1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An

133 495 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 801 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong cuộc đời của con người ai cũng muốn có một cuộc sống luôn luôn an sinh hạnh phúc. Quy luật của tự nhiên lại không cho phép điều đó. Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần, hay nói một cách khác mỗi con người đều phải lao động để nuôi sống bản thân và tồn tại trong xã hội. Trong thực tế không phải lúc nào cuộc sống và lao động cũng đều thuận lợi, có thu nhập thường xuyên và mọi điều kiện sinh sống bình thường, mà có rất nhiều trường hợp gặp khó khăn, bất lợi phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập như bất ngờ bị ốm đau, tai nạn lao động, mắc các bệnh do nghề nghiệp gây nên hoặc theo đúng quy luật khi tuổi già không còn khả năng lao động. Thời tiết có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân cây cối tươi tốt, đâm chồi nảy lộc. Qua hạ sang thu, đông lại về. Sống trong trời đất con người, ai cũng luôn mong muốn được tồn tại, phát triển, trường tồn mãi mãi. Nhưng cũng như quy luật của tự nhiên, thực tại luôn có sự thay đổi, biến hóa bởi ai cũng phải trải qua các giai đoạn phát triển của đời người đó là sinh ra, lớn lên, trưởng thành và chết đi. Đó là vòng: sinh, lão, bệnh, tử và ước muốn của con người là có được cuộc sống an sinh, hạnh phúc. Nhưng quy luật của tạo hóa là sinh ra lớn lên và già yếu mà ai cũng phải trải qua. Đi theo cùng quy luật đó là những rủi ro, ốm đau, bệnh tật, hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào trong cuộc sống. Hơn nữa, con người từ thời sơ khai là xã hội nguyên thuỷ cho đến nay không ai có thể tồn tại độc lập, sống bên ngoài sự giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng, bè bạn và người thân của mình. Bởi trong thực tế không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập ổn định và mọi điều kiện sinh sống đều diễn ra bình thường như mình mong muốn mà trái lại có rất nhiều khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập như: bệnh tật, tuổi già, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp… Khi rơi vào những hoàn cảnh, trường hợp này thì các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không chỉ mất đi mà trái lại còn phát sinh thêm những làm cho người lao động khó có thể đảm đương được. Chính xuất phát từ bản chất mong muốn tồn tại và vượt qua những khó khăn trở ngại của cuộc sống khi rủi ro xảy ra đã đòi hỏi những người lao động (NLĐ) và xã hội loài người phải tìm ra được biện pháp nào đó để giải quyết những vấn đề trên và thực tế là họ đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ rủi ro, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của nhà nước… Nhưng những cách này chỉ mang tính tạm thời, thụ động và không chắc chắn.Bởi vậy, muốn tồn tại con người và xã hội cần phải tìm ra những biện pháp để khắc phục. Và chúng ta những con người với trí tuệ sáng tạo đã tìm ra những giải pháp thiết thực để khắc phục hậu quả của những rủi ro, biến cố đó. BHXH ra đời là sự đấu tranh từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ tự phát đến tự giác để dành quyền lợi chính đáng của giai cấp công nhân, từ đó đảm bảo anh sinh xã hội cho mỗi một quốc gia. Lịch sử cũng đã chứng minh từ khi nền kinh tế hàng hóa phát triển và việc thuê mướn lao động cũng đã trở lên phổ biến thì đồng thời cũng là mẫu thuẫn chủ thợ trong xã hộ cũng phát sinh. Nguyên nhân sâu xa và cũng là nguyên nhân chủ yếu của mâu thuẫn trên là những thuê mướn lao động chủ sử dụng lao động (NSDLĐ) không mong muốn bị buộc phải đảm bảo thu nhập cho nhập cho người lao động mà mình thuê mướn (NLĐ) trong trường hợp họ gặp phải những rủi ro. Không cam chịu với thái độ của các chủ sử dụng lao động, những người lao động đã liên kết lại đấu tranh buộc người chủ sử dụng lao động phải thực hiện cam kết trả công lao động và đảm bảo cho họ có một thu nhập nhất định để họ có thể trang trải cho những nhu cầu thiết yếu khi gặp những biến cố làm mất hoặc giảm thu nhập do mất,giảm khả năng lao động, mất việc làm. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội. Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn. Sự can thiệp này một mặt đã làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia. Quỹ này còn được bổ sung từ Ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố bất lợi trong cuộc sống. Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải đều và chia nhỏ rủi ro của một người cho nhiều người làm cho cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định, đồng thời giới chủ cũng thấy mình có lợi trong nhiều mặt và đảm bảo được tiến độ sản xuất nâng cao năng xuất lao động.Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu rằng toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là Bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động. Đây là một trong những phương thức đối phó hữu hiệu nhất trong hệ thống An sinh xã hội của quốc gia, là một trong những phát kiến văn minh nhân loại về khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con người.Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước năm 1945 Chính phủ đã chú trọng đến vấn đề phát triển chính sách BHXH và Bảo trợ xã hội. Đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm ban hành và thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước và thường xuyên được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nước. Hệ thống BHXH ngày càng được mở rộng đã góp phần to lớn vào việc ổn định cuộc sống cho người lao động, góp phần ổn định kinh tế chính trị xã hội của đất nước. BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia. Mục tiêu của BHXH là góp phần ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi họ bị mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn tới mất thu nhập. Ở Việt Nam, BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Đảng và Nhà nước, là một trong những chính sách thuộc hệ thống ASXH của cả nước. Hiện nay, cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội – chính sách BHXH cũng không ngừng hoàn thiện, mở rộng nhằm đem lại quyền lợi tốt nhất cho bản thân người lao động cũng như gia đình họ. BHXH Việt Nam hoạt động qua nhiều khâu khác nhau, trong đó chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ. Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn. Mặt khác công tác chi trả BHXH là công đoạn cuối cùng vô cùng quan trọng thể hiện quyền lợi của người lao động. Hoạt động chi trả BHXH cho người lao động có thể ảnh hưởng đến tài chính BHXH, đến nhận thức của cả xã hội về vai trò của BHXH. Nếu như BHXH chi đúng, chi đủ, kịp thời và chính xác thì nguồn quỹ BHXH được quản lý phù hợp, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và điều đặc biệt là nó có tác động rất lớn đến niềm tin của người lao động. Công tác chi trả cũng là khâu cuối cùng trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan BHXH các cấp. Nhờ công tác quản lý chặt chẽ nguồn chi trả, chi đúng, chi đủ và kịp thời đến tay người lao động mà bộ phận chi trả BHXH đã góp phần tạo ra sự thay đổi về nhận thức của người lao động, củng cố niềm tin của người lao động đối với những chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Sự ra đời của bảo hiểm xã hội là một tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai và để đáp ứng với sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi bảo hiểm xã hội ngày càng phải được củng cố và hoàn thiện trong mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới. Cùng với sự ra đời của bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội cũng được hình thành như một tất yếu, tuy nhiên tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị xã hội của mỗi nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định mà quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành sớm hay muộn, sự hỗ trợ của Nhà nước nhiều hay ít. Song nhìn chung quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, của người chủ sử dụng lao động và người lao động, đồng thời có sự bảo trợ của Nhà nước. Tất nhiên, BHXH vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được những yếu điểm của nó mặc dù là cho đến nay nó đã trải qua một thời gian dài. Song không thể phủ nhận sự tồn tại của hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu khách quan cho mọi Quốc gia, cho toàn nhân loại. 1. Tính cấp thiết của đề tàiChính sách bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của các quốc gia trên thế giới. Nó là một trong những công cụ hữu ích của Nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, ổn định và công bằng trong quản lý kinh tế vĩ mô.Ở Việt Nam, Đảng và Nhà n¬ước hết sức quan tâm tới lĩnh vực an sinh xã hội nói chung và lĩnh vực bảo hiểm xã hội nói riêng. Các chính sách bảo hiểm xã hội luôn được đổi mới, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần đảm bảo đời sống của người lao động, ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển. Hệ thống tổ chức Bảo hiểm xã hội ( BHXH) đã được xây dựng từ Trung ương đến địa phương trong cả nước.Bảo hiểm xã hội Nghệ An là một cơ quan thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Bảo hiểm xã hội Nghệ An là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động trên địa bàn tỉnh Nghệ An. Trong nhiều năm qua, việc thực hiện chế độ chính sách bảo hiểm xã hội ở Nghệ An đã đạt được những thành công quan trọng. Số đơn vị sử dụng lao động và số người tham gia bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên. Đồng thời, nguồn thu bảo hiểm xã hội cũng có sự tăng trưởng khá, liên tục qua các năm. Các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động được thực hiện khá tốt. Lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội của các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội được chi trả đầy đủ, kịp thời và an toàn. Có được kết quả đó không thể không nói đến những cố gắng lớn của ngành Bảo hiểm xã hội Nghệ An trong việc hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm xã hội, đẩy mạnh việc phân cấp quản lý chi cho cấp huyện, nâng cao hiệu quả quản lý chi của bảo hiểm xã hội của Nghệ An.Tuy nhiên, bên cạnh những thành công cơ bản, quản lý và hoàn thiện chi bảo hiểm xã hội của Nghệ An còn có những vấn đề cần quan tâm. Bảo hiểm xã hội cấp huyện được phân cấp quản lý chi mạnh song họ lại không được cung cấp đầy đủ các điều kiện để thực hiện sự phân cấp đó. Chẳng hạn, biên chế cán bộ, công chức bảo hiểm xã hội còn thiếu, cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật còn khó khăn....Điều đó đã dẫn đến tình trạng quá tải trong quản lý chi bảo hiểm xã hội tại cấp huyện. Theo đó, việc khai thác tiềm năng của một tỉnh lớn như Nghệ An cho phát triển bảo hiểm xã hội, phát triển kinh tế của tỉnh bị hạn chế. Bên cạnh đó, do còn có những điểm chưa hợp lý, thuận lợi tối đa cho người lao động thụ hưởng các chế độ chính sách bảo hiểm xã hội,....Trong khi đó, Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Thị trường lao động ngày càng phát triển, các quan hệ lao động càng trở nên phức tạp. Người lao động và người sử dụng lao động phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn. Trong cuộc sống không ai chắc chắn rằng mình không gặp rủi ro. Khi xã hội ngày càng phát triển, quá trình công nghiệp hoá tạo ra một đội ngũ làm công ăn lương và sống phụ thuộc hoàn toàn vào thu nhập của họ. Khi rủi ro xảy ra, ví dụ như ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm hay khi già yếu … hậu quả mà người lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung phải gánh chịu rất nghiêm trọng.Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, mối quan hệ giữa chủ thợ ngày càng phức tạp hơn, đó là mối quan hệ mâu thuẫn về lợi ích. Trước đây, người lao động yêu cầu chủ của họ phải đảm bảo an toàn lao động, phải trả lương cho họ trong những ngày họ không may bị ốm đau hoặc tai nạn rủi ro. Tuy nhiên giới chủ đã không đồng ý. Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước buộc chính phủ phải can thiệp bằng cách vận động người lao động đóng góp một phần tiền lương của mình và giới chủ đóng góp một phần quỹ lương của mình để hình thành một loại quỹ. Quỹ này có sự hỗ trợ của Nhà nước và Nhà nước đứng ra bảo trợ. Chính vì vậy, Nhà nước đã yêu cầu định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm người lao động và người sử dụng lao động phải trích ra một tỷ lệ nhất định từ quỹ lương để đóng góp vào quỹ. Quỹ này được sử dụng để đảm bảo một phần thu nhập cho người lao động khi họ không may gặp phải những rủi ro, biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn tới làm giảm hoặc mất thu nhập. Hoạt động này được gọi là hoạt động BHXH cho người lao động. Hoạt động BHXH đã mang lại rất nhiều lợi ích cho người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội. Như vậy, BHXH là cần thiết khách quan, là công cụ hiệu quả góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho mỗi quốc gia. Cần có một tổ chức thống nhất quản lý, bảo tồn, phát triển quỹ và thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng hưởng BHXH để đảm bảo cho việc chi trả đầy đủ, kịp thời và đúng quy định; khắc phục được những tồn tại trước đây. Thực tế đó đòi hỏi quản lý và hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm xã hội ở Việt Nam nói chung và của Nghệ An nói riêng phải được tiếp tục hoàn thiện và đổi mới mạnh hơn nữa. Thực tế đó cũng đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của Nghệ An, nhằm tìm ra giải pháp hữu ích cho vấn đề này, đáp ứng những yêu cầu mới mà thực tiễn đặt ra. Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài :Hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi BHXH của tỉnh Nghệ An làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với hy vọng góp một phần nhỏ vào những nghiên cứu chung đó.

Trang 1

BÙI ĐỨC TRUNG

HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI CỦA TỈNH NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ CHÍNH TRỊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS MAI HỮU THỰC

Hà Nội, 2013

Trang 2

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 8

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu luận văn 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Những đóng góp mới của luận văn 10

7 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1 11

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM 11

THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 11

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 11

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về Bảo hiểm xã hội 11

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về Bảo hiểm xã hội 11

1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội 11

1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội 11

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ, vai trò của Bảo hiểm xã hội 14

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ, vai trò của Bảo hiểm xã hội 14

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội .20

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội .20

1.2 Nội dung quản lý nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội 22

1.2.1 Nội dung quản lý Nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội 22

1.2.1 Nội dung quản lý Nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội 22

Trang 3

xã hội ; Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về Bảo hiểm

xã hội 29

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 30

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 30

1.2.2.1 Mức độ hoàn thiện hệ thống luật pháp về BHXH 30

1.2.2.1 Mức độ hoàn thiện hệ thống luật pháp về BHXH 30

Thứ hai Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân 37

Thứ ba Xuất phát từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực 38

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chi Bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới và các địa phương 39

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chi Bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới và các địa phương 39

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 39

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 39

Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH 42

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý chi Bảo hiểm xã hội tỉnh An Giang 47

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý chi Bảo hiểm xã hội tỉnh An Giang 47

1.3.3 Bài học rút ra về quản lý chi Bảo hiểm xã hội đối với Nghệ An 50

1.3.3 Bài học rút ra về quản lý chi Bảo hiểm xã hội đối với Nghệ An 50

CHƯƠNG 2 52

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ 52

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH NGHỆ AN 52

2.1 Quá trình hình thành và phát triển BHXH Nghệ An 52

2.1 Quá trình hình thành và phát triển BHXH Nghệ An 52

Trang 4

2.1.2 Sự phát triển BHXH Nghệ An 55

2.1.2 Sự phát triển BHXH Nghệ An 55

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở Nghệ An 56

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở Nghệ An 56

2.2.1 Thực trạng cơ chế chính sách 56

2.2.1 Thực trạng cơ chế chính sách 56

2.2.2 Thực trạng bộ máy quản lý 60

2.2.2 Thực trạng bộ máy quản lý 60

2.2.3 Tình hình thực hiện chi bảo hiểm xã hội 68

2.2.3 Tình hình thực hiện chi bảo hiểm xã hội 68

Bảng 2.1: Chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch chi BHXH tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 72

Bảng 2.2: Đối tượng hưởng và cơ cấu đối tượng hưởng BHXH do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 73

Bảng 2.3: Đối tượng hưởng theo các chế độ BHXH do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 74

Bảng 2.4: Cơ cấu đối tượng hưởng BHXH theo các chế độ BHXH tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 20012 74

Bảng 2.5: Quy mô và cơ cấu chi BHXH do 2 nguồn đảm bảo giai đoạn 2008 – 2012 tại BHXH Nghệ An 75

Bảng 2.6: Chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 76

Bảng 2.7: Cơ cấu chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 78

Trang 5

Bảng 2.9: Mức chi bình quân cho một đối tượng qua 2 năm 20011 – 2012 79

2.2.4 Tình hình kiểm tra giám sát hoạt động chi BHXH Nghệ An 81

2.2.4 Tình hình kiểm tra giám sát hoạt động chi BHXH Nghệ An 81

2.3 Đánh giá chung về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 83

2.3 Đánh giá chung về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 83

2.3.1 Những thành công 83

2.3.1 Những thành công 83 Bảng 2.10: Kết quả chi chế độ BHXH ngắn hạn theo phân cấp quản lý chi BHXH từ năm 2008 đến 2012 86 Bảng 2.11: Kết quả chi chế độ BHXH ngắn hạn theo phân cấp quản lý chi BHXH tại BHXH tỉnh, huyện năm 2012 86

2.3.2 Những hạn chế bất cập và nguyên nhân về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội 87

2.3.2 Những hạn chế bất cập và nguyên nhân về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội 87 CHƯƠNG 3 90 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 90 CỦA TỈNH NGHỆ AN 90

3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới 90

Trang 6

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An và mục tiêu hoàn thiện quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai

đoạn tới 90

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An và mục tiêu hoàn thiện quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới 90

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 92

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 92

3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 93

3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 93

3.2.1 Nhóm giải pháp và hoàn thiện về pháp luật, cơ chế chính sách 93

3.2.1 Nhóm giải pháp và hoàn thiện về pháp luật, cơ chế chính sách 93

3.2.2 Nhóm hoàn thiện về tổ chức bộ máy 96

3.2.2 Nhóm hoàn thiện về tổ chức bộ máy 96

3.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện chi bảo hiểm xã hội 99

3.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện chi bảo hiểm xã hội 99

3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường về thanh tra, kiểm tra đối với chi bảo hiểm xã hội 103

3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường về thanh tra, kiểm tra đối với chi bảo hiểm xã hội 103

3.3 Một số kiến nghị 106

Trang 7

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan 106

3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 107

3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 107

3.3.3 Kiến nghị với Tỉnh ủy , Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An 109

3.3.3 Kiến nghị với Tỉnh ủy , Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An 109

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 8

BHXH : Bảo hiểm xã hội

UBND : Ủy ban nhân dân

HĐND : Hội đồng nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT 7

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 8

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU 8

LỜI MỞ ĐẦU 1

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 5

2 Tình hình nghiên cứu luận văn 8

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9

5 Phương pháp nghiên cứu 9

6 Những đóng góp mới của luận văn 10

7 Kết cấu của luận văn 10

CHƯƠNG 1 11

CHƯƠNG 1 11

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM 11

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM 11

THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 11

THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 11

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 11

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 11

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về Bảo hiểm xã hội 11

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về Bảo hiểm xã hội 11

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về Bảo hiểm xã hội 11

1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội 11

Trang 10

1.1.1.1 Khái ni m B o hi m xã h i ệ ả ể ộ 11

1.1.1.1 Khái ni m B o hi m xã h i ệ ả ể ộ 11

1.1.1.2 Đặc tr ng c a B o hi m xã h i ư ủ ả ể ộ 13

1.1.1.2 Đặc tr ng c a B o hi m xã h i ư ủ ả ể ộ 13

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ, vai trò của Bảo hiểm xã hội 14

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ, vai trò của Bảo hiểm xã hội 14

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ, vai trò của Bảo hiểm xã hội 14

1.1.2.1 Ch c n ng nhi m v c a B o hi m xã h i ứ ă ệ ụ ủ ả ể ộ 14

1.1.2.1 Ch c n ng nhi m v c a B o hi m xã h i ứ ă ệ ụ ủ ả ể ộ 14

1.1.2.2 Vai trò c a B o hi m xã h i ủ ả ể ộ 16

1.1.2.2 Vai trò c a B o hi m xã h i ủ ả ể ộ 16

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội .20

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội .20

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội .20

1.1.3.1 Qu n lý nh nả à ướ đố ớ ảc i v i B o hi m xã h i ể ộ 20

1.1.3.1 Qu n lý nh nả à ướ đố ớ ảc i v i B o hi m xã h i ể ộ 20

Qu n lý nh nả à ướ đố ớc i v i ho t ạ động B o hi m xã h i.ả ể ộ 20

c i m qu n lý nh n c i v i ho t ng B o hi m xã h i Đặ đ ể ả à ướ đố ớ ạ độ ả ể ộ .21

1.2 Nội dung quản lý nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội 22

1.2.1 Nội dung quản lý Nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội 22

1.2.1 Nội dung quản lý Nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội 22

1.2.1 Nội dung quản lý Nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội 22

1.2.1.1 Xây d ng h th ng lu t pháp B o hi m xã hôi, qu n lý ự ệ ố ậ ả ể ả B o hi m xã h iả ể ộ 22

1.2.1.1 Xây d ng h th ng lu t pháp B o hi m xã hôi, qu n lý ự ệ ố ậ ả ể ả B o hi m xã h iả ể ộ 22

Công cụ quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội 24

1.2.1.2 Nh nà ướ ổc t ch c qu n lý ho t ứ ả ạ động B o hi m xã h i ả ể ộ 25

1.2.1.2 Nh nà ướ ổc t ch c qu n lý ho t ứ ả ạ động B o hi m xã h i ả ể ộ 25

Xây d ng chi n lự ế ược, ch ế độ, chính sách B o hi m xã h i ả ể ộ 25

Trang 11

xã hội ; Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về Bảo hiểm

xã hội 29

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 30

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 30

1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng 30

1.2.2.1 Mức độ hoàn thiện hệ thống luật pháp về BHXH 30

1.2.2.1 Mức độ hoàn thiện hệ thống luật pháp về BHXH 30

1.2.2.1 Mức độ hoàn thiện hệ thống luật pháp về BHXH 30

1.2.2.2 Ph thu c tình hình phát tri n kinh t -xã h iụ ộ ể ế ộ 31

1.2.2.2 Ph thu c tình hình phát tri n kinh t -xã h iụ ộ ể ế ộ 31

1.2.2.3 T ch c b máy v chi BHXH;ổ ứ ộ ề 32

1.2.2.3 T ch c b máy v chi BHXH;ổ ứ ộ ề 32

1.2.2.4 Ch t lấ ượng đội ng cán bũ ộ 35

1.2.2.4 Ch t lấ ượng đội ng cán bũ ộ 35

1.2.3 S c n thi t ho n thi n qu n lý nh nự ầ ế à ệ ả à ướ đố ớ ảc i v i B o hi m ể xã h i Ngh Anộ ở ệ 36

1.2.3 S c n thi t ho n thi n qu n lý nh nự ầ ế à ệ ả à ướ đố ớ ảc i v i B o hi m ể xã h i Ngh Anộ ở ệ 36

Thứ hai Xuất phát từ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân 37

Thứ ba Xuất phát từ yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực 38

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chi Bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới và các địa phương 39

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chi Bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới và các địa phương 39

1.3 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về chi Bảo hiểm xã hội ở một số nước trên thế giới và các địa phương 39

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 39

1.3.1 Kinh nghiệm của một số nước 39

Trang 12

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý chi Bảo hiểm xã hội tỉnh An Giang 47

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý chi Bảo hiểm xã hội tỉnh An Giang 47

1.3.2 Kinh nghiệm quản lý chi Bảo hiểm xã hội tỉnh An Giang 47

1.3.3 Bài học rút ra về quản lý chi Bảo hiểm xã hội đối với Nghệ An 50

1.3.3 Bài học rút ra về quản lý chi Bảo hiểm xã hội đối với Nghệ An 50

1.3.3 Bài học rút ra về quản lý chi Bảo hiểm xã hội đối với Nghệ An 50

CHƯƠNG 2 52

CHƯƠNG 2 52

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ 52

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ 52

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH NGHỆ AN 52

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở TỈNH NGHỆ AN 52

2.1 Quá trình hình thành và phát triển BHXH Nghệ An 52

2.1 Quá trình hình thành và phát triển BHXH Nghệ An 52

2.1 Quá trình hình thành và phát triển BHXH Nghệ An 52

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 52

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 52

2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tỉnh Nghệ An 52

2.1.2.1 i u ki n t nhiênĐ ề ệ ự 52

2.1.2.1 i u ki n t nhiênĐ ề ệ ự 52

2.1.2.2 i u ki n kinh t , xã h iĐ ề ệ ế ộ 53

2.1.2.2 i u ki n kinh t , xã h iĐ ề ệ ế ộ 53

2.1.2 Sự phát triển BHXH Nghệ An 55

2.1.2 Sự phát triển BHXH Nghệ An 55

2.1.2 Sự phát triển BHXH Nghệ An 55

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở Nghệ An 56

Trang 13

2.2.1 Thực trạng cơ chế chính sách 56

2.2.1 Thực trạng cơ chế chính sách 56

2.2.1 Thực trạng cơ chế chính sách 56

2.2.2 Thực trạng bộ máy quản lý 60

2.2.2 Thực trạng bộ máy quản lý 60

2.2.2 Thực trạng bộ máy quản lý 60

2.2.2.1 S ơ đồ ổ t ch c b máyứ ộ 60

2.2.2.1 S ơ đồ ổ t ch c b máyứ ộ 60

2.2.2.2 Ch c n ng nhi m v c a các phòng nghi p v chuyên môn ứ ă ệ ụ ủ ệ ụ tr c thu c BHXH Ngh Anự ộ ệ 61

2.2.2.2 Ch c n ng nhi m v c a các phòng nghi p v chuyên môn ứ ă ệ ụ ủ ệ ụ tr c thu c BHXH Ngh Anự ộ ệ 61

2.2.3 Tình hình thực hiện chi bảo hiểm xã hội 68

2.2.3 Tình hình thực hiện chi bảo hiểm xã hội 68

2.2.3 Tình hình thực hiện chi bảo hiểm xã hội 68

2.2.3.1 Các phương th c chi tr v quy trình chi tr t i BHXH ứ ả à ả ạ Ngh An.ệ 68

2.2.3.1 Các phương th c chi tr v quy trình chi tr t i BHXH ứ ả à ả ạ Ngh An.ệ 68

2.2.3.2 Qu n lý chi tr t i BHXH t nh Ngh Anả ả ạ ỉ ệ 70

2.2.3.2 Qu n lý chi tr t i BHXH t nh Ngh Anả ả ạ ỉ ệ 70

2.2.3.3 Tình hình ho t ạ động chi BHXH t i BHXH Ngh An giai ạ ệ o n 2008 – 2012 đ ạ 72

2.2.3.3 Tình hình ho t ạ động chi BHXH t i BHXH Ngh An giai ạ ệ o n 2008 – 2012 đ ạ 72

Bảng 2.1: Chỉ tiêu hoàn thành kế hoạch chi BHXH tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 72

Bảng 2.2: Đối tượng hưởng và cơ cấu đối tượng hưởng BHXH do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 73

Bảng 2.3: Đối tượng hưởng theo các chế độ BHXH do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 74

Trang 14

Bảng 2.5: Quy mô và cơ cấu chi BHXH do 2 nguồn đảm bảo giai đoạn

2008 – 2012 tại BHXH Nghệ An 75

Bảng 2.6: Chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 76

Bảng 2.7: Cơ cấu chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 78

Bảng 2.8: Mức chi bình quân cho một đối tượng hưởng BHXH ở BHXH Nghệ An giai đoạn 2008 – 2012 79

Bảng 2.9: Mức chi bình quân cho một đối tượng qua 2 năm 20011 – 2012 79

2.2.4 Tình hình kiểm tra giám sát hoạt động chi BHXH Nghệ An 81

2.2.4 Tình hình kiểm tra giám sát hoạt động chi BHXH Nghệ An 81

2.2.4 Tình hình kiểm tra giám sát hoạt động chi BHXH Nghệ An 81

2.3 Đánh giá chung về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 83

2.3 Đánh giá chung về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 83

2.3 Đánh giá chung về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 83

2.3.1 Những thành công 83

2.3.1 Những thành công 83

2.3.1 Những thành công 83

Bảng 2.10: Kết quả chi chế độ BHXH ngắn hạn theo phân cấp quản lý chi BHXH từ năm 2008 đến 2012 86

Trang 15

2.3.2 Những hạn chế bất cập và nguyên nhân về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội 872.3.2 Những hạn chế bất cập và nguyên nhân về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội 87

2.3.2 Những hạn chế bất cập và nguyên nhân về quản lý Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội 87 CHƯƠNG 3 90 CHƯƠNG 3 90 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 90 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN QUẢN

LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI 90 CỦA TỈNH NGHỆ AN 90 CỦA TỈNH NGHỆ AN 90

3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới 903.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới 90

3.1 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới 90

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An và mục tiêu hoàn thiện quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới 90

Trang 16

đoạn tới 90

3.1.1 Định hướng phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh Nghệ An và mục tiêu hoàn thiện quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong giai đoạn tới 90

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 92

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 92

3.1.2 Phương hướng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An 92

3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 93

3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 93

3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong thời gian tới 93

3.2.1 Nhóm giải pháp và hoàn thiện về pháp luật, cơ chế chính sách 93

3.2.1 Nhóm giải pháp và hoàn thiện về pháp luật, cơ chế chính sách 93

3.2.1 Nhóm giải pháp và hoàn thiện về pháp luật, cơ chế chính sách 93

3.2.2 Nhóm hoàn thiện về tổ chức bộ máy 96

3.2.2 Nhóm hoàn thiện về tổ chức bộ máy 96

3.2.2 Nhóm hoàn thiện về tổ chức bộ máy 96

3.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện chi bảo hiểm xã hội 99

3.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện chi bảo hiểm xã hội 99

3.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện chi bảo hiểm xã hội 99

Trang 17

3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường về thanh tra, kiểm tra đối với chi bảo hiểm

xã hội 103

3.2.4 Nhóm giải pháp tăng cường về thanh tra, kiểm tra đối với chi bảo hiểm xã hội 103

3.3 Một số kiến nghị 106

3.3 Một số kiến nghị 106

3.3 Một số kiến nghị 106

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan 106

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan 106

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan 106

3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 107

3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 107

3.3.2 Kiến nghị với Bảo hiểm xã hội Việt Nam 107

3.3.3 Kiến nghị với Tỉnh ủy , Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An 109

3.3.3 Kiến nghị với Tỉnh ủy , Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An 109

3.3.3 Kiến nghị với Tỉnh ủy , Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An 109

KẾT LUẬN 111

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 18

LỜI MỞ ĐẦU

Trong cuộc đời của con người ai cũng muốn có một cuộc sống luôn luôn an sinh hạnh phúc Quy luật của tự nhiên lại không cho phép điều đó Con người muốn tồn tại và phát triển đòi hỏi phải thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu về vật chất và tinh thần, hay nói một cách khác mỗi con người đều phải lao động để nuôi sống bản thân và tồn tại trong xã hội Trong thực tế không phải lúc nào cuộc sống và lao động cũng đều thuận lợi, có thu nhập thường xuyên và mọi điều kiện sinh sống bình thường, mà có rất nhiều trường hợp gặp khó khăn, bất lợi phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập như bất ngờ bị ốm đau, tai nạn lao động, mắc các bệnh do nghề nghiệp gây nên hoặc theo đúng quy luật khi tuổi già không còn khả năng lao động

Thời tiết có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông Mùa xuân cây cối tươi tốt, đâm chồi nảy lộc Qua hạ sang thu, đông lại về Sống trong trời đất con người,

ai cũng luôn mong muốn được tồn tại, phát triển, trường tồn mãi mãi Nhưng cũng như quy luật của tự nhiên, thực tại luôn có sự thay đổi, biến hóa bởi ai cũng phải trải qua các giai đoạn phát triển của đời người đó là sinh ra, lớn lên, trưởng thành và chết đi Đó là vòng: sinh, lão, bệnh, tử và ước muốn của con người là có được cuộc sống an sinh, hạnh phúc Nhưng quy luật của tạo hóa là sinh ra lớn lên và già yếu mà ai cũng phải trải qua Đi theo cùng quy luật đó là những rủi ro, ốm đau, bệnh tật, hoạn nạn có thể đến bất cứ lúc nào trong cuộc sống Hơn nữa, con người từ thời sơ khai là xã hội nguyên thuỷ cho đến nay không ai có thể tồn tại độc lập, sống bên ngoài sự giúp đỡ, chia sẻ của cộng đồng, bè bạn và người thân của mình Bởi trong thực tế không phải lúc nào con người cũng chỉ gặp thuận lợi, có đầy đủ thu nhập ổn định và mọi điều kiện sinh sống đều diễn ra bình thường như mình mong muốn mà trái lại có rất nhiều khó khăn bất lợi, ít nhiều ngẫu nhiên phát sinh làm cho người ta bị giảm hoặc mất thu nhập như: bệnh tật, tuổi già, tai nạn lao động và bệnh nghề

Trang 19

nghiệp… Khi rơi vào những hoàn cảnh, trường hợp này thì các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không chỉ mất đi mà trái lại còn phát sinh thêm những làm cho người lao động khó có thể đảm đương được Chính xuất phát từ bản chất mong muốn tồn tại và vượt qua những khó khăn trở ngại của cuộc sống khi rủi ro xảy ra đã đòi hỏi những người lao động (NLĐ) và xã hội loài người phải tìm ra được biện pháp nào đó để giải quyết những vấn đề trên và thực tế

là họ đã tìm ra nhiều cách giải quyết khác nhau như: san sẻ rủi ro, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay, đi xin hoặc dựa vào sự cứu trợ của nhà nước… Nhưng những cách này chỉ mang tính tạm thời, thụ động và không chắc chắn

Bởi vậy, muốn tồn tại con người và xã hội cần phải tìm ra những biện pháp để khắc phục Và chúng ta - những con người với trí tuệ sáng tạo đã tìm

ra những giải pháp thiết thực để khắc phục hậu quả của những rủi ro, biến cố

đó BHXH ra đời là sự đấu tranh từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ

tự phát đến tự giác để dành quyền lợi chính đáng của giai cấp công nhân, từ

đó đảm bảo anh sinh xã hội cho mỗi một quốc gia

Lịch sử cũng đã chứng minh từ khi nền kinh tế hàng hóa phát triển và việc thuê mướn lao động cũng đã trở lên phổ biến thì đồng thời cũng là mẫu thuẫn chủ thợ trong xã hộ cũng phát sinh Nguyên nhân sâu xa và cũng là nguyên nhân chủ yếu của mâu thuẫn trên là những thuê mướn lao động - chủ

sử dụng lao động (NSDLĐ) không mong muốn bị buộc phải đảm bảo thu nhập cho nhập cho người lao động mà mình thuê mướn (NLĐ) trong trường hợp họ gặp phải những rủi ro Không cam chịu với thái độ của các chủ sử dụng lao động, những người lao động đã liên kết lại đấu tranh buộc người chủ

sử dụng lao động phải thực hiện cam kết trả công lao động và đảm bảo cho họ

có một thu nhập nhất định để họ có thể trang trải cho những nhu cầu thiết yếu khi gặp những biến cố làm mất hoặc giảm thu nhập do mất,giảm khả năng lao

Trang 20

động, mất việc làm Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động lớn đến nhiều mặt của đời sống kinh tế xã hội Do vậy, Nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hoà mâu thuẫn Sự can thiệp này một mặt đã làm tăng được vai trò của Nhà nước, mặt khác buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng được tính toán chặt chẽ dựa trên xác suất rủi ro xảy ra đối với người làm thuê Số tiền đóng góp của

cả chủ và thợ hình thành nên một quỹ tiền tệ tập trung trên phạm vi quốc gia Quỹ này còn được bổ sung từ Ngân sách Nhà nước khi cần thiết nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi họ gặp phải những biến cố bất lợi trong cuộc sống Chính nhờ những mối quan hệ ràng buộc đó mà rủi ro, bất lợi của người lao động được dàn trải đều và chia nhỏ rủi ro của một người cho nhiều người làm cho cuộc sống của NLĐ và gia đình họ ngày càng được đảm bảo

ổn định, đồng thời giới chủ cũng thấy mình có lợi trong nhiều mặt và đảm bảo được tiến độ sản xuất nâng cao năng xuất lao động

Xuất phát từ thực tế khách quan trên người ta hiểu rằng toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ chặt chẽ đó được quan niệm là Bảo hiểm xã hội (BHXH) đối với người lao động Đây là một trong những phương thức đối phó hữu hiệu nhất trong hệ thống An sinh xã hội của quốc gia, là một trong những phát kiến văn minh nhân loại về khoa học xã hội kết hợp với khoa học tự nhiên để giữ gìn, bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ cho con người

Đối với Việt Nam, ngay từ khi thành lập nước năm 1945 Chính phủ đã chú trọng đến vấn đề phát triển chính sách BHXH và Bảo trợ xã hội Đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm quan tâm ban hành và thực hiện ngay từ những ngày đầu thành lập nước và thường xuyên được bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nước Hệ thống BHXH ngày càng được mở rộng đã góp phần to lớn vào việc ổn định cuộc sống cho người lao động, góp phần ổn định kinh tế chính trị xã hội của đất nước

Trang 21

BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản nhất của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ

tổ quốc, nó thể hiện trình độ văn minh, tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia Mục tiêu của BHXH là góp phần

ổn định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi họ bị mất khả năng lao động, mất việc làm dẫn tới mất thu nhập Ở Việt Nam, BHXH là một trong những chính sách xã hội cơ bản của Đảng và Nhà nước, là một trong những chính sách thuộc hệ thống ASXH của cả nước Hiện nay, cùng với sự phát triển về kinh tế xã hội – chính sách BHXH cũng không ngừng hoàn thiện, mở rộng nhằm đem lại quyền lợi tốt nhất cho bản thân người lao động cũng như gia đình họ

BHXH Việt Nam hoạt động qua nhiều khâu khác nhau, trong đó chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn Mặt khác công tác chi trả BHXH là công đoạn cuối cùng vô cùng quan trọng thể hiện quyền lợi của người lao động Hoạt động chi trả BHXH cho người lao động có thể ảnh hưởng đến tài chính BHXH, đến nhận thức của cả xã hội về vai trò của BHXH Nếu như BHXH chi đúng, chi đủ, kịp thời và chính xác thì nguồn quỹ BHXH được quản lý phù hợp, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước và điều đặc biệt là nó có tác động rất lớn đến niềm tin của người lao động Công tác chi trả cũng là khâu cuối cùng trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ của cơ quan BHXH các cấp Nhờ công tác quản lý chặt chẽ nguồn

Trang 22

chi trả, chi đúng, chi đủ và kịp thời đến tay người lao động mà bộ phận chi trả BHXH đã góp phần tạo ra sự thay đổi về nhận thức của người lao động, củng

cố niềm tin của người lao động đối với những chính sách của Đảng và Nhà nước ta

Sự ra đời của bảo hiểm xã hội là một tất yếu khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của bất kỳ ai và để đáp ứng với sự phát triển chung của xã hội, đòi hỏi bảo hiểm xã hội ngày càng phải được củng cố và hoàn thiện trong mỗi quốc gia cũng như trên toàn thế giới Cùng với sự ra đời của bảo hiểm xã hội, quỹ bảo hiểm xã hội cũng được hình thành như một tất yếu, tuy nhiên tuỳ thuộc vào tình hình kinh tế, chính trị- xã hội của mỗi nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định mà quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành sớm hay muộn, sự hỗ trợ của Nhà nước nhiều hay ít Song nhìn chung quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành chủ yếu từ sự đóng góp của các bên tham gia bảo hiểm xã hội, của người chủ sử dụng lao động và người lao động, đồng thời có sự bảo trợ của Nhà nước

Tất nhiên, BHXH vẫn chưa hoàn toàn khắc phục được những yếu điểm của nó mặc dù là cho đến nay nó đã trải qua một thời gian dài Song không thể phủ nhận sự tồn tại của hệ thống BHXH là một sự cần thiết tất yếu khách quan cho mọi Quốc gia, cho toàn nhân loại

1 Tính cấp thiết của đề tài

Chính sách bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách quan trọng trong hệ thống chính sách an sinh xã hội của các quốc gia trên thế giới Nó là một trong những công cụ hữu ích của Nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu tăng trưởng, ổn định và công bằng trong quản lý kinh tế vĩ mô

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm tới lĩnh vực an sinh

xã hội nói chung và lĩnh vực bảo hiểm xã hội nói riêng Các chính sách bảo hiểm xã hội luôn được đổi mới, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội của

Trang 23

đất nước, góp phần đảm bảo đời sống của người lao động, ổn định xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển Hệ thống tổ chức Bảo hiểm xã hội ( BHXH) đã được xây dựng từ Trung ương đến địa phương trong cả nước.

Bảo hiểm xã hội Nghệ An là một cơ quan thuộc hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam Bảo hiểm xã hội Nghệ An là cơ quan trực tiếp tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động trên địa bàn tỉnh Nghệ An Trong nhiều năm qua, việc thực hiện chế độ chính sách bảo hiểm xã hội ở Nghệ An đã đạt được những thành công quan trọng Số đơn vị

sử dụng lao động và số người tham gia bảo hiểm xã hội không ngừng tăng lên Đồng thời, nguồn thu bảo hiểm xã hội cũng có sự tăng trưởng khá, liên tục qua các năm Các chế độ bảo hiểm xã hội của người lao động được thực hiện khá tốt Lương hưu và các khoản trợ cấp bảo hiểm xã hội của các đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội được chi trả đầy đủ, kịp thời và an toàn Có được kết quả đó không thể không nói đến những cố gắng lớn của ngành Bảo hiểm xã hội Nghệ An trong việc hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm xã hội, đẩy mạnh việc phân cấp quản lý chi cho cấp huyện, nâng cao hiệu quả quản lý chi của bảo hiểm xã hội của Nghệ An

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công cơ bản, quản lý và hoàn thiện chi bảo hiểm xã hội của Nghệ An còn có những vấn đề cần quan tâm Bảo hiểm xã hội cấp huyện được phân cấp quản lý chi mạnh song họ lại không được cung cấp đầy đủ các điều kiện để thực hiện sự phân cấp đó Chẳng hạn, biên chế cán bộ, công chức bảo hiểm xã hội còn thiếu, cơ sở vật chất, điều kiện kỹ thuật còn khó khăn Điều đó đã dẫn đến tình trạng quá tải trong quản lý chi bảo hiểm xã hội tại cấp huyện Theo đó, việc khai thác tiềm năng của một tỉnh lớn như Nghệ An cho phát triển bảo hiểm xã hội, phát triển kinh tế của tỉnh bị hạn chế Bên cạnh đó, do còn có những điểm chưa hợp lý, thuận lợi tối đa cho người lao động thụ hưởng các chế độ chính

Trang 24

sách bảo hiểm xã hội, Trong khi đó, Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới Thị trường lao động ngày càng phát triển, các quan hệ lao động càng trở nên phức tạp Người lao động và người sử dụng lao động phải đối mặt với nhiều rủi ro hơn Trong cuộc sống không ai chắc chắn rằng mình không gặp rủi ro Khi xã hội ngày càng phát triển, quá trình công nghiệp hoá tạo ra một đội ngũ làm công ăn lương và sống phụ thuộc hoàn toàn vào thu nhập của họ Khi rủi ro xảy ra, ví dụ như ốm đau, tai nạn lao động, mất việc làm hay khi già yếu … hậu quả mà người lao động nói riêng và toàn xã hội nói chung phải gánh chịu rất nghiêm trọng.

Khi nền kinh tế hàng hoá phát triển, mối quan hệ giữa chủ thợ ngày càng phức tạp hơn, đó là mối quan hệ mâu thuẫn về lợi ích Trước đây, người lao động yêu cầu chủ của họ phải đảm bảo an toàn lao động, phải trả lương cho họ trong những ngày họ không may bị ốm đau hoặc tai nạn rủi ro Tuy nhiên giới chủ đã không đồng ý Điều này ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế chính trị của mỗi nước buộc chính phủ phải can thiệp bằng cách vận động người lao động đóng góp một phần tiền lương của mình và giới chủ đóng góp một phần quỹ lương của mình để hình thành một loại quỹ Quỹ này

có sự hỗ trợ của Nhà nước và Nhà nước đứng ra bảo trợ

Chính vì vậy, Nhà nước đã yêu cầu định kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm người lao động và người sử dụng lao động phải trích ra một tỷ lệ nhất định từ quỹ lương để đóng góp vào quỹ Quỹ này được sử dụng để đảm bảo một phần thu nhập cho người lao động khi họ không may gặp phải những rủi

ro, biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn tới làm giảm hoặc mất thu nhập Hoạt động này được gọi là hoạt động BHXH cho người lao động Hoạt động BHXH đã mang lại rất nhiều lợi ích cho người lao động, người sử dụng lao động và toàn xã hội

Trang 25

Như vậy, BHXH là cần thiết khách quan, là công cụ hiệu quả góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho mỗi quốc gia Cần có một tổ chức thống nhất quản lý, bảo tồn, phát triển quỹ và thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho các đối tượng hưởng BHXH để đảm bảo cho việc chi trả đầy đủ, kịp thời và đúng quy định; khắc phục được những tồn tại trước đây Thực tế đó đòi hỏi quản

lý và hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm xã hội ở Việt Nam nói chung và của Nghệ An nói riêng phải được tiếp tục hoàn thiện và đổi mới mạnh hơn nữa Thực tế đó cũng đòi hỏi cần có sự nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của Nghệ An, nhằm tìm ra giải pháp hữu ích cho vấn đề này, đáp ứng những yêu cầu mới mà thực tiễn đặt

ra Đó cũng là lý do tôi chọn đề tài :"Hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi

BHXH của tỉnh Nghệ An " làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình, với hy vọng

góp một phần nhỏ vào những nghiên cứu chung đó

2 Tình hình nghiên cứu luận văn

Trên phạm vi cả nước, đã có một số công trình nghiên cứu, bài báo

về hoàn thiện quản lý nhà nước về chi BHXH Nhưng hầu hết những tài liệu đó dựa trên phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành kinh

tế bảo hiểm và nghiên cứu tổng thể, chưa đi sâu phân tích một cách rõ ràng

cơ chế quản lý nhà nước về chi BHXH Hoặc là những bài phân tích chung quản lý nhà nước về thu và chi BHXH Ví dụ như:

- “Quản lý chi BHXH tại BHXH tỉnh Cao Bằng”

- Trần Thị Lam “Hoàn thiện phân cấp quản lý thu, chi bảo hiểm xã

hội ở tỉnh Nghệ An”

- Nguyễn Danh Long “Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động bảo hiểm xã hội ở Việt Nam”.

Đặc biệt trên phạm vi địa phương, chưa có một công trình nào bàn

luận một cách có hệ thống, bài bản và đi trực diện vào đê tài “ Hoàn thiện

quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An’’

Trang 26

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

Mục đích nghiên cứu luận văn

- Trên cơ sở phân tích một số vấn đề lý luận về BHXH và thực tế trong chi BHXH ở Nghệ An, luận văn đề xuất định hướng và các giải pháp thiết thực hoàn thiện quản lý Nhà nước chi BHXH ở Nghệ An

Nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

- Hệ thống hoá và làm rõ thêm cơ sở lý luận về hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An

- Đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước

về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An nhằm đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội

Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An Về thời gian, luận văn nghiên cứu hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An trong thời kỳ từ năm 2008 - 2012 Các số liệu cập nhật đến hết năm

2012 và đưa ra các phương hướng mục tiêu phát triển đến năm 2020

5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, ngoài các phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử là những phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói chung, luận văn còn chú trọng sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý thuyết và tổng kết thực tiễn; phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp; phương pháp hệ thống, so sánh, điều tra, thống kê trên cơ sở

Trang 27

các số liệu tổng hợp, báo cáo, điều tra về tình hình kinh tế xã hội và hoạt động bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Nghệ An.

Nguồn dữ liệu luận văn sử dụng từ các tài liệu là báo cáo quyết toán, báo cáo thanh, kiểm tra và số liệu khảo sát, quản lý của các cơ quan nhà nước trên địa bàn tỉnh Nghệ An

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Luận văn góp phần hệ thống hoá và làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận cơ bản về hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội

- Làm rõ nội dung hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội

ở cấp tỉnh

- Đánh giá thực trạng hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An, chỉ rõ các kết quả, hạn chế và những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng đó

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý Nhà nước về chi bảo hiểm

xã hội trong thời gian tới, trong đó, có đề xuất thực hiện hoàn thiện quản lý chi bảo hiểm xã hội tới cấp xã, phường, thị trấn ở tỉnh Nghệ An

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về Quản lý

Nhà nước đối với chi bảo hiểm xã hội

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về chi Bảo hiểm xã hội của

tỉnh Nghệ An

Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản hoàn thiện quản lý

Nhà nước về chi bảo hiểm xã hội của tỉnh Nghệ An

Trang 28

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM

THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI

CHI BẢO HIỂM XÃ HỘI

1.1 Một số vấn đề lý luận chung về Bảo hiểm xã hội

1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội

1.1.1.1 Khái niệm Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước Chính sách Bảo hiểm xã hội đã được thể chế hoá và thực hiện theo Luật Bảo hiểm xã hội là sự chia sẻ rủi ro và các nguồn quỹ nhằm bảo vệ người lao động khi họ không còn khả năng làm việc Qua quá trình hình thành chúng ta có thể nhận thấy, lúc khởi đầu, Bảo hiểm xã hội chỉ mang tính chất tự phát, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp, trước nhu cầu của thực tiễn thì chính sách Bảo hiểm xã hội đã nhanh chóng ra đời và từng bước phát triển rộng khắp Bảo hiểm xã hội đã được từ điển bách khoa Việt Nam định nghĩa như sau:

"Bảo hiểm xã hội là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu

nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm khoản thu nhập từ nghề nghiệp do bị mất hoặc giảm khả năng lao động hoặc mất việc làm do những rủi ro xã hội thông qua việc hình thành, sử dụng một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội , nhằm góp phần đảm bảo

an toàn đời sống của người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội" Chính vì vậy, đối tượng của Bảo hiểm xã hội

chính là thu nhập của người lao động bị biến động giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm của những người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội

Trang 29

Đồi tượng tham gia Bảo hiểm xã hội là người lao động và người sử dụng lao động Tuy vậy, tuỳ theo sự phát triển kinh tế – xã hội cuả mỗi nước mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc một bộ phận những người lao động nào đó

Dưới giác độ pháp lý, Bảo hiểm xã hội là một loại chế độ pháp định bảo vệ người lao động, sử dụng nguồn tiền đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự tài trợ, bảo hộ của Nhà nước, nhằm trợ cấp vật chất cho người được bảo hiểm và gia đình trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập bình thường do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, thất nghiệp, hết tuổi lao động theo quy định của pháp luật, hoặc chết

Dựa vào bản chất và chức năng của Bảo hiểm xã hội mà Tổ chức Lao

động Quốc tế ( ILO) cũng đã đưa ra một định nghĩa khác như sau: “ Bảo

hiểm xã hội là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng (bằng pháp luật, trách nhiệm của Chính phủ) để chống lại tình trạng khó khăn về kinh tế và xã hội do bị mất hoặc giảm mất thu nhập gây ra bởi ốm đau, mất khả năng lao động, tuổi già, tàn tật và chết Hơn nữa, Bảo hiểm xã hội còn phải bảo vệ cho việc chăm sóc

y tế, sức khoẻ và trợ cấp cho các gia đình khi cần thiết.”

Từ các định nghĩa trên chúng ta thấy mục tiêu của Bảo hiểm xã hội là hướng tới sự phát triển của mỗi cá nhân và toàn xã hội Bảo hiểm xã hội thể hiện sự đảm bảo lợi ích của xã hội đối với mỗi thành viên từ đó gắn kết mỗi

cá nhân với xã hội đó Qua đó, ta thấy được một số đặc điểm sau:

- Đối tượng của Bảo hiểm xã hội chính là phần thu nhập của người lao động bị biến động, giảm hoặc mất đi do bị giảm hoặc mất khả năng lao động

do các biến cố như đã nêu trên từ đó để giúp ổ định cuộc sống của bản thân người lao động và gia đình họ Chính vì yếu tố này mà Bảo hiểm xã hội được coi là một chính sách lớn của mỗi quốc gia và được Nhà nước quan tâm quản

lí chặt chẽ Cũng tùy vào điều kiện kinh tế của mỗi nước mà các quy định về

Trang 30

đối tượng này là có sự khác nhau nhưng cùng bảo đảm ổn đình đời sống của người lao động.

- Đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội là người lao động và cả người

sử dụng lao động Sở dĩ người lao động phải đóng phí vì chính họ là đối tượng được hưởng Bảo hiểm xã hội khi gặp rủi ro Người sử dụng lao động đóng phí là thể hiện sự quan tâm, trách nhiệm của họ đối với người lao động

Và sự đóng góp trên là bắt buộc, ngoài ra còn có sự hỗ trợ của Nhà nước

- Để điều hoà mâu thuẫn giữa người lao động và người sử dụng lao động, để gắn bó lợi ích giữa họ, Nhà nước đã đứng ra yêu cầu cả hai bên cùng đóng góp và đây cũng là chính sách xã hội được thực hiện góp phần ổn định cuộc sống một cách hiệu quả nhất

1.1.1.2 Đặc trưng của Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội là một chính sách xã hội nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động do vậy Bảo hiểm xã hội có những đặc trưng cơ bản sau:

- Bảo hiểm xã hội đảm bảo cho người lao động trong và sau quá trình lao động

- Các rủi ro của người lao động liên quan đến thu nhập của họ như :

ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết…Do những rủi ro này mà người lao động bị giảm hoặc mất nguồn thu nhập, họ cần phải có khoản thu khác bù vào để ổn định cuộc sống, thông qua Bảo hiểm xã hội nguồn thu nhập này được đảm bảo

- Sự đóng góp của các bên tham gia Bảo hiểm xã hội : Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội phải có nghĩa vụ đóng Bảo hiểm xã hội; người sử dụng lao động cũng phải có nghĩa vụ đóng Bảo hiểm

xã hội cho người lao động mà mình thuê mướn Quỹ Bảo hiểm xã hội dùng để chi trả các trợ cấp khi có nhu cầu phát sinh về Bảo hiểm xã hội

Trang 31

- Các hoạt động Bảo hiểm xã hội có sự tham gia của cơ chế ba bên, được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, các chế độ Bảo hiểm xã hội cũng

do luật định, Nhà nước bảo hộ các hoạt động của Bảo hiểm xã hội

- Đối tượng tham gia bảo hiểm chủ yếu là người lao động và người sử dụng lao động và đối tượng bảo hiểm của Bảo hiểm xã hội chủ yếu là thu nhập của người lao động

- Hoạt động Bảo hiểm xã hội là hoạt động dịch vụ công phi lợi nhuận

- Quỹ Bảo hiểm xã hội chủ yếu do người lao động, người sử dụng lao động đóng góp

- Quan hệ Bảo hiểm xã hội thường tồn tại lâu dài

1.1.2 Chức năng nhiệm vụ, vai trò của Bảo hiểm xã hội

1.1.2.1 Chức năng nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội

Bảo hiểm xã hội được xem như là một loạt các hoạt động mang tính xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động, mở rộng sản xuất, phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội nói chung do vậy Bảo hiểm xã hội có chức năng:

- Thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội khi họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm Sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp này chắc chắn xảy ra vì suy cho cùng, mất khả năng lao động xẽ dẫn đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo quy định của Bảo hiểm xã hội Còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời làm giảm hoặc mất thu nhập, người lao động cũng

sẽ được hưởng trợ cấp Bảo hiểm xã hội với mức hưởng, thời điểm và thời gian hưởng theo đúng quy định của Nhà nước Đây là chức năng cơ bản nhất của Bảo hiểm xã hội , nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cơ chế tổ chức hoạt động của Bảo hiểm xã hội

- Tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội Bởi cũng giống như nhiều loại hình Bảo hiểm

Trang 32

khác, Bảo hiểm xã hội cũng dựa trên nguyên tắc lấy số đông bù số ít, do vậy mọi người lao động khi tham gia Bảo hiểm xã hội đều bình đẳng trong việc đóng góp vào quỹ cũng như được bình đẳng trong quyền lợi nhận được từ các chế độ Bảo hiểm xã hội Người tham gia để tạo lập quỹ Bảo hiểm xã hội là tập hợp tất cả những người đóng Bảo hiểm xã hội từ mọi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế xã hội, các lĩnh vực này bao gồm tất cả các loại công việc từ đơn giản đến phức tạp, từ nhẹ nhàng đến công việc nặng nhọc độc hại Do vậy, Bảo hiểm xã hội xã hội hóa cao hơn hẳn các loại hình Bảo hiểm xã hội khác đồng thời cũng thể hiện tính công bằng xã hội cao

- Bảo hiểm xã hội là đòn bẩy, khuyến khích người lao động hăng hái tham gia lao động sản xuất và từ đó nâng cao năng suất lao động: Bảo hiểm

xã hội góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động cá nhân và tăng năng suất lao động xã hội góp phần tăng mối quan hệ tốt đẹp và gắn bó lợi ích giữa người lao động, người sử dụng lao động và nhà nước

- Bảo hiểm xã hội thực hiện chức năng điều hoà lợi ích giữa ba bên: Người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đồng thời làm giảm bớt mâu thuẫn xã hội, góp phần ổn định chính trị, kinh tế, xã hội

- Bảo hiểm xã hội còn thực hiện chức năng Giám đốc bởi Bảo hiểm xã hội tiến hành kiểm tra, giám sát việc tham gia thực hiện chính sách Bảo hiểm

xã hội của người lao động, người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi cho người lao động, góp phần ổn định xã hội

- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội Khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sủ dụng lao động trả lương hoặc tiền công Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già

Trang 33

đã có Bảo hiểm xã hội trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa Do đó, người lao động luôn yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc

Từ đó, họ rất tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao động cá nhân và kéo theo năng suất lao động xã hội

- Gắn bó lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động Thông qua Bảo hiểm xã hội , những mâu thuẫn đó sẽ được điều hoà và giải quyết Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có Bảo hiểm xã hội mà mình có lợi và được bảo vệ Từ đó làm cho

họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho Bảo hiểm xã hội là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị xã hội được phát triển và an toàn hơn

1.1.2.2 Vai trò của Bảo hiểm xã hội

Vai trò của Bảo hiểm xã hội đối với người thủ hưởng các chế độ chính sách:

Ở bất kỳ hoàn cảnh, thời điểm nào, rủi ro luôn luôn rình rập, đe doạ cuộc sống của mỗi người gây gánh nặng cho cộng đồng và xã hội Rủi ro phát sinh hoàn toàn ngẫu nhiên bất ngờ không lường trước được nhưng xét trên bình diện xã hội, rủi ro là một tất yếu không thể tránh được Để phòng ngừa

và hạn chế những tác động tiêu cực của rủi ro đối với con người và xã hội là nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động của Bảo hiểm xã hội Chúng ta có thể liệt kê

Trang 34

một số vai trò của Bảo hiểm xã hội đối với người lao động và người sử dụng lao động:

• Đối với người lao động:

- Thứ nhất: Bảo hiểm xã hội có vai trò ổn định thu nhập cho người lao

động và gia đình họ

Khi tham gia Bảo hiểm xã hội , người lao động phải trích một khoản phí nộp vào quỹ Bảo hiểm xã hội , khi gặp rủi ro, bất hạnh như: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động làm cho chi phí gia đình tăng lên hoặc phải ngừng làm việc tạm thời Do vậy thu nhập của gia đình bị giảm, đời sống kinh tế lâm vào tình cảnh khó khăn, túng quẫn Nhờ có chính sách Bảo hiểm xã hội mà họ được nhận một khoản tiền trợ cấp đã bù đắp lại phần thu nhập bị mất hoặc bị giảm để đảm bảo ổn định thu nhập, ổn định đời sống

- Thứ hai: Ngoài việc đảm bảo đời sống kinh tế, Bảo hiểm xã hội tạo

được tâm lý an tâm, tin tưởng Khi đã tham gia Bảo hiểm xã hội góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho người lao động đem lại cuộc sống bình yên, hạnh phúc cho nhân dân lao động, từ đó nâng cao được năng suất lao động, tăng sản phẩm xã hội góp phần nâng cao chính cuộc sống người lao động

• Đối với người sử dụng lao động:

- Thực tế trong lao động, sản xuất người lao động và người sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nhất định về tiền lương, tiền công, thời hạn lao động… Và khi rủi ro sự cố xảy ra, nếu không có sự giúp đỡ của Bảo hiểm xã hội thì dễ dẫn đến khả năng tranh chấp giữa người lao động và người sử dụng lao động Vì vậy Bảo hiểm xã hội góp phần điều hoà, hạn chế các mâu thuẫn giữa giới chủ và giới thợ, tạo ra môi trường làm việc ổn định cho người lao động, tạo sự ổn định cho người sử dụng lao động trong công tác quản lý Từ đó góp phần nâng cao hiệu quả năng suất lao động của doanh nghiệp lên

Trang 35

- Hơn nữa, người sử dụng lao động muốn ổn định và phát triển sản xuất thì ngoài việc đầu tư vào máy móc, thiết bị, công nghệ… còn phải chăm lo đến đời sống cho người lao động mà mình thuê mướn, sử dụng Bởi người sử dụng lao động khi đã tính đến việc thuê mướn lao động cũng

có nghĩa là lúc đó họ rất cần có người lao động làm việc cho mình liên tục trong quá trình sản xuất kinh doanh Nhưng mong muốn của người sử dụng lao động đó không phải lúc nào cũng thực hiện được, bởi trong quá trình sản xuất cũng như trong đời sống người lao động có thể gặp rủi ro vào bất

kì lúc nào Và lúc đó, người sử dụng lao động sẽ không có người làm thuê cho mình dẫn đến gián đoạn quá trình sản xuất kinh doanh làm giảm năng xuất lao động rồi dẫn đến giảm thu nhập cho người sử dụng lao động Nhưng khi có sự trợ giúp của Bảo hiểm xã hội , người lao động không may gặp rủi ro đó phần nào được khắc phục về mặt tài chính, từ đó người lao động có điều kiện phục hồi nhanh những thiệt hại xảy ra Làm cho người lao động nhanh chóng trở lại làm việc giúp Người sử dụng lao động, yên tâm, tích cực lao động sản xuất làm tăng năng xuất lao động, góp phần tăng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Vai trò của Bảo hiểm xã hội đối với xã hội:

- Thứ nhất: Tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao

động và người lao động, mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẽ trách nhiệm, chia sẽ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của Bảo hiểm xã hội Tuy nhiên mối quan hệ mối quan hệ này thể hiện trên giác độ khác nhau Người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội là để tăng cường tình đoàn kết và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định

Trang 36

cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân sinh, nhân văn sâu sắc của Bảo hiểm xã hội

- Thứ hai: Bảo hiểm xã hội thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, Bảo

hiểm xã hội tạo cho những người bất hạnh có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân-thiện-mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng

“Đèn nhà ai nhà ấy rạng” Bảo hiểm xã hội là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt chính kiến, tôn giáo chủng tộc, vị thế xã hội đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên

- Thứ ba: Bảo hiểm xã hội thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn

nhau tương thân tương ái của cộng đồng: Sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong cộng đồng là nhân tố quan trọng cộng đồng, giúp đỡ những người bất hạnh là nhằm hoàn thiện những giá trị nhân bản của con người, tạo điều kiện cho một

xã hội phát triển lành mạnh và bền vững

- Thứ tư: Bảo hiểm xã hội góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên

giác độ xã hội, Bảo hiểm xã hội là một công cụ để nâng cao điều kiện sống cho người lao động Trên giác độ kinh tế, Bảo hiểm xã hội là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người lao động được thực hiện bình đẳng không phân biệt các tầng lớp trong xã hội

Vai trò Bảo hiểm xã hội đối với nền kinh tế thị trường:

- Thứ nhất: Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự phân tầng giữa

các lớp trong xã hội trơ nên rõ rệt Đồng thời tạo ra sự bất bình đẳng về thu nhập giữa các ngành nghề khác nhau trong xã hội Nhưng rủi ro xãy ra trong cuộc sống không loại trừ một ai, nếu rơi vào những người có hoàn cảnh kinh

Trang 37

tế khó khăn thì cuộc sống của họ trở nên bần cùng, túng quẫn Bảo hiểm xã hội đã góp phần ổn định đời sống cho họ và gia đình họ.

- Thứ hai: Đối với các doanh nghiệp, khi những người lao động không

may gặp rủi ro thì đã được chuyển giao cho cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả Nhờ vậy tình hình tài chính của các doanh nghiệp được ổn định hơn Hệ thống Bảo hiểm xã hội đã bảo đảm ổn định xã hội tạo tiền đề để phát triển kinh tế thị trường

- Thứ ba: Khi tham gia Bảo hiểm xã hội cho người lao động sẽ phát

huy tinh thần trách nhiệm, gắn bó tận tình của người lao động trong các doanh nghiệp làm cho mối quan hệ thị trường lao động được trở nên lành mạnh hơn, thị trường sức lao động vận động theo hướng tích cực góp phần xây dựng và

có kế hoạch phát triển chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường

- Thứ tư: Quỹ Bảo hiểm xã hội do các bên tham gia đóng góp được

tích tụ tập trung rất lớn, phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phảt triển kinh tế và tạo công ăn việc làm cho người lao động

- Thứ năm: Bảo hiểm xã hội vừa tạo động lực cho các thành phần kinh

tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng giữa các tầng lớp dân cư thông qua hệ thống phân phối lại thu nhập góp phần lành mạnh hóa thị trường lao động

1.1.3 Quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội

1.1.3.1 Quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội

Quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội.

Chưa có khái niệm cụ thể hoặc định nghĩa chính xác về quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội song từ việc làm rõ các khái niệm ở

Trang 38

phần trên cùng với một số văn bản có đề cập đến quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội ta có thể đưa ra những đặc trưng cơ bản về quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội như sau:

Quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội là quá trình nhà nước sử dụng trong phạm vi quyền lực của mình tác động có tổ chức và điều chỉnh vào các quan hệ nảy sinh trong hoạt động Bảo hiểm xã hội nhằm đảm bảo cho hoạt động Bảo hiểm xã hội diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, và thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của Bảo hiểm xã hội.

Quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội là một quá trình

từ việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về Bảo hiểm xã hội; Tuyên truyền, phổ biến, chế độ, chính sách pháp luật về Bảo hiểm xã hội;

Tổ chức thực hiện chiến lược, chế độ, chính sách về Bảo hiểm xã hội đến việc

tổ chức bộ máy thực hiện cũng như thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về Bảo hiểm xã hội

Đặc điểm quản lý nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội.

Từ khái niệm quản lý nhà nước nêu trên ta có thể nêu ra một số đặc điểm riêng của quản lý nhà nước trong hoạt động Bảo hiểm xã hội như sau:

• Nhà nước là chủ thể tổ chức và quản lý các hoạt động Bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế thị trường

Xuất phát từ tính phức tạp, năng động và nhạy cảm của nền kinh tế thị trường đòi hỏi mang tính quyền lực nhà nước để tổ chức và điều hành các hoạt động Bảo hiểm xã hội Chủ thể ấy chính là nhà nước mà cụ thể hơn là các cơ quan nhà nước, các tổ chức và cá nhân được nhà nước trao quyền Để hoàn thành sứ mệnh của mình nhà nước phải xây dựng, tổ chức và quản lý các hoạt động Bảo hiểm xã hội

Trang 39

• Pháp luật là cơ sở và là công cụ quản lý hàng đầu, công cụ không thể thay thế do xuất phát từ nhu cầu khách quan trong nền kinh tế thị trường

để nhà nước tổ chức và quản lý các hoạt động Bảo hiểm xã hội nói riêng và hoạt động kinh tế - xã hội nói chung

Trong nền kinh tế thị trường các quan hệ kinh tế nói chung, các quan hệ Bảo hiểm xã hội nói riêng diễn ra phức tạp và đa dạng đòi hỏi sự quản lý của nhà nước Để quản lý được nhà nước phải sử dụng đến hệ thống các công cụ như: Luật, các văn bản luật, các công cụ cưỡng chế Luật và các văn bản luật nhà nước ban hành mang tính chuẩn mực Những quy tắc sử sự có tính bắt buộc chung được nhà nước sử dụng như một công cụ hữu hiệu nhất và không thể thiếu trong việc quản lý các hoạt động kinh tế - xã hội cũng như các hoạt động Bảo hiểm xã hội

Sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động Bảo hiểm xã hội đòi hỏi

có một bộ máy thực hiện các hoạt động Bảo hiểm xã hội mạnh, có hiệu lực và hiệu quả và một hệ thống pháp luật về Bảo hiểm xã hội đồng bộ hoàn chỉnh

1.2 Nội dung quản lý nhà nước và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội

1.2.1 Nội dung quản lý Nhà nước đối với Bảo hiểm xã hội

1.2.1.1 Xây dựng hệ thống luật pháp Bảo hiểm xã hôi, quản lý Bảo hiểm xã hội

Xây dựng hệ thống luật pháp Bảo hiểm xã hôi

Trình tự của quá trình xây dựng thể chế về Bảo hiểm xã hội : Cũng tương tự như quá trình xây dựng thể chế về các lĩnh vực kinh tế - xã hội khác, quá trình xây dựng thể chế chính sách Bảo hiểm xã hội bao gồm các bước sau đây:

Trang 40

Sơ đồ 1.1: Trình tự xây dựng thể chế chính sách về Bảo hiểm xã hội

Bước 1: Đảng ban hành chủ trương, đường lối, chính sách về Bảo hiểm

xã hội thông qua Nghị quyết, Chỉ thị của mình qua từng thời kỳ phát triển

Bước 2: Nhà nước (Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước) thể chế hoá chủ trương, đường lối và chính sách của Đảng về Bảo hiểm

xã hội bằng các văn bản quy phạm pháp luật Nhà nước quản lý hoạt động Bảo hiểm xã hội thông qua các văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt là các văn bản về luật

Bước 3: Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ ban hành các văn bản pháp quy (Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị ) quy định cụ thể việc thi hành luật, pháp lệnh của Nhà nước về Bảo hiểm xã hội

Bước 4: Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, chính quyền các cấp ở địa phương ban hành các Thông tư, Quyết định, Chỉ thị là những văn bản dùng để thi hành luật, pháp lệnh của Nhà nước, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ

1 Chủ trương, đường lối của Đảng

2 Luật pháp của Nhà nước

3 Quy định của Chính phủ

4 Tổ chức, hướng dẫn thực hiện của

bộ, nghành, địa phương

Ngày đăng: 14/05/2015, 11:30

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1987), NXB Sự thật – Hà Nội Khác
20. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), NXB Sự thật– Hà Nội Khác
21. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001), NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội Khác
22. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006), NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội Khác
23. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011), NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội Khác
24. Cục thống kê Nghệ An, Niên giám thống kê năm 2011(2012).phê duyệt đề án phát triển thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa vùng Bắc Trung Bộ Khác
25. Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 239/2005/QĐ-TTg ngày30/9/2005 Khác
26. Thủ tướng Chính phủ : Quyết định số 197/2007/QĐ-TTg ngày 28/12/2007 phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH tỉnh Nghệ An đến năm 2020 Khác
27.Trường Đại hịc Kinh tế Quốc dân, Giáo trình kinh tế chính trị học (2002), NXB Thống kê Khác
28. Trường Kinh tế Quốc dân, Giáo trình ASXH (2008), NXB Đại học Kinh tế Quốc dân Khác
30. GS.TS Mai Ngọc Cường (chủ biên)(2009), Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về ASXH ở Việt Nam Khác
31. Lê Thị Thanh Hà (2002), Cải cách hoạt động BHXH ở một số nước, (số 1 Tạp chí nghiên cứu lập pháp) Khác
32. PGS-TS Mạc Văn Tiến (2010), Marketing xã hội và những ứng dụng trong hoạt động BHXH Khác
33. Các Mác – Ph.Ăng ghen, Tuyển tập, Tập IV, Hà Nội (1983), NXB Sự thật Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 1.1: Trình tự xây dựng thể chế chính sách về Bảo hiểm xã hội - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Sơ đồ 1.1 Trình tự xây dựng thể chế chính sách về Bảo hiểm xã hội (Trang 40)
Bảng 1.1: Mức đóng góp BHXH Người đóng góp - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 1.1 Mức đóng góp BHXH Người đóng góp (Trang 59)
2.2.2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
2.2.2.1. Sơ đồ tổ chức bộ máy (Trang 77)
Bảng 2.4: Cơ cấu đối tượng hưởng BHXH theo các chế độ BHXH tại - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.4 Cơ cấu đối tượng hưởng BHXH theo các chế độ BHXH tại (Trang 91)
Bảng 2.3: Đối tượng hưởng theo các chế độ BHXH do 2 nguồn đảm bảo - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.3 Đối tượng hưởng theo các chế độ BHXH do 2 nguồn đảm bảo (Trang 91)
Bảng 2.5: Quy mô và cơ cấu chi BHXH do 2 nguồn đảm bảo giai đoạn - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.5 Quy mô và cơ cấu chi BHXH do 2 nguồn đảm bảo giai đoạn (Trang 92)
Bảng 2.6: Chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.6 Chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại BHXH (Trang 93)
Bảng 2.7: Cơ cấu chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.7 Cơ cấu chi BHXH theo các chế độ do 2 nguồn đảm bảo tại (Trang 95)
Bảng 2.11: Kết quả chi chế độ BHXH ngắn hạn theo phân cấp quản lý - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.11 Kết quả chi chế độ BHXH ngắn hạn theo phân cấp quản lý (Trang 103)
Bảng 2.10: Kết quả chi chế độ BHXH ngắn hạn theo phân cấp quản lý - Hoàn thiện quản lý nhà nước về chi bảo hiểm xã hội ở tỉnh Nghệ An
Bảng 2.10 Kết quả chi chế độ BHXH ngắn hạn theo phân cấp quản lý (Trang 103)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w