Mục đích của nền giáo dục nước ta là giáo dục con người xã hội chủ nghĩa phát triển toàn diện về các mặt: Đức – Trí – Thể – Mỹ – Lao động để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực hết sức quan trọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triển của mỗi nước. Vì vậy, ngay từ khi giành được chính quyền, chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Do đó xác định Giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Nam theo từng giai đoạn. Bắt đầu từ Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng (1979) đã ra quyết định số 14 NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng: Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; Thực thi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành; Thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội. Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi là một nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chất cường tráng. Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăng cường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đó chính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp thể dục thể thao (TDTT) Việt Nam và cũng là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với toàn dân ta trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục từ những ngày đầu tiên xây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “…dân cường thì nước thịnh…”. Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn không ngừng quan tâm, chỉ đạo ngành TDTT nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục tiêu quan trọng này. Luật thể dục, thể thao được Quốc hội khóa XI chính thức thông qua tại kì họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006 là văn bản pháp lí quan trọng đối với công tác quản lí thể dục, thể thao trong thời kì đổi mới, tạo hành lang pháp lí cho thể dục, thể thao Việt Nam phát triển đúng định hướng: Vì sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vấn đề này được Đảng và Nhà nước ta khẳng định ngay từ những năm đầu đổi mới (1986), đòi hỏi người Việt Nam “Phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần”. Trong giai đoạn này các cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Vì vậy trong nghị quyết Trung Ương II khoá VII của Đảng. Nghị quyết chuyên đề về giáo dục đào tạo khẳng định: Giáo dục đào tạo cùng với khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; Là động lực và điều kiện để thực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội; Là chìa khóa để mở cửa tiến vào tương lai; Là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Là điều kiện để phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Trong hệ thống các nhân tố phát triển giáo dục thì Thể dục thể thao nói chung và Giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học nói riêng là một mặt giáo dục hết sức quan trọng trong mục tiêu của nền giáo dục nước ta. Bởi vì sức khỏe là nguồn tài sản vô cùng quý giá của mỗi cơ thể con nguời. Muốn có sức khoẻ và sống lâu không chỉ dựa trên cơ sở làm trẻ lại một cơ thể già cỗi và suy nhược mà phải tìm ra biện pháp điều hoà hệ thống các cơ quan trong cơ thể để tăng cường thể lực ngay từ khi cơ thể còn non trẻ. Sức khoẻ không chỉ là nguồn hạnh phúc riêng của từng người, nó còn có ý nghĩa chiến lược của cả một dân tộc. Trong sự nghiệp giáo dục thì giáo dục thể chất là một mặt giáo dục toàn diện cho học sinh, sinh viên. Trong nhà trường giáo dục thể chất là phương tiện có hiệu quả để phát triển hài hoà cân đối thể hình, nâng cao năng lực thể chất của học sinh, sinh viên. Đó là một lĩnh vực sư phạm chuyên biệt, nó còn có tác động tích cực đối với việc rèn luyện và bồi dưỡng những phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ trong việc hình thành nhân cách cho học sinh, sinh viên. Công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học thực sự có vị trí quan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện hoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và trình độ chuẩn bị thể lực để phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững và tăng cường an ninh quốc phòng cho đất nước. Ngày nay, việc giảng dạy GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳng cho sinh viên nhằm nâng cao thể lực cho các em luôn được đặt lên hàng đầu. Trường Đại học Tây Bắc là trường đại học duy nhất tại khu vực Tây Bắc. Trường có vị trí, vai trò rất lớn trong sự nghiệp giáo dục đó là Đào tạo ra nguồn cán bộ có trình độ cao cho toàn bộ khu vực Tây Bắc. Khoa TDTT là một khoa mới thành lập có nhiệm vụ nâng cao thể lực cho sinh viên toàn trường, giúp sinh viên trong trường có đủ thể lực để tham gia vào hoạt động học tập và các hoạt động lao động khác. Với số lượng sinh viên rất lớn trong khi điều kiện sân bãi dụng cụ tập luyện còn hạn chế. Mặt khác thời lượng học tập các môn chung và chuyên ngành thì quá căng thẳng. Chính vì vậy việc tạo ra một sân chơi lành mạnh góp phần nâng cao thể lực cho sinh viên là hết sức cần thiết. Đối với nữ sinh viên trường Đại học Tây Bắc, việc phát triển thể lực càng phải được hoàn thiện hơn bởi vì các em khi mới vào trường các em đã ở lứa tuổi 17–18 và hầu hết các em chưa được chuẩn bị thể lực một cách hoàn thiện. Chương trình đào tạo GDTC tại trường yêu cầu các em phải có thể lực tốt để hoàn thiện nội dung học tập. Thêm vào đó các em rất cần thể lực để có thể thực hiện các nhiệm vụ khác trong cuộc sống. Chính vì lẽ đó việc nâng cao thể lực cho nữ sinh viên trường đại học Tây Bắc là một vấn đề hết sức cấp thiết. Nhằm thực hiện tốt chỉ thị 36CTTW ngày 2431994 của ban bí thư Trung Ương Đảng trong việc định hướng phát triển TDTT trong giai đoạn mới là: “Phát triển TDTT là một bộ phận không thể thiếu được trong chính sách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta”, chỉ thị số 17CTTW của Ban bí thư Trung Ương Đảng các cấp lãnh đạo trường Đại học Tây Bắc nói chung và khoa TDTT nói riêng nhận thấy bên cạnh việc thực hiện chương trình GDTC nội khóa cho sinh viên một cách đầy đủ thì công tác tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên là một việc vô cùng cấp bách và cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay việc học tập theo tín chỉ làm cho chương trình học tập môn GDTC chỉ còn thu gọn trong hai kì học, điều này có một phần ảnh hưởng tới hiệu quả rèn luyện thể lực của sinh viên. Thể lực của sinh viên chưa tương ứng với yêu cầu phát triển thể lực và tiêu chuẩn rèn luyện thân thể. Đặc biệt với đối tượng là nữ sinh của trường việc tập luyện thể thao ngoại khóa nhằm mục đích rèn luyện sức khỏe lại càng cần thiết nhưng hoạt động này lại diễn ra rất ít. Qua xem xét thực tế chúng tôi nhận thấy cần phải có một hình thức tập luyện thể thao ngoại khóa cho đối tượng là nữ sinh của trường Đại học Tây Bắc nhằm giúp các em có sự chuẩn bị tốt về thể chất cho tương lai. Theo chương trình GDTC hiện hành trong các trường Đại học và Cao đẳng (ban hành theo quyết định số 203TDTT của Bộ Đại học, Trung học chuyên nghiệp và Dạy nghề nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày (23011989) và quy chế GDTC và Y tế trường học (ban hành theo quyết định số 142001QĐ: Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 05032001) và Luật Thể Thao (2006) thì GDTC trường học được tiến hành với nhiều phương tiện phong phú trong đó thể dục thẩm mỹ là một loại hình thể dục vì mục đích sức khoẻ với những nét cơ bản của thể dục tự do với sự vận động rất đa dạng của động tác: Vận động tại chỗ, di chuyển lên xuống với bục và các thao tác trong phối hợp với âm nhạc có sự truyền cảm cao làm hấp dẫn người tập ở nhiều đối tượng khác nhau đặc biệt là các bạn nữ. Thêm vào đó việc tập luyện môn này không đòi hỏi điều kiện tập luyện phức tạp nhưng lại đem lại hiệu quả cao về sức khỏe, giáo dục nhân cách nếp sống lành mạnh và tạo vóc dáng khỏe đẹp, cân đối cho người tập. Tuy nhiên cho tới nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào ứng dụng bài tập thể dục thẩm mỹ cho đối tượng là nữ sinh viên trường Đại học Tây Bắc trong hoạt động thể thao ngoại khóa. Cần có những thực nghiệm khoa học để chứng minh tính chất hợp lý của việc sử dụng bài tập và phương tiện tập luyện nhằm đảm bảo việc rèn luyện thân thể phát triển thể lực cho nữ sinh viên là vấn đề hết sức cần thiết. Xuất phát từ lý do trên với mục đích nâng cao công tác đào tạo của nhà trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ứng dụng bài tập thể dục thẩm mỹ trong hoạt động thể thao ngoại khóa nhằm hỗ trợ nâng cao thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc”.
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới thầy hướng dẫn khoa học Nhà giáo nhân dân, PGS, TS Vũ Đức Thu, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi, người đã đưa ra những ý tưởng khoa học và định hướng nghiên cứu cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy, các cộng sự trong nhóm làm việc, các đồng nghiệp đã có những chia sẻ, những thảo luận khoa học và những lời nhận xét bổ ích giúp đỡ tôi.
Đồng thời tôi xin cảm tới Phòng Sau đại học, Thư viện, và hơn nữa
là các thầy cô giáo trong Khoa Giáo dục thể chất trường Đại học Sư phạm
Hà Nội, những người thân trong gia đình, các bạn học viên lớp Cao học Giáo dục thể chất K19 đã động viên, đóng góp ý kiến và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, hoàn thành luận văn và bảo vệ luận văn thạc sĩ.
Hà Nội, tháng 8 năm 2011
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Điểm
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Những đóng góp mới của đề tài 6
5 Phương pháp nghiên cứu 6
6 Tổ chức nghiên cứu 12
CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thể chất và phát triển thể chất trong các trường Đại học 13
1.2 Vị trí, vai trò của GDTC trong giáo dục Đại học 16
1.3 Khái quát về các bài tập thể dục thẩm mỹ (TDTM) 18
1.4 TDTT đối với phụ nữ 20
1.5 Những yếu tố liên quan đến hoạt động thể thao ngoại khóa trong nhà trường 30
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỂ LỰC VÀ HÌNH THÁI CỦA NỮ SINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 32
2.1 Thực trạng công tác giảng dạy TDTT tại trường Đại học Tây Bắc 32
2.2 Tìm hiểu nhu cầu tập luyện các môn thể thao của nữ sinh trường Đại học Tây Bắc 33
2.3 Nghiên cứu lựa chọn các chỉ tiêu, test đánh giá hình thái, thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc 37 2.4 Thực trạng về thể lực và hình thái của nữ sinh viên
Trang 4trường Đại học Tây Bắc 39 CHƯƠNG III ỨNG DỤNG VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA HỆ THỐNG BÀI TẬP THỂ DỤC THẨM MỸ NHẰM PHÁT TRIỂN THỂ LỰC CHO NỮ SINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC 43 3.1 Cơ sở khoa học của việc lựa chọn hệ thống bài tập thể dục thẩm mỹ đối với nữ sinh trường Đại học Tây Bắc 43 3.2 Lựa chọn hệ thống bài tập thể dục thẩm mỹ nhằm hỗ trợ nâng cao thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc 52 3.3 Ứng dụng và đánh giá hiệu quả hệ thống bài tập đã lựa chọn nhằm nâng cao thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc 55 KẾT LUẬN 68 KIẾN NGHỊ 70
Trang 5DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1: So sánh cân nặng của nữ sinh không chuyên trường Đại học
Tây Bắc trước và sau thực nghiệm 63Biểu đồ 2: So sánh vòng bụng của nữ sinh không chuyên trường Đại học
Tây Bắc trước và sau thực nghiệm 64Biểu đồ 3: So sánh thời gian chạy con thoi 4x10 (m) và chạy 30 (m) xuất
phát cao của nữ sinh không chuyên trường Đại học Tây Bắctrước và sau thực nghiệm 64Biểu đồ 4: So sánh số lần nằm ngửa gập bụng của nữ sinh không chuyên
trường Đại học Tây Bắc trước và sau thực nghiệm 65Biểu đồ 5: So sánh thành tích bật xa tại chỗ của nữ sinh không chuyên
trường Đại học Tây Bắc trước và sau thực nghiệm 65Biểu đồ 6: So sánh quãng đường chạy 5 phút tùy sức của nữ sinh không
chuyên trường Đại học Tây Bắc trước và sau thực nghiệm 66
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Khảo sát thực trạng sử dụng bài tập phát triển thể lực cho nữ
sinh trường Đại học Tây Bắc 33Bảng 2.2: Kết quả lựa chọn môn thể thao trong hoạt động ngoại khóa của
sinh viên trường Đại học Tây Bắc (n=100) 33Bảng 2.3: Động cơ ham thích tập luyện TDTM của nữ sinh trường
Đại học Tây Bắc (n=100) 34Bảng 2.4: Kết quả lựa chọn hình thức và thời gian tập luyện TDTM
của nữ sinh trường Đại học Tây Bắc (n = 45) 35Bảng 2.5: Tập hợp ý kiên chuyên gia về cấu trúc, nội dung bài TDTM
cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc (n=45) 36Bảng 2.6 : Tổng hợp ý kiến chuyên gia về lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá
hình thái thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc (n= 45) 38Bảng 2.7: Kết quả khảo sát hình thái, thể lực của nữ sinh trường Đại học
Tây Bắc trước thực nghiệm (n=50) 39Bảng 3.1: Kết quả phỏng vấn các chuyên gia lựa chọn các dạng bài tập
TDTM cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc (n=45) 53Bảng 3.2: So sánh các chỉ tiêu về hình thái, thể lực của nữ sinh trường
Đại học Tây Bắc trước và sau thực nghiệm (n=50) 61
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Mục đích của nền giáo dục nước ta là giáo dục con người xã hội chủnghĩa phát triển toàn diện về các mặt: Đức – Trí – Thể – Mỹ – Lao động đểphục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Quan điểm của Đảngcộng sản Việt Nam về Giáo dục và đào tạo là một lĩnh vực hết sức quantrọng trong đời sống chính trị của mỗi nước, là biểu hiện trình độ phát triểncủa mỗi nước Vì vậy, ngay từ khi giành được chính quyền, chủ tịch HồChí Minh đã chỉ rõ “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” Do đó xác địnhGiáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của cách mạng Việt Namtheo từng giai đoạn Bắt đầu từ Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng(1979) đã ra quyết định số 14 - NQTƯ về cải cách giáo dục với tư tưởng:Xem giáo dục là bộ phận quan trọng của cuộc cách mạng tư tưởng; Thựcthi nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ từ nhỏ đến lúc trưởng thành;Thực hiện tốt nguyên lý giáo dục học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp vớilao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội
Chăm sóc sức khỏe, tăng cường thể chất của nhân dân được coi làmột nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Chính phủ Nhiệm vụ xây dựng vàbảo vệ tổ quốc đòi hỏi nhân dân ta phải có sức khỏe dồi dào, thể chấtcường tráng Vận động thể dục, thể thao là một biện pháp hiệu quả để tăngcường lực lượng sản xuất và lực lượng quốc phòng của nước nhà, đóchính là quan điểm của Đảng ta về phát triển sự nghiệp thể dục thể thao(TDTT) Việt Nam và cũng là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối vớitoàn dân ta trong lời kêu gọi toàn dân tập thể dục từ những ngày đầu tiênxây dựng nước Việt Nam dân chủ cộng hòa “…dân cường thì nướcthịnh…” Cho đến nay, Đảng và Nhà nước ta vẫn không ngừng quan tâm,chỉ đạo ngành TDTT nước nhà nỗ lực phấn đấu thực hiện bằng được mục
Trang 8Luật thể dục, thể thao được Quốc hội khóa XI chính thức thông qua tại
kì họp thứ 10 ngày 29 tháng 11 năm 2006 là văn bản pháp lí quan trọng đốivới công tác quản lí thể dục, thể thao trong thời kì đổi mới, tạo hành langpháp lí cho thể dục, thể thao Việt Nam phát triển đúng định hướng: Vì sứckhỏe và hạnh phúc của nhân dân, vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.Vấn đề này được Đảng và Nhà nước ta khẳng định ngay từ những nămđầu đổi mới (1986), đòi hỏi người Việt Nam “Phát triển cao về trí tuệ,cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần” Trong giai đoạn này cáccuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh Kinh tếtri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sảnxuất Vì vậy trong nghị quyết Trung Ương II khoá VII của Đảng Nghịquyết chuyên đề về giáo dục đào tạo khẳng định: Giáo dục đào tạo cùng vớikhoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu; Là động lực và điều kiện đểthực hiện những mục tiêu kinh tế xã hội; Là chìa khóa để mở cửa tiến vàotương lai; Là một trong những động lực quan trọng để thúc đẩy sự nghiệpcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Là điều kiện để phát huy nguồnlực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững
Trong hệ thống các nhân tố phát triển giáo dục thì Thể dục thể thaonói chung và Giáo dục thể chất (GDTC) trong trường học nói riêng là mộtmặt giáo dục hết sức quan trọng trong mục tiêu của nền giáo dục nước ta.Bởi vì sức khỏe là nguồn tài sản vô cùng quý giá của mỗi cơ thể con nguời.Muốn có sức khoẻ và sống lâu không chỉ dựa trên cơ sở làm trẻ lại một cơthể già cỗi và suy nhược mà phải tìm ra biện pháp điều hoà hệ thống các cơquan trong cơ thể để tăng cường thể lực ngay từ khi cơ thể còn non trẻ Sứckhoẻ không chỉ là nguồn hạnh phúc riêng của từng người, nó còn có ýnghĩa chiến lược của cả một dân tộc
Trang 9Trong sự nghiệp giáo dục thì giáo dục thể chất là một mặt giáo dụctoàn diện cho học sinh, sinh viên Trong nhà trường giáo dục thể chất làphương tiện có hiệu quả để phát triển hài hoà cân đối thể hình, nâng caonăng lực thể chất của học sinh, sinh viên Đó là một lĩnh vực sư phạmchuyên biệt, nó còn có tác động tích cực đối với việc rèn luyện và bồidưỡng những phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, thẩm mỹ trong việchình thành nhân cách cho học sinh, sinh viên.
Công tác giáo dục thể chất và thể thao trường học thực sự có vị tríquan trọng trong sự nghiệp giáo dục đào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diệnhoàn thiện về nhân cách, trí tuệ và trình độ chuẩn bị thể lực để phục vụ cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vững và tăng cường an ninhquốc phòng cho đất nước
Ngày nay, việc giảng dạy GDTC trong các trường Đại học, Cao đẳngcho sinh viên nhằm nâng cao thể lực cho các em luôn được đặt lên hàng đầu.Trường Đại học Tây Bắc là trường đại học duy nhất tại khu vực TâyBắc Trường có vị trí, vai trò rất lớn trong sự nghiệp giáo dục đó là Đào tạo
ra nguồn cán bộ có trình độ cao cho toàn bộ khu vực Tây Bắc Khoa TDTT
là một khoa mới thành lập có nhiệm vụ nâng cao thể lực cho sinh viên toàntrường, giúp sinh viên trong trường có đủ thể lực để tham gia vào hoạtđộng học tập và các hoạt động lao động khác Với số lượng sinh viên rấtlớn trong khi điều kiện sân bãi dụng cụ tập luyện còn hạn chế Mặt khácthời lượng học tập các môn chung và chuyên ngành thì quá căng thẳng.Chính vì vậy việc tạo ra một sân chơi lành mạnh góp phần nâng cao thể lựccho sinh viên là hết sức cần thiết
Đối với nữ sinh viên trường Đại học Tây Bắc, việc phát triển thể lựccàng phải được hoàn thiện hơn bởi vì các em khi mới vào trường các em đã
ở lứa tuổi 17–18 và hầu hết các em chưa được chuẩn bị thể lực một cáchhoàn thiện Chương trình đào tạo GDTC tại trường yêu cầu các em phải có
Trang 10thể lực tốt để hoàn thiện nội dung học tập Thêm vào đó các em rất cần thểlực để có thể thực hiện các nhiệm vụ khác trong cuộc sống Chính vì lẽ đóviệc nâng cao thể lực cho nữ sinh viên trường đại học Tây Bắc là một vấn
đề hết sức cấp thiết
Nhằm thực hiện tốt chỉ thị 36/CT/TW ngày 24/3/1994 của ban bí thưTrung Ương Đảng trong việc định hướng phát triển TDTT trong giai đoạnmới là: “Phát triển TDTT là một bộ phận không thể thiếu được trong chínhsách phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước ta”, chỉ thị số17-CT/TW của Ban bí thư Trung Ương Đảng các cấp lãnh đạo trường Đạihọc Tây Bắc nói chung và khoa TDTT nói riêng nhận thấy bên cạnh việcthực hiện chương trình GDTC nội khóa cho sinh viên một cách đầy đủ thìcông tác tổ chức hoạt động TDTT ngoại khóa cho sinh viên là một việc vôcùng cấp bách và cần thiết, nhất là trong giai đoạn hiện nay việc học tậptheo tín chỉ làm cho chương trình học tập môn GDTC chỉ còn thu gọn tronghai kì học, điều này có một phần ảnh hưởng tới hiệu quả rèn luyện thể lựccủa sinh viên Thể lực của sinh viên chưa tương ứng với yêu cầu phát triểnthể lực và tiêu chuẩn rèn luyện thân thể Đặc biệt với đối tượng là nữ sinhcủa trường việc tập luyện thể thao ngoại khóa nhằm mục đích rèn luyện sứckhỏe lại càng cần thiết nhưng hoạt động này lại diễn ra rất ít Qua xem xétthực tế chúng tôi nhận thấy cần phải có một hình thức tập luyện thể thaongoại khóa cho đối tượng là nữ sinh của trường Đại học Tây Bắc nhằmgiúp các em có sự chuẩn bị tốt về thể chất cho tương lai
Theo chương trình GDTC hiện hành trong các trường Đại học vàCao đẳng (ban hành theo quyết định số 203/TDTT của Bộ Đại học, Trunghọc chuyên nghiệp và Dạy nghề nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày(23/01/1989) và quy chế GDTC và Y tế trường học (ban hành theo quyếtđịnh số 14/2001/QĐ: Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 05/03/2001) và LuậtThể Thao (2006) thì GDTC trường học được tiến hành với nhiều phương
Trang 11đích sức khoẻ với những nét cơ bản của thể dục tự do với sự vận động rất
đa dạng của động tác: Vận động tại chỗ, di chuyển lên xuống với bục vàcác thao tác trong phối hợp với âm nhạc có sự truyền cảm cao làm hấp dẫnngười tập ở nhiều đối tượng khác nhau đặc biệt là các bạn nữ Thêm vào đóviệc tập luyện môn này không đòi hỏi điều kiện tập luyện phức tạp nhưnglại đem lại hiệu quả cao về sức khỏe, giáo dục nhân cách nếp sống lànhmạnh và tạo vóc dáng khỏe đẹp, cân đối cho người tập
Tuy nhiên cho tới nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa họcnào ứng dụng bài tập thể dục thẩm mỹ cho đối tượng là nữ sinh viên trườngĐại học Tây Bắc trong hoạt động thể thao ngoại khóa Cần có những thựcnghiệm khoa học để chứng minh tính chất hợp lý của việc sử dụng bài tập
và phương tiện tập luyện nhằm đảm bảo việc rèn luyện thân thể phát triểnthể lực cho nữ sinh viên là vấn đề hết sức cần thiết
Xuất phát từ lý do trên với mục đích nâng cao công tác đào tạo củanhà trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Ứng dụng bài tập thể dục thẩm mỹ trong hoạt động thể thao ngoại khóa nhằm hỗ trợ nâng cao thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc”.
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở đánh giá thực trạng về hình thái và thể lực của nữ sinhtrường Đại Học Tây Bắc từ đó lựa chọn các bài tập thể dục thẩm mỹ và cáctest đánh giá thể lực cho các em trong hoạt động thể thao ngoại khóa, gópphần nâng cao chất lượng GDTC của trường Đại học Tây Bắc
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra đề tài tiến hành giải quyết cácnhiệm vụ sau:
3.1 Nhiệm vụ 1
Khảo sát thực trạng thể lực, động cơ và sự ham thích tập luyện thể dụcthẩm mỹ của nữ sinh tại trường Đại học Tây Bắc
Trang 12Ứng dụng bài tập và các hình thức tổ chức tập luyện thể dục thẩm mỹnhằm nâng cao thể lực cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc.
4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Trên cơ sở chương trình giảng dạy giáo dục thể chất hiện hành cho
nữ sinh trường đại học Tây Bắc Từ đó ứng dụng hệ thống bài tập thể dụcthẩm mỹ vào hoạt động thể thao ngoại khóa cho các em nhằm góp phầnnâng cao thể lực cũng như tạo điều kiện điều chỉnh theo hướng hoàn thiện,cân đối hình thái cơ thể các em
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1 Phương pháp đọc, phân tích và tổng hợp tài liệu
Thông qua quá trình đọc các tài liệu có liên quan, các tài liệu chuyênngành đối với lĩnh vực TDTT và TDTM đề tài tiến hành phân tích, hệthống các tài liệu, giáo trình, chương trình, từ đó xây dựng cơ sở lý luậncho đề tài
5.2 Phương pháp quan sát sư phạm
Để hoàn thành việc nghiên cứu, đề tài tiến hành quan sát các vấn đề sau:
- Quan sát thực trạng về việc giảng dạy của giáo viên
- Quan sát việc học tập của sinh viên
Thông qua đó nhằm tìm hiểu hiệu quả của việc nâng cao thể lực chođối tượng nghiên cứu
5.3 Phương pháp phỏng vấn tọa đàm
Là phương pháp thu nhận thông tin thông qua hỏi – trả lời giữa ngườinghiên cứu vối đối tượng nghiên cứu về vấn đề quan tâm Đề tài sử dụngphương pháp phỏng vấn gián tiếp và trực tiếp với đối tượng lựa chọn Đốitượng phỏng vấn là các chuyên gia trong lĩnh vực TDTM, các giáo viêntrực tiếp tham gia giảng dạy GDTC tại trường Đại học Tây Bắc, trườngCao đẳng Sư phạm Sơn La và các sinh viên trong trường nhằm thu thập các
Trang 13đó tìm ra các biện pháp nâng cao thể lực cho nữ sinh viên Trường Đại họcTây Bắc.
5.4 Phương pháp kiểm tra y sinh
Đề tài sử dụng phương pháp này để kiểm tra mức độ phát triển thểchất của học sinh qua từng năm bao gồm các chỉ số:
5.4.1 Chiều cao đứng (cm)
- Chiều cao đứng là một chỉ tiêu được sử dụng nhiều nhất trong quátrình kiểm tra cơ bản về hình thái, sinh lí của cơ thể Chỉ số này nói nên tầmvóc của con người trong xã hội Thông qua đó để đánh giá thể lực cũng nhưmức độ phát triển thể chất của con người
- Dụng cụ đo: Thước góc 90o, thước dây chính xác đến (cm)
- Phương pháp đo: Chiều cao đứng được tính từ mặt đất lên đỉnh đầu.Thước dây được dán cố định vào tường theo chiều tăng dần từ mặt đất lên.Người được đo đứng ở tư thế đứng nghiêm dựa tường sao cho gót chân,mông, bả vai chạm tường Người đo đứng bên phải người được đo, tay phảicầm thước góc Sống của thước góc đặt sát tường, cạnh còn lại chạm đỉnhđầu của người được đo Chiều cao được tính từ mặt đất đến góc vuông củathước góc
Trung bình trên thế giới chiều cao của con người nằm trong khoảng135cm – 190cm
Các nhà nhân chủng học đã xếp loại chiều cao của con người nóichung như sau:
+ Loại thấp: dưới 160cm
+ Loại trung bình: 160 - 170cm
+ Loại cao: trên 170cm
Tuy nhiên tầm vóc của người Việt Nam thuộc loại nhỏ nên khi nghiên cứu
về hình thái của người Việt Nam phải thấp hơn mức chung một bậc tức là:+ Loại thấp: dưới 150cm
Trang 14- Dụng cụ: Cân y học với độ chính xác tới 100g.
- Phương pháp đo: Người được đo ngồi trên ghế đối diện cân, đặt haichân lên trên cân và đứng thẳng lên Người đo đọc số đo trên đồng hồ cố định
so sánh được sức nặng tương đối của mọi người có chiều cao khác nhau
5.4.5 Chỉ số BMI
Để giữ cho cân nặng tương xứng với chiều cao, tổ chức Y tế Thế giới (WHO)
đã đưa ra công thức tính chỉ số khối cơ thể (Body mass Index- viết tắt BMI)
Gọi W là cân nặng, tính bằng kilogam (kg)
H là chiều cao, tính bằng mét (m) thì trung bình cân nặng sẽ theo côngthức sau:
2
WBMI
H
Bình thường BMI từ 19 24,9 ở nam giới, 18,5 23,8 ở nữ giới
Trang 15Thông thường đối với các bạn trẻ, chỉ số BMI lí tưởng nhất là 18,5 20 ;đối với phụ nữ trung niên và người lớn tuổi thì chỉ số BMI lí tưởng là
20 22
5.5 Phương pháp kiểm tra sư phạm
Để đánh giá thể lực của đối tượng nghiên cứu, đề tài sử dụng nhữngtest sau:
5.5.1 Chạy con thoi 4 x 10m (s)
Dùng để đánh giá tố chất sức nhanh và khả năng phối hợp vận động.Dụng cụ: Đồng hồ bấm giây Nhật Bản, sân có chiều dài 10m, khoảngkhông hai đầu là 5m
Thực hiện test: Người thực hiện đứng ở vạch xuất phát với tư thế xuấtphát cao, khi nghe lệnh xuất phát người thực hiện nhanh chóng rời vạchxuất phát Khi chạy đến vạch 10m, người thực hiện nhanh chóng với tayxuống chạm vạch đích, rồi nhanh chóng quay trở lại vạch xuất phát Khiđến vạch xuất phát lại với tay xuống chạm vào vạch xuất phát thì quay lạiđích Thực hiện lặp lại cho đến hết quãng đường, tổng số 2 vòng với 3 lầnquay Chỉ cần chạy một lần
5.5.2 Chạy 30m xuất phát cao (s)
5.5.3 Nằm ngửa gập bụng (lần)
Trang 16Dùng để đánh giá sức mạnh cơ bụng Kết quả được đánh giá bằng sốlần thực hiện trong 30 (s).
Thực hiện test: Người thực hiện ngồi trên sàn phẳng, chân co ở gối
90o, bàn chân áp sát mặt sàn, các ngón tay đan chéo vào nhau, lòng bàn tay
áp chặt sau đầu, khuỷu tay chạm gối Người hỗ trợ giữ 2 bàn chân để ngườithực hiện không rời hai bàn chân khỏi sàn Khi có hiệu lệnh bắt đầu, ngườithực hiện ngả người, lưng và bả vai chạm sàn, sau đó nhanh chóng gậpngười về tư thế ngồi, hai khuỷu tay chạm đùi
Kết quả được tính bằng số lần từ khi có hiệu lệnh bắt đầu đến khi kếtthúc 30 (s)
5.5.4 Bật xa tại chỗ (cm)
Dùng để đánh giá sức mạnh bột phát
Được tiến hành ở hố nhảy xa
Thực hiên test: Sinh viên đứng trên ván dậm nhảy, mặt hướng vào hốnhảy, hai bàn chân song song với nhau, trọng tâm dồn đều vào hai chân,ngón chân đặt sát mép vạch giới hạn, giơ tay lên cao, hạ thấp trọng tâm, gốihơi khuỵu, gập chân, người hơi đổ về trước, đầu hơi cúi, hai tay hạ xuống
và ra sau, dùng hết sức và phối hợp toàn thân, bật nhảy xa ra trước, haichân tiếp đất cùng một lúc
Kết quả đo: Thước để từ vạch giới hạn đến điểm chạm gần vạch giớihạn nhất của hai gót chân Chiều dài mỗi lần bật nhảy được tính bằng cm,thực hiện ba lần, lấy kết quả cao nhất
5.5.5 Chạy 5 phút tùy sức, tính quãng đường (m)
Để đánh giá sức bền chung (sức bền ưa khí)
Đường chạy dài ít nhất 50m, rộng ít nhất 2m, hai đầu kẻ hai vạch giớihạn, có khoảng trống ít nhất 1m để chạy quay vòng Giữa hai đầu đườngchạy đặt vật chuẩn để quay vòng trên đoạn đường 50m, đánh dấu từng đoạn10m, để xác định phần lẻ quãng đường (±5m) sau khi hết thời gian chạy Dụng cụ: Đồng hồ bấm giây
Trang 17Thực hiện test: Người được kiểm tra thực hiện theo khẩu lệnh: “Vàochỗ – Sẵn sàng – Chạy” Khi có lệnh chạy, người được kiểm tra chạy trong
ô chạy, hết quãng đường 50m, vòng bên trái qua vật chuẩn, chạy lặp lạitrong 5 phút Nếu chạy từ từ những phút đầu, phân phối đều và tùy sức củamình mà tăng tốc dần Nếu mệt có thể chuyển thành đi bộ cho đến hết giờ.Mỗi sinh viên có một số đeo ở ngực Khi có lệnh dừng thì lập tức đứngnguyên tại chỗ để người đo đánh dấu vị trí
Kết quả được tính bằng số lần từ khi có hiệu lệnh bắt đầu đến khi kếtthúc 30 (s)
5.6 Phương pháp toán học thống kê
Đề tài tiến hành sử dụng phương pháp này nhằm xử lí các số liệu thuthập được trong quá trình nghiên cứu Trong quá trình xử lí số liệu đề tàitiến hành sử dụng các chỉ số x, ±δ, t với công thức sau:
Trang 186.1 Đối tượng nghiên cứu
Bài tập thể dục thẩm mỹ cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc
6.3 Thời gian nghiên cứu
- Giai đoạn 1: Từ tháng 6 năm 2010 đến tháng 11 năm 2010
Đọc và tham khảo tài liệu, xác định tên đề tài, xây dựng đề cương,báo cáo đề cương trước hội đồng khoa học
- Giai đoạn 2: Từ tháng 11 năm 2010 đến tháng 6 năm 2011
Tiếp tục thu thập tài liệu, lựa chọn và ứng dụng hệ thống bài tập thểdục thẩm mỹ vào giảng dạy, lấy số liệu và phân tích số liệu để giải quyếtcác nhiệm vụ của đề tài
- Giai đoạn 3: Từ tháng 6 năm 2011 đến tháng 11 năm 2011
Hoàn thiện đề tài, báo cáo trước hội đồng khoa học của trường Đạihọc Sư phạm Hà Nội
- Địa điểm nghiên cứu:
Trường Đại học Tây Bắc
Trường Cao đẳng Sư phạm Sơn La
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 19CHƯƠNG I TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về thể chất và phát triển thể chất trong các trường Đại học
Ngày nay việc giáo dục thế hệ trẻ phát triển toàn diện cả về “ Đức –Trí – Thể – Mĩ – Lao động” được xem là quốc sách hàng đầu Trong đóvấn đề phát triển thể lực cũng là một trong những vấn đề đòi hỏi sự quantâm rất lớn của Đảng và Nhà nước ta Các quan điểm của Đảng về pháttriển TDTT là những định hướng cơ bản để xác định vị trí và mối quan hệcủa toàn bộ sự nghiệp TDTT đối với các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xãhội và các mối quan hệ nội tại của TDTT Vì vậy đó chính là các cơ sở đểlựa chọn, xác định các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp để xây dựng quyhoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp TDTT trong một thời kỳ tương đốidài Công tác TDTT có hiệu quả tích cực trong việc nâng cao sức khoẻ củanhân dân, góp phần làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần, xây dựnglối sống lành mạnh, đẩy lùi tệ nạn xã hội Đảng ta luôn coi phát triển TDTT
là một bộ phận quan trọng thuộc chính sách xã hội Các nghị quyết Đại hộiđại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII, IX và X của Đảng đã xác địnhnhững quan điểm cơ bản và chủ trương lớn để chỉ đạo công tác TDTTtrong sự nghiệp đổi mới đó là:
Một là, Phát triển TDTT là một yêu cầu khách quan, một mặt quan
trọng của chính sách xã hội, một biện pháp tích cực để giữ gìn và nâng caosức khoẻ, làm phong phú đời sống văn hoá tinh thần của nhân dân, gópphần mở rộng giao lưu quốc tế, phục vụ tích cực các nhiệm vụ kinh tế - xãhội, an ninh quốc phòng của đất nước
Hai là, Phát triển TDTT phải đảm bảo tính dân tộc, tính khoa học và
nhân dân
Trang 20Ba là, Phát triển TDTT chú trọng tới đối tượng thanh thiếu niên,
củng cố phong trào TDTT trong các trường học Kết hợp phát triển phongtrào TDTT quần chúng với xây dựng lực lượng vận động viên, nâng caothành tích các môn thể thao là phương châm quan trọng đảm bảo choTDTT phát triển nhanh và đúng hướng
Bốn là, Thực hiện xã hội hoá tổ chức, quản lý TDTT, kết hợp chặt
chẽ sự quản lý của nhà nước, của các tổ chức xã hội
Năm là, Kết hợp phát triển TDTT trong nước với mở rộng các quan
hệ quốc tế về TDTT
Giáo dục thể chất là bộ phận hữu cơ trong mục tiêu giáo dục toàn diệnđối với lực lượng lao động tương lai của đất nước Đó là lực lượng có trithức, sức khỏe để tham gia các hoạt động xã hội Nhận thức được tầm quantrọng của giáo dục thể chất, hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam tại Chương 3, điều 35, 36, 41 Hiến pháp năm 1992 ghi rõ: “…việc dạy và học TDTT trong trường học là bắt buộc…” Giáo dục thể chấttrong nhà trường các cấp được hiểu là “quá trình sư phạm nhằm giáo dục,đào tạo thế hệ trẻ hoàn thiện về thể chất và nhân cách, nâng cao khả nănglàm việc và kéo dài tuổi thọ của con người”
Trong đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã mở đầu cho côngcuộc đổi mới toàn diện đất nước Về TDTT, nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ
VI đã đề cập đến các vấn đề mở rộng và nâng cao chất lượng trong các lĩnhvực: TDTT quần chúng, thể thao thành tích cao GDTC trong các trường học
và phát triển lực lượng VĐV trẻ Nghị quyết cũng ghi rõ: “…Mở rộng vànâng cao chất lượng, phong trào TDTT quần chúng, từng bước đưa rènluyện thân thể thành thói quen hàng ngày của đông đảo nhân dân ta, trướchết là thế hệ trẻ nâng cao chất lượng GDTC trong các trường học ”
Trước yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiệnđại hóa Nghị quyết TW4 khóa VII năm 1993 đã bàn chuyên đề về Giáo
Trang 21dục - Đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực đáp ứng yêu cầuchuẩn bị tiến hành công nghiệp hóa hiện đại hóa Nghị quyết đã một lần nữanhấn mạnh sức khỏe thể chất và tinh thần được coi như vốn quý của conngười và xã hội Chỉ thị 36/CT - TW ngày 24/3/1994 về công tác giáo dụcthể chất trong giai đoạn mới đã nêu rõ: “… cải tiến chương trình giảng dạy,tiêu chuẩn rèn luyện thân thể, đào tạo giáo viên TDTT cho trường học cáccấp, tạo những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để thực hiện chế độ bắtbuộc ở tất cả các trường học…” chỉ thị này của Ban Bí thư đã yêu cầu BộGiáo dục - Đào tạo phối hợp với ngành TDTT tổng kết đánh giá công tácGDTC để tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác pháttriển thể chất cho học sinh, sinh viên trong các trường học.
Văn kiện đại hội VIII của đảng đã chỉ rõ: “Phát triển phong tràoTDTT sâu rộng trong cả nước, trước hết là trong thanh thiếu niên, tạo
sự chuyển biến tích cực về chất lượng và hiệu quả của GDTC trongtrường học ”
Bước vào giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,hội nhập toàn diện về ngoại giao và kinh tế Trong nghị quyết Đại hội Đảnglần thứ IX và X đã khẳng định: “…Giáo dục và Đào tạo cùng với khoa học
và công nghệ phải thực sự trở thành quốc sách hàng đầu…” Đầu tư chogiáo dục là đầu tư cho sự phát triển
Như vậy để nâng cao chất lượng đào tạo, tăng cường thể chất chonhân dân đáp ứng nhu cầu xã hội, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chínhsách, chủ chương để nâng cao chất lượng GDTC và phát triển TDTT sâurộng trong cả nước Với lí do: Sự cường tráng về thể chất là nhu cầu củabản thân con người, đồng thời là vốn quý tạo ra sản phẩm trí tuệ và vật chấtcho xã hội Vì vậy, chăm lo cho con người về thể chất là trách nhiệm củatoàn xã hội nói chung và của ngành TDTT nói riêng Đó là mục tiêu cơbản, quan trọng nhất của nền TDTT nước ta
Trang 221.2 Vị trí, vai trò của GDTC trong giáo dục Đại học
* Khái niệm GDTC:
GDTC là một bộ phận của TDTT (văn hóa thể chất); hay nói mộtcách chính xác hơn đó là một trong những hình thức hoạt động cơ bản cóđịnh hướng rõ của TDTT trong xã hội Do vậy, GDTC đã trở thành mộttrong những vấn đề quan trọng của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa nhằmđào tạo thế hệ trẻ phát triển toàn diện, có tri thức, có đạo đức và hoànthiện về thể chất
Với tầm quan trọng như vậy, để đi tới một khái niệm thống nhất củaGDTC thì các nhà lí luận TDTT đã có rất nhiều cách phân tích GDTC dướinhiều góc độ khoa học khác nhau:
Như: GDTC là một loại hình giáo dục nên nó là một quá trình giáodục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kĩnăng, kĩ xảo từ thế hệ này cho thế hệ khác
Hay: GDTC cũng như các loại hình giáo dục khác, nó là một quá trình
sư phạm có đầy đủ các đặc điểm của của nó như: vai trò chủ đạo của nhà sưphạm, tổ chức hoạt động của các nhà sư phạn phù hợp với học sinh, phùhợp với nguyên tắc sư phạm
Hoặc: GDTC là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có địnhhướng rõ ràng của TDTT trong hệ thống giáo dục, giáo dưỡng chung
Cũng có khi thì: GDTC là dòng kênh để chuyển giao những giá trị vănhóa thể chất của thế hệ này cho thế hệ khác, đồng thời đó cũng là một trongnhững con đường làm tăng thêm giá trị văn hóa thể chất, vì rằng thế hệ trẻkhông tiếp thu một cách đơn giản, thụ động những gì đã có trước đó, màkhi đã tiếp thu chúng họ sẽ phát triển lên và tiến tới những thành tựu mới.Hay như về mặt luật pháp thì lại khẳng định GDTC là hiện tượng sưphạm của TDTT và là nội dung bắt buộc đối với học sinh, sinh viên đượcthực hiện trong hệ thống giáo dục quốc dân từ Mầm non đến Đại học
Trang 23Và: GDTC là một quá trình sư phạm nhằm bảo vệ, nâng cao sức khỏe,hoàn thiện thể chất, rèn luyện tính tích cực xã hội và nhân cách cho thế hệtrẻ GDTC như một phạm trù vĩnh cửu, nó ra đời từ khi xuất hiện loàingười và sẽ tồn tại tiếp tục như một trong những điều kiện cần thiết của nềnsản xuất xã hội.
Tóm lại các mảng phân tích từ các khía cạnh khác nhau trên thì vẫnđều đi đến một mặt quy ước chung thống nhất trong GDTC đó là:
GDTC là một loại hình giáo dục mà một nội dung chuyên biệt là dạyhọc vận động (giáo dưỡng thể chất) và phát triển có chủ định các tố chấtthể lực (giáo dục các tố chất thể lực) của con người
Giáo dục thể chất đối với học sinh, sinh viên trong các trường Đạihọc, Cao đẳng bao giờ cũng là mối quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhànước ta Bộ giáo dục và Đào tạo đã đặt vấn đề giáo dục thể chất là một mặtkhông thể thiếu trong chương trình đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học, cán bộquản lí về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng để phục vụ nhiệm vụ chínhtrị, phát triển kinh tế xã hội của đất nước Nhằm thực hiện mục tiêu nêutrên Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tổ chức triển khai các quy hoạch, kế hoạch
để đảm bảo các trường học có chương trình giảng dạy thống nhất, có độingũ cán bộ giảng viên, giáo viên được đào tạo chuyên ngành, có cơ sở vậtchất sân bãi phục vụ việc học TDTT và thi đấu thể thao không chỉ trong hệthống toàn quốc mà còn tham gia thi đấu quốc tế góp phần nâng cao tínhđoàn kết, hợp tác hữu nghị, hòa bình với sinh viên quốc tế
Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sưphạm với đầy đủ đặc điểm của nguyên tắc sư phạm, có vai trò chủ đạo tổchức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với học sinh Giáo dục thể chất làmột loại hình của giáo dục nên nó là một quá trình giáo dục có tổ chức, cómục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo… vềthể dục thể thao từ thế hệ này đến thế hệ khác Giáo dục thể chất bao gồm
Trang 24hai mặt tương đối độc lập: Dạy học động tác (giáo dục kĩ năng, kĩ xảo) vàgiáo dục tố chất thể lực.
Giáo dục thể chất là lĩnh vực TDTT xã hội với nhiệm vụ là: Phát triểntoàn diện các tố chất thể lực, trên cơ sở đó phát triển các năng lực hoạtđộng, hoàn thiện cấu trúc hình thể
Chương trình GDTC trong các trường Đại học và Cao đẳng được BộGiáo dục và Đào tạo xác định với các nhiệm vụ cơ bản như sau:
+ Giáo dục đạo đức Xã hội chủ nghĩa rèn luyện tinh thần tập thể, ýthức tổ chức kỷ luật, xây dựng niềm tin, lối sống lành mạnh tích cực, tinhthần tự giác tích cực học tập và rèn luyện thể lực, chuẩn bị thể lực, sẵn sàngphục vụ sản xuất và bảo vệ Tổ quốc
+ Cung cấp cho sinh viên kiến thức lí luận cơ bản về nội dung vàphương pháp luyện tập TDTT kĩ năng vận động và kĩ thuật cơ bản một sốmôn thể thao thích hợp Trên cơ sở đó bồi dưỡng khả năng sử dụng cácphương tiện nói trên để tự rèn luyện thể lực, tham gia tích cực vào việctuyên truyền và tổ chức các hoạt động TDTT ở cơ sở
+ Góp phần duy trì và củng cố sức khoẻ của sinh viên, phát triển cơthể một các hài hòa cân đối, xây dựng thói quen sống lành mạnh và khắcphục những thói quen xấu trong cuộc sống, nhằm đạt hiệu quả tốt trongquá trình học tập và đạt chỉ tiêu thể lực quy định cho từng đối tượng vànăm học
+ Giáo dục tinh thần thẩm mỹ cho sinh viên, tạo điều kiện nâng caotrình độ thể thao cho VĐV và sinh viên
1.3 Khái quát về các bài tập thể dục thẩm mỹ (TDTM)
1.3.1 Khái niệm TDTM
TDTM là các bài tập thể dục được chọn lọc, sáng tạo và phân địnhmức độ tập luyện và thực hiện kết hợp với âm nhạc trong một chế độ nhấtđịnh, nhằm phát triển sức chịu đựng của người tập, ảnh hưởng tích cực đến
Trang 25sự phát triển hình thể tạo vóc dáng hài hòa, cân đối, năng lực vận động, tínhnhịp điệu, óc thẩm mĩ…
TDTM là thể dục làm đẹp, TDTM thông qua hệ thống bài tập đượclựa chọn theo chủ đích giúp cho người tập có thân hình gọn gàng, cân đốinâng cao thể lực Tập TDTM làm con người trở nên năng động, sáng tạo,yêu đời hơn đồng thời là phương pháp giảm cân đối với người béo, sănchắc với người khỏe mạnh
1.3.2 Đặc điểm và nguyên tắc biên soạn bài tập TDTM
1.3.2.1 Những đặc điểm của bài tập TDTM
TDTM là hệ thống các bài tập được soạn thảo trên nền âm nhạc cóthiên hướng vũ đạo và hiện đại hóa trong việc thực hiện bài tập Dạng bàitập này cần phải được thực hiện bằng phương pháp nguyên vẹn, nghĩa làkhi thực hiện bài tập giữa các động tác phải liên tục không có sự phânđoạn Người hướng dẫn trong quá trình giảng dạy cần cố gắng sử dụng ítnhất lời giải thích để tăng hiệu quả của bài tập
1.3.2.2 Nguyên tắc biên soạn bài tập TDTM
Khi biên soạn bài tập TDTM cần phải tuân theo các nguyên tắc cơbản sau:
- Bài tập phải có nhạc, âm nhạc phải phù hợp với nội dung tập luyện
- Bài tập phải phù hợp với giới tính, lứa tuổi, ngành nghề
- Bài tập phải có tác dụng tốt với từng nhóm cơ, đặc biệt là nhữngnhóm cơ nhỏ
- Thời gian của bài tập phải phù hợp với đối tượng tập luyện
1.3.2.3 Phương pháp biên soạn bài tập TDTM
Như chúng ta đã biết các động tác được lựa chọn đưa vào bài tậpTDTM rất phong phú và đa dạng, do vậy khi soạn thảo giáo án phải xácđịnh mục đích cần phát triển của đối tượng tập luyện
Trang 26VD: - Phát triển tố chất thể lực
- Tăng cường sức khỏe
- Hoàn thiện khả năng phối hợp vận động
- Sửa chữa tư thế cơ bản
Bước 4: Soạn thảo âm nhạc
Bước 5: Xét nghiệm và hiệu chỉnh
Bước 6: Ghi nhớ các động tác trong bài tập
1.4 TDTT đối với phụ nữ
Được khỏe mạnh là điều mong muốn tự nhiên của mọi người nóichung và của phụ nữ nói riêng Đối với phụ nữ khỏe mạnh không chỉ đơnthuần là không có bệnh tật mà còn là sự cân bằng về mặt tâm lí, thể lực và
xã hội Sự hài hòa về tâm lí và thể lực làm tăng khả năng tiềm tàng của sứckhỏe tạo điều kiện sáng tạo trong cuộc sống, người phụ nữ khỏe mạnh trởnên năng động hơn, đồng thời luôn thấy mình trẻ trung và mong muốnvươn tới cái đẹp cả về diện mạo lẫn tâm hồn Trong xã hội, người phụ nữ làmột nửa của xã hội, trong mỗi gia đình với chức năng làm mẹ, làm vợ,làm
cô giáo và làm bạn của con cái Trong xã hội văn minh, người phụ nữ bìnhđẳng với nam giới, đó là kết quả của cuộc đấu tranh lâu dài, gian khổ, giải
Trang 27phóng người phụ nữ khỏi bị phân biệt đối xử và cấm đoán tham gia cáchoạt động chính trị, văn hóa, thể thao.
Đối với phụ nữ, thể dục thể thao là sức khỏe, là vẻ đẹp của cơ thể và
có thể là tiền đề của hạnh phúc gia đình Chính vì vậy, nhu cầu được tậpluyện thể dục thể thao của chị em phụ nữ đã, đang và sẽ ngày một cao lên.Ngày nay, nhiều phụ nữ đã tham gia hầu hết các môn thể thao, kể cả nhữngmôn thể thao mà trước đây chỉ có nam giới tham gia hoạt động Tập luyệncủa phụ nữ trong các hoạt động thể thao mang nhiều mục đích khác nhausong nguyện vọng chân chính và duy nhất của người phụ nữ là tập luyệnthể thao gắn liền với mục đích sức khỏe và vẻ đẹp hình thể Hiện nay việc
tự động hóa sản xuất và sự phát triển của phương tiện giao thông cùng vớicác tiện nghi sinh hoạt cũng như sự phát triển về mặt khoa học, kĩ thuật làmcho con người trở nên “lười biếng” hoạt động cơ bắp hơn Vì thế, xu hướngcủa con người thường qua tu dưỡng về trí tuệ và xem nhẹ về mặt phát triểnthể chất Nhiều số liệu nghiên cứu khoa học cho thấy rằng: Một trongnhững nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự suy yếu của sức khỏe là sự thiếuvận động của con người, làm hạn chế các hoạt động thể lực trong conngười hiện đại Hoạt động thể dục thể thao giúp cho sự phát triển bền bỉdẻo dai, khả năng nhanh nhẹn và làm tăng cường sự mềm mại của cơ thểcon người đặc biệt là phụ nữ, giúp cho sự cân bằng của hệ thống cơ bắp vàgiảm đi lượng mỡ thừa, cải tạo vóc dáng, mang lại sự sảng khoái và nghịlực cùng với khả năng lao động tốt Sự tích cực hoạt động thể lực, giúp cho
sự cải thiện tuần hoàn máu, kích thích sự hoạt động của cơ quan nội tạng,cải thiện quá trình chuyển hóa, tuần hoàn của cơ thể nghĩa là làm bìnhthường hóa sự hoạt động của các tế bào trong cơ thể con người Nhữngngười có lối sống tích cực, thường xuyên hoạt động thể dục thể thao đềuduy trì được sự trẻ trung của mình rất lâu và ít bệnh tật, luôn cảm thấy yêuđời và làm việc có kết quả tốt đến cuối đời
Trang 28Sức khỏe của mỗi người, mỗi lứa tuổi và giới tính phụ thuộc vào khốilượng vận động của người đó Các phản ứng thích nghi của cơ thể phụ nữđối với vận động về nguyên tắc cũng tương tự như nam giới, không có sựkhác biệt gì đáng kể Tuy nhiên, về mặt hình thái chức năng của cơ thể phụ
nữ lại có những đặc điểm riêng, đó là chức năng làm mẹ Tập luyện thể dụcthể thao ảnh hưởng đến toàn bộ trạng thái chức năng cơ thể người phụ nữ,tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong việc mang thai và sinh con Sự thíchnghi đòi hỏi là rất cao đối với người phụ nữ trong quá trình tập luyện thểdục thể thao Do vậy, việc tập luyện phải được tiến hành và tổ chức phùhợp với mọi đặc điểm riêng của họ Đặc biệt, phải thường xuyên theo dõi
về mặt y sinh học một cách chi tiết nhằm đảm bảo cho quá trình phát triểnhình thái, chức năng của phụ nữ Nhiều nhà bác học đã chứng minh rằng:Tốc độ quá trình chuyển hóa trong cơ thể nằm trong mối liên hệ trực tiếpvới việc tập luyện thể dục thể thao và tốc độ lớn nhất của các quá trìnhchuyển hóa thuộc về các cơ thể trẻ
Đã từ lâu, khái niệm về con người có văn hóa không chỉ bó hẹp trongtrình độ học vấn, sự hiểu biết mà nó còn thể hiện ở trình độ phát triển vềthể chất Bất cứ người nào dù làm nghề gì và thuộc lĩnh vực nào, cũngkhông cảm thấy hạnh phúc và thỏa mãn trọn vẹn khi người đó thiếu đi mộtđiều chủ yếu đó là sức khỏe
Hoạt động thể dục thể thao bằng sự vận động của cơ bắp và các độngtác thể dục, đặc biệt cần thiết cho những người hoạt động trí óc, cũng nhưđối với người ít vận động Trong toàn bộ cơ thể người phụ nữ thì cơ chiếm
30 – 32% tổng trọng lượng cơ thể, do vậy cần thiết phải được vận độngthường xuyên để giúp cho việc chống lại bệnh tật và sự lão hóa của cơ thể.Xêxênôp đã khám phá ra tính chất đặc biệt của hoạt động cơ là: “Sự nạpnăng lượng cho trung ương thần kinh”
Trang 29Tuổi 16 – 17 là tuổi dậy thì đó là thời kì tích lũy sức lực tiềm tàngnhất, tiếp đó là giai đoạn ổn định cho đến tuổi 20 – 21 về cơ bản là thời kì
cơ thể phát triển và hoàn thiện tối đa về mặt thể lực và tâm lí cơ thể của các
em trong lứa tuổi này Lúc này cơ bắp được tăng cường và trở nên cứng rắnhơn vì chứa nhiều chất protein, lipit và những chất vô cơ khác Việc tậpluyện thể dục thể thao có hệ thống với hình thức tập luyện phù hợp, tíchcực giúp cho cơ thể các em lứa tuổi này phát triển thể lực tốt, giúp cho cáchoạt động trí óc có hiệu quả hơn
Khoa học chứng minh rằng, con người được sinh ra với nguồn dự trữlớn lao về tính bền vững, sự sống lâu của mỗi người phụ thuộc vào điềukiện sống của người đó Cuộc sống vật chất, điều kiện lao động, sự nghỉngơi, sinh hoạt… Tất cả yếu tố xã hội này đều là những cơ sở khoa học cho
sự phát triển, tồn tại của mỗi người Để đạt được thắng lợi trong cuộc đấutranh đẩy lùi tuổi già, giành lấy cuộc sống hữu ích, sống khỏe mạnh thì conngười phải biết tự tập luyện thân thể, có chế độ nghỉ ngơi hợp lí và sinhhoạt lành mạnh Thể dục thể thao đối với tất cả mọi người là cơ sở để bảo
vệ và tăng cường sức khỏe, ngăn ngừa bệnh tật Vào thế kỷ 17 bác sĩ Titxo
đã khẳng định chân lí của quá trình vận động: “Vận động là một thứ thuốc,bằng tác dụng riêng của nó có thể thay thế bất cứ thứ thuốc nào nhưng mọithuốc trên đời đều không thay thế được vận động” Thật vậy, thuốc nào cóthể làm cho người yếu đứng vững, người khỏe sung sức hơn Thuốc nàongăn chặn được bệnh tật làm cho cơ thể có sức để chống mọi bệnh tật? Chỉ
có một thứ thuốc, đó là vận động rèn luyện thân thể thông qua các hoạtđộng thể dục thể thao
Nói tóm lại, thể dục thể thao là sự vận động với mục đích, vai trò quan trọngtrong việc củng cố nâng cao sức khỏe cho mọi người và cao hơn nữa thể dục thể thaomang lại những lợi ích thiết thực trong sự nghiệp lâu dài của một quá trình vận độngthường xuyên trong sự hoàn thiện thể lực, nâng cao vẻ đẹp hình thể đối với phụ nữ
Trang 301.4.1 Mục đích, vai trò, tác dụng của TDTM đối với phụ nữ
Mỗi môn thể thao đều có tác dụng tích cực cải thiện cơ thể con người,TDTM là một loại hình của phương tiện thể dục thể thao có tác dụng hữuhiệu đối với nhu cầu khỏe đẹp của giới nữ Vì rằng, TDTM là những độngtác, những bài tập có thể tác động toàn diện hoặc từng bộ phận riêng biệtcủa cơ thể Những bài tập TDTM không chỉ có tác dụng phát triển hình thái
và thể lực, giảm lượng mỡ dưới da mà còn là giải pháp tốt tăng nhịp điệu,tính mềm mại, khả năng phối hợp vận động và sự duyên dáng, hài hòa cho
cơ thể người tập Nhiều bài tập TDTM đầy tính nghệ thuật phù hợp với tâmsinh lí phụ nữ, các bài tập thực hiện với sự nhẹ nhàng vừa hưng phấn lạivừa có tác dụng dẫn dắt tính nhịp điệu của người tập Vì lẽ đó, TDTM đượcgiới nữ yêu thích để rèn luyện thể lực, cải thiện vóc dáng hơn cả Hầu hếtcác chị em phụ nữ ở lứa tuổi khác nhau, tình trạng hình thái cơ thể khácnhau, sức khỏe thể lực không đồng đều đã tập thường xuyên các bài tậpTDTM và thu được những kết quả rõ rệt Tập luyện TDTM nói riêng vàTDTT nói chung đã giúp cải thiện chức năng của tất cả các hệ cơ quantrong cơ thể nâng cao hiệu quả tập luyện bằng cách dùng các động tác củacác môn thể dục khác nhau TDTM tạo được thói quen thường xuyên tậpluyện TDTT, rèn luyện thận thể giúp tăng sự dẻo dai, khả năng chịu đựng
và tăng sức đề kháng cho cơ thể TDTM chuẩn bị tâm thế cho nghề nghiệpcủa nữ sinh sau này, là mối giao lưu văn hóa, trao đổi kinh nghiệm cho các
em Thêm vào đó TDTM sử dụng âm nhạc góp phần kích thích hưng phấn,nâng cao hiệu quả tập luyện Tập luyện thường xuyên và điều độ TDTM làvấn đề được chị em phụ nữ quan tâm hơn cả nhằm mục đích làm đẹp hìnhthể và tăng cường sức khỏe
Do vậy, TDTM hay nói cách khác là thể dục làm đẹp có một vị trí quantrọng trong đời sống tinh thần của phụ nữ nói riêng và của con người nóichung trước sự đầy đủ, thậm chí dư thừa về vật chất như hiện nay Ngoài ra,
Trang 31thông qua tập luyện giúp cho con người xích lại gần nhau hơn, thắt chặt mốiquan hệ, góp phần làm đẹp cuộc sống, giao lưu, học hỏi lẫn nhau.
1.4.2 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi sinh viên trong hoạt động TDTT 1.4.2.1 Đặc điểm tâm lí của lứa tuổi 18 – 22
Lứa tuổi sinh viên là lứa tuổi đã tốt nghiệp phổ thông trung học, vì vậylứa tuổi sinh viên thường vào khoảng 18 – 22 tuổi, ở lứa tuổi này con ngườibắt đầu bước vào tuổi trưởng thành
Ở tuổi này, thế giới quan, ý thức, tính cách, đạo đức hướng về tươnglai, đầy đủ nhu cầu sáng tạo mong cho cuộc sống tốt đẹp
Hứng thú đã phát triển rõ rệt và hoàn thiện, mang tính bền vững sâusắc, phong phú Ở lứa tuổi này các em rất năng động, sẵn sàng đi vào lĩnhvực mình ưa thích do thái độ tự giác tích cực trong cuộc sống hình thành từđộng cơ đúng đắn
Tình cảm đã đi đến hoàn thiện, biểu lộ những nét yêu quý tôn trọngmọi người, cư xử đúng mực, biết kính trên nhường dưới
Trí nhớ phát triển hoàn thiện, đảm bảo nhớ một cách có hệ thốnglogic, tư duy chặt chẽ, các phẩm chất ý thức được kiên định
* Sự phát triển về nhân cách
Phát triển và tồn tại như một thành viên của xã hội và lấy chuẩn mựccủa những người đã trưởng thành, làm mục tiêu phấn đấu của bản thân.Bắt đầu thể hiện sự phản đối công khai với sự quản lí của cha mẹ
Có xu hướng coi trọng mối quan hệ bạn bè hơn là mối quan hệ với xã hộinói chung
Thích xây dựng mối quan hệ thân thiết với người khác giới Thích gầngũi với người lớn tuổi có học thức và muốn hiểu họ
* Sự phát triển về trạng thái tình cảm
Rất nhạy cảm với những vấn đề của bản thân, có xu hướng vươn tới
sự hoàn thiện
Trang 32Hay dao động và hay nổi cáu nhưng cũng rất nhanh chóng lấy lại bình tĩnh.Nhìn chung đã biết suy nghĩ và định hướng cho tương lai, hưng phấncao khi có được thành công Sống thân ái, chan hòa với bạn bè và biết rút
ra những bài học kinh nghiệm từ những thất bại mắc phải
* Sự phát triển về trí tuệ
Đặc điểm nổi bật của thời kì này là theo đuổi hoạt động trí tuệ và thựchiện quá trình hệ thống hóa lại các kiến thức đã học
Năng khiếu thẩm mĩ đã được nâng cao: Thích tìm hiểu những vấn đề
mà đòi hỏi phải có một sự suy nghĩ trừu tượng
Quan tâm hơn đến các hoạt động xã hội, chính trị, kinh tế và sựnghiệp của bản thân trong tương lai
1.4.2.2 Đặc điểm sinh lí lứa tuổi 18 – 22
Tuổi 15 – 18 tuổi thời kì dậy thì kết thúc, về hình thái và chức năng,
cơ thể đã phát triển và căn bản hoàn thiện Tuổi 19 – 22 cơ thể bước vàotuổi trưởng thành
* Hệ thần kinh:
Các biểu hiện cơ bản của hoạt động thần kinh cao cấp hoàn thiện, hệthống tín hiệu thứ hai phát triển mạnh và có ưu thế so với hệ thống tín hiệuthứ nhất Khả năng tư duy, phân tích tổng hợp, trừu tượng hóa và khả nănggiao tiếp hàng ngày càng được hoàn thiện, làm sự nhận thức mở rộng Độlinh hoạt của các loại hình hoạt động thần kinh thể hiện ra rõ rệt Sự phốihợp động tác đạt được bởi kĩ xảo
* Trao đổi chất và năng lượng:
Đặc điểm chính của lứa tuổi này là sự phát triển hình thành cơ thể ởlứa tuổi này diễn ra chậm Nhu cầu về đường, đạm, mỡ, nước, muốikhoáng ít hơn so với tuổi dậy thì Sự trao đổi đường tốt hơn, cơ thể ngườitrưởng thành có thể huy động nguồn đường dự trữ nhanh hơn và duy trìcường độ cao trong hoạt động, tuổi này đường huyết giảm chậm hơn trong
Trang 33tập luyện và thi đấu thể thao căng thẳng Nhu cầu về nước ở lứa tuổi 18 là
40 – 50g/1kg trọng lượng/ngày Trong khi ở trẻ em 6 – 8 tuổi nhu cầu vềnước là 100 – 110g/1kg/ngày; 14 tuổi là 70 – 80g/1kg/ngày Nước chiếmgần 80% trọng lượng cơ thể trẻ em và giảm dần đến 68 – 72% ở lứa tuổitrưởng thành
Trao đổi năng lượng trong điều kiện yên tĩnh (chuyển hóa cơ sở) giảmhơn ở trẻ em, ở lứa tuổi chuyển hóa cơ sở trung bình bằng 3,5 Kcal/m2/giờ;
10 tuổi 4,6 Kcal/m2/giờ; 15 tuổi 4,2 Kcal/m2/giờ; 20 tuổi 3,8 Kcal/m2/giờ
* Hệ vận động
+ Hệ xương: Lứa tuổi sinh viên, xương và khớp bắt đầu ổn định, đếnsau lứa tuổi 20 – 25 xương có thể cốt hóa hoàn toàn, xương không thể pháttriển thêm nữa, chiều cao cơ thể có thể cao thêm vài cm do sự phát triểncủa các tổ chức sụn đệm giữa các khớp xương Các tổ chức sụn này xẹp lại
ở vào lứa tuổi 38 – 40 và cũng làm cho chiều cao cơ thể giảm đi vài cm.Như vậy, có thể nói tuổi 20 – 25 là “thời điểm chiều cao cơ thể cao nhất”(Nguyễn Quang Quyền, Đỗ Xuân Hợp)
+ Hệ cơ: Cùng với lứa tuổi, khối lượng cơ tăng dần, tuy nhiên sự tăngtrưởng cơ không đều, trong 15 năm đầu, sự tăng trưởng của cơ vào khoảng9%, còn 2 – 4 năm sau là 12%, ở người trưởng thành là 40% Từ 4 – 20tuổi khối lượng cơ tăng lên 7 – 8 lần, sức mạnh tối đa của các nhóm cơkhác tăng 9 – 14 lần Các cơ lớn phát triển tương đối nhanh, các cơ co pháttriển chậm hơn các cơ duỗi, đặc biệt các cơ duỗi ở nữ
+ Hệ tuần hoàn: Đã phát triển và hoàn thiện:
Buồng tim cũng phát triển tương đối hoàn thiện Các kích thước tuyệtđối cũng như tương đối của tim ở mức cao hơn trẻ em
Ví dụ: Trẻ em 1 tuổi có trọng lượng tim tuyệt đối khoảng 41g; 8 – 10tuổi 96g; 15 tuổi 200g và 18 – 20 tuổi khoảng 300g
Trang 34Tần số co bóp của tim ở người trưởng thành giảm hơn trẻ em Ở trẻ
em sơ sinh 135 – 140 lần/phút, đến 14 – 16 tuổi tần số này giảm còn 70 –
80 lần/phút, lứa tuổi 18 – 20 của nữ khoảng 75 – 85 lần/phút
Phản ứng của hệ tuần hoàn trong vận động tương đối rõ ràng, nhưngsau vận động lớn mạch và huyết áp hồi phục nhanh chóng Thể tích phútcủa dòng máu tính trên 1kg trọng lượng giảm dần (thể tích phút giảm tươngđối) theo lứa tuổi Khi 8 tuổi chỉ số này khoảng 85 – 90 ml/1kg trọnglượng; khi 15 tuổi chỉ số này vào khoảng 79 ml/1kg trọng lượng Tuổitrưởng thành giảm xuống 60 ml/1kg trọng lượng
Thể tích tâm thu tối đa ở 8 – 9 tuổi là 70 ml; 10 – 11 tuổi là 100ml, lứatuổi trưởng thành là 120 – 140ml Trong các hoạt động căng thẳng thể tíchphút của lứa tuổi 18 – 22 có thể đạt tới mức 24 – 28 lít/phút
Huyết áp tăng dần cùng với lứa tuổi, huyết áp tối đa ở trẻ em sơ sinh
là 65 – 70 mmHg; Khi 15 tuổi sẽ tăng lên khoảng 100 – 110 mmHg; ởngười trưởng thành là 110 – 130mmHg Huyết áp tối thiểu ở trẻ 1 tuổi chỉkhoảng 35 – 40 mmHg; đến 15 -16 tuổi tăng 80 – 95 mmHg; ở ngườitrưởng thành là khoảng 70 – 90 mmHg Sự tăng huyết áp trong hoạt độngthể lực ở tuổi này tốt hơn so với trẻ em bởi hoạt động thể lực làm tănghuyết áp Ví dụ: Trong hoạt động với công suất tối đa, huyết áp tối đa củatrẻ em 10 – 11 tuổi tăng 30 – 32 mmHg; trong khi ở lứa tuổi 18 – 22 tăngtrung bình khoảng 50 mmHg
* Hệ hô hấp:
Đã phát triển tương đối hoàn thiện
Tần số hô hấp giảm hơn ở trẻ em, tần số hô hấp ở trẻ 7 – 8 tuổi giảm
là 20 – 25 lần/phút và giảm dần ở tuổi trưởng thành khoảng 16 – 20lần/phút
Trang 35Độ sâu hô hấp (không khí lưu thông) ở trẻ em 7 – 8 tuổi vào khoảng
160 – 280 ml; trong khi đó ở tuổi trưởng thành vào khoảng 450 – 500ml,tức là gấp 2 – 3 lần
Dung tích sống của nữ vào khoảng 2800ml, cao hơn so với trẻ em.Tuy nhiên nếu dung tích sống tương đối, tức là dung tích sống/1kg trọnglượng cơ thể thì trẻ em có chỉ số cao hơn của người trưởng thành Ví dụ: trẻ
em tuổi 14 có dung tích sống tương đối là 120ml/1kg trọng lượng; trongkhi ở người trưởng thành là 80ml/1kg trọng lượng Thông khí phổi vàokhoảng 9 – 19 lít Trong hoạt động thông khí phổi tối đa là 140 – 160lít/phút, cao hơn so với trẻ em
Hấp thụ oxy trong yên tĩnh của người trưởng thành cao hơn so với trẻ
em Trẻ em chịu đựng thiếu oxy kém hơn, vì vậy thời gian nín thở ngắnhơn so với người trưởng thành Ở trẻ em 10 – 11 tuổi hấp thụ oxy tronghoạt động thể lực tăng lên 10 lần so với mức chuyển hóa cơ sở, trong khingười trưởng thành có thể tăng 15 – 16 lần
em tăng ít hơn (8 – 13%); còn sau các hoạt động kéo dài lại giảm đi và hồi phụcchậm hơn người trưởng thành
Trang 361.5 Những yếu tố liên quan đến hoạt động thể thao ngoại khóa trong nhà trường
Trong thời kì công nghiệp hóa – hiện đại hóa hiện nay thì một nhiệm
vụ rất quan trọng đặt ra cho bậc giáo dục Đại học đó là phải nâng cao chấtlượng và hiệu quả dạy học ở Đại học cho phù hợp với yêu cầu của đất nước
và thời đại GDTC là một trong các nội dung giáo dục của ngành Giáo dục vàĐào tạo Do đó, GDTC cũng như các mặt giáo dục khác, nó cần phải có sựđầu tư về trang thiết bị, sân bãi, dụng cụ…đó là những điều kiện đảm bảo cầnthiết để phục vụ cho công tác giảng dạy và tập luyện ngoại khóa cũng như rènluyện thể thao và các hoạt động văn hóa của học sinh, sinh viên Việc đầu tưvào phục vụ cho hoạt động nội khóa TDTT cũng chính là đầu tư vào hoạtđộng ngoại khóa cho sinh viên
Những năm gần đây, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, thì côngtác GDTC trong trường học đã có những tiến bộ đáng kể và rõ nét Việc dạy vàhọc thể dục nội khóa trong các trường học dần dần đi vào nề nếp Tuy nhiên,trong thời đại ngày nay, khi mà nhu cầu cũng như nhận thức về vai trò củaTDTT đối với sức khỏe con người được tăng lên một cách rõ rệt, đặc biệt vớitầng lớp thanh thiếu niên – tầng lớp lao động chính trong xã hội tương lai – thìkhi ngồi trên ghế nhà trường nếu mỗi em chỉ thực hiện và hoàn thành chươngtrình TDTT nội khóa thôi thì chưa đủ; mà các em cần phải có, phải tham gia vàocác hoạt động TDTT ngoại khóa khác ngoài giờ học Có như vậy năng lực thểthao của các em mới được phát huy triệt để từ đây chúng ta mới phát hiện ra cáctài năng thể thao cũng như nâng cao thể lực cho các em Chính vì những điềukiện trên mà chúng ta nhận thấy sự cần thiết để phát triển phong trào TDTTngoại khóa cho sinh viên
Để nâng cao được hiệu quả của hoạt động thể thao ngoại khóa chúng ta cần:
- Trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị sân bãi dụng cụ đầy đủ thiết yếucho tập luyện thể thao ngoại khóa
Trang 37- Thay đổi, củng cố phương pháp, hình thức tập luyện để thu hút sinh viêntham gia tập luyện thể thao ngoại khóa.
Có rất nhiều yếu tố chủ quan cũng như khách quan ảnh hưởng đến sự pháttriển của phong trào TDTT ngoại khóa nữa Khi được đáp ứng đầy đủ thì phongtrào TDTT nội khóa cũng như ngoại khóa cũng sẽ phát triển mạnh mẽ tạo điềukiện thúc đẩy GDTC phát triển
Trang 38CHƯƠNG II THỰC TRẠNG THỂ LỰC VÀ HÌNH THÁI CỦA
NỮ SINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
Để tìm hiểu được thực trạng về thể lực và hình thái của nữ sinhtrường Đại học Tây Bắc đề tài sử dụng các phương pháp quan sát sư phạm
và phỏng vấn các giáo viên giảng dạy tại trường Đại học Tây Bắc và trườngCao đẳng Sư phạm Sơn La, các chuyên gia trong lĩnh vực TDTM, và cácsinh viên học tập tại trường
Để giải quyết được vấn đề trước tiên ta cần nắm được thực trạngcông tác giảng dạy TDTT tại trường Đại học Tây Bắc, lựa chọn các chỉtiêu, các test đánh giá hình thái, thể lực cho của nữ sinh trường Đại học TâyBắc từ đó đánh giá được thực trạng về thể lực và hình thái của nữ sinhtrường Đại học Tây Bắc để có những phương pháp phù hợp nhằm nâng caothể lực cho đối tượng nghiên cứu
2.1 Thực trạng công tác giảng dạy TDTT tại trường Đại học Tây Bắc
Bằng phương pháp quan sát sư phạm và phương pháp toán học thống
kê, đề tài đã tổng hợp được việc sử dụng các bài tập phát triển thể lực chosinh viên trong vòng 2 tháng Kết quả thống kê trong 10 giáo án được thểhiện ở bảng 2.1
Thông qua bảng 2.1 có thể rút ra kết luận sau: Do quy định củachương trình đào tạo trong môn thể dục tại các trường Đại học, Cao đẳngnói chung và trường Đại học Tây Bắc nói riêng về các phần cũng như nộidung, thời gian, số lượng sinh viên nên trong chương trình giảng dạy thểlực cho sinh viên các giáo viên chỉ sử dụng chủ yếu là các dạng bài tập pháttriển chung, các dạng bài tập với dụng cụ, chưa thực sự có thời gian quantâm đến các dạng bài tập Sport Aerobic và các dạng bài tập TDTM cho
Trang 39Bảng 2.1: Khảo sát thực trạng sử dụng bài tập phát triển thể lực
cho nữ sinh trường Đại học Tây Bắc
STT Các bài tập được
sử dụng
Tổng thời gian sử dụng trong 10 giáo
án (phút)
Số lần dụng trong 10 giáo
án (lần)
Tỉ lệ thời gian từng nội dung với tổng thời gian 10 giáo án (100 phút)
ở bảng 2.2:
Bảng 2.2: Kết quả lựa chọn môn thể thao trong hoạt động ngoại khóa
của sinh viên trường Đại học Tây Bắc (n=100)
Trang 40Qua kết quả phỏng vấn ở bảng 2.2 cho thấy môn Sport Aerobic vàmôn TDTM là 2 môn thu hút sự ham thích tập luyện của nữ sinh trườngĐại học Tây Bắc trong giờ học ngoại khóa chiếm tỉ lệ rất cao 97%, và 90%.
Sau khi tiến hành phỏng vấn nhu cầu tập luyện của nữ sinh trườngĐại học Tây Bắc đề tài tiến hành tìm hiểu nguyên nhân động cơ sinh viênham thích tập luyện môn TDTM
Bảng 2.3: Động cơ ham thích tập luyện TDTM của nữ sinh
trường Đại học Tây Bắc (n=100)
Stt Các nguyên nhân động cơ bạn ham thích tập
luyện môn TDTM
Số người
Tỉ lệ
%
2 Làm cơ thể đẹp hài hòa, cân đối 91 91%
3 Có thể lực tốt để phục vụ các hoạt động khác 100 100%
4 Muốn trở thành người trẻ hiện đại, năng động 93 93%
5 Là công cụ để giao lưu văn hóa, hiểu biết lẫn
nhau.
7 Muốn trở thành hướng dẫn viên cho loại hình
thể thao này.
Qua bảng 2.3 ta rút ra kết luận như sau:
- Có 100 nữ sinh trường Đại học Tây Bắc thích tập luyện TDTM với tỉ
lệ 100% để có thể lực tốt phục vụ các hoạt động khác
- Có 91- 93% nữ sinh trường Đại học Tây Bắc thích tập luyện TDTMnhằm mục đích muốn có cơ thể đẹp hài hòa, cân đối và trở thành người
trẻ hiện đại, năng động.
- Có 58% nữ sinh trường Đại học Tây Bắc thích tập luyện TDTM vìmuốn trở thành hướng dẫn viên cho loại hình thể thao này
Như vậy các em muốn tập luyện TDTM với mục đích rất lành mạnh
và chính đáng đó là có thể lực tốt để phục vụ cho các hoạt động khác, có