Vì bài nghiên cứu của nhóm đề cập đến nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam, nên trong phạm vi bài nghiên cứu này, nhóm sử dụng định nghĩa nghiệp vụ thị trường mở của NHNN Việt Nam. Theo quan điểm của NHNN Việt Nam: “Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHNN thực hiện mua và bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng thông qua hình thức đấu thầu.” Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation – OMO) có thể được hiểu là hoạt động của NHTW thực hiện việc mua, bán các chứng khoán. Tùy vào mỗi quốc gia mà các loại chứng khoán được giao dịch là khác nhau về loại hình và thời hạn. Về thực chất, thông qua hành vi mua bán trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống ngân hàng thương mại và gián tiếp đến lãi suất thị trường, vì thế ảnh hưởng đến các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế qua những ảnh hưởng về giá và lượng.
Trang 1HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ Ở
VIỆT NAM TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY
Trang 2HOẠT ĐỘNG NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ Ở
VIỆT NAM TỪ NĂM 2012 ĐẾN NAY
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ THỊ TRƯỜNG MỞ (NVTTM)
1.1 Khái niệm công cụ nghiệp vụ thị trường mở
Vì bài nghiên cứu của nhóm đề cập đến nghiệp vụ thị trường mở tại Việt Nam, nên trong phạm vi bài nghiên cứu này, nhóm sử dụng định nghĩa nghiệp vụ thị trường mở của NHNN Việt Nam
Theo quan điểm của NHNN Việt Nam: “Nghiệp vụ thị trường mở là việc NHNN thực hiện mua và bán ngắn hạn các loại giấy tờ có giá của các tổ chức tín dụng thông qua hình thức đấu thầu.” 1
Như vậy, nghiệp vụ thị trường mở (Open Market Operation – OMO) có thể được hiểu là hoạt động của NHTW thực hiện việc mua, bán các chứng khoán Tùy vào mỗi quốc gia mà các loại chứng khoán được giao dịch là khác nhau về loại hình và thời hạn
Về thực chất, thông qua hành vi mua bán trên thị trường mở, NHTW đã tác động trực tiếp đến dự trữ của hệ thống ngân hàng thương mại và gián tiếp đến lãi suất thị trường, vì thế ảnh hưởng đến các điều kiện tiền tệ của nền kinh tế qua những ảnh hưởng về giá và lượng
1.2 Hàng hoá và chủ thể tham gia NVTTM
1.2.1 Điều kiện các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường mở
-Có thể mua, bán được và nằm trong danh mục các loại giấy tờ có giá được giao dịch qua nghiệp vụ thị trường mở
- Được phát hành bằng đồng Việt Nam
- Được lưu ký tại NHNN trước khi đăng ký bán (bao gồm giấy tờ có giá do tổ chức tín dụng lưu ký trực tiếp tại NHNN và lưu ký tại tài khoản của NHNN mở tại Trung tâm giao dịch chứng khoán)
- Giấy tờ có giá được mua hẳn có thời hạn tối đa là 91 ngày, giấy tờ mua bán có thời hạn có thời gian còn lại lớn hơn thời gian mua-bán
Trang 3(1) Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước.
(2) Trái phiếu Chính phủ, bao gồm: Tín phiếu Kho bạc; Trái phiếu Kho bạc; Trái phiếu công trình Trung ương; Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu Chính phủ do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (trước đây là Quỹ Hỗ trợ phát triển) được Thủ tướng Chính phủ chỉ định phát hành
(3) Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, bao gồm: Trái phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc, lãi khi đến hạn
(4) Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và
Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành
(5) Riêng đối với giao dịch mua có kỳ hạn Ngân hàng Nhà nước chỉ giao dịch đối với: Công trái xây dựng Tổ quốc; Trái phiếu do Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội phát hành được Chính phủ bảo lãnh thanh toán 100% giá trị gốc, lãi khi đến hạn; Trái phiếu Chính quyền địa phương do Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh phát hành
1.2.3 Chủ thể tham gia thị trường mở
- NHNN tham gia với tư cách vừa là người tạo lập, vừa là thành viên trực tiếp mua bán trên thị trường
- Các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng 2010
có đủ các điều kiện sau:
+ Có tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước (Sở Giao dịch Ngân hàng Nhà nước hoặc Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố);
+ Có đủ phương tiện cần thiết để tham gia nghiệp vụ thị trường mở gồm máy FAX, máy tính có nối mạng internet;
+ Có giấy đăng ký tham gia nghiệp vụ thị trường mở;
Ngân hàng Nhà nước cấp giấy công nhận là thành viên tham gia thị trường mở cho các tổ chức tín dụng đáp ứng đủ các điều kiện
1.3 Phương thức hoạt động của NVTTM
Các giao dịch NVTTM thường được thực hiện thông qua 2 phương thức đấu thầu
là đấu thầu khối lượng và đấu thầu lãi suất
1.3.1. Đấu thầu khối lượng
Đấu thầu khối lượng là phương thức đấu thầu với lãi suất được NHTW công bố trước NHTW công bố khối lượng tiền cần mua hoặc cần bán bằng phương thức đấu thầu
Trang 4và ấn định mức lãi suất thực hiện NHTW công bố điều kiện đặt thầu để các thành viên đăng ký số tiền dự thầu trên cơ sở chấp thuận mức lãi suất đã xác định trước Sau khi mở thầu NHTW sẽ xác định tỷ lệ giá trị đạt thầu và phân bổ cho từng tổ chức tham gia đặt thầu.
Việc phân bổ thầu được tiến hành thực hiện như sau: Trước hết toàn bộ số lượng đăng ký dự thầu được cộng lại với nhau, sau đó, xảy ra hai trường hợp: (1) Nếu tổng khối lượng đặt thầu nhỏ hơn hoặc bằng khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì toàn bộ các đơn dự thầu đều được phân bổ theo khối lượng đặt thầu; (2) Nếu tổng khối lượng đặt thầu lớn hơn khối lượng NHTW chào mua/chào bán thì khối lượng trúng thầu của từng thành viên được phân bổ tỷ lệ thuận với khối lượng đặt thầu của thành viên đó
1.3.2. Đấu thầu lãi suất
Theo phương thức đấu thầu lãi suất thì các thành viên tham gia tự đăng ký số tiền ứng với mỗi mức lãi suất do tự mình lựa chọn
Trường hợp NHTW cần cung ứng tiền thêm vào lưu thông thông qua việc mua GTCG, các đơn dự thầu được sắp xếp theo thứ tự và được phân bổ theo các mức lãi suất
từ cao xuống thấp Nghĩa là những đơn dự thầu ứng với lãi suất cao sẽ được ưu tiên phân
bổ trước cho đến khi khối lượng phân phối được sử dụng hết
Trường hợp NHTW cần hút tiền từ lưu thông về thông qua việc bán GTCG thì các quy trình diễn ra ngược lại
Trên thế giới có hai phương thức đấu thầu lãi suất là đấu thầu theo kiểu Mỹ và đấu thầu theo kiểu Hà Lan Nếu đấu thầu theo kiểu Mỹ thì tất cả các mức lãi suất đã đăng ký trong phạm vi đặt thầu đều thực hiện theo đúng mức lãi suất đã đăng ký Nếu đấu thầu theo kiểu Hà Lan thì tất cả lượng đặt thầu được xác định cùng mức lãi suất đạt thầu
1.4. Cơ chế tác động của nghiệp vụ thị trường mở
1.4.1 Tác động vào dự trữ của hệ thống ngân hàng
Bằng việc bán các chứng khoán cho các đối tác, NHTW có thể làm giảm đi một khối lượng dự trữ tương ứng (nếu các nhân tố khác không thay đổi) khi số tiền thanh toán cho lượng chứng khoán này được ghi vào bên Nợ của tài khoản tiền gửi của Ngân hàng tại NHTW Trong trường hợp người mua là khách hàng của NHTM, số tiền mua chứng khoán sẽ làm giảm số dư tiền gửi của khách hàng đó tại NHTM Dự trữ giảm xuống sẽ làm giảm khả năng cho vay của hệ thống ngân hàng, qua đó làm giảm khối lượng tiền
Trang 5cung ứng theo bội số (được đo bằng số đo tiền tệ) Hành vi mua chứng khoán của NHTW
sẽ có tác động ngược lại
Cơ chế tác động qua dự trữ của NHTM khi NHTW bán tín phiếu kho bạc
Giả sử: NHTW bán tín phiếu kho bạc → dự trữ của NHTM giảm → dự trữ cho vay giảm → khối lượng tín dụng giảm → MS giảm
1.4.2 Tác động qua lãi suất
Ngoài tác động trên đây, hoạt động mua bán chứng khoán trên thị trường mở của NHTW còn có tác động gián tiếp lên mức lãi suất thị trường thông qua hai con đường:
Thứ nhất, khi vốn khả dụng của từng ngân hàng cá nhân giảm (tăng) do tác động
của hoạt động thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng giảm xuống (hoặc tăng lên) trong điều kiện các yếu tố liên quan không đổi, khiến lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng lên (hoặc giảm xuống) Thông qua dự đoán của thị trường và các hoạt động arbitrage về lãi suất, mức lãi suất ngắn hạn này sẽ truyền các tác động của
nó đến các mức lãi suất trung và dài hạn trên thị trường tài chính Kết quả là chi phí cơ hội đối với người có vốn dư thừa và giá vốn đầu tư với người thiếu hụt vốn tăng lên (giảm xuống), làm giảm nhu cầu đầu tư và nhu cầu tiêu dùng của xã hội, do đó AD dịch trái, làm giảm sản lượng, giá cả và công ăn việc làm
Thứ hai, Việc mua bán chứng khoán sẽ làm ảnh hưởng ngay đến quan hệ cung cầu
về loại chứng khoán đó trên thị trường mở và giá cả của nó (chủ yếu là tín phiếu kho bạc) Khi giá chứng khoán thay đổi, tỷ lệ sinh lời của chúng cũng thay đổi Nếu đó là loại chứng khoán chiếm tỷ trọng lớn trong giao dịch trên thị trường tài chính thì sự thay đổi tỷ
lệ sinh lời của nó sẽ tác động ngược trở lại lãi suất thị trường, tổng cầu AD và sản lượng
Cơ chế tác động qua lãi suất khi NHTW bán tín phiếu Kho bạc:
Trang 61.5 Ưu và nhược điểm của công cụ nghiệp vụ thị trường mở
1.5.1 Ưu điểm
Từ khi được áp dụng như một công cụ độc lập của chính sách tiền tệ, NVTTM đã chứng tỏ tính ưu việt của mình và trở thành một trong những công cụ điều hành hữu hiệu nhất của NHTW các nước Các ưu điểm của NVTTM có thể được khái quát ở bốn điểm chính sau đây:
Một là, NVTTM có tác động nhanh, chính xác và có thể sử dụng được ở bất cứ
mức độ nào Nó có thể hoàn thành nhanh chóng mà không gây những chậm chễ về mặt hành chính Khi muốn thay đổi cơ số tiền hoặc dự trữ, NHTW chỉ việc ra lệnh cho một nhà kinh doanh chứng khoán và việc mua bán sẽ được thực hiện ngay NVTTM có thể giúp NHTW thay đổi mức dự trữ hoặc cơ số tiền tệ ở mức rất nhỏ thông qua việc mua hoặc bán một lượng chứng khoán nhỏ trên thị trường Ngược lại, nếu muốn tác động mạnh hơn đến dự trữ của các NHTM hoặc cơ số tiền tệ, NVTTM vẫn đáp ứng được thông qua việc mua và bán một khối lượng chứng khoán lớn hơn
Hai là, NVTTM rất linh hoạt và dễ dàng sửa chữa khi có sai lầm xảy ra thông qua
việc đảo ngược chiều sử dụng của công cụ đó Nếu cung ứng tiền tệ tăng quá nhanh do NHTW mua chứng khoán trên TTM vượt quá mức cần thiết thì nó sẽ sửa chữa bằng cách tiến hành nghiệp vụ bán chứng khoán trên TTM Ngoài ra, NVTTM còn cho phép điều chỉnh các biến động không dự đoán trước có ảnh hưởng đến dự trữ của các ngân hàng
Trang 7hoặc các biến động vượt quá mức dự tính thông qua các giao dịch có thời hạn với chi phí thấp và hiệu quả cao.
Ba là, NVTTM là một công cụ chính sách tiền tệ chủ động bởi vậy nó cho phép
NHTW có thể tạo ra những biến động ảnh hưởng đến xu hướng của thị trường trên cơ sở
dự báo nhu cầu vốn khả dụng Bên cạnh đó, thông qua tác động của các lực lượng thị trường, NHTW có thể buộc các đối tác hoạt động theo mục tiêu của mình và sự hoàn thành NVTTM không phụ thuộc nhiều vào ý muốn chủ quan của các đối tác
Bốn là, thông qua nghiệp vụ này, NHTW kiểm soát được lượng tái cấp vốn mà
nghiệp vụ tái chiết khấu không thể làm được Trong nghiệp vụ tái chiết khấu, NHTW chỉ
có thể khuyến khích hay hạn chế khối lượng tái chiết khấu và khống chế hạn mức tái chiết khấu chứ không thể kiểm soát được nhu cầu tái chiết khấu của các NHTM
1.5.2 Nhược điểm
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm đó, nghiệp vụ thị trường mở còn bộc lộ nhiều hạn chế trong quá trình áp dụng Biểu hiện cụ thể trên những điểm dưới đây
Một là, do ảnh hưởng của nó tới cơ số tiền bị triệt tiêu bởi các tác động ngược
chiều, nên khi áp dụng công cụ này, trong thực tế có thể xảy ra hiện tượng dự trữ của các ngân hàng không tăng hoặc giảm tương ứng sau các nghiệp vụ mua, bán chứng khoán của NHTW Điều này có thể được lý giải là do dòng chảy ngược chiều của vốn, sự mất cân đối của cán cân thanh toán hay do số dư tiền gửi của Ngân sách ở các NHTM tăng lên, làm cho các hoạt động mua chứng khoán của NHTW nhằm tăng cung tiền sẽ bị triêt tiêu một phần hay toàn bộ
Hai là, khi NHTW tiến hành NVTTM, không phải lúc nào các NHTM cũng tăng
hay giảm lượng cung ứng tín dụng và đầu tư khi dự trữ tăng hay giảm Có nhiều nguyên nhân khiến các NHTM không sử dụng tối đa lượng dự trữ dư thừa vào mục tiêu mở rộng tín dụng như: nhu cầu trả nợ NHTW, hay sự tăng lên của nhu cầu sử dụng tiền mặt
Ba là, khả năng tăng khối lượng tín dụng của các NHTM còn phụ thuộc nhiều vào
khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, mức độ rủi ro và ổn định trong môi trường đầu tư Bởi vậy, khi lãi suất thị trường giảm xuống (như là kết quả của sự tăng MB), không phải lúc nào khối lượng tín dụng cũng tăng lên tương ứng
Trang 8Kết luận: Do vậy, khả năng phát huy hiệu quả tối đa của NVTTM nhiều khi không
chỉ phụ thuộc vào NHTW, mà còn chịu sự chi phối của môi trường kinh tế vĩ mô, hành vi của công chúng và quyết định của các NHTM
1.6 Mối quan hệ của nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ khác
Để thực hiện được mục tiêu, cũng như nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền
tệ, NHTW sẽ phối hợp sử dụng đa dạng các công cụ Chẳng hạn, tuỳ theo yêu cầu mở rộng hay thu hẹp tín dụng, NHTW có thể tăng hoặc hạ lãi suất tái chiết khấu, hoặc giảm
tỷ lệ dự trữ bắt buộc, hay mua bán các GTCG trên thị trường mở Trong các công cụ, nghiệp vụ thị trường mở là công cụ linh hoạt nhất và được sử dụng trong bất kỳ loại chính sách tiền tệ nào, nó là công cụ điều tiết vĩ mô Nghiệp vụ thị trường mở có hiệu ứng thông báo ít hơn so với chính sách dự trữ bắt buộc và chính sách lãi suất chiết khấu.Nó tạo ra sự cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng và các chủ thể phi ngân hàng, có khả năng thanh toán, làm tăng khả năng hiệu quả của chính sách tiền tệ Tuy nhiên, trên thực tế phụ thuộc vào điều kiện khách quan và chủ quan, NHTW sẽ lựa chọn những công cụ,những cách phối hợp riêng, thâm chí cả các chính sách khác nhau để đạt được kết quả phù hợp và hiệu quả nhất
II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÔNG CỤ NVTTM CỦA NHNN TỪ NĂM NAY
2012-2.1 Bối cảnh kinh tế, tài chính – ngân hàng
Nền kinh tế Việt Nam qua hai năm 2012 – 2013 đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi sau thời kỳ khủng hoảng 2008 và đi theo hướng phát triển bền vững Tổng sản phẩm quốc dân (GDP) năm 2013 ước tính tăng 5,42% so với năm 2012, chủ yếu nhờ sự tăng trưởng của khu vực công nghiệp xây dựng và khu vực dịch vụ Mặc dù mức tăng GDP năm 2013 chưa đạt mục tiêu đặt ra đầu năm (5,5%) nhưng vẫn cao hơn mức tăng 5,25% năm 2012 Đây là một dấu hiệu tích cực, cho thấy nền kinh tế đang phục hồi dần, thoát khỏi tình trạng suy thoái
Tỷ lệ lạm phát hai năm qua được kiểm soát tốt, xu hướng lạm phát dài hạn giảm dần và ổn định quanh 7% Tới tháng 9 năm 2013, lạm phát tăng 4,63% so với đầu năm Chỉ số giá tiêu dùng CPI tháng 12 năm 2013, do sự tăng giá của nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng, tăng 0,51% so với tháng 11 và tăng 6,04% so với tháng 12/2012, thấp nhất trong 10 năm gần đây Chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2013 tăng 6,6% so với năm 2012
Trang 9Thị trường bất động sản năm 2012 chưa có nhiều dấu hiệu chuyển biến nhưng sang năm 2013 đã có phần khởi sắc hơn, đặc biệt ở phân khúc nhà ở cho người có thu nhập thấp và trung bình Năm 2013, NHNN đã ban hành gói 30.000 tỉ đồng hỗ trợ cho vay mua nhà ở với thời hạn cho vay có thể kéo dài đến 10 năm và mức lãi suất là 4,5%/năm Kết quả là tới cuối tháng 11/2013, các NHTM đã giải ngân cho 1236 khách hàng với tổng dư
nợ là 470,8 tỉ đồng và mới đây là gói hỗ trợ tín dụng mới 50.000 tỷ đồng mới được tung
ra kì vọng sẽ thúc đẩy thị trường bất động sản không còn “bất động” như giai đoạn
2010-2013, cho thấy những dấu hiệu hồi phục đáng ghi nhận của nền kinh tế Việt Nam
Cán cân thương mại thặng dư sau một thời gian dài liên tục thâm hụt Dự trữ ngoại hối năm 2013 tăng gấp đôi so với năm 2011 Điều đó là nhờ tỷ giá USD/VND ổn định và mức chênh lệch lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoaị tệ hấp dẫn đã giúp giữ được giá trị của đồng nội tệ, khiến người dân và doanh nghiệp hạn chế giữ ngoại tệ mà chuyển sang giữ nội tệ và bán ngoại tệ cho Nhà nước
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu nhất định, nền kinh tế cũng còn một số khó khăn bởi tổng cầu và sức mua còn yếu khiến sản xuất khó tăng trưởng mạnh, thể hiện qua
số lượng doanh nghiệp phải giải thể hoặc ngừng hoạt động năm 2013 tăng 11,9% so với năm 2012 (60737 doanh nghiệp); GDP còn phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu (cầu bên ngoài) là yếu tố nhiều rủi ro, ảnh hưởng tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế; dòng vốn tín dụng chưa được sử dụng tốt; lạm phát tiềm ẩn nguy cơ tăng trở lại
Từ bối cảnh kinh tế, tài chính năm 2012 và diễn biến năm 2013, những tháng đầu năm 2014, NHNN đã xác định những mục tiêu và định hướng cụ thể để từng bước xây dựng một khung CSTT hợp lí, đảm bảo vai trò điều hành và dẫn dắt thị trường của mình.2.2 Định hướng điều hành chính sách tiền tệ
Về dài hạn, mục tiêu ưu tiên hàng đầu của Chính phủ là ổn định giá cả, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, tùy từng bối cảnh và điều kiện khác nhau của nền kinh tế, NHNN Việt Nam lại xác định một mục tiêu và biện pháp thực hiện khác nhau
Năm 2012, trên cơ sở kết quả điều hành chính sách tiền tệ năm 2011 và Định
hướng điều hành của Quốc hội, NHNN xác định mục tiêu và các giải pháp lớn về điều hành chính sách tiền tệ như sau:
Thứ nhất, NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ và linh hoạt để ưu
tiên kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức phù hợp; thị trường tiền tệ, ngoại hối ổn định phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô; hoạt động hệ
Trang 10thống TCTD an toàn, tuân thủ theo quy định của pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Thứ hai, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 14-16%, tín dụng tăng khoảng
15-17%; lãi suất và tỷ giá được điều hành ở mức hợp lý phù hợp với các cân đối kinh tế vĩ
mô, diễn biến thị trường tiền tệ, ngoại hối
Ngay từ đầu năm 2013, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về định
hướng điều hành CSTT năm 2013 nhằm đạt được những mục tiêu cả trong ngắn hạn và dài hạn, cụ thể:
“Điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng, linh hoạt, gắn kết chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm kiểm soát lạm phát thấp hơn, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao hơn năm 2012, tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô; sử dụng chủ động, linh hoạt các công
cụ chính sách tiền tệ, bảo đảm tốc độ tăng trưởng tín dụng, tổng phương tiện thanh toán hợp lý, đáp ứng yêu cầu thanh toán của nền kinh tế; điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến tiền tệ và các cân đối vĩ mô, đặc biệt là diễn biến lạm phát
Triển khai quyết liệt các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu theo chỉ đạo của Chính phủ
Tập trung triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp về tái cơ cấu hệ thống ngân hàng theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 1/3/2012 và Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015.”
Cùng với chỉ thị số 01 là những chỉ đạo sát sao và kịp thời của NHNN trong việc điều hành CSTT phù hợp với các diễn biến trên thị trường: (i) thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, (ii) ổn định mức lạm phát hiện tại, (iii) điều hành chính sách tỷ giá hợp lí
Bước sang năm 2014, chỉ thị 01/2014/CT-NHNN tiếp tục được ban hành với
những chỉ đạo trong xác định mục tiêu và công cụ, biện pháp CSTT: “Năm 2014, định hướng tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16-18%, tín dụng tăng khoảng 12-14%,
có điều chỉnh phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế.” Cùng với đó là các quy định về thanh tra và giám sát hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả đã trở thành một kim chỉ nam cho các hoạt động, các công cụ của CSTT mà NHNN áp dụng Nó là cơ sở quyết định cho
sự thành công hay thất bại của CSTT, vì vậy, nó đóng vai trò bản lề mà bất kì NHTW nào cũng phải đưa ra trước khi quyết định điều hành theo hướng nào và ra sao
2.3 Thực trạng hoạt động nghiệp vụ thị trường mở từ năm 2012-nay
Trang 112.3.1 Năm 2012
Mở đầu năm 2012 là đợt bơm ròng của NHNN Tháng 1, NHNN bơm ròng hơn 59.600 tỷ đồng trên OMO, gấp đôi so với lượng bơm ròng tháng 1 năm 2011.Cũng như những năm trước, ngân hàng Nhà nước (NHNN) bơm mạnh vốn vào 2 tuần giáp Tết Nguyên đán Cụ thể, tuần từ 9/1/2012, NHNN bơm ra thị trường 81.257 tỷ đồng, tuần từ
16 - 20/1/2012 bơm ra thị trường hơn 78.800 tỷ đồng Lượng tiền bơm ròng trong tháng 1/2012 lên tới 59.651 tỷ, gấp đôi so với lượng bơm ròng tháng 1 năm 2011 (chỉ ở mức 30.705 tỷ đồng) NHNN đã linh hoạt sử dụng các kỳ hạn 7 ngày, 14 ngày và 21 ngày nên mặc dù lượng tiền bơm ra trong mỗi tuần giáp Tết chỉ ở mức 80.000 tỷ (thấp hơn cùng kỳ năm trước từ 20-40%/tuần) nhưng lượng hút vào thấp hơn nhiều so với cùng kỳ năm trước Việc này để đáp ứng thanh khoản cho các ngân hàng thương mại mà không phải bơm cùng một lúc một lượng vốn lớn ra thị trường
Hình 1: Bơm hút vốn trên OMO tháng 1/2012 của NHNN
Nguồn: NHNN
Theo số liệu của NHNN, tuần từ 7/1-13/1/2012, lãi suất giao dịch VND bình quân trên thị trường liên ngân hàng tăng đối với các kỳ hạn từ 1 tuần đến 2 tháng, với các mức tăng từ 0,44% đến 1,92%; kỳ hạn 9 tháng và 12 tháng lãi suất tăng mạnh, lần lượt tăng 6,80% và 3,56% so với tuần trước, đều trên 20%/năm
Tính chung, quy mô cung tiền qua cửa sổ OMO được NHNN tăng ồ ạt trong quý I (lên đến gần 285.000 tỷ đồng) để đáp ứng nhu cầu thanh khoản của hệ thống Tuy nhiên, nhằm trung hòa lượng tiền đưa ra thị trường để mua 9 tỷ USD, trong 3 tháng liên tiếp kể
Trang 12từ tháng 3, NHNN liên tiếp hút tiền với tổng lượng hút lên đến trên 187.000 tỷ đồng Cụ thể là:
Trong tháng 3, NHNN bơm ra thị trường 28.276 tỷ đồng, hút ròng về 35.189 tỷ trong đó chỉ 15 ngày cuối tháng, NHNN hút tiền qua kênh bán tín phiếu (3 kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng) là 29.413 tỷ đồng Lãi suất các kỳ hạn vẫn giữ nguyên cho đến cuối tháng 3, mức lãi suất tương ứng cho kỳ hạn 1 tháng, 3 tháng và 6 tháng là 11,5%/năm, 12%/năm và 12,5%/năm
NHNN tiếp tục hút ròng khoảng 40.000 tỷ đồng trong tháng 4 và chuyển hướng bơm ròng vào tháng 5, với lượng bơm khoảng hơn 400 tỷ đồng Tháng 6, tháng 7 NHNN bơm ròng tổng cộng khoảng 30.000 tỷ đồng Trong những ngày đầu tháng 6, giao dịch tín phiếu đang giảm dần cả về khối lượng giao dịch và kỳ hạn của tín phiếu Tính đến ngày 13/6, giao dịch tín phiếu chỉ có giao dịch kỳ hạn 28 ngày với khối lượng 59 tỷ đồng, giao dịch “mua kỳ hạn” cũng khá nhỏ giọt trong tuần qua
Sang tháng 7, Theo báo cáo của công ty chứng khoán Bảo Việt (BVSC) vừa công
bố, tuần (23-27/7), tổng khối lượng bơm ra trên thị trường mở (OMO) đúng bằng tổng lượng tiền đáo hạn, dẫn đến lượng tiền bơm (hút) ròng trong cả tuần là 0 tỷ đồng Đây là lần đầu tiên kể từ tháng 8/2011, việc bơm hút vốn trên OMO cân bằng.Trong tuần, NHNN vẫn thực hiện chào thầu đều đặn 5000 tỷ đồng/ngày nhưng giao dịch chỉ thực hiện được trong ngày 27/7/2012 với lượng tiền trúng thầu đạt 19 tỷ đồng, tương ứng tỷ lệ trúng thầu
là 0,38%
Theo BVSC, thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn dồi dào trong thời gian này
là nguyên nhân khiến cho nhu cầu vay vốn trên thị trường mở có sự sụt giảm mạnh Ngoài ra, lãi suất đấu thầu trên OMO (8%) hiện đang cao hơn mặt bằng lãi suất bình quân (khoảng 2,75-4,35%) của kỳ hạn ngắn (qua đêm, 1 tuần) trên thị trường liên ngân hàng cũng được xem là lý do khiến cho việc đi vay vốn trên thị trường mở kém hấp dẫn hơn so với thị trường liên ngân hàng
Theo dữ liệu của Reuters, trong phiên thứ 251, ngày 22/8, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ra tới 13.025 tỷ đồng trên thị trường mở (OMO), kỳ hạn 7 ngày, với lãi suất 8%/năm.Nếu tính trong hai ngày 21-22/8, Ngân hàng Nhà nước đã bơm ra tổng cộng 18.025 tỷ đồng trên thị trường mở.Ngày 28/8, NHNN đã bơm ra 2.389 tỷ đồng trên thị trường mở (OMO) với lãi suất 8%, kỳ hạn 7 ngày Ngày này cũng là ngày đáo hạn khoản
Trang 13vay 5.000 tỷ đồng mà các tổ chức tín dụng đã vay trên OMO hôm 21/8.Như vậy, NHNN
đã hút ròng 2.611 tỷ đồng
Nguyên nhân chính là do vụ việc của ông Nguyễn Đức Kiên - nguyên là Phó chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB) - bị bắt hôm 20/8, tại ACB cũng có hiện tượng người dân đến rút tiền Và để đảm bảo cho sự an toàn hệ thống, Ngân hàng Nhà nước đã kịp thời chỉ đạo Ngân hàng Nhà nước các cấp sẵn sàng hỗ trợ để đảm bảo thanh khoản ACB cũng như tổ chức tín dụng khác, nếu như có hiện tượng rút tiền hàng loạt
Tháng 10 chứng kiến sự điều tiết nhịp nhàng của các nhà hoạch định chính sách tiền tệ trên thị trường mở Nghiệp vụ mua bán lại và outright được thực hiện kết hợp, với khối lượng hợp lý để đảm bảo lượng tiền lưu thông trong hệ thống NHTM cũng như nền kinh tế Tổng kết, tháng 10, NHNN đã hút ròng 6.562 tỷ đồng trong tháng sau khi đã rút ròng 2.369 tỷ đồng trong tháng 9 thông qua nghiệp vụ reverse repo Bên cạnh việc rút ròng thông qua nghiệp vụ reverse repo, sau khi dừng phát hành từ giữa tháng 6, NHNN cũng đã quay trở lại phát hành tới 14.966 tỷ đồng tín phiếu NHNN từ ngày 10/10, và hút ròng 188 tỷ đồng trong tháng 10 thông qua nghiệp vụ outright này Lãi suất OMO vẫn duy trì mức 8%/năm, lãi suất tín phiếu có lúc giảm khá mạnh, kỳ hạn 28 ngày và 91 ngày, lãi suất ở mức thấp, lần lượt là 4.5% và 6.5%, hiện nay đã ổn định ở mức 6.8% kỳ hạn 91 ngày và 6% kỳ hạn 56 ngày
Từ đầu tháng 11/2012, NHNN đã tăng mạnh lượng tín phiếu bán cho các tổ chức tín dụng trên OMO để hút tiền với lãi suất thấp hơn nhiều so với trần lãi suất huy động Điều này cho thấy thanh khoản của nhiều tổ chức tín dụng đang dư thừa Cụ thể là: NHNN chỉ phát hành tín phiếu kỳ hạn 56 ngày và 91 ngày mà không phát hành tín phiếu
kỳ hạn 28 ngày như tháng trước Lãi suất tín phiếu kỳ hạn 56 ngày ổn định ở 6%/năm, 91 ngày ở 6,8%/năm Bên cạnh việc hút tiền về, NHNN cũng phải bơm ra 4.398 tỷ đồng để thanh toán số tín phiếu 28 ngày đến thời gian đáo hạn Như vậy, tháng 11 NHNN hút ròng 33.325 tỷ đồng qua nghiệp vụ bán hẳn
Trang 1410 Lượng tiền bơm ra qua nghiệp vụ repo hầu như không biến động lớn, chỉ duy nhất có ngày 2/11 phải bơm ra đột biến gần 5.400 tỷ đồng trước sự kiện ngân hàng TMCP Sài Gòn thương tín (Sacombank) thay chủ tịch HĐQT.
Theo công ty chứng khoán ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC), việc NHNN hút ròng trên thị trường mở là nhằm điều hòa dòng vốn trên hệ thống Bởi hiện nay, thanh khoản tiền đồng của các ngân hàng dư thừa do lượng tiền gửi tăng còn tín dụng hầu như không cải thiên
Trong tháng cuối năm 2012, thị trường mở (OMO) chứng kiến diễn biến giao dịch tăng đột biến trước nhu cầu vốn ngắn hạn hỗ trợ thanh khoản của ngân hàng thương mại.Theo dữ liệu của Reuters, trong tuần từ 24-28/12/2012, Ngân hàng Nhà nước đã bơm
ra thị trường mở tổng cộng 28.473 tỷ đồng, với kỳ hạn 7 ngày và lãi suất 7%/năm Do mức vốn đáo hạn trong tuần cuối năm chỉ 1.200 tỷ đồng nên lượng vốn Ngân hàng Nhà nước bơm ròng lên tới 27.273 tỷ đồng Mức bơm ròng này còn cao hơn so với con số trên 23.000 tỷ đồng được bơm ròng trong tuần từ 20-24/8/2012 Theo tính toán, đến ngày 28/12/2012, khối lượng vốn trên OMO còn lưu thông đạt 28.473 tỷ đồng Trong khi đó,
Trang 15cũng trên thị trường OMO, lượng vốn tín phiếu Ngân hàng Nhà nước bán cho các tổ chức tín dụng chưa đáo hạn tính đến 28/12/2012 còn trên 56.000 tỷ đồng
Hình 3: Diễn biến OMO cả năm 2012
Như vậy, tính chung năm 2012, NHNN đã sử dụng một cách linh hoạt NVTTM, trong đó, khối lượng mua bán ròng khoảng thời gian đầu năm sôi động hơn, đến nửa sau, NVTTM trầm lắng do đã đạt được những sự ổn định nhất định của thị trường
2.3.2 Năm 2013 và những tháng đầu năm 2014
NVTTM được sử dụng một cách linh hoạt ngay từ đầu năm 2013 để hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD một cách nhanh nhạy, kịp thời, nhất là trong dịp giáp tết Quý Tỵ khi nhu cầu rút tiền của Kho bạc Nhà nước, Bảo hiểm xã hội thường tăng cao Điều này được thể hiện khi thị trường liên ngân hàng đã chứng kiến sự tăng liên tục lãi suất cho vay qua đêm, kéo dài từ 21/12/2012-2/1/2013
Trang 16Hình 4: Diễn biến lãi suất qua đêm thị trường liên ngân hàng từ 7/2012-1/2013
Nguồn: www.suncafe.vn
Để giải quyết tình trạng thiếu hụt thanh khoản tạm thời này, ngày 7/1/2013, NHNN
đã bơm ra 817 tỷ đồng trên thị trường mở OMO qua nghiệp vụ mua kì hạn (reserve repo) với lãi suất 7%/năm kỳ hạn 7 ngày Đây là phiên bơm ròng trên OMO đầu tiên kể từ đầu năm 2013 Trước đó ngày 2/1/2013, NHNN hút ròng 3.286 tỷ đồng qua nghiệp vụ repo (bơm 811 tỷ đồng, hút 4.097 tỷ đồng), ngày 3/1 hút ròng 2.503 tỷ đồng (bơm 1.145 tỷ đồng, hút 3.648 tỷ đồng), ngày 4/1 hút ròng 11.994 tỷ đồng (bơm 2.000 tỷ đồng và hút 13.994 tỷ đồng) Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất liên ngân hàng ngay đầu tuần (7/1/2013) sụt giảm mạnh ở tất cả các kỳ hạn, trong đó kỳ hạn ngắn giảm mạnh hơn so với kỳ hạn dài Kỳ hạn qua đêm 7/1/2013 ở mức 4.15%/năm, giảm 0.46% so với cuối tuần trước, lãi suất kỳ hạn 1 tuần giảm xuống 4.53%/năm, kỳ hạn 2 tuần giảm từ 5.61% xuống 5.08%, kỳ hạn 1 tháng giảm từ 6.37% xuống 6%/năm Lãi suất liên ngân hàng như vậy đã ở xu hướng giảm liên tục kể từ ngày 2/1 đến 7/1
Bên cạnh đó, trong tháng 1/2013 NHNN cũng tổ chức 13 phiên gọi thầu tín phiếu
kỳ hạn dưới 1 năm với tổng trị giá trúng thầu là 53.734 tỷ đồng, cao hơn nhiều so với mức 13.312 tỷ đồng của tháng 12/2012 do nhu cầu tín phiếu kỳ hạn 91 ngày và 182
Trang 17ngày tăng mạnh Giá trị trúng thầu ở các kỳ hạn 28 ngày và 56 ngày lần lượt ghi nhận mức 3.524 tỷ đồng và 1.468 tỷ đồng Trong khi đó, giá trị trúng thầu kỳ hạn 91 ngày và
182 ngày tăng mạnh lên mức 22.892 tỷ đồng và 25.832 tỷ đồng, với lãi suất trúng thầu tương ứng là 6,49% và 7,2% Như vậy trong tháng 1/2013 NHNN điều hành nghiệp vụ thị trường mở bằng việc chào mua giấy tờ có giá với khối lượng hợp lý, phù hợp với tình hình vốn khả dụng của các TCTD, kỳ hạn đa dạng từ 7 ngày và mở rộng lên các kỳ hạn dài như 28 ngày, 91 ngày, 182 ngày và thậm chí là cả 364 ngày để tránh đáo hạn ngay sau Tết Nhờ vậy mà thị trường diễn biến ổn định, thanh khoản hệ thống đảm bảo
Đến khi căng thẳng về thanh khoản đã tạm lắng, lãi suất liên ngân hàng giảm và duy trì ổn định thì NHNN lại thực hiện hút ròng trên OMO Tính chung trong tháng 1, thông qua sàn giao dịch thị trường mở của NHNN, Kho bạc Nhà nước đã phát hành tín phiếu kỳ hạn 364 ngày với tổng giá trị trúng thầu tín phiếu đạt 7.290 tỷ đồng, tăng mạnh
từ mức 2.300 tỷ đồng của tháng 12/2012 Lãi suất trúng thầu trung bình ở mức 7,81% giảm khá mạnh từ mức 8,49% của tháng 12/2012
Trong tháng 2, NHNN cũng tổ chức 7 phiên gọi thầu tín phiếu kỳ hạn 91 ngày và
182 ngày với tổng giá trị trúng thầu là 49.259 tỷ đồng, thấp hơn mức 53.734 tỷ đồng của tháng 1 và lãi suất trúng thầu tại 2 kỳ hạn này giữ ổn định Cũng trong tháng 2, Kho bạc Nhà nước đã phát hành tín phiếu kỳ hạn 364 ngày với tổng giá trị trúng thầu đạt 3.550 tỷ đồng, giảm mạnh so với tháng 1 từ mức 7.290 tỷ đồng Lãi suất trúng thầu trung bình ở mức 7,93% tăng nhẹ so với mức 7,81% trong tháng 1