yêu cầu tiếp cận thôngtin Do đó, một trong những biện pháp quan trọng để đảm bảo cho việc thực thiquyền này đa số pháp luật tiếp cận thông tin các nước đều có quy định khá cụthể về trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ có trách nhiệm cung cấp thông tin.Việc quy định trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tintrong trường hợp chủ động công khai thông tin ngay cả khi không có yêu cầu vàtrong trường hợp cung cấp thông tin khi có yêu cầu

Đối với trường hợp chủ động cung cấp thông tin, pháp luật tiếp cận hầuhết các quốc gia đều quy định các cơ quan có trách nhiệm cung cấp thông tinphải cung cấp một số loại thông tin nhất định một cách tích cực Các thông tinnày bao gồm chi tiết về cơ cầu tổ chức và các quan chức chủ yếu của chính phủ,các đạo luật, quy định, các đề xuất và chính sách hiện hành, các biểu mẫu, quyếtđịnh Việc công bố các thông tin đó có thể dưới nhiều hình thức đăng tải trêntrang thông tin điện tử, trên các phương tiện thông tin đại chúng, qua người phát

Trang 36

ngôn, Bên cạnh, việc quy định các loại thông tin các cơ quan phải có tráchnhiệm chủ động cung cấp thì luật tiếp cận các nước còn quy định thời gian thựchiện việc công bố như việc công bố trên trang tin điện tử theo định kỳ

Đối với trường hợp cung cấp thông tin theo yêu cầu, pháp luật thông tinquy định khá cụ thể trách nhiệm của cơ quan cung cấp thông tin từ giai đoạn thụ

lý yêu cầu, quy định về thời hạn trả lời, đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, từchối tiếp cận thông tin và bố trí cán bộ phụ trách giải quyết yêu cầu tiếp cận thôntin Ví dụ Luật tiếp cận thông tin Autralia quy định “trong thời gian 14 ngày kể

từ ngày nhận được yêu cầu tiếp cận thông tin, cơ quan tiếp cận yêu cầu phải gửithông báo cho người yêu cầu để thông báo về việc đơn yêu cầu của họ đã được

xử lý; Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu tiếp cận thông tin,

cơ quan tiếp nhận yêu cầu phải ra thông báo về việc xử lý yêu cầu cung cấpthông tin, cụ thể là quyết định cho phép hay không cho phép tiếp cận thôngtin”40

Đối với cán bộ phụ trách cung cấp thông tin theo khuyến cáo tại phầnthứ III Luật mẫu về tự do thông tin thì mỗi cơ quan công cộng chỉ định một cán

bộ phụ trách thông tin và đảm bảo các nhân viên có thể tiếp cận được dễ dàngnhững thông tin liên quan đến cán bộ đặc trách về thông tin Điều 9, Luật tiếpcận thông tin công của Cộng hòa Slovenia 2003 quy định “mọi cơ quan phải bốtrí một hoặc một số cán bộ chuyên trách phụ trách việc cung cấp thông tin Một

số sơ quan có thể phối hợp cùng chỉ định một hoặc một số cán bộ đại diện chungchuyên trách việc cung cấp thông tin và việc chỉ định này không bị coi là trái vớiquy định trên Cán bộ phụ trách thông tin có trách nhiệm trong việc lưu trữ, cậpnhật và hủy bỏ hồ sơ, tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin, hỗ trợ các cá nhântìm kiếm thông tin, tiếp nhận các khiếu nại liên quan đến việc thực hiện cungcấp thông tin Trường hợp có hành vi hủy hoại, làm giả, làm sai lệch nội dung

hồ sơ, cản trở việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin, không cung cấp thông tin,trì hoãn việc cung cáp thông tin thì tùy theo mức độ có thể bị xử lý kỷ luật hoặctruy cứu trách nhiệm hình sự Nếu gây thiệt hại còn phải bồi thường dân sự

40 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ dự án xây dựng Luậ tiếp cận thông tin,

Trang 37

Như vậy, việc quy định rõ ràng, cụ thể trách nhiệm của cơ quan cung cấpthông tin, cán bộ phụ trách cung cấp thông tin là cơ sở quan trọng để người dângiám sát việc thực hiện quyền của mình, đặc biệt là tăng cường trách nhiệm giảitrình, tinh thần trách nhiệm của cán bộ, thủ trưởng cơ quan có trách nhiệm cungcấp thông tin Bởi nếu cán bộ, cơ quan vi phạm các quy định của pháp luật thuộctrách nhiệm của họ thì họ có thể phải đối mặt với các trách nhiệm về kỷ luật,hành chính, dân sự - bồi thường thiệt hại thậm chí là trách nhiệm hình sự.

2.3 Cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin

Để hỗ trợ cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin và tránh tình trạngviệc ghi nhận quyền đó mang tính hình thức, không được đảm bảo trên thực tếthì cần có cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin củangười dân Ở các quốc gia khác nhau thì cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiệnquyền tiếp cận thông tin được quy định khác nhau Có quốc gia quy định việckiểm tra, giám sát được thực hiện bằng cơ chế giám sát hành chính Các quốcgia này chiếm khoảng 1/3 tổng số các quốc gia có luật tiếp cận thông tin; Cóquốc gia thực hiện việc giám sát bằng con đường tư pháp, tòa án, có quốc giaquy định việc kiểm tra giám sát quyền tiếp cận thông tin được thực hiện bởi một

cơ quan độc lập Cơ quan độc lập này có thể trực thuộc hệ thống cơ quan hànhchính, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được tổ chức từ trung ương đến địa phương(như Uỷ ban thông tin của Ấn Độ) hoặc là cơ quan này sẽ thuộc Nghị viện (như

Uỷ ban tiếp cận tài liệu hành chính của Bồ Đào Nha) hoặc là một thiết chế trựcthuộc Văn Phòng Thủ tướng (như Italia, Nhật Bản)

Cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện trách nhiệm cung cấp thông tincủa cơ quan công quyền chủ yếu thông qua cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếukiện của người dân khi các cơ quan công quyền có trách nhiệm cung cấp thôngtin nhưng không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ, ảnh hưởng đếnquyền tiếp cận thông tin của người đề nghị

Qua nghiên cứu cơ chế kiểm tra, giám sát thực hiện quyền tiếp cận một sốnước chúng tôi nhận thấy một số điểm sau:

Trang 38

Thứ nhất, khi pháp luật đã quy định quyền tiếp cận thông tin thì phải có

cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực hiện chúng trên thực tế Đây là cơ chế quantrọng giúp cho quy định của luật được thực thi trên thực tế trong việc nâng caotrách nhiệm, tránh được sự tùy tiện, lẩn tránh trách nhiệm của cơ quan có tráchnhiệm cung cấp thông tin Việc xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát việc thực thiquyền tiếp cận thông tin là cơ sở quan trọng tránh tình trạng quy định luật chỉmang ý nghĩa tuyên bố, khẩu hiệu, không có giá trị thực tiễn.Ví dụ, “Ở VươngQuốc Anh có 77% đơn khiếu nại nội bộ gửi cho cơ quan Chính phủ đã bị từ chốihoàn toàn vào năm 2005”41

Thứ hai, không nhất thiết phải thành lập một cơ quan độc lập để thực hiện

chức năng kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin Quanghiên các nước có pháp luật về tiếp cận thông tin thì có 1/3 các nước không có

cơ quan độc lập thực hiện chức năng này Một số quốc gia có cơ quan độc lậpđược tổ chức bài bản để thực hiện chức năng kiểm tra, giám sát nhưng việc thựcthi Luật vẫn đạt kết quả không cao Tuy nhiên, cũng có quốc gia không có cơquan độc lập nhưng lại thực thi luật lại rất tốt Bởi dù có hay không có cơ quanđộc lập thì cơ chế giải quyết của các cơ quan vẫn thông qua cơ chế khiếu nạihành chính hoặc kiện ra tòa án Điều này cũng phù hợp thể chế hiện hành ở ViệtNam

2.4 Cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện quyền tiếp cận thông tin

Trong trường hợp bị từ chối cung cấp thông tin hoặc cung cấp thông tinkhông đúng theo quy định pháp luật thì hầu hết pháp luật các nước đều cho phépcông dân có quyền khiếu nại, khiếu kiện đến cơ quan có thẩm quyền để bảo vệquyền lợi của họ Trừ một số nước như Đan Mạch (luật năm 1985), Hà Lan (luậtnăm 1991) không trực tiếp quy định về giải quyết khiếu nại còn lại pháp luậttiếp cận thông tin các nước đều quy định về cơ chế giải quyết khiếu nại, khiếukiện của người dân liên quan đến quyền tiếp cận thông tin42 Thông thường cơchế giải quyết khiếu nại, khiếu kiện về quyền tiếp cận thông tin có 03 dạng: Cơ

41 Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục vụ xây dựng Dự án Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội.

42 Viện Nghiên cứu qquyền con người, (2007) Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

Trang 39

chế giải quyết khiếu nại hành chính nội bộ; trao cho cơ quan độc lập giải quyếtkhiếu nại và giải quyết khiếu kiện về quyền tiếp cận thông tin ở tòa án.43

2.4.1 Cơ sở giải quyết khiếu nại, khiếu kiện

Qua nghiên cứu cơ sở giải quyết khiếu nại, khiếu kiện là đảm bảo quyềntiếp cận thông tin của người dân được quy định trong luật về tiếp cận thông tincủa mỗi nước Tuy nhiên, có nước quy định rõ điều kiện cụ thể để người dânthực hiện quyền khiếu nại như Luật tiếp cận thông tin của Ấn Độ 2005 cơ sởkhiếu nại gồm: Không được tạo điều kiện cung cấp thông tin; bị từ chối cungcấp thông tin; bị từ chối cung cấp thông tin; không phản hồi đúng thời hạn; phảitrả lệ phí vô lý; thông tin sai lạc không đầy Đủ Đối với Luật tiếp cận thông tincủa Ba Lan 2001 quy định: Khi không thỏa mãn với giải trình của cơ quan côngquyền không cung cấp thông tin theo phương cách được yêu cầu hoặc từ chốicung cấp thông tin theo quy định của Luật, chủ thể có quyền khiếu nại Ở Cộnghòa Slovenia quyền khiếu nại đựoc quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 27 khi

bị từ chối cung cấp thông tin44 hay Điều 5 Luật tiếp cận thông tin Canada 1985,Luật tiếp cận thông tin Nam Phi 2000, Tuy nhiên, cũng có một số nước quyđịnh cơ sở thực hiện quyền khiếu nại của người dân theo một cách chung nhất,

đó là khi “khi có sự vi phạm các quy định của luật” như Luật tiếp cận thông tincủa Albania 1999, Luật tiếp cận thông tin Hàn Quốc 1996 Đặc biệt, trong phápluật tiếp cận thông tin của Nhật Bản dù không có quy định cụ thể trong luậtnhưng thực tế người dân vẫn có quyền khiếu nại, khiếu kiện về tiếp cận thôngtin và coi đây là một quyền mặc nhiên

Trên cơ sở nghiên cứu pháp luật của các nước quy định cơ sở pháp lý thựchiện quyền khiếu nại, khiếu kiện cho thấy đa số pháp luật các nước đều có quyđịnh cụ thể về điều kiện để thực hiện quyền khiếu nại, khiếu kiện Theo đó,thông thường người dân thực hiện quyền khiếu kiện khi các cơ quan có tráchnhiệm cung cấp thông tin từ chối cung cấp thông tin, không cung cấp thông tin

43 David Banisar, Freedom of imformation around the world 2006- A Global survey of access to government information laws, Privacy international, 2006 – Nguồn:Viện Nghiên cứu qquyền con người, (2007) Các văn kiện quốc tế và luật của một số nước về tiếp cận thông tin, NXB Công an nhân dân, Hà Nội.

44 Luật Tiếp cận thông tin công của Cộng hòa SLOVENIA năm 2005: Nguồn Bộ Tư pháp (2011), Báo cáo phục

vụ xây dựng Dự án Luật tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội

Trang 40

đầy đủ, phù hợp với yêu cầu, đúng hạn, thu lệ phí bất hợp lý Điều này cũng phùhợp với hệ thống pháp luật thành văn ở nước ta đó là càng cụ thể, chi tiết thìviệc tổ chức thực hiện sẽ thuận lợi hơn.

2.4.2 Quy trình giải quyết khiếu nại, khiếu kiện

Pháp luật tiếp cận thông tin các nước quy định về cơ chế giải quyết khiếunại được tách thành 02 nhóm chính

Nhóm thứ nhất, cơ quan giải quyết khiếu nại nội bộ (Nam Phi, Hoa Kỳ,

Ấn Độ, Peru, Slovenia) Theo đó, cơ quan cấp trên trực tiếp xem xét lại quyếtđịnh cấp dưới về tiếp cận thông tin Ưu điểm của cơ chế này là không tốn kém,

có thể nhanh chóng Song nó cũng có nhược điểm đó là các cơ quan này thườngđồng tình với nhau Điều này cũng dễ hiểu bởi các cơ quan này cùng một hệthống, trong trường hợp cơ quan cấp dưới có trách nhiệm cung cấp thông tinnhưng khi có “vấn đề” phát sinh thì họ cũng thường xin ý kiến chỉ đạo của cơquan cấp trên Ở Anh, việc khiếu nại nội bộ là thủ tục bắt buộc trước khi khiếunại tới một cấp giải quyết khác

Nhóm thứ hai, cơ quan giải quyết khiếu nại độc lập Cơ quan độc lập giải

quyết khiếu nại về tiếp cận thông tin với ba mô hình đó là thanh tra Quốc hội(Ấn Độ); Cao ủy viên thông tin (Canada), Ủy ban thông tin ( Nhật Bản) hoặc cơquan dạng bán tòa án

Thông thường việc khiếu nại được thực hiện khi người yêu cầu tiếp cậnthông tin bị từ chối tiếp nhận cung cấp thông tin, việc trả lời yêu cầu tiếp cậnthông tin quá thời hạn luật định, người yêu cầu phải trả các khoản phí, lệ phí vô

lý, thông tin cung cấp bị sai lạc, không đầy đủ hoặc nhầm lẫn ảnh hưởng đếnquyền tiếp cận thông tin của người dân

Đối với việc khiếu kiện thì hầu hết các nước đều quy định cấp giải quyếtkhiếu kiện cuối cùng về quyền tiếp cận thông tin là tòa án Tuy nhiên, trước khigiải quyết khiếu kiện ở tòa án thì đa số các nước đều quy định người đó phảithực hiện thủ tục tiền tố tụng đó là khiếu nại, trừ một số nước luật quy định côngdân có quyền khởi kiện ngay ra tòa mà không qua bước khiếu nại (Nhật Bản)

“Ở Ba Lan tòa án giải quyết là tòa án hành chính ở địa phương có cơ quan là bị

Ngày đăng: 15/05/2015, 11:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. ACT!ONAID (2010), Truyền thông có sự tham gia của cộng đồng một số mô hình giúp người dân tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông có sự tham gia của cộng đồng một số mô hình giúp người dân tiếp cận thông tin
Tác giả: ACT!ONAID
Năm: 2010
2. ThS. Dương Thị Bình (2009), Thực trang quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 17, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trang quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam
Tác giả: ThS. Dương Thị Bình
Năm: 2009
3. Bộ Tư pháp (2008), Bản thuyết minh chi tiết về dự thảo Luật Tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản thuyết minh chi tiết về dự thảo Luật Tiếp cận thông tin
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2008
4. Bộ Tư pháp (2010), Báo cáo phục vụ xây dựng dự án Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phục vụ xây dựng dự án Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
5. Bộ Tư pháp (2010), Báo cáo số 41 về việc chỉnh lý Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo số 41 về việc chỉnh lý Dự thảo Luật Tiếp cận thông tin
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
6. Bộ Tư pháp (2010), Dự thảo Báo cáo đánh giá tác động pháp luật của dự thảo Luật Tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Dự thảo Báo cáo đánh giá tác động pháp luật của dự thảo Luật Tiếp cận thông tin
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
7. Bộ Tư pháp (2010), Luật Tiếp cận thông tin công của Cộng hòa Slovenia 2003. Nguồn: Bộ Tư pháp (2010), Báo cáo phục vụ xây dựng dự án Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tiếp cận thông tin công của Cộng hòa Slovenia 2003". Nguồn: Bộ Tư pháp (2010), "Báo cáo phục vụ xây dựng dự án Luật Tiếp cận thông tin tại Việt Nam
Tác giả: Bộ Tư pháp (2010), Luật Tiếp cận thông tin công của Cộng hòa Slovenia 2003. Nguồn: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
8. Bộ Tư pháp (2010), Báo cáo khảo sát thực trạng tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát thực trạng tiếp cận thông tin
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2010
9. Bộ Tư pháp (2011), Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ Cơ sở lý luận và thực tiến của việc hòan thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng Luật tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận và thực tiến của việc hòan thiện pháp luật về tiếp cận thông tin phục vụ xây dựng Luật tiếp cận thông tin
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2011
10. Bộ Tư pháp (2012), Dự án điều tra cơ bản: Nhu cầu tiếp cận thông tin và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiếp cận thông tin và các điều kiện bảo đảm thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân, tổ chức
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2012
11. Bộ Tư pháp (2013), Báo cáo khảo sát về tình hình lưu trữ thông tin, tài liệu và các điều kiện bảo đảm việc cung cấp thông tin cho cá nhân, tổ chức tịa một số Bộ, Ngành và địa phương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát về tình hình lưu trữ thông tin, tài liệu và các điều kiện bảo đảm việc cung cấp thông tin cho cá nhân, tổ chức tịa một số Bộ, Ngành và địa phương
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
12. Bộ Tư pháp (2013), Dự thảo số 41 Dự án Luật Tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án Luật Tiếp cận thông tin
Tác giả: Bộ Tư pháp
Năm: 2013
13. GS.TSKH Lê Cảm (2009), Pháp luật và phát triển – vai trò của giới luật gia trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin, Kỷ yếu hội thảo“Luật tiếp cận thông tin – kinh nghiệm một số nước trên thế giới”, Khánh Hòa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật và phát triển – vai trò của giới luật gia trong việc thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin, "Kỷ yếu hội thảo “Luật tiếp cận thông tin – kinh nghiệm một số nước trên thế giới
Tác giả: GS.TSKH Lê Cảm
Năm: 2009
14. Chính phủ (2010), Dự thảo Tờ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự án Luật Tiếp cận thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo Tờ trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội về dự án Luật Tiếp cận thông tin
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2010
15. Đảng cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991, Nxb Sự Thật. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự Thật. Hà Nội
Năm: 1991
16. Nguyễn Chí Dũng (2007), Quyền tiếp cận thông tin: Yêu cầu của quản lý nhà nước hiệu quả, vì phát triển, Kỷ yếu hội thảo “Tiếp cận thông tin – quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam, Đan Mạch” và hội thảo “Tiếp cận thông tin – thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm của Vương quốc Anh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền tiếp cận thông tin: Yêu cầu của quản lý nhà nước hiệu quả, vì phát triển, "Kỷ yếu hội thảo “Tiếp cận thông tin – quy định quốc tế, kinh nghiệm Việt Nam, Đan Mạch
Tác giả: Nguyễn Chí Dũng
Năm: 2007
17. TS. Vũ Công Giao (2010), Luật Tiếp cận thông tin, một số vấn đề lý luận, pháp luật thực tiễn trên thế giới, Tạp chí Khoa học ĐHQG, Luật học 26, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Tiếp cận thông tin, một số vấn đề lý luận, pháp luật thực tiễn trên thế giới
Tác giả: TS. Vũ Công Giao
Năm: 2010
18. TS. Vũ Công Giao (2011), Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam. Nguồn: Khoa Luật – Đại học Quốc gia (2011), Tiếp cận thông tin: Pháp luật và Thực tiến trên thế giới và ở Việt Nam., NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam
Tác giả: TS. Vũ Công Giao (2011), Cơ chế đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của các cơ quan nhà nước ở Việt Nam. Nguồn: Khoa Luật – Đại học Quốc gia
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 2011
19. Trương Thị Hồng Hà (2009), Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin là một tất yếu khách quan, Tạp chí Pháp lý số 3, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện pháp luật về quyền tiếp cận thông tin là một tất yếu khách quan
Tác giả: Trương Thị Hồng Hà
Năm: 2009
21. Ths. Trần Thị Hồng Hạnh (2012), Pháp luật Việt Nam về tự do ngôn luận, tự do báo chí: phù hợp với luật pháp quốc tế, Tạp chí nhân quyền Việt Nam số 5+6, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật Việt Nam về tự do ngôn luận, tự do báo chí: phù hợp với luật pháp quốc t
Tác giả: Ths. Trần Thị Hồng Hạnh
Năm: 2012

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w