1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

72 772 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 44,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, con người luôn chiếm vị trí hàng đầu, bởi vì chỉ có con người lao động và sáng tạo thì mới có thể thực hiện được mục tiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.Giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ là một bộ phận cơ bản trong hệ thống GDTC nhân dân, trong đó các bài tập thể dục thể thao (TDTT) là một biện pháp quan trọng nhằm đem lại sức khoẻ cho mọi người và thể chất cường tráng cho thế hệ mai sau. Trong dự thảo nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX có viết “Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng cả bề rộng lẫn chiều sâu, làm cho TDTT thực sự trở thành một phương tiện đại chúng, góp phần bảo vệ và tăng cường sức khoẻ cho nhân dân, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước”. Muốn phát triển phong trào TDTT thì không thể thiếu được vai trò GDTC trong nhà trường ở các cấp học.Những năm cuối thế kỷ XX, cách mạng khoa học và công nghệ đạt tới đỉnh cao của sự phát triển, đòi hỏi con người phải có trí tuệ cao. Trí tuệ phát triển càng cao, thì đòi hỏi thể chất, nền tảng của trí tuệ, cũng được phát triển một cách tương xứng. Việc nâng cao sức khoẻ con người, là vấn đề trọng tâm, cốt lõi của mọi mô hình phát triển của các quốc gia, các chế độ chính trị xã hội. Vì vậy, Đảng và nhà nước ta luôn luôn coi trọng phát triển thế hệ trẻ theo hướng “ Cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”.Đây là quan điểm phát triển con người toàn diện trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Những năm qua ở nước ta công tác giáo dục thể chất trong các nhà trường đã có nhiều chuyển biến rõ rệt. Ở tất cả các cấp học, một chương trình giáo dục thể chất đã được biên soạn thống nhất, với nhiều nội dung cơ bản đã được đưa vào giảng dạy. Đội ngũ giáo viên giảng dạy thể dục đông về số lượng, chất lượng cũng được nâng cao.Để giáo dục con người phát triển toàn diện, mỗi học sinh, sinh viên trước hết phải có sức khoẻ. Sức khoẻ là cơ sở tiếp thu khoa học kỹ thuật, sau khi ra trường góp phần xây dựng đất nước, cở sở của sức khoẻ là phát triển các tố chất thể lực. Nhiệm vụ của GDTC trong các nhà trường một mặt trang bị cho sinh viên tiếp thu được các kỹ năng, kỹ xảo nhưng mặt quan trọng hơn là phát triển cho họ những tố chất thể lực cần thiết.Một số công trình nghiên cứu khoa học ở nước ta, đã xác nhận rằng trình độ thể lực chung của học sinh, sinh viên Việt nam còn ở mức độ yếu nên các tác giả cũng đề nghị nên đưa vào chương trình Giáo dục thể chất các bài tập phát triển các tố chất thể lực cho học sinh và sinh viên ở tất cả các cấp học.Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà nội là một trong những trường Đại học mới được thành lập. Trường có nhiệm vụ đào tạo cử nhân Kinh tế và Kỹ sư của một số ngành kỹ thuật như: Công nghệ thông tin, Cơ Điện tử, Điện Điện tử, Xây dựng, Kiến trúc…Thực tiễn công tác GDTC tại trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội cho thấy, trong những năm qua nhà trường luôn kiểm tra, đánh giá trình độ thể lực của sinh viên, cũng như đánh giá công tác GDTC. Tuy nhiên hiệu quả của công tác này chưa cao do việc thực hiện chưa đồng bộ, sân bãi dụng cụ còn thiếu. Việc đánh giá thể lực của sinh viên chỉ diễn ra ở một số môn học cũng như một bộ phận không nhỏ sinh viên không đạt tiêu chuẩn thể lực do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) ban hành.Đặc thù của khối các ngành kỹ thuật chủ yếu là nam sinh viên, khối lượng học tập lớn. Sau khi tốt nghiệp công việc đại đa số là vất vả và nặng nhọc. Qua quan sát trình độ thể lực chung của sinh viên các ngành khối kỹ thuật cho thấy, trình độ thể lực chung của sinh viên không đồng đều và còn thấp. Thông qua các kỳ kiểm tra kết thúc môn học GDTC cho thấy khoảng trên 30% sinh viên không đạt yêu cầu.Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội”.

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong sự nghiệp đổi mới ngày nay, con người luôn chiếm vị trí hàng đầu,bởi vì chỉ có con người lao động và sáng tạo thì mới có thể thực hiện được mụctiêu “ Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”

Giáo dục thể chất (GDTC) cho thế hệ trẻ là một bộ phận cơ bản trong hệthống GDTC nhân dân, trong đó các bài tập thể dục thể thao (TDTT) là một biệnpháp quan trọng nhằm đem lại sức khoẻ cho mọi người và thể chất cường trángcho thế hệ mai sau Trong dự thảo nghị quyết đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX cóviết “Phát triển mạnh mẽ phong trào TDTT quần chúng cả bề rộng lẫn chiều sâu,làm cho TDTT thực sự trở thành một phương tiện đại chúng, góp phần bảo vệ vàtăng cường sức khoẻ cho nhân dân, phục vụ các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hộicủa đất nước” Muốn phát triển phong trào TDTT thì không thể thiếu được vai tròGDTC trong nhà trường ở các cấp học

Những năm cuối thế kỷ XX, cách mạng khoa học và công nghệ đạt tới đỉnhcao của sự phát triển, đòi hỏi con người phải có trí tuệ cao Trí tuệ phát triển càngcao, thì đòi hỏi thể chất, nền tảng của trí tuệ, cũng được phát triển một cách tươngxứng Việc nâng cao sức khoẻ con người, là vấn đề trọng tâm, cốt lõi của mọi môhình phát triển của các quốc gia, các chế độ chính trị xã hội Vì vậy, Đảng và nhànước ta luôn luôn coi trọng phát triển thế hệ trẻ theo hướng “ Cao về trí tuệ, cườngtráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức”

Đây là quan điểm phát triển con người toàn diện trong giai đoạn cách mạnghiện nay Những năm qua ở nước ta công tác giáo dục thể chất trong các nhàtrường đã có nhiều chuyển biến rõ rệt Ở tất cả các cấp học, một chương trình giáodục thể chất đã được biên soạn thống nhất, với nhiều nội dung cơ bản đã được đưavào giảng dạy Đội ngũ giáo viên giảng dạy thể dục đông về số lượng, chất lượngcũng được nâng cao

Để giáo dục con người phát triển toàn diện, mỗi học sinh, sinh viên trước hếtphải có sức khoẻ Sức khoẻ là cơ sở tiếp thu khoa học kỹ thuật, sau khi ra trường

Trang 2

góp phần xây dựng đất nước, cở sở của sức khoẻ là phát triển các tố chất thể lực.Nhiệm vụ của GDTC trong các nhà trường một mặt trang bị cho sinh viên tiếp thuđược các kỹ năng, kỹ xảo nhưng mặt quan trọng hơn là phát triển cho họ những tốchất thể lực cần thiết.

Một số công trình nghiên cứu khoa học ở nước ta, đã xác nhận rằng trình độthể lực chung của học sinh, sinh viên Việt nam còn ở mức độ yếu nên các tác giảcũng đề nghị nên đưa vào chương trình Giáo dục thể chất các bài tập phát triển các

tố chất thể lực cho học sinh và sinh viên ở tất cả các cấp học

Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà nội là một trong nhữngtrường Đại học mới được thành lập Trường có nhiệm vụ đào tạo cử nhân Kinh tế

và Kỹ sư của một số ngành kỹ thuật như: Công nghệ thông tin, Cơ - Điện tử, Điện

- Điện tử, Xây dựng, Kiến trúc…

Thực tiễn công tác GDTC tại trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ HàNội cho thấy, trong những năm qua nhà trường luôn kiểm tra, đánh giá trình độ thểlực của sinh viên, cũng như đánh giá công tác GDTC Tuy nhiên hiệu quả của côngtác này chưa cao do việc thực hiện chưa đồng bộ, sân bãi dụng cụ còn thiếu Việcđánh giá thể lực của sinh viên chỉ diễn ra ở một số môn học cũng như một bộ phậnkhông nhỏ sinh viên không đạt tiêu chuẩn thể lực do Bộ Giáo dục và Đào tạo(GD&ĐT) ban hành

Đặc thù của khối các ngành kỹ thuật chủ yếu là nam sinh viên, khối lượnghọc tập lớn Sau khi tốt nghiệp công việc đại đa số là vất vả và nặng nhọc Quaquan sát trình độ thể lực chung của sinh viên các ngành khối kỹ thuật cho thấy,trình độ thể lực chung của sinh viên không đồng đều và còn thấp Thông qua các

kỳ kiểm tra kết thúc môn học GDTC cho thấy khoảng trên 30% sinh viên khôngđạt yêu cầu

Xuất phát từ những lý do đó, chúng tôi nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng một

số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội”.

Trang 3

Mục đích nghiên cứu: Thông qua nghiên cứu các cơ sở lý luận và thực tiễn

trong công tác giảng dạy môn giáo dục thể chất tại trường đại học Kinh doanh vàCông nghệ Hà Nội chúng tôi lựa chọn và áp dụng các bài tập nhằm phát triển thểlực chung cho nam sinh viên của trường theo đặc thù các chuyên ngành đào tạo.Thông qua đó nâng cao được chất lượng công tác giảng dạy môn GDTC nói riêng

và chất lượng đào tạo chung của nhà trường

Mục tiêu nghiên cứu:

Để đạt được mục đích đề ra, đề tài tiến hành giải quyết các mục tiêu sau:Mục tiêu 1: Nghiên cứu thực trạng công tác giảng dạy môn giáo dục thể chấttại trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà nội

Mục tiêu 2: Lựa chọn và đánh giá hiệu quả các bài tập nâng cao thể lựcchung cho sinh viên trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà nội

Trang 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm chỉ đạo của Đảng và Chính phủ Việt Nam về công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp.

Hiện nay, toàn Đảng, toàn dân ta đang đẩy mạnh cuộc vận động “Học tập vàlàm theo tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, mỗi người cần phải họctập và làm theo những chuẩn mực và tấm gương đạo đức của Người Trong lĩnhvực thể dục thể thao, quan điểm “Dân cường thì quốc thịnh” của Người càng có ýnghĩa sâu sắc và thiết thực Tấm gương rèn luyện thân thể của Người là một thựctiễn sinh động, một bài học quí báu để mỗi người trong chúng ta có thể góp phầnmình vào công cuộc xây dựng một dân tộc, một đất nước giàu về vật chất, vănminh về văn hóa, mạnh mẽ về tinh thần Đó cũng là một trong những hành độngthiết thực nhằm thực hiện mục tiêu của công cuộc đổi mới, nhằm mục tiêu dângiàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh

Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủcộng hoà ra đời, nhưng dân tộc ta, Đảng ta đứng trước muôn vàn khó khăn thửthách; giặc ngoài thù trong cùng với giặc đói, giặc dốt, giặc lụt đe doạ chính quyềncách mạng non trẻ Giữa lúc công việc bộn bề, nhiều vấn đề cấp bách phải giảiquyết, nhưng chỉ gần 5 tháng sau Lễ tuyên ngôn độc lập, ngày 30 tháng Giêng năm

1946, Người ký Sắc lệnh số 14 về việc lập Nha Thể dục Trung ương trực thuộc BộThanh niên Sắc lệnh qui định Nha Thể dục Trung ương có nhiệm vụ cùng Bộ Y tế

và Bộ Quốc gia giáo dục nghiên cứu phương pháp và thực hành thể dục trong toànquốc Bộ Thanh niên sẽ ấn định những việc về tổ chức và ngân sách của Nha Thểdục Trung ương Sau đó ít ngày, Trường thể dục đã ra đời và đặt cơ sở tại căn nhà

ở đường Cột Cờ (Hà Nội) - nơi trước đó là một khu trại học tập của sĩ quan Pháp.Đây là sự kiện, là dấu mốc khai sinh ngành Thể dục thể thao cách mạng Việt

Nam Tiếp đó, ngày 27 tháng 3 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số

38 về việc lập Nha Thanh niên và Thể dục trực thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục với cơ

Trang 5

cấu gồm Phòng Thanh niên và Phòng Thể dục Trung ương. Cũng trong ngày ký

Sắc lệnh 38, Người viết bài Sức khoẻ và thể dục đăng trên báo Cứu quốc - Đây là

lời kêu gọi đầu tiên toàn dân tập thể dục của Người dưới chế độ mới Tối ngày 26tháng 5 - 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh dự Lễ khai mạc Đại hội Thanh niên Hà Nội.Tại đây, Lễ hội thanh niên vận động đã được phát động và Ban tổ chức đã mờiNgười châm ngọn lửa phát động phong trào Khỏe vì nước Từ Hà Nội, phong tràonày đã lan tỏa ra cả nước Nhớ lại những sự kiện trên đây, chúng ta có thể khẳngđịnh, Bác Hồ không chỉ là người khai sinh ra ngành Thể dục thể thao cách mạngViệt Nam, mà còn là người khởi xướng phong trào thể dục quần chúng với khẩuhiệu cách mạng Khỏe vì nước

Hồ Chủ tịch coi vấn đề TDTT và rèn luyện sức khỏe thể hiện tính nhân văn,nhưng cao hơn, ở tầm vĩ mô: Khỏe vì nước, khỏe để phục vụ Tổ quốc, phụng sựnhân dân Rèn luyện sức khỏe là yêu nước, là trách nhiệm của người yêu nước Đó

là quan điểm chính trị, cách mạng Trong Lời kêu gọi toàn dân tập thể dục, Người

đã thể hiện rõ quan điểm này Người viết: “Giữ gìn dân chủ mới; xây dựng nướcnhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công Mỗi mộtngười dân yếu ớt, tức là cả nước yếu, mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là cảnước mạnh khỏe

Vậy rèn luyện tập thể dục, bồi bổ sức khỏe là bổn phận của một người yêunước… Dân cường thì quốc thịnh Tôi mong đồng bào ai cũng gắng tập thể dục”.

Ngay trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứunước, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta vẫn có sự quan tâm sâu sắc tới lĩnh vựcquan trọng này Tại Thủ đô kháng chiến Việt Bắc, ngành TDTT các hoạt độngTDTT vẫn được duy trì Hồ Chí Minh vẫn luyện tập thường xuyên đồng thời rấtquan tâm đến việc rèn luyện sức khỏe của cán bộ, chiến sĩ

Đối với thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở, muốnlàm chủ nhân tương lai của đất nước phải rèn luyện đạo đức cách mạng; học tậpvăn hóa, kỹ thuật chuyên môn, đồng thời phải rèn luyện sức khỏe và thể chất, “có

Trang 6

khỏe mạnh mới đủ sức để tham gia một cách dẻo dai, bền bỉ vào những công việcích nước lợi dân” Từ năm 1958, Người đã chỉ đạo Ủy ban Thể dục Thể thao Trungương phát động Phong trào Thể dục, vệ sinh trong học sinh, sinh viên toàn miềnBắc Để rèn luyện sức khỏe, sẵn sàng tham gia cách mạng, Người đã chỉ đạo việc

tổ chức phong trào tập luyện 5 môn thể thao vũ trang kết hợp Chạy, nhảy, bơi, bắn,

võ với khẩu hiệu Khỏe để sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu Phong trào thiđua rèn luyện trong các lực lượng vũ trang Vai trăm cân, chân ngàn dặm sẵn sàngvượt Trường Sơn vào miền Nam chiến đấu đã có sự quan tâm sâu sắc của Người,Đảng và Nhà nước và lãnh đạo lực lượng vũ trang Trong những năm kháng chiếnchống Mỹ, cứu nước, khắp các địa phương trên miền Bắc các hoạt động thể dụcthể thao vẫn được duy trì thường xuyên Khẩu hiệu Khỏe để lao động, chiến đấu,xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đã trở thành nếp sống, đi vào cuộc sống sinh hoạt củađông đảo các tầng lớp nhân dân ngay cả trong những ngày ác liệt của cuộc chiếntranh phá hoại của đế quốc Mỹ và tay sai

GDTC trong Nhà trường là một bộ phận quan trọng của nền giáo dục xã hộichủ nghĩa (XHCN) GDTC có tác dụng tích cực đối với sự hoàn thiện cá tính, nhâncách, những phẩm chất cần thiết và hoàn thiện thể chất của học sinh nhằm đào tạocon người mới phát triển toàn diện, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước, giữ gìn an ninh, quốc phòng

Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của GDTC trong nhà trường các cấp làgắn liền và góp phần thực hiện mục tiêu của giáo dục và đào tạo theo tinh thầnNghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, nhằm nâng cao dân trí,đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, hình thành đội ngũ lao động có tri thức và cótay nghề, có năng lực thực hành, tự chủ và năng động sáng tạo

Đảng và Nhà nước luôn coi trọng công tác GDTC, coi như một mặt trongmục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường Xã hội chủ nghĩa, GDTC trong nhàtrường các cấp còn giữ vị trí quan trọng và then chốt trong chiến lược phát triển sựnghiệp Thể dục Thể thao

Trang 7

GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời làmột bộ phận quan trọng của nền Thể dục Thể thao Việt Nam GDTC trong trườnghọc, đang cùng với thể thao thành tích cao, thể thao cho mọi người và các bộ phậnthể dục thể thao khác, đảm bảo cho nền thể dục thể thao phát triển cân đối vàđồng bộ, góp phần thực hiện kế hoạch củng cố, xây dựng và phát triển thể dục thểthao Việt Nam

Tháng 03/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn dân tập thểdục, Người khảng định :… Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới,việc gì cũng cần có sức khoẻ mới thành công Mỗi một người dân yếu ớt là làmcho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân khoẻ mạnh, tức là góp phần cho

cả nước mạnh khoẻ…” Vì thế, Người khuyên “… Luyện tập thể dục bồi bổ sứckhoẻ là bổn phận của mỗi người dân yêu nước …” [41]

Những quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục và đào tạo nói chung,

về GDTC trong trường học nói riêng, được xuất phát từ lý luận của học thuyết Mác– Lê Nin về con người và sự phát triển con người toàn diện, từ tư tưởng quan điểmcủa Chủ tịch Hồ Chí Minh về TDTT về giáo dục nói chung và GDTC cho thế hệtrẻ nói riêng

Từ những cơ sở lý luận đó, Đảng ta đã quán triệt trong suốt thời kỳ lãnh đạocách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân và tiến lên xây dựng CNXH ngày nay, được

cụ thể hoá qua Nghị quyết các kỳ Đại hội Đảng, các Chỉ thị, các nghị quyết, Nghịđịnh, Thông tư về TDTT, ở từng giai đoạn cách mạng theo yêu cầu nhiệm vụ vàtình hình cụ thể của đất nước

Nghị quyết Đại hội Đảng III viết “… Công tác giáo dục phải được phát triểntheo quy mô lớn, nhằm bồi dưỡng thế hệ trẻ thành người lao động làm chủ nướcnhà, có giác ngộ XHCN, có văn hoá và có khoa học kỹ thuật, có sức khoẻ nhằmphục vụ đắc lực cho việc đào tạo cán bộ và nâng cao trình độ văn hoá của nhân dânlao động…”

Trang 8

Đại hội Đại biểu Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IV, 1976 cũng nêu rõ: “…Cần nâng cao chất lượng toàn diện của nội dung giáo dục, hiện đại hoá chươngtrình khoa học kỹ thuật, mở rộng kiến thức quản lý kinh tế, tăng cường giáo dụcchủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính sách của Đảng và đạo đức cách mạng, bồidưỡng kỹ năng lao động và năng lực nghiên cứu khoa học kỹ thuật, coi trọng đúngmức giáo dục thẩm mỹ, TDTT và tập luyện quân sự…” [3]

Bước sang thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội đảng cộng sản Việt Nam lần thứ

VI đã ghi rõ: “…Mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào TDTT quần chúng,từng bước đưa việc rèn luyện thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân ta,trước hết là thế hệ trẻ, nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học…”

Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII năm 1996 đãkhẳng định: “…Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ phải thực sựtrở thành quốc sách hàng đầu…”

Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1992) đã ghi rõ: “…Việc dạy và học TDTT trong trường học và bắt buộc…” [31]

Để cụ thể hoá các quan điểm chỉ đạo trên, Đảng cộng sản Việt Nam luôn cónhững Chỉ thị, Nghị quyết kịp thời đề ra chủ trương đẩy mạnh tiến trình phát triển.Qua những giao đoạn cách mạng, căn cứ vào những yêu cầu, tình hình và nhiệm vụ

cụ thể, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chỉ thị như:

- Chỉ thị 106/CT-TW ngày 02/10/1958 của Ban Bí thư Trung ương Đảng vềcông tác TDTT và Chỉ thị 180/CT-TW ngày 26/08/1970 của Ban bí thư Trungương Đảng về tăng cường công tác TDTT trong những năm tiếp theo là một bướcphát triển mới, xác định vị trí quan trọng của TDTT, coi TDTT là một nhu cầu củaquần chúng, là một mặt của xây dựng CNXH, chủ trương trên là được cụ thể hoátới sự phát triền phong trào TDTT trong học sinh, sinh viên…[1]

- Chỉ thị 112/CT ngày 09/05/1989 của Hội đồng Bộ trưởng về công tácTDTT trong những năm trước mắt có ghi: “…Đối với học sinh, sinh viên, trước hếtnhà trường phải thực hiện nghiêm túc việc dạy học và học môn TDTT theo chương

Trang 9

trình quy định, có biện pháp tổ chức, hướng dẫn các hình thức tập luyện và hoạtđộng thể thao tự nguyện ngoài giờ học…[26]

- Chỉ thị 36/CT-TW ngày 24/03/1994 về công tác TDTT trong giai đoạn mới

đã nêu rõ: “ Cải tiến chương trình giảng dạy, tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạogiáo viên TDTT cho trường học các cấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vậtchất, để thực hiện chế độ GDTC bắt buộc ở tất cả các trường học [4]

- Cũng trong năm 1996, Thủ tướng Chính phủ ra Chỉ thị 133/TTg ngày07/03/1996, về việc xây dựng và quy hoạch phát triền ngành TDTT, về GDTCtrường học đã ghi rõ: “…Bộ giáo dục - Đào tạo cần đặc biệt coi trọng việc GDTCtrong nhà trường, cải tiến nội dung giảng dạy TDTT nội khoá, ngoại hoá, quy địnhtiêu chuẩn rèn luyện thân thể cho học sinh các cấp học, có quy chế bắt buộc đối vớicác trường…”[9]

GDTC trường học là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục đào tạo vàthể dục ngành nghề là một mặt quan trọng trong hệ thống GDTC học đường

Cùng với các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và nhà nước, Bộ Giáo dục và Đàotạo đã thực hiện chủ trương, đường lối về công tác giáo dục thể thao nói chung vàGDTC học đường nói riêng, bằng rất nhiều các văn bản pháp quy, cụ thể như:

- Thông tư liên tịch số 08/LB-DN-TDTT ngày 24/12/1986 về công tácTDTT trong các trường dạy nghề và sư phạm

- Thông tư liên tịch số 04-93/GĐ-ĐT-TDTT ngày 14/07/1993 về việc xâydựng kế hoạch đồng bộ, xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp nhằm cải tiến côngtác tổ chức quản lý TDTT và GDTT trong trường học các cấp

- Thông tư số 11/TT-GDTT ngày 01/08/1994 về việc hướng dẫn chỉ thị36/CT-TW

- Thông tư số 2896/GDTC ngày 04/05/1995 về việc hướng dẫn chỉ thị133/TTg

Trang 10

- Chương trình mục tiêu “Cải tiến nâng cao chất lượng GDTC, sức khoẻ,phát triển và bồi dưỡng tài năng trẻ thể thao học sinh và sinh viên trong nhà trườngcác cấp”

Đến nay, hệ thống tổ chức, quản lý GDTC đã được hình thành và phát triểntrong nhà trường các cấp từ trung ương đến địa phương, khẳng định vị thế quantrọng của công tác GDTC trong sự nghiệp giáo dục - đào tạo của nước ta

1.2 Đặc điểm công tác GDTC trong các trường Đại học tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ và nội dung công tác GDTC trong các trường Đại học.

Công tác GDTC trong trường học chiếm một vị trí quan trọng đối với quátrình đào tạo đội ngũ trí thức nhằm đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Nhằm thực hiện mục tiêu trên, côngtác GDTC trong trường học các cấp phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Giáo dục đạo đức XHCN, rèn luyện tinh thần tập thể, ý thức tổ chức kỷluật, xây dựng niềm tin, lối sống tích cực, lành mạnh, tinh thần tự giác học tập vàrèn luyện thân thể, chuẩn bị sẵn sàng phục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc

- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức lý luận cơ bản về nội dung vàphương pháp tập luyện TDTT, kỹ năng vận động và kỹ thuật cơ bản của một sốmôn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó, bồi dưỡng khả năng sử dụng các phươngtiện để rèn luyện thân thể, tham gia tích cực vào việc tuyên truyền và tổ chức cáchoạt động TDTT của nhà trường và xã hội

- Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơ thể mộtcách hài hoà, cân đối, xây dựng thói quen lành mạnh và khắc phục những tật xấutrong cuộc sống nhằm sử dụng thời gian vào những công việc có ích, có hiệu quảtrong quá trình học tập đạt được những chỉ tiêu thể lực quy định

Trang 11

- Giáo dục thẩm mỹ cho sinh viên và tạo điều kiện để nâng cao trình độ thểthao của sinh viên, VĐV

Hoạt động TDTT trong các trường Đại học là một phần quan trọng trongviệc giáo dục toàn diện cho sinh viên Để giải quyết các nhiệm vụ giáo dục tronghoạt động TDTT, cần quán triệt sự thống nhất của 2 mặt: Thứ nhất là GDTC trongcác trường Đại học là một bộ phần hữu cơ của mục tiêu giáo dục toàn diện cho thế

hệ trẻ, là phương tiện quan trọng và có hiệu quả để phát triển hài hoà, cân đối cơthể và các tố chất thể lực cho sinh viên; Thứ hai là GDTC trong các trường Đại học

là một quá trình sư phạm có tác dụng tích cực đến phầm chất chính trị, tư tưởng,đạo đức, tác phong và thẩm mỹ Đóng vai trò quan trọng trong việc hình thànhnhân cách cho người cán bộ tương lai

Bảng 1.1 Phân phối nội dung chương trình môn giáo dục thể chất

1.2.2 Thực trạng sự phát triển thể chất của sinh viên các trường Đại học, Cao đẳng ở nước ta hiện nay.

Chăm lo cho thế hệ trẻ về mọi mặt, là trách nhiệm của toàn xã hội, nhằm đàotạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực cho đất nước Sự chăm lo về nhiều mặt, trong đó

có mặt quan trọng và tất yếu là chăm lo về sức khoẻ và thể lực, bởi vì sự cường

Trang 12

tráng về thể chất, không những là nhu cầu về bản thân mà còn là vốn quý để tạonhững tài sản vật chất và tinh thần cho xã hội.

Ý thức được điều này, từ lâu, ở nước ta đã đưa ra vấn đề GDTC là quốc sách

và duy trì GDTC đại học là bắt buộc đối với sinh viên

Theo đánh giá của các nhà chuyên môn hiện nay, sức khoẻ, thể lực của sinhviên trong các trường Đại học Cao đẳng đã khá hơn nhiều so với kết quả điều tratrước đây Điều đó đã được chứng minh thông qua đánh giá hiệu quả GDTC sinhviên bằng đánh giá TĐTL chung và kết quả nhiều công trình nghiên cứu điều tratình hình sức khoẻ, thể lực sinh viên

Theo tác giả Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải và Vũ Bích Huệ[36] thì sinh viên nước ta đến năm 1998, ở lứa tuổi 18 – 22 có chiều cao đứng ởnam là: 165,16cm, ở nữ là 154,81 So với năm 1996, thì chiều cao đứng của sinhviên cùng lứa tuổi ở nam là 163,97 cm đến nữ là 153,2 cm Kết quả đánh giá pháttriển các chỉ tiêu tố chất thể lực cho thấy sinh viên hiện nay TĐTL chung tốt hơntrước đây Nằm sấp co duỗi tay ở nữ sinh viên (1998), đạt từ 8 đến 13 lần, caohơn hẳn năm 1993, lúc đó nữ sinh viên chỉ đạt từ 4 – 7 lần

Kết quả nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá thể lực sinh viên trường Đại học

Mỏ - Địa chất ( 1989) của Hoàng Công Dân cho thấy, ở Nam chiều cao đứng là từ

157, 0 cm đến 164,5 cm, ở nữ chiều cao đứng từ 152,0 cm đến 153,0 cm và năm

1999 ở nam chiều cao đứng là 163 cm đến 165 cm, ở nữ là 154 cm đến 156 cm.[27]

Theo Hoàng Thái Sinh (2001) trong đề tài “Đánh giá tiềm năng thể chất vàgiải pháp nâng cao thể lực sinh viên Đại học Huế” đã đưa ra kết quả nghiên cứumột số chỉ tiêu thể lực của sinh viên Đại học Huế năm 1998 là cao hơn năm 1985 :Chiều cao đứng của nam sinh viên Huế năm 1985 là 162,30cm, nữ là 152,31 cm,trong khi năm 1998 Nam là 163,30cm, nữ là 152,67 cm Cân nặng của sinh viênHuế năm 1985 Nam là 48,28kg, nữ 44,20kg; Năm 1998 nam là 49,38kg, nữ là45,00kg [48]

Trang 13

Các số liệu trên cũng cho thấy, trình độ thể lực chung của sinh viên nước tagần đây có sự gia tăng so với các năm trước Điều này, đã phản ánh thực tế đờisống kinh tế ổn định và các điều kiện được cải thiện của đất nước qua quá trìnhGDTC đúng hướng ở trong các trường Đại học Tuy vậy, người Việt Nam vốn đãthấp bé và trải qua nhiều cuộc chiến tranh, do đó trình độ thể lực dù có gia tăngtrong thời gian gần đây, thì vẫn thấp hơn các nước trong khu vực cùng lứa tuổi Sovới tiêu chuẩn RLTT của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành năm 1989, đến naysinh viên viên đạt được yêu cầu còn quá ít ( theo Phạm Thị Nghị (1998), sinh viên

Đà Nẵng chạy 50m ở nam là 9,5 giây, ở nữ là 10,68 giây tiêu chuẩn đạt ở nam là7,9 giây đến 7,5 giây ở nữ là 9,5 giây đến 8,9 giây, thành tích chạy 1000m ở namsinh viên Đà nẵng là 4 phút 35 giây, chạy 500m của nữ sinh viên Đà Nẵng là 2phút 53 giây, trong khi đó tiêu chuẩn đạt ở nam là 4 phút đến 3 phút 35 giây và ở

Tóm lại, từ việc phân tích, so sánh tình hình sức khoẻ, thể lực của sinh viênnước ta, cho thấy, trình độ thể lực của sinh viên nước ta tuy có tiến bộ hơn trước,song vẫn ở mức thấp, chưa đạt được yêu cầu đặt ra, đặc biệt trong sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước ta hiện nay Sức khoẻ, thể lực của sinh viên làcon em dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa chắc chắn còn thấp hơn một mức sovới vùng đồng bằng thành phố, nhất là con em đồng bào dân tộc ít người Vì vậy,

Trang 14

năng lực thể lực của sinh viên đang ở dạng tiềm ẩn, cần có biện pháp thích hợp đểphát huy sự nỗ lực thể chất, nhằm nâng cao trình độ thể lực chung cho họ.

1.3 Các luận điểm cơ bản về giáo dục thể lực chung.

1.3.1 Các quan điểm về phương tiện giáo dục thể lực.

Giáo dục thể lực chung là quá trình nhằm phát triển toàn diện các tố chất thểlực cũng như khả năng chức phận khác nhau, không đặc trưng cho một hoạt độngriêng biệt nào và tạo điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả của quá trình giáodục thể lực chuyên môn nhằm phát triển toàn diện năng lực thể chất và làm phongphú vốn kỹ năng kỹ xảo của VĐV

Các môn thể thao đều đòi hỏi phát triển toàn diện các tố chất thể lực, cùngvới những tố chất chuyên môn ưu thế phù hợp với đặc điểm từng môn thể thao,quan hệ giữa các thành tố cơ bản cấu thành năng lực thế lực trong từng môn thểthao có những nét riêng Khi đề cập đến giáo dục các tố chất vận động thấy rằngtrong hoạt động chung của con người thì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng và cómối tương quan chặt chẽ với các tố chất thể lực cơ bản Các tố chất luôn hiện diệntrong mối tương tác lẫn nhau (không có biểu thị riêng tuyệt đối) Việc nghiên cứuquan hệ mang tính đặc trung đó của tố chất thể lực trong cá môn thể thao đượcnhiều tác giả nghiên cứu như Philin, Novicov và Matveev, Lê Bửu, Nguyễn ThếTuyền; Nguyễn Toán, Phạm Danh Tốn…Những năm gần đây khi nghiên cứu sâuhơn về tố chất thể lực theo 3 dạng cơ bản sức nhanh, sức mạnh, sức bền, phát hiện

có những môn thể thao nằm giữa các loại trên, tức là những môn mang đặc trưngcủa 1 loại tố chất chủ đạo nhưng liên quan đến tố chất khác

Đa số các nhà chuyên môn cho rằng, tố chất thể lực chung phải được pháttriền toàn diện và lâu dài trong suốt quá trình tập luyện.Tuy nhiên với đặc thù củalứa tuổi sinh viên (18-22 tuổi), các tố chất thể lực phải phát triển theo đặc điểmriêng, từng tố chất thể lực được phát triển dựa theo tuổi sinh học thời kỳ nhạy cảm,từng giai đoạn tập luyện

Trang 15

Để đạt được thành tích thể thao cao, người ta phải sử dụng các phương tiệnkhác nhau như:

và phân chia một cách tối ưu lượng vận động của từng bài tập và nhóm bài tập cóthể bảo đảm cho người tập phát triển đầy đủ năng lực của họ trong lứa tuổi đạtthành tích thể thao cao nhất

Giáo dục tố chất thể lực là mặt cơ bản để phát triển thế chất và nâng caothành tích thể thao Song, về bản chất mức độ phát triển các tố chất thể lực phụthuộc vào các trạng thái chức năng, cấu tạo của nhiều cơ quan và hệ cơ quan trong

cơ thể Quá trình tập luyện để phát triển các tố chất thể lực, cũng chính là quá trìnhhoàn thiện các hệ thống chức năng có vai trò chủ yếu trong mỗi hoạt động của cơbắp cụ thể

Theo quan điểm của V.P Philin [45] thì: Các tố chất thể lực phát triển cótính giai đoạn và không đồng đều, tùy thuộc vào từng thời kỳ của lứa tuối, Vì vậy,người giáo viên, huấn luyện viên không những phải nắm vững quy luật phát triển

tự nhiên, đặc biệt là thời kỳ nhạy cảm (thời kỳ thuận lợi cho việc phát triển các tốchất) trong cơ thể, mà còn phái hiểu sâu sắc những đặc điểm phát triển tố chất thểlực theo độ tuổi của từng cá thể người tập

Trang 16

D.Harre (1996) [40], Novicov, L.P Matveev (1990) [44], V.P Philin (1996)[45], cho rằng: Dù bất kỳ giai đoạn nào của quá trình đào tạo vận động viên,công tác huấn luyện thể lực chung được coi là then chốt, bởi thể lực chung cùngvới thể lực chuyên môn được coi là nền tảng của việc đạt thành tích cao…

Theo quan điểm của Gozolin (1986)[30], Nabatnhicova (1985) [41]: Việcgiáo dục tố chất thể lực chung phải là một quá trình liên tục, nhiều năm trongsuốt quá trình đào tạo VĐV Tùy thuộc vào mục đích của từng giai đoạn huấnluyện mà tỷ trọng giữa giáo dục thể lực chung và thể lực chuyên môn được xácđịnh cho phù hợp

Quá trình giáo dục thể lực là sự phù hợp của các phương tiện (bài tập thểchất) cũng như các phương pháp sử dụng, trong quá trình giáo dục phải phù hợpvới các quy luật phát triển của đối tượng

Quá trình giáo dục các tố chất thể lực chung là một quá trình tác động liêntục, thường xuyên và theo kế hoạch được sắp xếp hợp lý bằng những bài tậpTDTT nhằm phát triển các mặt chất lượng và khả năng vận động Quá trình ấytác động mạnh mẽ tới hệ thần kinh, cơ bắp cũng như tới các cơ quan nội tạngcủa con người Thông thường, các tố chất thể lực được chia thành 5 loại cơ bản:Sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khả năng mềm dẻo, khả năng phối hợp vận động(khả năng khéo léo)

Khi đề cập đến vấn đề thể lực, thì hoạt động cơ bắp là dạng đặc trưng vàmang tính trọng tâm Hoạt động cơ bắp được thể hiện ở 3 phương diện:

- Sự co cơ (phụ thuộc chủ yếu vào tỷ lệ cấu trúc sợi cơ, số lượng sợi cơ vàthiết diện cơ)

- Sự trao đổi chất (tức là các quá trình sản sinh năng lượng)

- Sự dẫn truyền kích thích (hoạt động thần kinh cơ)

Theo tác giả Gozolin (1986)[30], V.P Philin (1996)[45] cho rằng, baphương diện trên luôn có mối tương quan với khả năng hoạt động của tố chất thể

Trang 17

lực Đặc biệt, chúng luôn có mối tương quan chặt chẽ với 3 tố chất thể lực cơ bản:Sức mạnh, sức nhanh, sức bền Trong đó, độ lớn của sức mạnh quan hệ chủ yếu tớikhả năng co cơ, thể hiện theo hướng thay đổi giữa yếu tố thời gian duy trì vàcường độ vận động của cơ bắp, từ đó mà phân ra thành sức mạnh tối đa, sức mạnhnhanh và sức mạnh bền Độ lớn của sức nhanh quan hệ chủ yếu tới khả năng dẫntruyền của hệ thần kinh và liên quan đến thành phần của sợi cơ (nhanh phản ứng,nhanh vận động và nhanh động tác) Độ lớn của sức bền quan hệ chủ yếu tới hoạtđộng trao đổi chất trong điều kiện yếm khí và ưa khí Chính vì vậy, có sức bền cự

ly ngắn, sức bền cự ly dài và sức bền cự ly trung bình (Đ.Harre 1996)

Qua tham khảo các công trình nghiên cứu khoa học của nhiều chuyên giađầu ngành về lĩnh vực lý luận và phương pháp GDTC và HLTT trong nước như:

Lê Văn Lẫm, Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Phạm Trọng Thanh, Nguyễn Toán,Nguyễn Thế Truyền, Phạm Danh Tốn…, cho thấy: Quá trình giáo dục thể lực chongười tập là hướng đến việc củng cố và nâng cao khả năng chức phận của hệ thống

cơ quan trước lượng vận động thể lực (bài tập thể chất) và như vậy đã tác động đếnquá trình phát triển của các tố chất vận động Đây có thể coi là quan điểm có xuhướng sư phạm trong quá trình giáo dục các tố chất vận động…

Dưới góc độ y học (Lê Bửu, Dương Nghiệp Chí, Nguyễn Hiệp, NguyễnNgọc Cừ, Lưu Quang Hiệp, Tình Hùng Thanh, Phan Hồng Minh, Lê NguyệtNga…) cho rằng: Nói đến giáo dục tố chất thể lực chung trong tập luyện thể dụcthể thao là nói tới những biến đổi thích nghi và dự báo về mặt sinh học (cấu trúc vàchức năng) diễn ra trong cơ thể người tập dưới tác động của tập luyện được biểuhiện ở năng lực hoạt động cao hay thấp…

Theo quan điểm tâm lý học (Phạm Ngọc Viễn, Lê Văn Xem…) [53] chorằng: Quá trình chuẩn bị thể lực chung cho VĐV là quá trình giải quyết những khókhăn liên quan đến việc thực hiện các hành động kỹ thuật, là sự phù hợp nhữngyếu tố tâm lý trong hoạt động tập luyện và thi đấu của VĐV

Trang 18

Như vậy, từ các quan điểm nêu trên cho thấy: Chuẩn bị thể lực chung chođối tượng học sinh, sinh viên là sự tác động có hướng đích của lượng vận động(bài tập thể chất) đến người tập, nhằm hình thành và phát triển lên một mức độ mớicủa khả năng vận động, biểu hiện ở sự hoàn thiện các năng lực thể chất, đồng thờicòn nhằm nâng cao khả năng hoạt động của các cơ quan chức phận tương ứng vớicác năng lực vận động của người tập nâng cao các yếu tố tâm lý trước hoạt độngđặc trưng của mỗi môn thể thao.

1.3.2 Các cơ sở sinh lý các tố chất thể lực trong hoạt động TDTT

Hoạt động thể lực, nhất là hoạt động thể lực trong TDTT, rất đa dạng vàphức tạp, phụ thuộc vào công suất hoạt động, cơ cấu động tác và thời gian gắngsức Mỗi loại hoạt động đòi hỏi cơ thể phải thể hiện khả năng hoạt động thể lựccủa mình về mặt nào đó như cử tạ, ném đẩy, chạy bền Hoạt động thể lực có thểphát triển các mặt khác nhau của năng lực hoạt động thể lực Các mặt khác nhau

đó của khả năng hoạt động thể lực được gọi là tố chất thể lực hay tố chất vận động

Có 5 tố chất vận động chủ yếu của con người là: Sức mạnh, sức nhanh, sức bền,khéo kéo và độ dẻo Trong bất kỳ hoạt động thể lực nào, các tố chất thể lực cũngkhông biểu hiện một cách đơn độc mà luôn phối hợp hữu cơ với nhau Đồng thời,trong phần lớn các môn thể thao hoặc một vài tố chất được thể hiện rõ rệt nhấtquyết định kết quả hoạt động chung

Cơ sở sinh lý của tố chất sức nhanh.

Sức nhanh là khả năng thực hiện động tác trong một khoảng thời gian ngắnnhất Sức nhanh như một tố chất thể lực, nó thể hiện ở dạng đơn giản và ở dạngphức tạp Dạng đơn giản của sức nhanh bao gồm:

- Thời gian phản ứng

- Thời gian của một động tác đơn

- Tần số của một hoạt động cục bộ

Trang 19

Dạng phức tạp của sức nhanh là thời gian thực hiện các hoạt động thể thaophức tạp khác nhau như chạy 100m, tốc độ đấm trong môn Quyền anh.

Sức nhanh là tố chất tổng hợp của cả 3 yếu tố cấu thành, là thời gian phảnứng, thời gian của động tác đơn lẻ và tần số hoạt động Yếu tố quyết định của tất cảcác dạng sức nhanh là độ linh hoạt của các quá trình thần kinh và tốc độ co cơ

Độ linh hoạt của quá trình thần kinh thể hiện ở khả năng biến đổi nhanhchóng giữa hưng phấn và ức chế trong các trung tâm thần kinh và tốc độ dẫntruyền xung động trong các dây thần kinh ở ngoại vi Tốc độ co cơ phụ thuộc vào

tỷ lệ sợi cơ nhanh và sợi cơ chậm trong bó cơ Tốc độ co cơ chịu ảnh hưởng củahàm lượng ATP và CP Hoạt động tốc độ và thời gian sử dụng nguồn năng lượngphần giải yếm khi ATP và CP chủ yếu Vì vậy, khi hàm lượng ATP và CP caotrong cơ, thì khả năng co cơ nhanh cũng tăng lên Tập luyện sức nhanh làm chohàm lượng ATP và CP trong các sợi cơ tăng lên, cơ thể từ 10 đến 30% TheoLacốplép tốc độ co cơ còn phụ thuộc vào hoạt tính của cơ thể phần giải và tổnghợp ATP và CP

Trong hoạt động TDTT, tốc độ và sức mạnh có liên quan mật thiết với nhau.Mức độ phát triển sức mạnh ảnh hưởng rõ rệt đến sức nhanh Như vậy, sức nhanhphụ thuộc chủ yếu vào tính linh hoạt của thần kinh và tốc độ co cơ Chúng đều lànhững yếu tố được quyết định bởi các đặc điểm di truyền Do đó, quá trình tậpluyện, sức nhanh biến đổi chậm và ít hơn sức mạnh và sức bền Lứa tuổi tốt nhất

để phát triển sức nhanh là tuổi thanh thiếu niên

Cơ sở sinh lý của tố chất sức mạnh

Sức mạnh là khả năng khắc phục trọng tải bên ngoài bằng sự căng cơ, sứcmạnh mà cơ phát ra phụ thuộc vào:

- Số lượng đơn vị vận động tham gia vào quá trình căng cơ

- Chế độ co của các đơn vị vận động đó

- Chiều dài ban đầu của các sợi cơ trước lúc co

Trang 20

Sức mạnh, trong đó có sức mạnh tối đa (Sức mạnh tuyệt đối) phụ thuộc vàoyếu tố độ dày của cơ, hay là tiết diện ngang của toàn bộ cơ Sức mạnh tối đa tínhtrên tiết diện ngang của cơ, được gọi là sức mạnh tương đối của cơ Những đặcđiểm về hóa học của cơ có ý nghĩa lớn đối với sự hát triển mạnh Những bài tập vềsức mạnh làm cho hàm lượng Protit cấu tạo của cơ, khả năng dự trữ nguyên liệu cóthể phân giải không có oxy tăng lên Tốc độ của quá trình hoạt động của các mencũng tăng khi sức mạnh được phá triển, chất Miozin của cơ tăng lên, chất miozinkhông chỉ là protat có tính chất co rút của cơ, mà còn là men phân giải ATP, còngọi là ATP aza.

Cơ sở sinh lý của phát triển sực mạnh là tăng cường số đơn vị vận độngtham gia vào hoạt động, đặc biệt là các đơn vị vận động nhanh, chứa các sợi cơnhóm II có khả năng phì đại cỡ lớn Có nhiều cơ chế sinh lý trong đó có những cơchế quan trọng nhất gồm có:

- Tăng số lượng đơn vị vận động được động viên trong các cơ chủ vận

- Ức chế hoạt động của các cơ đối kháng

- Truyền đến cơ những xung động thông qua hệ thần kinh giao cảm

- Lực tăng cơ tối đa phụ thuộc vào số lượng sợi cơ

Các yếu tố thần kinh trung ương điểu khiển sự co cơ và sự phối hợp hoạtđộng giữa các cơ trước tiên và khả năng chức năng của nơron vận động, tức là mức

độ phát xung động với tần số cao

Trong quá trình tập luyện sức mạnh, các yếu tố thần kinh trung ương đượcđiều chỉnh dần, nhất là khả năng phối hợp giữa các nhóm cơ của thần kinh trungương, các yếu tố này làm tăng cường sức mạnh chủ động tối đa đáng kể

Cơ sở sinh lý của tố chất sức bền

Sức bền là năng lực chống lại mệt mỏi của cơ thể trong vận động kéo dài.Những vấn đề quan trọng nhất của sức bền là:

- Năng lực làm việc của hệ thống tim mạch

Trang 21

- Quá trình trao đổi chất (đủ ôxy và thiếu ôxy)

- Khả năng tiết kiệm năng lượng

- Các phẩm chất tâm lý chuyên môn

Sức bền có ý nghĩa đặc biệt đối với thành tích thi đấu của nhiều môn thểthao, là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt với khả năng chịu đựng lượng vận động củangười tập

Phát triển tốt sức bền là tiền đề cần thiết cho khả năng hồi phục nhanh chóngsau các lượng vận động lớn Căn cứ vào các yêu cầu thi đấu sức bền được phânthành: Sức bền cơ sở và sức bền chuyên môn

- Sức bền cơ sở là năng lực của người tập nhằm chống lại mệt mỏi trong cáclượng vận động kéo dài, tốc độ vận động nằm trong giới hạn trao đổi năng lượng

đủ oxy Cơ sở sinh lý học của nó là tính tiết kiệm của các hệ thống cơ quan: tuầnhoàn, hô hấp, các chức năng trao đổi chất và khả năng thực hiện động tác kinh tếnhất

Mục đích huấn luyện sức bền là cơ sở nâng cao khả năng hấp thụ ôxy, nănglực trao đổi năng lượng đủ ôxy và phát triển các phẩm chất tâm lý chuyên môn

Thông qua việc phát triển sức bền sơ sở, tạo nên được một nền tảng chứcnăng cho tất cả các môn thể thao sức bền và các môn thể thao khác

- Sức bền chuyên môn là năng lực của người tập, nhằm chống lại sự mệt mỏitrong hoạt động thi đấu chuyên môn

Phát triển sức bền với mục đích mở rộng và nâng cao nặng lực hoạt dộngcủa hệ thống tim mạch, các chức năng trao đổi chất trong điều kiện đủ ôxy và pháttriển sức bền chung cho nhóm cơ lớn

Biện pháp chủ yếu để phát triển sức bền chung cho sinh viên là chạy gắngsức trong thời gian dài Bài tập này là tiền đề để nâng cao khả năng làm việc củacác hệ thống cơ quan trong cơ thể, đảm bảo có sức chịu đựng cao trong học tập vàcông tác Ví dụ: Trong một buổi tập sinh viên có thể chạy bền 10-12km Các biện

Trang 22

pháp khác sử dụng để nâng cao sức bền gồm có bơi, đi bộ, đua xe đạp… Ở cácbuổi tập đầu tiên, để phát triển sức nên dùng bài tập chạy nhịp độ đều, cường độkhông lớn, tăng dần thời gian từ 5-8 giây và đến 25 - 30 giây Sau đó có thể chạybiến tốc cũng có thể sử dụng phương pháp trò chơi hay phương pháp tập luyệnvòng tròn Tổ hợp bài tập theo phương pháp luyện tập vòng tròn gồm các kiểuchạy, tiến hành dưới dạng trò chơi hay thi đấu Điều đó giúp người tập dễ khắcphục lượng vận động lớn Khi sử dụng phương pháp này chú ý đến đặc điểm sinh

lý tuổi sinh viên, để xác định số lần lặp lại cho mỗi người

Cở sở sinh lý của năng lực mềm dẻo

Mềm dẻo là năng lực thực hiện động tác với biên độ lớn, biên độ tối đa củađộng tác là thước đo của năng lực mềm dẻo

Trong thực tế độ dẻo là giá trị hoạt động của một hay nhiều khớp được thểhiện về khả năng về sức mạnh ở cấu trúc động tác, làm tăng khả năng tiết kiệmnăng lượng

Năng lực mềm dẻo được phân thành hai loại: Mềm dẻo thụ động và mềmdẻo tích cực

- Mềm dẻo thụ động: Độ dẻo có được là nhờ tác động của ngoại lực là trọnglực của cơ thể

- Mềm dẻo tích cực: Độ dẻo được tạo nên bởi sự gắng sức, nỗ lực của chínhbản thân người tập

Năng lực mềm dẻo kém phát triển sẽ làm hạn chế kết quả tập luyện, thể hiệnthời gian học và hoàn thiện kỹ năng, động tác bị kéo dài, thậm chí kỹ thuật độngtác không hoàn thiện được Thiếu mềm dẻo các năng lực về sức nhanh, sức mạnh,sức bền và khả năng phối hợp vận động bị hạn chế Điều đó có nghĩa là tốc chấtmềm dẻo ảnh hưởng trực tiếp đến sự thể hiện tiềm năng của nhiều tố chất thể lực

cơ bản

Trang 23

Phương pháp chính để phát triển năng lực mềm dẻo là phương pháp kéogiãn cơ và dây chằng Người ta thường sử dụng phương pháp này dưới các hìnhthức sau:

- Kéo giãn trong thời gian dài Duy trì sự kéo giãn các nhóm cơ và dâychằng trong nhiều giây tới khi có cảm giác đau dần tới hạn chịu đựng Thôngthường mỗi bài tập kéo giãn cần duy trì từ 10-20 giây và lặp lại bài tập đó 3-4 lần

- Tăng sự đàn hồi khi kéo giãn tới khi đạt được mức tối đa, bằng các độngtác lăng đơn giản Ví dụ: Lăng chân phía trước, phía sau, phía bên hoặc đè ép theodạng đàn hồi cho tới khi các nhóm cơ bị kéo giãn được biên độ lớn nhất

- Kết hợp các động tác kéo giãn bằng đá lăng với việc dừng lại ở vị trí caonhất của đá lăng Ví dụ: Lăng chân phía bên từ 6-8 lần sau dừng lại ở vị trí caonhất từ 3-5 giây lặp lại bài tập đó từ 5-6 lần

Phát triển độ dẻo có thể bằng các bài tập tay không, với dụng cụ hoặc trêncác dụng cụ thể dục Tăng biên độ động tác ngoài ngoại lực, còn vận dụng nội lựccủa chính cơ bắp người tập Tố chất này cũng phát triển có hiệu quả nếu sử dụngtrò chơi vận động Các bài tập mềm dẻo cần được phối hợp với các bài tập nhằmcủng cố khớp, dây chằng, cơ bắp Tập luyện mềm dẻo phải diễn ra liên tục có hệthống, nên tập hàng ngày buổi sáng sau khi đã khởi động

Cơ sở sinh lý của năng lực khéo léo.

Nếu như tăng sức mạnh, sức nhanh, sức bền dựa trên cơ sở của sự thích nghi

về mặt năng lượng, thì sự khéo léo lại phụ thuộc chủ yếu vào các quá trình điềukhiển hành vi vận động Việc xác định năng lực phối hợp vận động về cơ bản đượcdựa trên cơ sở học thuyết vận động Theo các quan điểm này thì năng lực phối hợpvận động được hiểu là một phức hợp các tiền đề của người tập (cần thiết ít hoặcnhiều) để thực hiện thắng lợi một hoạt động thể thao nhất định Năng lực này đượcxác định trước hết thông qua các quá trình điều khiển (các quá trình thông tin) vàđược hình thành, phát triển trong tập luyện Năng lực phối hợp vận động có quan

Trang 24

hệ chặt chẽ với các phầm chất tâm lý và các năng lực khác nhau như sức mạnh, sứcnhanh, sức bền.

Năng lực phối hợp vận động được thể hiện ở mức độ tiếp thu nhanhchóng và có chất lượng, cũng như việc hoàn thiện củng cố và vận dụng các kỹthuật thể thao

Các bài tập để giáo dục năng lực khéo léo cho sinh viên có rất nhiều Đó làcác động tác nhảy, giữ thăng bằng, nắm bắt, các bài tập có sự phối hợp cao Ngoài

ra còn có các bài tập thực hiện trong điều kiện phức tạp

Phương pháp chính để phát triển khả năng phối hợp vận động là tập luyện,phương tiện chính là các bài tập thể chất

Năng lực này chỉ phát triển thông qua hoạt động, vì vậy muốn phát triểnnăng lực phối hợp vận động phải thông qua luyện tập một cách tích cực, thông quaviệc học và hoàn thiện các bài tập được lựa chọn, làm phương tiện để phát triểnnăng lực học và hoàn thiện các bài tập được lựa chọn, làm phương tiện để pháttriển năng lực này

Ngoài ra có thể sử dụng cá bài tập tâm lý để phát triển năng lực xử lý thôngtin, nhanh chóng hình thành các biểu tượng vận động cho nhiệm vụ vận động đặt

ra Cần sử dụng các phương tiện tập luyện, nhằm phát triển chức năng của các cơquan phân tích, các cơ quan phân tích là một phần của hệ thống thần kinh cơ đượcgọi là một bộ phần của “thực thể sinh lý” của khả năng phối hợp vận động

Cần sử dụng các biện pháp nhằm nâng cao yêu cầu về phối hợp vận độngcủa các bài tập thể chất Sau đây là một số biện pháp chính:

- Đa dạng hóa việc thực hiện động tác Ví dụ: Có thể thay đổi các giai đoạncủa động tác;

- Thay đổi điều kiện bên ngoài Thực hiện động tác trong điều kiện nâng cao

độ khó của môi trường;

- Phối hợp các kỹ thuật kỹ xảo với nhau;

Trang 25

- Thực hiện động tác với yêu cầu thời gian Ví dụ: phải thực hiện động táctrong một thời gian ngắn nhất (tuy nhiên phải đảm bảo độ chính xác)

- Thay đổi việc thu thập thông tin Việc thu nhận và xử lý các thông tin vềthị giác, thính giác, xúc giác, thăng bằng và cảm giác cơ bắp có ý nghĩa đặc biệtnhằm điều khiển vận động

Các phương pháp phát triển năng lực phối hợp vận động rất phong phú, cóthể phối hợp chúng với nhau hoặc thực hiện một cách có trọng điểm từng phươngpháp Việc lựa chọn và sử dụng từng phương pháp cần căn cứ vào đặc điểm củatừng năng lực cần phát triển Cần thường xuyên nâng cao mức độ khó về phối hợpvận động của các bài tập vì chỉ có nâng cao kích thích đối với cơ thể mới tạo đượctrình độ thích ứng cao hơn

1.4 Đặc điểm giảng dạy môn GDTC tại trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Trường đại học dân lập Quản lý và Kinh doanh Hà Nội được thành lậptháng 6 năm 1996 Do mở rộng mục tiêu đào tạo sang lĩnh vực kỹ thuật - côngnghệ, Trường được đổi tên thành Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ HàNội kể từ tháng 5 năm 2006 Trường là một tổ chức hợp tác của những người laođộng trí óc, tự nguyện góp sức, góp vốn để xây dựng và phát triển Trường bềnvững, vì mục đích đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, không vì mục đích lợinhuận

Trường xác định sứ mệnh của mình là đào tạo các nhà kinh tế thực hành vàcác nhà kỹ thuật thực hành, tạo nguồn nhân lực cho việc hình thành một dàn cán

bộ chủ chốt của các doanh nghiệp, những “binh đoàn chủ lực” trên mặt trận pháttriển kinh tế xã hội theo hướng dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,văn minh Trường lấy đào tạo nghề nghiệp thực hành làm định hướng chủ yếu,không chỉ quan tâm trau dồi kiến thức, mà trau dồi kiến thức phải đi đôi với rènluyện kỹ năng thực hành, phát triển tư duy tìm tòi sáng tạo, kết hợp lý luận vớithực tiễn, không chỉ quan tâm phát triển tài năng, mà phát triển tài năng phải đi đôi

Trang 26

với bồi dưỡng phẩm chất đạo đức nhằm đào tạo thanh niên thành những cán bộvừa hồng vừa chuyên.

Đội ngũ giảng dạy của Trường gồm 350 giảng viên cơ hữu và 420 giảng viênthỉnh giảng Số giảng viên có trình độ Tiến sĩ, Phó giáo sư và Giáo sư chiếm 28%tổng số giảng viên, số giảng viên có trình độ Thạc sĩ chiếm 31%, phần còn lại là

Cử nhân, Kỹ sư

Khối ngành Kỹ thuật của trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nộiđào tạo những kỹ sư toàn diện Đây sẽ là nguồn nhân lực với kỹ năng chuyên mônnghiệp vụ giỏi, được trang bị kiến thức vững vàng nhằm đáp ứng các đòi hỏi thực

tế ngày càng cào trong lĩnh vực kỹ thuật, thiết kế, chế tạo, đóng mới, lắp ráp, xâydựng , có khả năng ứng dụng các thiết bị và kiến thức kỹ thuật tiên tiến trên thếgiới vào đời sống Việt Nam

Tốt nghiệp khối ngành Kỹ thuật của trường đại học Kinh doanh và Công nghệ

Hà Nội, sinh viên không những có trình độ chuyên ngành mà còn được trang bịkhả năng tin học, ngoại ngữ để có khả năng thích ứng ngay với yêu cầu tuyển dụngcủa các doanh nghiệp, công ty hoặc học chuyển tiếp lên trình độ cao hơn (Thạc sỹ,Tiến sỹ ) ở các trường Đại học trong và ngoài nước

Khối ngành Kỹ thuật của trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nộigồm có: Công nghệ Thông tin (công nghệ phần mềm) với 3 bậc: Đại học, Caođẳng và Trung cấp; Kỹ thuật Điện - Điện tử với 2 bậc: Đại học và Cao đẳng; Kỹthuật Cơ Điện tử với 2 bậc: Đại học và Cao đẳng; Xây dựng với 2 bậc: Đại học vàCao đẳng; Kiến trúc với bậc Đại học

Sự quan tâm của Ban giám hiệu đối với môn học GDTC thể hiện ngay trongnhững ngày đầu xây dựng trường Những năm đầu mới thành lập Nhà trường phảithuê địa điểm để giảng dạy môn GDTC cho đảm bảo chất lượng đào tạo củaTrường Bắt đầu từ năm học 2011-2012 Khoa GDTC được thực hiện công tácgiảng dạy và học tập tại một khu Liên hợp thể thao riêng tại Thị xã Từ Sơn, TỉnhBắc Ninh Khu Liên hợp thể thao có sân Bóng đá, sân Điền kinh, sân Bóng

Trang 27

chuyền, có nhà tập thể chất với 15 bàn Bóng bàn và 8 sân Cầu lông, có các thiết bị

âm thanh, ánh sáng phục vụ môn học Khiêu vũ thể thao Không những thế do điềukiện đi học của sinh viên gặp khó khăn Nhà trường đầu tư mua xe ô tô để đưa đónsinh viên đi học từ Hà Nội – Từ Sơn

Công tác giảng dạy và đánh giá trình độ của sinh viên học môn GDTC trongnhững năm qua của trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội được tiếnhành theo hai hình thức là: Lý thuyết và thực hành Trong đó nội dung kiểm tra lýthuyết chỉ dành cho những sinh viên có sức khỏe yếu, không thể tham gia tập luyệncác môn thể thao được (những sinh viên này có giấy xác nhận của cơ quan chứcnăng), nội dung này chưa đưa vào hệ thống thi và kiểm tra của sinh viên nói chung

mà việc kiểm tra, đánh giá mới chỉ ở nội dung kỹ năng thực hành các môn thể thao

ở cả hai học phần GDTC Trong đó với mỗi học phần đều nêu rõ nhiệm vụ củasinh viên là:

- Tham dự đầy đủ các buổi học trên lớp theo quy định

- Tham gia hoạt động nhóm, đội và thực hành các nội dung đã định

- Ngoài hoạt động chính khoá sinh viên phải tham gia hoạt động ngoại khoáthông qua các hoạt động: Câu lạc bộ, thi đấu thể thao hàng năm, giờ học ngoạikhoá do nhà trường tổ chức

Trong mỗi học phần đều quy định rõ điều kiện để dự thi và tiêu chuẩn đánhgiá sinh viên:

- Điều kiện dự thi: Sinh viên phải đảm bảo được 80% số giờ dự học trên lớp

Ra đề thi, hình thức thi, chấm thi và số lần được dự thi kết thúc học phần:

- Đề thi kết thúc học phần phải phù hợp với nội dung học phần đã quy địnhtrong chương trình Việc ra đề thi hoặc lấy từ ngân hàng đề thi được thực hiện theoquy định của Hiệu trưởng

Trang 28

- Hình thức thi kết thúc học phần có thể là thi viết (trắc nghiệm hoặc tựluận), vấn đáp, viết tiểu luận, hoặc kết hợp giữa các hình thức trên Trưởng khoa đềxuất hình thức thi thích hợp cho từng học phần để Hiệu trưởng phê duyệt.

- Việc chấm thi kết thúc các học phần chỉ có lý thuyết và việc chấm tiểuluận, bài tập lớn phải do hai giảng viên đảm nhiệm

- Các điểm thi kết thúc học phần và điểm học phần phải ghi vào bảngđiểm theo mẫu thống nhất của trường, có chữ ký của cả hai giảng viên chấm thi

và làm thành ba bản Một bản lưu tại bộ môn, một bản gửi về văn phòng khoa

và một bản gửi về phòng đào tạo của trường, chậm nhất một tuần sau khi kết

thúc chấm thi học phần

- Sinh viên vắng mặt trong kỳ thi kết thúc học phần, nếu không có lý dochính đáng coi như đã dự thi một lần và phải nhận điểm 0 ở kỳ thi chính Nhữngsinh viên này khi được trưởng phòng đào tạo cho phép được dự thi một lần ở kỳ thiphụ ngay sau đó

- Sinh viên vắng mặt có lý do chính đáng ở kỳ thi chính, nếu được trưởngphòng đào tạo cho phép, được dự thi một lần ở kỳ thi phụ, điểm thi kết thúc họcphần được coi là điểm thi lần đầu Nếu thi không đạt trong kỳ thi phụ thì nhữngsinh viên này sẽ không còn cơ hội để thi lại

Cách tính điểm đánh giá bộ phận, điểm học phần: Điểm thi kết thúc họcphần được chấm theo thang điểm 10 (từ 0 đến 10), làm tròn đến phần nguyên

Môn học GDTC được chia giảng dạy làm 02 học phần Học phần 1 sinh viên

sẽ học môn Bóng bàn và Điền kinh, trong đó môn Bóng bàn là môn thi điều kiệnchỉ tính đạt và không đạt Nội dung thi Điền kinh là điểm thi kết thúc của học phầnGDTC 1 Học phần GDTC 2 sinh viên sẽ học môn Khiêu vũ thể thao và Cầu lông,trong đó Khiêu vũ được tính điểm điều kiện và điểm thi kết thúc là môn Cầu lông

Tổng quan các vấn đề nghiên cứu cho những nhận xét sau:

Trang 29

- Công tác TDTT nói chung và GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng

và THCN nói riêng được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Chính phủ đặc biệt coitrọng Các tư tưởng của Hồ Chí Minh xuyên suốt quá trình phát triển của đất nướcViệt nam ngay từ những ngày đầu tiên giành độc lập đến nay đã có những ảnhhưởng to lớn Chỉ đạo toàn bộ quá trình phát triển của nền giáo dục và TDTT nướcnhà Các chính sách của Đảng, Chính phủ nhằm tạo điều kiện một cách tốt nhấtthúc đẩy công tác GDTC và rèn luyện TDTT ở mọi lứa tuổi, mọi thành phần xãhội, đặc biệt là học sinh, sinh viên Việc liên tục tìm ra các giải pháp mới phù hợpthực tiễn và có hiệu quả nâng cao năng lực thể chất cho sinh viên, nâng cao chấtlượng dạy và học là một việc làm tất yếu trong quá trình đào tạo

- Phân tích đầy đủ các cơ sở lý luận về huấn luyện các tố chất thể lực để cóđầy đủ các căn cứ cụ thể xây dựng hệ thống bài tập nâng cao thể lực cho sinh viên,phù hợp với thực trạng thể lực của sinh viên cũng như điều kiện thực tế của trườngđại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

- Dựa theo đặc thù đào tạo cũng như những yêu cầu cấp thiết trong đào tạotại trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội Đề tài bước đầu xác địnhđược những vấn đề cần thiết trong việc ứng dụng các bài tập nhằm nâng cao trình

độ chuẩn bị thể lực chung cho sinh viên ngành Kỹ thuật trường đại học Kinh doanh

và Công nghệ Hà Nội

Trang 30

CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 2.1 Phương pháp nghiên cứu.

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, đề tài đã sử dụng cácphương pháp nghiên cứu sau:

2.1.1 Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu

Phương pháp này được sử dụng với mục đích tham khảo, tiếp thu có chọnlọc các tài liệu khoa học, các văn kiện nghị quyết của Đảng, Nhà nước, của ngànhTDTT và của Bộ Giáo dục - Đào tạo về định hướng phát triển công tác GDTC Từphân tích tiếp thu và sử dụng các thông tin khoa học cần thiết liên quan, tổng hợplại thành nhưng vấn đề cơ bản có tính định lượng cần thiết Tìm hiểu các cơ sở lýluận về mục tiêu, nhiệm vụ, đường lối phát triển ngành TDTT nói chung và côngtác GDTC trong các trường Đại học và Cao đẳng nói riêng

Đồng thời việc sử dụng phương pháp nghiên cứu này cho phép thu thậpthêm các số liệu để kiểm chứng và so sánh với những số liệu đã thu thập đượctrong quá trình nghiên cứu Các tài liệu tham khảo chủ yếu được thu thập từ Thưviện trường Đại học TDTT Bắc Ninh, Thư viện Viện khoa học TDTT và các tưliệu khác

Trong quá trình nghiên cứu, đề tài sử dụng các sách và tài liệu tham khảotiếng Việt thuộc các lĩnh vực:

- Các tài liệu gồm có: các chỉ thị, văn bản, quyết định của đảng và nhà nước

về thể dục thể thao trong giai đoạn mới, định hướng công tác thể dục thể thao…

- Các sách gồm có: sách lý luận, tâm lý, sinh lý học, y học… và các tài liệuliên quan tới giáo dục thể chất và thể dục thể thao

- Các đề tài nghiên lĩnh vực giáo dục thể chất và thể thao trường học

Trang 31

Danh mục các tài liệu nêu trên được trình bày trong phần “danh mục tài liệutham khảo”.

2.1.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn.

Phương pháp này được sử dụng trong đề tài nhằm thu thập các số liệunghiên cứu thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp và gián tiếp bằng phiếu hỏicác cán bộ, giáo viên TDTT, các nhà quản lý và sinh viên Nội dung phỏng vấn tậptrung vào các nguyên nhân chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới năng lực thểchất của sinh viên, về chất lượng công tác GDTC, thăm dò được nhu cầu, nguyệnvọng học tập, tập luyện và tự rèn luyện TDTT của sinh viên, cũng như tìm hiểu cơ

sở để xây dựng các biện pháp nâng cao năng lực thể chất cho sinh viên trường Đạihọc Kinh doanh Công nghệ Hà Nội

2.1.3 Phương pháp quan sát sư phạm.

Là phương pháp nhận thức đối tượng nghiên cứu trong quá trình giáo dục,giáo dưỡng mà không làm ảnh hưởng đến quá trình đó, hay nói một cách khác

đó là phương pháp tự giác có mục đích một hiện tượng giáo dục nào đó để thulượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể đặc trưng cho quá trình diễn biếncủa hiện tượng đó Vì vậy khi tiến hành quan sát, tiếp cận với đối tượng nghiêncứu của đề tài, sẽ tiến hành quan sát ghi nhận các dấu hiệu sư phạm từ cả 2 phía:người dạy và người học để làm cơ sở xác định các yếu tố và điều kiện đảm bảocho việc nâng cao hiệu quả GDTC cho sinh viên trường Đại học Kinh doanhCông nghệ Hà Nội

Đối tượng được lựa chọn quan sát sư phạm là các giảng viên và sinh viêntrường Đại học Kinh doanh Công nghệ Hà Nội Việc sử dụng phương pháp nàycòn giúp chúng tôi có căn cứ để xác định tính hiệu quả của các bài tập đã lựa chọn

2.1.4 Phương pháp kiểm tra sư phạm.

Chúng tôi đã sử dụng phương pháp này nhằm mục đích kiểm tra thể lực và

kỹ thuật ở một số môn thể thao theo chương trình đào tạo trong quá trình giảng dạy

Trang 32

chương trình GDTC cho sinh viên trường Đại học Kinh doanh Công nghệ Hà Nội.Trong đề tài chúng tôi đã sử dụng các Test sau:

Chạy 30m xuất phát cao (s).

Thực hiện: Khi có lệnh “vào chỗ”, đối tượng kiểm tra tiến vào sau vạch xuấtphát đứng 2 chân trước sau, cách nhau bằng một vai, trọng tâm hơi đổ về trước, haitay thả lỏng tự nhiên, bàn chân trước ngay sau vạch xuất phát, tư thế thoải mái Khinghe thấy hiệu lệnh “sẵn sàng”, người chạy hạ thấp trọng tâm, dồn vào chân trước,tay hơi co ở khuỷu ngược chiều với chân, thân người ngả về trước, đầu hơi cúi, tậptrung chú ý chờ hiệu lệnh tiếp theo Khi có hiệu lệnh chạy, người chạy ngay lập tứclao nhanh về phía trước, thẳng tiến tới đích và lao nhanh qua đích

Tại chỗ bật xa (cm).

Chuẩn bị: Thảm cao su giảm chấn kích thước 3x2m, một thước đo dài làmbằng thanh hợp kim, thước này được đặt trên một mặt phẳng nằm ngang và ghimchặt xuống thảm, tránh xê dịch trong quá trình kiểm tra Kẻ vạch giới hạn, mốc 0của thước chạm vạch xuất phát

- Thực hiện: người được kiểm tra đứng hai chân rộng bằng vai, hai mũi chânđặt sát sau vạch giới hạn, hai tay giơ lên cao, hạ thấp trọng tâm, gấp khớp khuỷu,gập thân, hơi lao người về trước Hai tay vung từ trước, xuống dưới và ra sau, sau

đó đạp mạnh duỗi thẳng chân đồng thời kết hợp đánh tay từ sau, xuống dưới, ratrước và đưa người lên cao về trước, khi bật nhảy và khi tiếp đất hai chân tiến hànhcùng một lúc Thành tích được tính từ vạch giới hạn tới điểm chạm gần nhất

Nằm ngửa gập bụng 30s (sl).

- Chuẩn bị: Đệm cao su, ghế băng hoặc sân cỏ

- Thực hiện: Đối tượng kiểm tra ngồi trên sàn ( ghế băng, sân cỏ), bằngphẳng, sạch sẽ Chân co 90 độ ở đầu gối, bàn chân áp sát sàn, các ngón tay đanchéo nhau, lòng bàn tay áp chặt vào sau đầu, khuỷu tay chạm đùi Người thứ hai hỗ

Trang 33

trợ bằng cách ngồi lên mu bàn chân, đối diện với đối tượng kiểm tra, hai tay giữ ởphần dưới cẳng chân nhằm không cho bàn chân đối tượng kiểm tra tách khỏi sàn.Khi có lệnh, đối tượng kiểm tra ngả người ở tư thế nằm ngửa, hai bả vai chạm sànsau đó gập bụng thành ngồi (trở về tư thế ban đầu) Mỗi lần ngả người, co bụngđược tính một lần.

Chạy 5 phút (m).

- Chuẩn bị: Đường chạy dài tối thiểu 50m, rộng 2m, 2 đầu kẻ vạch giới hạn

- Thực hiện: Người chạy đứng sau vạch xuất phát, với tư thế xuất phát cao,chạy hết thời gian 5p dọc theo đường chạy Trong quá trình chạy nên phân đềusức Nếu mệt quá có thể đi bộ đến hết thời gian 5p

Chạy con thoi 4x10m (s).

- Chuẩn bị: Đường chạy có kích thước dài 10m x rộng 1,2 m, bốn góc đặt cờbáo hiệu quay đầu Đường chạy bằng phẳng, không trơn, tốt nhất trên nền đất khô

Để an toàn, hai đầu đường chạy có khoảng trống ít nhất 2m Dụng cụ đồng hồ bấmgiây, thước đo độ dài, bốn cờ đánh dấu bốn góc

-Thực hiện: Người được kiểm tra thực hiện theo khẩu lệnh "vào chỗ - sẵnsàng - chạy" giống như thao tác đã trình bày trong chạy 50m xuất phát thấp Khiđến vạch 10m, chỉ cần để một chân chạm vạch, lập tức nhanh chóng quay ngoắttoàn thân vòng lại, về vạch xuất phát, đến khi một chân chạm vạch thì quay lại.Thực hiện lặp đi lặp lại cho đến hết quãng đường, tổng số 2 vòng với 2 lần quay ởđầu đối diện vạch đích (kiêm vạch xuất phát)

Dẻo gập thân (cm).

- Chuẩn bị: Thiết bị gồm bục kiểm tra hình lập phương, có thước ghi sẵn ởmặt trước, thước dài 80 cm, chia thang độ cm ở 2 phía Điểm 0 ở ngang với mặtbục Từ điểm 0 xuống dới bục là dương (+), từ điểm 0 lên trên bục là âm (-)

- Thực hiện: Đối tượng điều tra đứng lên bục cao khoảng 30 (chân đất), t thếđứng nghiêm, đầu ngón chân sát mép bục, 2 chân thẳng, mép trong 2 bàn chân

Trang 34

song song, đầu gối không được co, từ từ cúi xuống, 2 tay duỗi thẳng, ngón tay duỗithẳng, lòng bàn tay úp, dùng ngón tay trỏ cố gắng vươn bàn tay sâu xuống dới Khi

đã cúi hết đầu ngón giữa dừng ở đâu thì đó là kết quả của độ dẻo gập thân

Kết quả được xác định như sau: Nếu không với qua được mặt phẳng của bụcđối tượng điều tra đang đứng, đó là kết quả (-), thí dụ - 3cm, - 5cm là tay cáchmặt phẳng bàn chân 3cm, 5cm Đầu ngón giữa với qua mặt phẳng của bục, có kếtquả dương (+) thí dụ + 3cm, 5 cm tức là với tay qua mặt phẳng mà chân đối tượngkiểm tra đứng lên là 3cm, 5cm Kết quả dương là độ dẻo tốt, kết quả âm là độ dẻokém Đo 2 lần, lấy lần cao nhất

2.1.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Phương pháp này được sử dụng nhằm đưa các bài tập thể lực vào thực tếnhằm đánh giá một cách chính xác, khách quan kết quả học tập và rèn luyện thânthể của sinh viên, góp phần nâng cao hiệu quả của công tác GDTC cũng như điềuchỉnh những vấn đề còn thiếu xót trong thực tế triển khai thực nghiệm ứng dụngcác bài tập phát triển thể lực chung trên đối tượng là sinh viên ngành Kỹ thuật nóiriêng và sinh viên đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội nói chung

Chúng tôi tiến hành thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu là sinh viênngành Kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội với tổng số 374sinh viên trong đó có 337 nam và 37 nữ đang học tại các lớp chuyên ngành đó là:Công nghệ Thông tin (công nghệ phần mềm); Kỹ thuật Điện - Điện tử; Kỹ thuật

Cơ Điện tử; Xây dựng; Kiến trúc

2.1.6 Phương pháp toán học thống kê.

Là phương pháp được sử dụng trong sử lý các số liệu thu được từ thực tếthực nghiệm Phương pháp này được sử dụng để xử lý số liệu thu thập được trongquá trình thực nghiệm sư phạm nghiên cứu thực trạng GDTC và xác định hiệu quảcủa các biện pháp đã lựa chọn Các số liệu được xử lý bằng các chương trình SPSS

12 và Excel 2010 Những tham số được sử dụng trong đề tài là: X_

, t, , , vàđược tính theo các công thức sau:

Trang 35

- Số trung bình:

n

x x

n i i

n i i

) (

b a

n n

x x t

2 2

5 , 0

) (

100

2 1

1 2

V V

V V W

- V1: Kết quả kiểm tra lần trước của các chỉ tiêu

- V2: Kết quả kiểm tra lần sau của các chỉ tiêu

- 100 và 0.5: Các hằng số

Kết quả tính toán của các tham số đặc trưng trên, được chúng tôi trình bàytrong chương 3 của đề tài

2.2 Tổ chức nghiên cứu.

2.2.1 Đối tượng nghiên cứu.

- Các bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành Kỹ thuậttrường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Trang 36

2.2.2 Phạm vi nghiên cứu.

- Sinh viên hệ chính quy các ngành Kỹ thuật trường đại học Kinh doanh vàCông nghệ Hà Nội

- Số lượng 300 sinh viên ngành Kỹ thuật

- Phạm vi không gian nghiên cứu: Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ

Hà Nội

- Phạm vi thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2012

2.2.3 Thời gian nghiên cứu (Từ tháng 10/2010 đến tháng 11/2012)

- Giai đoạn 1: Từ tháng 10/2010 đến tháng 03/2011 thông qua đề cương

- Giai đoạn 2: Từ tháng 04/2011 đến tháng 12/2011 Đánh giá các thực trạngcông tác GDTC và lựa chọn các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác GDTCtrường Kinh doanh Công nghệ Hà Nội

- Giai đoạn 3: Từ tháng 09/2011 đến tháng 06/2012 tiến hành thực nghiệm,kiểm tra các kết quả thực nghiệm

- Giai đoạn 4: Từ tháng 06/2012 đến tháng 10/2012 Xử lý các số liệu thuđược trong quá trình nghiên cứu, phân tích các kết quả nghiên cứu, hoàn thành đềtài và chuẩn bị bảo vệ luận văn trước Hội đồng khoa học

Ngày đăng: 15/05/2015, 10:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Ban chấp hành trung ương Đảng (1992), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, tháng 06/1991, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốcĐảng cộng sản Việt Nam lần thứ VII, tháng 06/1991
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1992
9. Ban chấp hành trung ương Đảng (1996), Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đảng cộng sản ViệtNam lần thứ VIII
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
10. Ban chấp hành trung ương Đảng (1998), Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII, tháng 07/1998 - Giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện hội nghị lần thứ V Ban chấphành TW Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII, tháng 07/1998 - Giữ gìn bản sắcvăn hoá dân tộc
Tác giả: Ban chấp hành trung ương Đảng
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
12. Phạm Đình Bẩm (1999), Giáo trình quản lý TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý TDTT
Tác giả: Phạm Đình Bẩm
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1999
13. Phạm Đình Bẩm (2003), Quản lý Thể dục Thể thao, Tài liệu chuyên khảo dành cho hệ cao học và đại học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Thể dục Thể thao
Tác giả: Phạm Đình Bẩm
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2003
14. Phạm Đình Bẩm (2005), Một số vấn đề cơ bản về quản lý Thể dục Thể thao, Tài liệu chuyên khảo dành cho học viên Cao học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về quản lý Thể dục Thể thao
Tác giả: Phạm Đình Bẩm
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 2005
18. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1995) - Văn bản chỉ đạo công tác giáo dục thể chất trong trường học các cấp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản chỉ đạo công tác giáo dục thể chấttrong trường học các cấp
21. Bộ Giáo dục và Đào tạo (1994 - 1998), Văn bản chỉ đạo công tác giáo dục thể chất trong nhà trường các cấp năm học 1994 - 1995; 1995 -1996; 1996 - 1997;1997 - 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản chỉ đạo công tác giáo dục thểchất trong nhà trường các cấp năm học 1994 - 1995; 1995 -1996; 1996 - 1997
24. Dương Nghiệp Chí (1991), Đo lường thể thao, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đo lường thể thao
Tác giả: Dương Nghiệp Chí
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1991
25. Dương Nghiệp Chí - Nguyễn Danh Thái (2003), Thực trạng thể chất người Việt Nam 6-20 tuổi, NXB TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng thể chất người ViệtNam 6-20 tuổi
Tác giả: Dương Nghiệp Chí - Nguyễn Danh Thái
Nhà XB: NXB TDTT
Năm: 2003
29. Vũ Cao Đàm (1995), Phương pháp luận NCKH, Tài liệu dùng cho các lớp cao học, cán bộ quản lý và giáo viên các trường Đại học, Cao đẳng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận NCKH
Tác giả: Vũ Cao Đàm
Năm: 1995
30. Gozolin.M (1986), Học thuyết huấn luyện, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện
Tác giả: Gozolin.M
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1986
32. Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên (1995), Sinh lý học TDTT, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh lý học TDTT
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Phạm Thị Uyên
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1995
33. Lưu Quang Hiệp, Vũ Đức Thu (1989), Nghiên cứu về sự phát triển thể chất sinh viên các trường Đại học, Nxb TDTT Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu về sự phát triển thể chất sinhviên các trường Đại học
Tác giả: Lưu Quang Hiệp, Vũ Đức Thu
Nhà XB: Nxb TDTT Hà Nội
Năm: 1989
34. Nguyễn Khánh (08/1996), “Bài phát biểu tại Hội nghị GDTC các trường phổ thông toàn quốc tại Hải Phòng”, Tạp chí GDTC, (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài phát biểu tại Hội nghị GDTC các trường phổthông toàn quốc tại Hải Phòng”, "Tạp chí GDTC
36. Lê Văn Lẫm,Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải, Nguyễn Bích Huệ (2000) “Thực trạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ 21”, Đề tài Khoa học xã hội cấp nhà nước, NXB TDTT - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ) “Thựctrạng phát triển thể chất của học sinh, sinh viên trước thềm thế kỷ 21”
Nhà XB: NXB TDTT - Hà Nội
40. Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, 2001 – NXB Chính trị quốc gia 41. Hồ Chí Minh (1984), Sức khỏe và thể dục, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức khỏe và thể dục
Tác giả: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, 2001 – NXB Chính trị quốc gia 41. Hồ Chí Minh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia41. Hồ Chí Minh (1984)
Năm: 1984
42. D. Harre (1996), Học thuyết huấn luyện, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học thuyết huấn luyện
Tác giả: D. Harre
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1996
43. Nabatnhicôva. M.Ia (1985), “Mối liên hệ giữa trình độ chuẩn bị thể lực toàn diện và thành tích thể thao của VĐV trẻ”, Thông tin khoa học kỹ thuật TDTT Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mối liên hệ giữa trình độ chuẩn bị thể lực toàn diệnvà thành tích thể thao của VĐV trẻ”
Tác giả: Nabatnhicôva. M.Ia
Năm: 1985
44. Novicov A.D - Matveev L.P (1990), Lý luận và phương pháp GDTC, Dịch: Phạm Trọng Thanh, Lê Văn Lẫm, Nxb TDTT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và phương pháp GDTC
Tác giả: Novicov A.D - Matveev L.P
Nhà XB: Nxb TDTT
Năm: 1990

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Phân phối nội dung chương trình môn giáo dục thể chất - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 1.1. Phân phối nội dung chương trình môn giáo dục thể chất (Trang 11)
Bảng 3.1: Phân phối chương trình môn học GDTC trường đại học  Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.1 Phân phối chương trình môn học GDTC trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (Trang 38)
Bảng 3.2: Đặc điểm giảng viên môn GDTC trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội. - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.2 Đặc điểm giảng viên môn GDTC trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (Trang 40)
Bảng 3.4. Phân loại trình độ chuẩn bị thể lực chung của sinh viên đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ GD&ĐT (n=374) - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.4. Phân loại trình độ chuẩn bị thể lực chung của sinh viên đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội theo tiêu chuẩn rèn luyện thân thể của Bộ GD&ĐT (n=374) (Trang 44)
Bảng 3.5. Kết quả thi kết thúc các học phần GDTC của sinh viên khóa 15 đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (n=325). - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.5. Kết quả thi kết thúc các học phần GDTC của sinh viên khóa 15 đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (n=325) (Trang 48)
Bảng 3.6. Lựa chọn các bài tập phát triển thể lực theo mức độ ưu tiên (n=56). - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.6. Lựa chọn các bài tập phát triển thể lực theo mức độ ưu tiên (n=56) (Trang 52)
Bảng 3.7. Tiến trình thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu trong học phần GDTC 1 - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.7. Tiến trình thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu trong học phần GDTC 1 (Trang 56)
Bảng 3.8. Tiến trình thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu trong học phần GDTC 2 - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.8. Tiến trình thực nghiệm trên đối tượng nghiên cứu trong học phần GDTC 2 (Trang 57)
Bảng 3.9. Trình độ thể lực chung của sinh viên ngành Kỹ thuật đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội sau 3 tháng thực nghiệm (n nam  = 337; n nữ =37). - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.9. Trình độ thể lực chung của sinh viên ngành Kỹ thuật đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội sau 3 tháng thực nghiệm (n nam = 337; n nữ =37) (Trang 59)
Bảng 3.10. Trình độ thể lực chung của sinh viên ngành Kỹ thuật đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội sau 6 tháng thực nghiệm (n nam  = 337; n nữ =37). - Ứng dụng một số bài tập nâng cao thể lực chung cho sinh viên các ngành kỹ thuật trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội
Bảng 3.10. Trình độ thể lực chung của sinh viên ngành Kỹ thuật đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội sau 6 tháng thực nghiệm (n nam = 337; n nữ =37) (Trang 61)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w