1. Tính cấp thiết của đề tài: Đồng hành với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa là việc từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp trong các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp có tính dịch vụ như văn hóa, y tế, thể dục thể thao. Tuy nhiên để chuyển đổi từ đơn vị công ích kinh phí hoạt động đơn thuần do Ngân sách nhà nước tài trợ đơn thuần sang tự chủ về tổ chức, quản lý, và hoạch toán chi phí, cân đối thu chi theo nghị định 43NĐCP 2006 không khỏi gặp nhiều khó khăn, nhất là khi phần lớn các cán bộ quản lý trong các đơn vị phần lớn giỏi về chuyên môn lĩnh vực hoạt động nghệ thuật mà không có nhiều về kinh nghiệm quản lý tài chính. Mặt khác xã hội hóa trong ngành văn hóa làm phong phú thêm các đối tượng, thành phần tham gia cung cấp dịch vụ này làm cho tính cạnh tranh trên thị trường ngày càng gia tăng đòi hỏi các đơn vị nghệ thuật phải nỗ lực nâng cao trình độ quản lý, công tác quản trị marketing trong đó quản trị chi phí là nhiệm vụ ưu tiên để đảm bảo thu đủ bù chi và có phần nộp Ngân sách, làm giảm gánh nặng lên Ngân sách quốc gia. Đây là lý do để nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị chi phí đơn vị sự nghiệp có thu tình huống tại Nhà hát Múa rối Thăng Long” 2. Tình hình nghiên cứu Trong thời gian vừa qua tại Nhà hát cũng có một số đề tài nghiên cứu được thực hiện nhưng phần lớn là để hoàn thiện về chuyên môn biểu diễn nghệ thuật, nâng cao tay nghề, hiệu quả hiệu ứng bố trí lắp đặt hệ thống âm thanh ánh sáng tại Nhà hát. Một số khác là hoàn hiện công tác kế toánNên đề tài này sẽ khai thác mảng hoàn thiện công tác quản trị chi phí của đơn vị.3. Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động biểu diễn và công tác quản trị chi phí tại Nhà hát Múa rối Thăng Long. Trên cơ sở hệ thống lí luận và phân tích thực trạng, luận văn đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác quản trị chi phí đơn vị sự nghiệp có thu tình huống cụ thể tại đơn vị.
Trang 1NGUYỄN THỊ HẢI MINH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHI PHÍ
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU TÌNH HUỐNG TẠI NHÀ HÁT MÚA RỐI THĂNG LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
HÀ NỘI - 2013
Trang 2NGUYỄN THỊ HẢI MINH
HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHI PHÍ
ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU TÌNH HUỐNG TẠI NHÀ HÁT MÚA RỐI THĂNG LONG
Trang 3trong luận văn là trung thực Các tư liệu, tài liệu sử dụng trong luận văn có nguồngốc rõ ràng.
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Hải Minh
Trang 4CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG
CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU
4
1.1.2 Vai trò của thông tin chi phí trong hoạt động quản lý 51.1.3 Các nội dung cơ bản của hoạt động kế toán quản trị 61.1.4 Xu hướng mới trong quản trị chi phí ở doanh nghiệp 14
1.3 Cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi
phí hoạt động
16
1.3.1 Nội dung đổi mới cơ chế hoạt động sự nghiệp công lập 16
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHI PHÍ ĐƠN
VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU TẠI NHÀ HÁT MÚA RỐI THĂNG LONG
21
2.1 Giới thiệu về Nhà hát Múa rối Thăng Long và các đặc điểm kinh doanh
của Nhà hát
212.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của đơn vị 21
Trang 52.2.2 Điều tra khảo sát 28
2.3.2 Phương pháp xác định chi phí và hoạch định chi phí tại Nhà
hát
45
2.3.3 Cách thức, phương pháp lập kế hoạch ngân sách của Nhà hát 592.3.4 Các quyết định quản trị chi phí của Ban giám đốc Nhà hát 602.3.5 Công tác tổ chức thực hiện quản trị chi phí tại Nhà hát 602.3.6 Hệ thống kiểm soát và đánh giá kết quả hoạt động tại Nhà
hát:
63
2.3.7 Đánh giá hiệu quả và định hướng chiến lược của Nhà hát 63
CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHI PHÍ ĐƠN
VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU – TÌNH HUỐNG TẠI NHÀ HÁT MÚA RỐI
THĂNG LONG
65
3.2 Xác định các yếu tố có tác động đến công tác quản trị chi phí 66
3.2.2 Các yếu tố về môi trường hoạt động của doanh nghiệp 66
3.3.1 Hoàn thiện công tác hoạch định chi phí hoạt động biểu diễn
nghệ của Nhà hát Múa rối Thăng Long
67
3.3.2 Hoàn thiện công tác tổ chức thực hiện quản trị chi phí của
Nhà hát
76
Trang 6TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7TSCĐ: Tài sản cố định
VHTT&DL: Văn Hóa Thể Thao và Du Lịch
Trang 8Bảng 2.1 Bảng phân tích tình hình kinh phí giai đoạn 2010-2012 29Bảng 2.2 Phân tích tình hình kinh phí bổ sung giai đoạn 2010-2012 30
Bảng 2.4 Tình hình biến động thu chi sự nghiệp giai đoạn 2010-2012 34
Bảng 3.1 Tần suất các buổi diễn và chi phí biểu diễn tối thiểu trong
tháng của năm 2012
69
Bảng 3.2 Bảng kết quả hồi qui giữa số buổi biểu diễn và chi phí biểu diễn
tối thiểu trong tháng của năm 2012
Trang 9Hình 2.2 Tỷ trọng chi phí năm các năm từ 2010 - 2012 38
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Đồng hành với chủ trương xây dựng nền kinh tế thị trường Xã hội chủ nghĩa
là việc từng bước xóa bỏ cơ chế bao cấp trong các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp cótính dịch vụ như văn hóa, y tế, thể dục thể thao
Tuy nhiên để chuyển đổi từ đơn vị công ích kinh phí hoạt động đơn thuần doNgân sách nhà nước tài trợ đơn thuần sang tự chủ về tổ chức, quản lý, và hoạchtoán chi phí, cân đối thu chi theo nghị định 43/NĐ-CP -2006 không khỏi gặp nhiềukhó khăn, nhất là khi phần lớn các cán bộ quản lý trong các đơn vị phần lớn giỏi vềchuyên môn lĩnh vực hoạt động nghệ thuật mà không có nhiều về kinh nghiệm quản
lý tài chính
Mặt khác xã hội hóa trong ngành văn hóa làm phong phú thêm các đốitượng, thành phần tham gia cung cấp dịch vụ này làm cho tính cạnh tranh trên thịtrường ngày càng gia tăng đòi hỏi các đơn vị nghệ thuật phải nỗ lực nâng cao trình
độ quản lý, công tác quản trị marketing trong đó quản trị chi phí là nhiệm vụ ưu tiên
để đảm bảo thu đủ bù chi và có phần nộp Ngân sách, làm giảm gánh nặng lên Ngânsách quốc gia Đây là lý do để nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị chiphí đơn vị sự nghiệp có thu tình huống tại Nhà hát Múa rối Thăng Long”
2 Tình hình nghiên cứu
Trong thời gian vừa qua tại Nhà hát cũng có một số đề tài nghiên cứu đượcthực hiện nhưng phần lớn là để hoàn thiện về chuyên môn biểu diễn nghệ thuật,nâng cao tay nghề, hiệu quả hiệu ứng bố trí lắp đặt hệ thống âm thanh ánh sáng tạiNhà hát Một số khác là hoàn hiện công tác kế toán
Nên đề tài này sẽ khai thác mảng hoàn thiện công tác quản trị chi phí củađơn vị
3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu của luận văn là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động biểu diễn
và công tác quản trị chi phí tại Nhà hát Múa rối Thăng Long
Trang 11- Trên cơ sở hệ thống lí luận và phân tích thực trạng, luận văn đề xuất một sốgiải pháp hoàn thiện công tác quản trị chi phí đơn vị sự nghiệp có thu tình huống cụthể tại đơn vị.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác quản trị chi phí của Nhà hátMúa rối Thăng Long
- Phạm vi nghiên cứu của luận văn
+ Về không gian: Luận văn nghiên cứu những vấn đề hoàn thiện công tácquản trị chi phí tại Nhà hát Múa rối Thăng Long, giới hạn trong phạm vi quản trịdoanh nghiệp tại Nhà hát Múa rối Thăng Long
+ Về thời gian: Luận văn nghiên cứu kết quả hoạt động sản xuất, cung ứngdịch vụ và công tác quản trị chi phí xây lắp tại Nhà hát Múa rối Thăng Long trong 3năm (giai đoạn 2010-2012) và định hướng phát triển của Nhà hát trong thời giantới
+ Về phương pháp giải quyết vấn đề: Luận văn sử dụng các công cụ trong
Kế toán Quản trị để giải quyết các vấn đề về quản trị chi phí tại Nhà hát Múa rốiThăng Long
5 Phương pháp nghiên cứu:
• Phương pháp phân tích kinh tế, xã hội
6 Một số đóng góp của luận văn
• Hệ thống hóa những vấn đề lí luận cơ bản về cơ chế quản lý tài chínhtrong đơn vị hành chính sự nghiệp hiện nay
• Phân tích thực trạng công tác quản trị chi phí tại Nhà hát Múa rối ThăngLong và đánh giá khách quan về thực trạng đó
Trang 12• Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản trị chiphí tại Nhà hát Múa rối Thăng Long
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 phần:
• Chương 1: Lý luận chung về công tác quản trị chi phí trong các đơn vị sự
nghiệp có thu
• Chương 2: Thực trạng công tác quản trị chi phí của Nhà hát Múa rối Thăng
long
• Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản trị chi
phí đơn vị sự nghiệp có thu tình huống tại Nhà hát Múa rối Thăng Long
Trang 13CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP CÓ THU
1.1 Thông tin chi phí và vai trò của kế toán quản trị
1.1.1 Doanh nghiệp và yêu cầu quản trị chi phí
Chi phí được định nghĩa như là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ranhằm thu được các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ
Chi phí chính là quyết định của các quyết định quản trị nhằm đáp ứng nhữngyêu cầu kinh doanh, trong đó vai trò cùa nhà quản trị chi phí là xác định, đo lường,thu thập, phân tích và báo cáo các thông tin về các yếu tố ảnh hưởng đến sự thànhcông của một doanh nghiệp Đó là các yếu tố: chi phí, doanh thu, lợi nhuận
Theo Ronald W Hilton, giáo sư Đại học Cornell (Mỹ): “Kế toán quản trị làmột bộ phận của hệ thống thông tin quản trị trong một tổ chức mà nhà quản trị dựavào đó để hoạch định và kiểm soát các hoạt động của tổ chức”
Theo Ray H.Garrison: “Kế toán quản trị có liên hệ với việc cung cấp cho cácnhà quản lý là những người bên trong tổ chức kinh tế và có trách nhiệm trong việcđiều hành và kiểm soát mọi hoạt động của tổ chức đó”
Theo các giáo sư đại học South Florida là Jack L Smith, Robert M.Keith vàWilliam L.Stephens: “Kế toán quản trị là một hệ thống kế toán cung cấp cho cácnhà quản trị những thông tin định lượng mà họ cần để hoạch định và kiểm soát”Theo luật kế toán Việt Nam (năm 2003) và thông tư 53/TT-BTC ngày 12/6/2006của Bộ Tài chính hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp: “Kế toánquản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chínhtheo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Theo luận văn về Hoàn thiện công tác quản trị chi phí xây lắp tại công ty cổphần XDCT , “Quản trị chi phí là phương pháp và cách thức của nhà quản lítrong hoạch định kế hoạch dài hạn, ngắn hạn và những quyết định mang tính chấtquản lí để vừa làm tăng giá trị đồng thời giảm giá thành sản phẩm, dịch vụ.”
Từ những khái niệm trên cho thấy quản trị chi phí:
Trang 14- Là một hệ thống kế toán phân tích, cung cấp các thông tin định lượng
- Những người sử dụng thông tin là những người ở bên trong đơn vị/tổ chức
- Mục đích sử dụng thông tin là giúp nhà quản lý hoạch định, kiểm soát và racác quyết định hoạt động của đơn vị/tổ chức
Quản trị chi phí bao gồm các công việc của kế toán quản trị, quản trị tài chính
và đồng thời thông qua phân tích các thông tin này để tìm kiếm các cơ hội kinhdoanh, hình thành các quyết định đúng đắn, xây dựng chiến lược sản xuất kinhdoanh thích hợp
1.1.2 Vai trò của thông tin chi phí trong hoạt động quản lý
Theo tài liệu hướng dẫn học tập quản trị chi phí – của Th.s Nguyễn Thị PhươngLoan, Trường Đại học mở Tp Hồ chí Minh, quản trị chi phí có những vai trò nhưsau:
- Quản trị chi phí giúp doanh nghiệp có thể tập trung năng lực của mình vàocác điểm mạnh, tìm ra các cơ hội hoặc các vấn đề quan trọng trong SXKD
- Quản trị chi phí giúp doanh nghiệp có thể cải thiện chất lượng sản phẩm haydịch vụ của mình mà không làm thay đổi chi phí
- Quản trị chi phí giúp người ra quyết định nhận diện được các nguồn lực cóchi phí thấp nhất trong việc sản xuất và cung ứng hàng hoá dịch vụ
Trang 15Bảng 1.1 Vai trò của quản trị chi phí, kế toán chi phí và kế toán quản trị.
• Ghi chép các thông tin liên quan đến
chi phí (chi phí, doanh thu, lợi
nhuận, kiểu dáng, tính năng sản
phẩm, qui trình sản xuất, máy móc
thiết bị, năng suất lao động )
• Phân tích các thông tin đã thu nhập
• Nhận diện các cơ hội hoặc các giải
pháp sản xuất kinh doanh thông qua
việc sử dụng một số công cụ quản
trị chi phí (Chi phí định mức,
benchmaking, TQM, ABC, )
• Xây dựng các phương án hoặc các
giải pháp sản xuất khác nhau cho
• Lập các báocáo kết quảhoạt động sản
doanh, báocáo ngân lưu,bảng cân đốitài sản củatoàn doanhnghiệp
• Ghi chép cácthông tin chi phí
• Phân tích cácthông tin thu thậpđược Có thểphân tích dướidạng giá trị hoặcvật chất trongtừng bộ phận củadoanh nghiệp
• Cung cấp cácthông tin đã phântích cho nhà quảntrị ra quyết định
1.1.3 Các nội dung cơ bản của hoạt động kế toán quản trị
1.1.3.1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh trong kế toán quản trị
Nội dung chính là xác định chi phí chứ không phải là hạch toán thật chínhxác vì các số liệu chỉ phục vụ mục tiêu nội bộ, không có tính pháp lý Các thông tinchi phí này được phép sử dụng linh hoạt hơn thông thường
Để thuận lợi cho công tác hạch toán cần phải phân loại chi phí trong sảnxuất, kinh doanh Việc phân loại được thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau.Theo giáo trình kế toán quản trị doanh nghiệp do PGS.TS Đoàn Xuân Tiên - Họcviện tài chính chủ biên, xuất bản năm 2009, có thể chia theo các cách phân loại sau:
Trang 16a/ Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất, xét theo công dụng của chúng,hay nói một cách khác, xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quátrình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại lớn: chi phísản xuất và chi phí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất
Giai đoạn sản xuất là giai đoạn chế biến nguyên vật liệu thành thành phẩm bằng sứclao động của công nhân kết hợp với việc sử dụng máy móc thiết bị Chi phí sản xuấtbao gồm ba khoản mục: chi phí nguyên liệu vật liệu trực tiếp, chi phí nhân côngtrực tiếp và chi phí sản xuất chung
* Chi phí ngoài sản xuất
Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến qúatrình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp.Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: Chi phí bán hàng và chi phíquản lý doanh nghiệp
b/ Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí với các khoản mục trên bảng cân đối kế toán và báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Khi xem xét cách tính toán và kết chuyển các loại chi phí để xác định lợi tức trongtừng kỳ hạch toán, chi phí sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp sản xuấtđược chia làm hai loại là chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ
* Chi phí sản phẩm (product costs)
Chi phí sản phẩm bao gồm các chi phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất sảnphẩm, do vậy các chi phí này kết hợp tạo nên giá trị của sản phẩm hình thành quagiai đoạn sản xuất (được gọi là giá thành sản xuất hay giá thành công xưởng).Thuộc chi phí sản phẩm gồm các khoản mục chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp,chi phí nhân công trực tiếp và chi phí sản xuất chung Xét theo mối quan hệ với việcxác định lợi tức trong từng kỳ hạch toán, chi phí sản phẩm chỉ được tính toán, kếtchuyển để xác định lợi tức trong kỳ hạch toán tương ứng với khối lượng sản phẩm
đã được tiêu thụ trong kỳ đó Chi phí của khối lượng sản phẩm tồn kho chưa được
Trang 17tiêu thụ vào cuối kỳ sẽ được lưu giữ như là giá trị tồn kho và sẽ được kết chuyển đểxác định lợi tức ở các kỳ sau khi mà chúng được tiêu thu Vì lí do này, chi phí sảnphẩm còn được gọi là chi phí có thể tồn kho (inventorial costs).
* Chi phí thời kỳ (period costs)
Chi phí thời kỳ gồm các khoản mục chi phí còn lại ngoài các khoản mục chi phíthuộc chi phí sản phẩm Đó là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp.Các chi phí thời kỳ phát sinh ở kỳ hạch toán nào được xem là có tác dụng phục vụcho quá trình kinh doanh của kỳ đó, do vậy chúng được tính toán kết chuyển hết đểxác định lợi tức ngay trong kỳ hạch toán mà chúng phát sinh Chi phí thời kỳ cònđược gọi là chi phí không tồn kho (non-inventorial costs)
c/ Phân loại chi phí theo mối quan hệ giữa chi phí và mức độ hoạt động
Cách “ứng xử” của chi phí (cost behavior) là thuật ngữ để biểu thị sự thay đổi củachi phí tương ứng với các mức độ hoạt động đạt được Xét theo cách ứng xử, chiphí của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: Chi phí khả biến, chi phí bất biến vàchi phí hỗn hợp
Chi phí khả biến (Variable costs)
Chi phí khả biến là các chi phí, xét về lý thuyết, có sự thay đổi tỉ lệ với các mức độhoạt động Chi phí khả biến chỉ phát sinh khi có các hoạt động xảy ra
Chi phí bất biến (Fixed costs)
Chi phí bất biến là những chi phí, xét về lý thuyết, không có sự thay đổi theo cácmức độ hoạt động đạt được Vì tổng số chi phí bất biến là không thay đổi cho nên,khi mức độ hoạt động tăng thì chi phí bất biến tính theo đơn vị các mức độ hoạtđộng sẽ giảm và ngược lại
Chi phí hỗn hợp (Mixed costs)
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố chi phíkhả biến và chi phí bất biến Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗnhợp mang đặc điểm của chi phí bất biến, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phíhỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của chi phí khả biến Hiểu theo một cách khác,phần bất biến trong chi phí hỗn hợp thường là bộ phận chi phí cơ bản để duy trì các
Trang 18hoạt động ở mức độ tối thiểu, còn phần khả biến là bộ phận chi phí sẽ phât sinh tỉ lệvới mức độ hoạt động tăng thêm
Nhằm phục vụ việc lập kế hoạch, phân tích và quản lý chi phí, cần phải phân tíchcác chi phí hỗn hợp thành yếu tố khả biến và yếu tố bất biến Việc phân tích nàyđược thực hiện bằng một trong ba phương pháp: phương pháp cực đại-cực tiểu,phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất
+ Phương pháp cực đại, cực tiểu (the high-low method)
Việc phân tích chi phí hỗn hợp thành các yếu tố bất biến và khả biến được tiến hànhtrên cơ sở các số liệu về chi phí hỗn hợp được thống kê và tập hợp theo các mức độhoạt động khác nhau ở các khoảng thời gian Phương pháp cực đại, cực tiểu tiếnhành phân tích chỉ theo số liệu ở hai "điểm" thời gian có mức độ hoạt động đạt caonhất và thấp nhất với giá trị chi phí hỗn hợp tương ứng của chúng
+ Phương pháp đồ thị phân tán (the scatter-chart method)
Với phương pháp này, trước hết chúng ta sử dụng đồ thị để biểu diễn tất cả các sốliệu thống kê được để xác định mối quan hệ giữa chi phí hỗn hợp với mức độ hoạtđộng tương ứng Sau đó, quan sát và kẽ đường thẳng qua tập hợp các điểm vùa biểudiễn trên đồ thị sao cho đường thẳng đó là gần với các điểm nhất và phân chia cácđiểm thành hai phần bằng nhau về số lượng các điểm Đường thẳng kẽ được sẽ làđường đại diện cho tất cả các điểm và được gọi là đường hồi qui (negression line).Điểm cắt giữa đường biểu diễn với trục tung phản ánh chi phí cố định Độ dốc củađường biểu diễn phản ánh tỉ lệ biến phí (biến phí đơn vị) Xác định được các yếu tốbất biến và khả biến, đường biểu diễn chi phí hỗn hợp được xác định bằng phương
trình: y = ax + b
+ Phương pháp bình phương bé nhất (the least squares method)
Với phương pháp này, hệ số biến đổi a và hằng số b (trong phương trình bậc nhất biểu diễn chi phí hỗn hợp y = ax + b) được xác định theo hệ phương trình sau:
Trang 19d/ Các cách phân loại chi phí sử dụng trong kiểm tra và ra quyết định
Để phục vụ cho việc kiểm tra và ra quyết định trong quản lý, chi phí của doanhnghiệp còn được xem xét ở nhiều khía cạnh khác Nổi bật nhất là việc xem xét tráchnhiệm của các cấp quản lý đối với các loại chi phí phát sinh, thêm nữa, các nhàquản lý nên nhìn nhận đúng đắn sự thích đáng của các loại chi phí khác nhau phục
vụ cho việc phân tích, so sánh để ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu trong cáctình huống
Theo nghĩa khái quát « Một khoản chi phí được xem là chi phí có thể kiểm soátđược (controllable costs) hoặc là chi phí không kiểm soát được (non-controllablecosts) ở một cấp quản lý nào đó là tuỳ thuộc vào khả năng cấp quản lý này có thể racác quyết định để chi phối, tác động đến khoản chi phí đó hay là không » và được
cụ thể trong Giáo trình kế toán quản trị doanh nghiệp – Học viện tài chính năm
2009, PGS.TS Đoàn Xuân Tiên chủ biên như sau :
* Chi phí kiểm soát được : « Là những chhi phí mà các nhà quản trị ở một cấp bậc
quản lý nào đó xác định được lượng phát sinh của nó, có thẩm quyền quyếtđịnh về sự phát sinh chi phí đó, cấp quản lý đó kiểm soát được những chi phínày »
* Chi phí không kiểm soát được : « Là những chi phí mà nhà quản trị ở một cấp
quản lý nào đó không thể dự đoán chính xác sự phát triển của nó, và không cóthẩm quyền quyết định đối với khoản chi phí đó »
e/ Phân loại theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí
* Chi phí trực tiếp : Là những chi phí liên quan trực tiếp đến từng đối tượng kế
toán tập hợp chi phí (như từng loại sản phẩm, công việc, hoạt động, đơn đặthàng…) chúng ta có thể quy nạp cho từng đối tượng chịu chi phí
* Chi phí gián tiếp : Là các chi phí liên quan đến nhiều đối tượng kế toán tập hợp
chi phí khác nhau nên không thể quy nạp trực tiếp cho từng đối tượng tập hợp chiphí được, mà phải tập hợp theo từng nơi phát sinh chi phí khi chúng phát sinh, sau
đó quy nạp cho từng đối tượng theo phương pháp phân bổ gián tiếp
Trang 20Cách phân loại chi phí này giúp ích cho việc xây dựng các phương pháp hạch toán
và phân bổ thích hợp cho từng loại chi phí, giúp cho việc kiểm soát chi phí đượcthuận lợi
f/ Phân loại trong cách lựa chọn các phương án
* Chi phí lặn (sunk costs)
Khái niệm chi phí lặn chỉ nảy sinh khi ta xem xét các chi phí gắn liền với cácphương án hành động liên quan đến tình huống cần ra quyết định lựa chọn Chi phílặn được hiểu là khoản chi phí đã bỏ ra trong quá khứ và sẽ hiển hiện ở tất cả mọiphương án với giá trị như nhau Hiểu một cách khác, chi phí lặn được xem như làkhoản chi phí không thể tránh được cho dù người quản lý quyết định lựa chọn thựchiện theo phương án nào Chính vì vậy, chi phí lặn là loại chi phí không thích hợpcho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý Tuy nhiên, trong thực tế, việcnhận diện được chi phí lặn cũng như sự nhận thức rằng chi phí lặn cần được loại bỏtrong tiến trình ra quyết định không phải lúc nào cũng dễ dàng
* Chi phí chênh lệch (differential costs)
Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của mộtphương án so với một phương án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị củanhững chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, hoặc
là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau.Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn các phương án trên cơ sở phân tích
bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợpcho việc ra quyết định
*Chi phí cơ hội (Opportunity costs)
Chi phí cơ hội là những thu nhập tiềm tàng bị mất đi khi lựa chọn thực hiện phương
án này thay cho phương án khác
Tóm lại: Cho nhiều mục đích khác nhau, chi phí được xem xét theo nhiều khía
cạnh khác nhau Trước hết là một sự hiểu biết chung cần có về nội dung của chi phíkết hợp với việc xem xét chức năng của nó Doanh nghiệp đã sử dụng những loạichi phí gì và sử dụng vào các mục đích gì là những dạng thông tin nhất thiết phải có
Trang 21trong các báo cáo tài chính Tuy nhiên, phục vụ tốt cho hoạt động quản lý đòi hỏinhững hiểu biết kỹ lưỡng hơn về chi phí Chi phí xem xét ở giác độ kiểm soát đượchay không kiểm soát được là điều kiện tiền đề cho việc thực hiện kế toán tráchnhiệm Chi phí khi được nhận thức và phân biệt thành dạng chi phí không thích hợp
và chi phí thích hợp cho việc ra quyết định có tác dụng lớn phục vụ cho tiến trìnhphân tích thông tin, ra quyết định của người quản lý Được sử dụng một cách tíchcực và phổ biến nhất trong kế toán quản trị đó là cách phân loại chi phí theo cáchứng xử của nó với sản lượng thực hiện Xem xét chi phí theo cách thức ứng xử của
nó giúp thấy rõ một mối quan hệ rất căn bản trong quản lý: quan hệ giữa chi phí sản luợng - lợi nhuận Báo cáo thu nhập của doanh nghiệp lập theo cách nhìn nhậnchi phí như vậy trở thành công cụ đắc lực cho người quản lý trong việc xem xét vàphân tích các vấn đề
-1.1.3.2 Nội dung cơ bản của hoạt động kế toán quản trị
Có nhiều cách nhìn nhận về nội dung cơ bản của hoạt động kế toán quản trị
1/Trích điểm 4.1 phần I- quy định chung (thông tư 53/2006/TT-BTC)
a/ Nội dung chủ yếu, phổ biến của kế toán quản trị trong doanh nghiệp,gồm:
- Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm;
- Kế toán quản trị bán hàng và kết quả kinh doanh;
- Phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận;
- Lựa chọn thông tin thích hợp cho việc ra quyết định;
- Lập dự toán sản xuất, kinh doanh;
- Kế toán quản trị một số khoản mục khác:
+ Kế toán quản trị tài sản cố định (TSCĐ):
+ Kế toán quản trị hàng tồn kho:
+ Kế toán quản trị lao động và tiền lương;
+ Kế toán quản trị các khoản nợ
Trang 22b/ Ngoài những nội dung chủ yếu trên, doanh nghiệp có thể thực hiệncác nội dung kế toán quản trị khác theo yêu cầu quản lý của doanhnghiệp
Theo Giáo trình Kế toán quản trị doanh nghiệp – PGS.TS Đoàn Xuân Tiên, Họcviện Tài chính, xuất bản năm 2009 chủ biên, kế toán quản trị có nội dung rất rộng2/ Xét theo nội dung các thông tin mà kế toán quản trị cung cấp, kế toán quản trịgồm:
+ Kế toán quản trị các yếu tố SXKD (mua sắm, sử dụng đối tượng laođộng – hàng tồn kho; Tư liệu lao động – tài sản cố định; Tuyển dụng và
sử dụng lao động – lao động và tiền lương…)
+ Kế toán quản trị chi phí và giá thành sản phẩm (nhận diện, phân loạichi phí, giâ thành; Lập dự toán chi phí; Tập hợp chi phí, tính toán, phân
bổ chi phí, giá thành; Lập báo cáo phân tích chi phí theo bộ phận, theocác tình huống quyết định…)
+ Kế toán quản trị doanh thu và kết quả kinh doanh (phân loại doanhthu; Xác định giá bán, lập dự toán doanh thu; Tính toán, hạch toán chitiết doanh thu, phân bổ chi phí chung, xác định kết quả chi tiết; Lập báocáo phân tích kết quả chi tiết theo bộ phận, theo các tình huống ra quyếtđịnh…)
+ Kế toán quản trị các khoản nợ
+ Kế toán quản trị về các hoạt động đầu tư tài chính
+ Kế toán quản trị các hoạt động khác của doanh nghiệp
3/ Xét theo quá trình kế toán quản trị trong mối quan hệ với chức năng quản lý, kếtoán quản trị bao gồm các khâu
+ Chính thức hóa các mục tiêu của đơn vị thành các chỉ tiêu kinh tế,+ Lập dự toán chung và các dự toán chi tiết
+ Thu thập, cung cấp thông tin về kết quả thực hiện các mục tiêu
+ Soạn thảo báo cáo kế toán quản trị
Trang 23Trong đó, cách 1 và 2 là phù hợp và được áp dụng rất nhiều trong kế toán doanhnghiệp, còn cách 3 được áp dụng phổ biến trong các đơn vị sự nghiệp công lập.
1.1.4 Xu hướng mới trong quản trị chi phí ở doanh nghiệp
1.1.4.2 Quản trị chất lượng
Đây là một hệ thống hoạt động với mục tiêu là đảm bảo chất lượng sản phẩm/dịch
vụ luôn đáp ứng sự mong đợi của khách hàng Hệ thống này nghiên cứu việc tăngthêm các tính năng cho sản phẩm, gia tăng độ tin cậy, độ bền vững của sản phẩm,phát triển dịch vụ khách hàng tốt nhất Quản trị chi phí làm nhiệm vụ phân tích tất
cả thông tin vể chi phí của các phương án hoạt động, đánh giá tác động của chúngtrong việc đảm bảo chất lượng sản phẩm, thu nhận và xem xét mọi ý kiến phản hồicủa khách hàng Mục đích của việc quản trị chất lượng là xây dựng lòng trung thànhcủa khách hàng đối với sản phẩm/dịch vụ của doanh nghiệp và giúp doanh nghiệpcải thiện chất lượng sản phẩm, cạnh tranh ngày càng hiệu quả hơn
1.1.4.3 Quản trị chi phí theo hoạt động
Quản trị chi phí theo hoạt động được sử dụng để cải thiện tính chính xác của cácphân tích chi phí Nó giúp cho việc tính toán chi phí của từng sản phẩm được chínhxác Việc phân tích chi tiết các hoạt động sẽ cho thấy các hoạt động đó được thựchiện trong từng công việc riêng biệt ở doanh nghiệp như thế nào Ngày nay, nhiềudoanh nghiệp xem đây là công cụ chiến lược cho sự thành công của mình
1.2 Nội dung của quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.2.1 Hoạch định
Trang 24Hoạch định là xây dựng các mục tiêu phải đạt được cho từng giai đoạn công việc
cụ thể, vạch ra các bước, phương pháp thực hiện để đạt được các mục tiêu đó Kếhoạch mà các nhà quản trị lập thường có dạng dự toán Dự toán là những tính toánliên kết các mục tiêu lại với nhau và chỉ rõ cách thức huy động và sử dụng cácnguồn lực sẵn có để đạt được các mục tiêu đề ra Để kế hoạch đặt ra có tính khả thicũng như các dự toán thực sự đem lại hiệu quả thì cần dựa trên những thông tin hợp
lí và có cơ sở do bộ phận kế toán quản trị chi phí cung cấp Thông tin chi phí là cơsở để đưa ra quyết định phù hợp
1.2.2 Ra quyết định
Quản trị chi phí phải dựa trên cơ sở hệ thống thông tin quá khứ và dự toán tương laitiến hành phân loại, lựa chọn, tổng hợp và cung cấp những thông tin cần thiết liênquan đến chi phí thích hợp cho việc ra quyết định Chức năng ra quyết định đượcvận dụng trong suốt quá trình hoạt động bao gồm những quyết định ngắn hạn vànhững quyết định dài hạn Căn cứ vào các số liệu thông tin được cung cấp nhà quảntrị chi phí thực hiện việc phân tích đánh giá và nêu các kiến nghị đề xuất cũng nhưtham gia vào việc lập dự toán SXKD hay tư vấn cho các nhà quản trị lãnh đạo đưa
ra quyết định phù hợp
1.2.3 Tổ chức thực hiện
Quản trị chi phí cung cấp các thông tin để tổ chức thực hiện chi phí thông qua việcthiết lập các bộ phận, xác lập quyền hạn và trách nhiệm của các bộ phận cũng nhưcon người cụ thể để có biện pháp kịp thời điều chỉnh kế hoạch nhằm sử dụng mộtcách có hiệu quả các nguồn lực Các thông tin về chi phí sản xuất, phương án thicông, giá vốn công trình, chi phí nghiệm thu, bảo hành sửa chữa công trình, chi phíquản lí doanh nghiệp
1.2.4 Kiểm tra, kiểm soát
Để thực hiện chức năng kiểm tra và đánh giá các nhà quản trị dùng những thông tin
do kế toán quản trị cung cấp dưới dạng các báo cáo chi phí, báo cáo thực hiện địnhmức hay dự toán chi phí…Các chi phí phát sinh có nội dung, tính chất kinh tế, côngdụng, mục đích khác nhau cũng như ảnh hưởng của chúng quá trình và kết quả kinh
Trang 25doanh cũng khác nhau Thông thường người ta sẽ so sánh số liệu kế hoạch,dự toánhoặc định mức với số liệu thực tế thực hiện.
1.3 Cơ chế tài chính cho các đơn vị sự nghiệp có thu tự đảm bảo toàn bộ chi phí hoạt động
1.3.1 Nội dung cơ chế hoạt động sự nghiệp công lập
+ Đơn vị sự nghiệp có thu tự chủ tài chính, chủ động bố trí kinh phí để thực hiệnnhiệm vụ, được ổn định kinh phí hoạt động thường xuyên theo định kỳ 3 năm vàhàng năm được tăng thêm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định
+ Đơn vị sự nghiệp có thu được vay tín dụng để mở rộng và nâng cao chất lượnghoạt động sự nghiệp và tự chịu trách nhiệm trả nợ vay theo qui định của pháp luật + Đơn vị sự nghiệp có thu được giữ lại khấu hao cơ bản và tiền thu thanh lý tài sản
để tăng cường cơ sở vật chất cho đơn vị
+ Đơn vị sự nghiệp có thu được chủ động sử dụng số biên chế được cấp có thẩmquyền giao, thực hiện chế độ hợp đồng lao động theo qui định của Bộ Luật laođộng
+ Thủ trưởng đơn vị được quyết định mức chi quản lý, chi nghiệp vụ cao hoặc thấphơn mức chi do Nhà nước qui định
+ Đơn vị sự nghiệp có thu được tính quĩ tiền lương để trả cho người lao động trên
cơ sở tiền lương tối thiểu tăng không quá 2,5 lần (đối với đơn vị tự bảo đảm chi phíhoạt động) và không quá 2 lần (đối với đơn vị tự đảm bảo một phần chi phí) tiềnlương tối thiểu chung do Nhà nước qui định
+ Kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên và các khoản thu
sự nghiệp, cuối năm chưa chi hết đơn vị được chuyển sang năm sau để tiếp tục chi + Hàng năm, căn cứ vào kết quả hoạt động tài chính, đơn vị được trích lập 4 quĩ:Quĩ dự phòng ổn định thu nhập, Quĩ khen thưởng, Quĩ phúc lợi, Quĩ phát triển hoạtđộng sự nghiệp
+ Khi Nhà nước điều chỉnh mức tiền lương tối thiểu hoặc thay đổi định mức chi,chế độ, tiêu chuẩn chi ngân sách nhà nước, đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảmtrang trải các khoản chi tăng thêm, từ các nguồn: Thu sự nghiệp, các khoản tiết
Trang 26kiệm chi, các quỹ của đơn vị và kinh phí ngân sách nhà nước cấp tăng thêm hàngnăm (đối với các đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí)
Trong đơn vị sự nghiệp, Nhà nước là chủ thể quản lý, đối tượng quản lý là tài chínhđơn vị sự nghiệp Tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm các hoạt động và quan hệ tàichính liên quan đến quản lý, điều hành của Nhà nước trong lĩnh vực sự nghiệp
Là chủ thể quản lý, Nhà nước có thể sử dụng tổng thể các phương pháp, các hìnhthức và công cụ để quản lý hoạt động tài chính của các đơn vị sự nghiệp trongnhững điều kiện cụ thể nhằm đạt được những mục tiêu nhất định Để đạt đượcnhững mục tiêu đề ra, công tác quản lý tài chính đơn vị sự nghiệp bao gồm ba khâucông việc: Thứ nhất, lập dự toán thu, chi ngân sách nhà nước trong phạm vi đượccấp có thẩm quyền giao hàng năm; Thứ hai, tổ chức chấp hành dự toán thu, chi tàichính hàng năm theo chế độ, chính sách của Nhà nước; Thứ ba, quyết toán thu, chingân sách Nhà nước
Nội dung tổ chức thực hiện quản lý tài chính đơn vị hành chính sự nghiệp có thu:
1.3.2.1 Lập dự toán thu chi ngân sách
Lập dự toán ngân sách là quá trình phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu cácnguồn tài chính để xây dựng các chỉ tiêu thu chi ngân sách hàng năm một cách đúngđắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn Có hai phương pháp lập dự toán thường được
sử dụng là phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ (incremental budgetingmethod) và phương pháp lập dự toán cấp không (zero basic budgeting method) Mỗi
Trang 27phương pháp lập dự toán trên có những đặc điểm riêng cùng những ưu, nhược điểm
và điều kiện vận dụng khác nhau
Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp xác định các chỉ tiêutrong dự toán dựa vào kết quả hoạt động thực tế của kỳ liền trước và điều chỉnhtheo tỷ lệ tăng trưởng và tỷ lệ lạm phát dự kiến Như vậy phương pháp này rất rõràng, dễ hiểu và dễ sử dụng, được xây dựng tương đối ổn định, tạo điều kiện, cơ sởbền vững cho nhà quản lý trong đơn vị trong việc điều hành mọi hoạt động Phươngpháp lập dự toán cấp không là phương pháp xác định các chỉ tiêu trong dự toán dựavào nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp với điều kiện cụ thểhiện có của đơn vị chứ không dựa trên kết quả hoạt động thực tế của năm trước.Như vậy, đây là phương pháp lập dự toán phức tạp hơn do không dựa trên số liệu,kinh nghiệm có sẵn Tuy nhiên, nếu đơn vị sử dụng phương pháp này sẽ đánh giáđược một cách chi tiết hiệu quả chi phí hoạt động của đơn vị, chấm dứt tình trạngmất cân đối giữa khối lượng công việc và chi phí thực hiện, đồng thời giúp đơn vịlựa chọn được cách thức tối ưu nhất để đạt được mục tiêu đề ra
Phương pháp lập dự toán trên cơ sở quá khứ là phương pháp truyền thống, đơngiản, dễ thực hiện và phù hợp cho những hoạt động tương đối ổn định của đơn vị.Trong khi đó, phương pháp lập dự toán cấp không phức tạp hơn, đòi hỏi trình độcao trong đánh giá, phân tích, so sánh giữa nhiệm vụ và điều kiện cụ thể của đơn vịnên chỉ thích hợp với những hoạt động không thường xuyên, hạch toán riêng đượcchi phí và lợi ích
1.3.2.2 Tổ chức chấp hành dự toán thu chi
Chấp hành dự toán là quá trình sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế tài chính,hành chính nhằm biến các chỉ tiêu thu chi ghi trong dự toán ngân sách của đơn vịthành hiện thực Trên cơ sở dự toán ngân sách được giao, các đơn vị sự nghiệp tổchức triển khai thực hiện, đưa ra các biện pháp cần thiết đảm bảo hoàn thành tốtnhiệm vụ thu chi được giao đồng thời phải có kế hoạch sử dụng kinh phí ngân sáchtheo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả Để theo dõi quá trình chấp
Trang 28hành dự toán thu chi, các đơn vị sự nghiệp cần tiến hành theo dõi chi tiết, cụ thểtừng nguồn thu, từng khoản chi trong kỳ của đơn vị.
Thực tế cho thấy trong các đơn vị sự nghiệp, nguồn thu thường được hình thành từcác nguồn:
- Nguồn kinh phí cấp phát từ ngân sách nhà nước (NSNN) để thực hiện nhiệm vụchính trị, chuyên môn được giao Đây là nguồn thu mang tính truyền thống và cóvai trò quan trọng trong việc đảm bảo nguồn tài chính cho hoạt động của các đơn vị
sự nghiệp Tuy nhiên, với chủ trương đổi mới tăng cường tính tự chủ tài chính chocác đơn vị sự nghiệp, tỷ trọng nguồn thu này trong các đơn vị sẽ có xu hướng giảmdần nhằm làm giảm bớt gánh nặng đối với NSNN
- Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp: gồm các khoản thu phí, lệ phí thuộc NSNNtheo quy định của pháp luật, theo chế độ được phép để lại đơn vị Ví dụ trong sựnghiệp y tế, các khoản thu sự nghiệp gồm thu viện phí, thu dịch vụ khám chữabệnh, thu từ thực hiện các biện pháp tránh thai, thu bán các sản phẩm vắc xin phòngbệnh… Cùng với việc chuyển đổi sang cơ chế tự chủ tài chính, tỷ trọng nguồn thunày trong các đơn vị sự nghiệp có xu hướng ngày càng tăng Điều này đòi hỏi cácđơn vị phải tổ chức khai thác các nguồn thu hợp pháp này nhằm tăng cường nănglực tài chính của đơn vị
- Các khoản thu từ nhận viện trợ, biếu tặng, các khoản thu khác không phải nộpngân sách theo chế độ Đây là những khoản thu không thường xuyên, không dự tínhtrước được chính xác nhưng có tác dụng hỗ trợ đơn vị trong quá trình thực hiệnnhiệm vụ
- Các nguồn khác như nguồn vốn vay của các tổ chức tín dụng, vốn huy động củacán bộ, viên chức trong đơn vị; nguồn vốn liên doanh, liên kết của các tổ chức, cánhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Với các nguồn thu như trên, đơn vị sự nghiệp được tự chủ thực hiện nhiệm vụ thuđúng, thu đủ theo mức thu và đối tượng thu do cơ quan nhà nước có thẩm quyềnquy định Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định khung mức thu,đơn vị căn cứ nhu cầu chi phục vụ cho hoạt động, khả năng đóng góp của xã hội để
Trang 29quyết định mức thu cụ thể cho phù hợp với từng loại hoạt động, từng đối tượng,nhưng không được vượt quá khung mức thu do cơ quan có thẩm quyền quy định.Đối với những hoạt động dịch vụ theo hợp đồng với các tổ chức, cá nhân trong vàngoài nước, các hoạt động liên doanh, liên kết, đơn vị được quyết định các khoảnthu, mức thu cụ thể theo nguyên tắc bảo đảm đủ bù đắp chi phí và có tích luỹ.
1.3.2.3 Quyết toán thu chi
Quyết toán thu chi là công việc cuối cùng của chu trình quản lý tài chính Đây làquá trình kiểm tra, tổng hợp số liệu về tình hình chấp hành dự toán trong kỳ và là cơsở để phân tích, đánh giá kết quả chấp hành dự toán từ đó rút ra những bài học kinhnghiệm cho các kỳ tiếp theo Để có thể tiến hành quyết toán thu chi, các đơn vị phảihoàn tất hệ thống báo cáo tài chính và báo cáo quyết toán ngân sách
Trang 30CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN TRỊ CHI PHÍ ĐƠN VỊ SỰ
NGHIỆP CÓ THU TẠI NHÀ HÁT MÚA RỐI THĂNG LONG
2.1 Giới thiệu về Nhà hát Múa rối Thăng Long và các đặc điểm kinh doanh của Nhà hát
2.1.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển của đơn vị
Đoàn Múa rối Hà Nội tiền thân là đội nghệ thuật Kim Đồng, được thành lậptháng 10 năm 1969 với mục đích vừa biểu diễn múa rối vừa biểu diễn xiếc phục vụcác thiếu nhi thủ đô trong thời kì kháng chiến chống Mĩ cứu nước
Sau ngày hòa bình thống nhất đất nước, 30/04/1975, Đội Nghệ thuật KimĐồng được tổ chức thành hai đoàn: Đoàn Múa Rối và Đoàn Xiếc, hoạt động độc lậptheo chuyên ngành
Những năm 80 của thế kỷ 20, Đoàn múa rối Hà Nội vẫn chuyên biểu diễn rốicạn, nhưng tiến lên xây dựng các vở dài và vừa để mở rộng đối tượng phục vụ ra tất
cả các giới khác ngoài thiếu niên, nhi đồng
Sau năm 1993, khi Rạp Kim Đồng có địa chỉ tại 57b Đinh Tiên Hoàng đượcxây mới lại và đưa vào sử dụng, cùng với chủ trương phát triển kinh tế du lịch tạiđại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII giai đoạn 1996 - 2000, có được doanh thu chủyếu từ các khách du lịch Đoàn Múa rối dần đi vào ổn định hoạt động và phát triển
cả về doanh số và nhân lực
Để phù hợp với qui mô phát triển của Đoàn, ngày 11 tháng 6 năm 2001, ỦyBan Nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 39/2001/QĐ-UB chuyển ĐoànMúa rối Hà nội thành Nhà hát Múa rối Thăng Long
Sau khi sát nhập Hà Nội với Hà Tây và một phần Hòa Bình, để phù hợp vớitình hình mới, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã ra quyết định số 585/QĐ-UBND ngày 4 tháng 2 năm 2009 về việc thành lập Nhà hát Múa rối Thăng Longthuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thành phố Hà Nội với các qui định sau:Điều 1 Nhà hát Múa rối Thăng Long trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịchthành phố Hà Nội
Trang 31Điều 2 Nhà hát Múa rối Thăng Long là đơn vị sự nghiệp có thu, tự đảm bảo mộtphần chi phí hoạt động thường xuyên Nhà hát Múa rối Thăng Long có tư cách phápnhân, có con dấu riêng để giao dịch, hoạt động theo qui định của pháp luật.
Trụ sở Nhà hát Múa rối Thăng Long đặt tại 57b, phố Đinh Tiên Hoàng, Quận HoànKiếm, thành phố Hà Nội
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội qui định cụ thể chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Nhà hát Múa rối Thăng Long trựcthuộc Sở
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của Nhà hát Múa rối Thăng Long.
Theo quyết định số 791/QĐ-VHTT&DL-KHTC của Sở Văn hóa, Thể thao và Dulịch Thành phố Hà Nội ngày 20 tháng 8 năm 2010 về việc giao quyền tự chủ, tựchịu trách nhiệm về tài chính
Theo quyết định số 352/QĐ-VHTT&DL của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịchThành phố Hà nội kí ngày 7 tháng 5 năm 2009 về việc qui định chức năng, nhiệm
vụ của Nhà hát Múa rối Thăng long
Nhà hát Múa rối Thăng Long có chức năng và nhiệm vụ như sau:
2.1.2.1 Chức năng:
Nhà hát Múa rối Thăng Long là đơn vị sự nghiệp có thu có chức năng biểu diễnnghệ thuật múa rối (rối nước và rối cạn); Sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị nghệthuật múa rối truyền thống Thăng Long – Hà Nội
2.1.2.2 Nhiệm vụ
a/ Trình Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội quy hoạchphát triển, kế hoạch hoạt động dài hạn và hàng năm của Nhà hát và tổ chức thựchiện sau khi được phê duyệt;
b/ Xây dựng các chương trình kịch mục mua rối Thăng Long – Hà Nội đảm bảotính dân tộc và hiện đại; tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân thủ đô, đồng bào cảnước và khán giả nước ngoài nhằm nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần và thẩm
mỹ người xem
Trang 32c/ Sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị nghệ thuật múa rối truyền thống; sáng tạo vàthể nghiệm các loại hình múa rối; tổng kết kinh nghiệm, nâng cao chất lượng nghệthuật trong sáng tác và biểu diễn góp phần phát triển nghệ thuật múa rối ThăngLong – Hà Nội.
d/ Tổ chức biểu diễn, giao lưu quốc tế theo kế hoạch hợp tác của Sở Văn hóa, Thểthao và Du lịch thành phố Hà Nội, chủ động giao lưu, giới thiệu nghệ thuật múa rốiThăng Long – Hà Nội; học hỏi, trao đổi, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nghệ thuậtmúa rối của Thể giới
e/ Liên kết, phối hợp với các đơn vị trong nước và ngoài nước tổ chức các chươngtrình nghệ thuật múa rối, chương trình nghệ thuật lớn phục vụ khán giả trong nước
i/ Quản lý, sử dụng nhà đất, tài chính, tài sản, ngân sách được phân bổ và các nguồnthu khác theo qui định của pháp luật
j/ Thực hiện các nhiệm vụ khác do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố HàNội giao
2.1.3 Cơ cấu tổ chức của Nhà hát Múa rối Thăng Long
- Biên chế đội ngũ cán bộ, viên chức, diễn viên của Nhà hát được UBNDthành phố xem xét và giao chỉ tiêu hàng năm theo đề nghị của Giám đốc Sở Vănhóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội
Ngoài ra, đơn vị được phép sử dụng một số lao động hợp đồng thỏa thuận(nằm ngoài chỉ tiêu biên chế quĩ lương) để thực hiện nhiệm vụ được giao
Trang 33- Giám đốc Nhà hát Múa rối Thăng Long có trách nhiệm bố trí, sử dụng viênchức, diễn viên phù hợp với chức danh, tiêu chuẩn ngạch viên chức, diễn viên theoqui định của Nhà nước; xây dựng quy chế tổ chức hoạt động của Nhà hát trìnhGiám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội phê duyệt thực hiện.Tổng số lao động Nhà hát năm 2012 là 119 người
Trong đó: - Biên chế viên chức: 70 người,
- Lao động hợp đồng ngoài biên chế được giao: 24 người (gia hạnhàng năm)
- Cộng tác viên: 25 người
2.1.3.1 Giám đốc và các phó giám đốc.
Ban Giám đốc gồm 3 người: 1 giám đốc và 2 Phó giám đốc
- Giám đốc Nhà hát là người đứng đầu Nhà hát, chịu trách nhiệm trước Giám đốcSở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Hà Nội và trước pháp luật về mọi hoạtđộng của Nhà hát
- Phó Giám đốc Nhà hát (2 người), là những người giúp Giám đốc Nhà hát, chịutrách nhiệm trước Giám đốc Nhà hát và trước pháp luật về các nhiệm vụ được phâncông; khi Giám đốc Nhà hát vắng mặt, một Phó giám đốc Nhà hát được Giám đốc
Ủy nhiệm điều hành các hoạt động của Nhà hát
2.1.3.2 Các bộ phận chuyên môn nghiệp vụ, gồm:
a/ Phòng Hành chính Tổng hợp: Có chức năng tham mưu cho giám đốc Nhà háttrong việc thực hiện các phương án tổ chức quản lý lao động, giải quyết chế độ,chính sách đối với người lao động theo qui định của pháp luật Lập kế hoạch côngtác, kế hoạch tài chính và giám sát thực hiện các kế hoạch đó Các công việc cụ thể:
- Thông báo và thực hiện kịp thời, đầy đủ, chính xác đường lối của Đảng,pháp luật, chính sách, chế độ của nhà nước, và những quy định của ngành, của giámđốc nhà hát tới người lao động
- Quản lý cơ sở vật chất, phương tiện, thiết bị kỹ thuật, tiện nghi đã bố trítrong nhà hát, phục vụ chung cho nhà hát Quản lý các con dấu hiện hành, hồ sở của
Trang 34nhà hát và người lao động trong nhà hát, lưu trữ các quyết định, văn bản theo quyđịnh.
- Soạn thảo các văn bản, quyết định theo nội dung của lãnh đạo nhà hát yêucầu và điểm danh, ghi biên bản trong các cuộc họp toàn thể người lao động trongnhà hát hoặc khi giám đốc yêu cầu
- Phục vụ hậu cần cho các cuộc hội, họp, tiếp khách của nhà hát Căn cứ nộidung, tính chất của ngày lễ, hội, ngày tết và các cuộc họp, thực hiện các hình thứctrang hoàng nhà hát phù hợp
- Thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời chính sách, chế độ của đảng, nhà nước đốivới người lao động trong nhà hát và cung cấp tài chính đáp ứng cho mọi kế hoạchcông tác của nhà hát
- Căn cứ đặc thù của nhà hát, tham mưu cho giám đốc nhà hát: tổ chức, chỉđạo toàn bộ công tác tài chính và hạch toán kinh tế từng phần trong nhà hát, đảmbảo đúng nguyên tắc tài chính nhà nước
b/ Phòng nghệ thuật: Xây dựng các chương trình kịch mục mới, tổ chức các lớp họcnâng cao tay nghề và kiến thức cho diễn viên Nhà Hát
c/ Phòng Tổ chức biểu diễn: Tổ chức và thực hiện công tác hậu đài, kỹ thuật, tạp vụ,hậu cần, trao đổi với các đối tác phục vụ cho các chuyến đi lưu diễn của Nhà háttrong nước cũng như nước ngoài Các công việc cụ thể:
- Thực hiện các công việc phục vụ biểu diễn nghệ thuật của nhà hát, bảo đảmcho nhà hát thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch biểu diễn hoàn thành đúng hoặc trướcthời gian quy định
- Căn cứ các chỉ tiêu, kế hoạch biểu diễn hàng năm của nhà hát giao cho cácđoàn biểu diễn của nhà hát, lập kế hoạch triển khai biểu diễn thông qua các trưởngđoàn biểu diễn và báo cáo Giám đốc nhà hát hoặc người được giám đốc ủy quyềnphụ trách công tác tổ chức biểu diễn
- Tiếp khách đến nhà hát liên hệ biểu diễn hoặc cử người đi liên hệ biểu diễn
và ký hợp đồng biểu diễn theo đúng hoặc cao hơn giá tiền do nhà hát quy định đốivới từng đối tượng khán giả Thực hiện đầy đủ các thủ tục của nhà nước quy định
Trang 35đối với hoạt dộng biểu diễn nghệ thuật và các chế độ, thủ tục thu, chi tài chínhtrong biểu diễn do nhà hát quy định trong các mẫu in sẵn.
- Soạn thảo các văn bản, giấy tờ thuộc về tổ chức biểu diễn báo cáo giám đốchoặc người được giám đốc ủy quyền phụ trách công tác tổ chức biểu diễn
- Quản lý nhân sự, cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện do nhà hát giao choquản lý, sử dụng phục vụ công tác biểu diễn
- Mở hội nghị khách hàng mỗi năm một lần (nếu cần) để nghe khách hàngđóng góp ý kiến và qua đó thông báo với khách hàng chương trình nghệ thuật và kếhoạch hoạt động biểu diễn nghệ thuật của nhà hát
- Đoàn diễn viên 1.2: Tổ chức luyện tập, tham dự các buổi biểu diễn của Nhà hát,các Liên hoan Múa rối, các chương trình hợp tác theo yêu cầu của Sở và BộVHTT&DL
Trang 36Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của Nhà hát được thể hiện như hình 2.1 dưới đây.
Hình 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà hát Múa rối Thăng Long
( nguồn: Phòng Hành chính Tổ chức Nhà hát Múa rối Thăng Long)
2.2 Phương pháp nghiên cứu
Thông qua việc thu thập, tổng hợp thông tin từ báo cáo chi tiết hoạt động sựnghiệp, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, thuyết minh báo cáo tàichính các năm 2010-2012 của phòng kế toán ta có được số liệu về:
- Các khoản thu của đơn vị
- Chi phí phát sinh trong từng năm
- Số lượng buổi biểu diễn của đơn vị qua các năm
Giám đốc
Phó giám đốc HC- TC
Đoàn
diễn
viên 1
Đoàn diễn viên 2
hậu
đài
Tổ bảo vệ
Tổ tạp vụ
chính Tổ chức
Tổ tài vụ
Tổ hành chính
Trang 37Sau khi tập hợp được số liệu, phân tích các yếu tố cấu chi phí tạo nên nguồnthu chủ yếu của đơn vị, thành chi phí biến đổi và chi phí chi phí cố định, xây dựnghàm chi phí, xác định điểm hòa vốn của đơn vị,
Trong các yếu tố cấu thành nên chi phí biến đổi và chi phí cố định, xem xétmức độ ảnh hưởng của từng loại chi phí tới hàm chi phí chung của đơn vị thông quaviệc phân tích tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng chi phí cấu thành doanh thuchính
So sánh sự thay đổi, tăng giảm của từng loại chi phí qua các năm để tính độnhạy hợp lí hay tốc độ thay đổi của từng loại chi phí
2.2.1 Nội dung khảo sát
Thứ nhất, tập hợp số liệu để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các loại chi phí phátsinh đã được thực hiện Quá trình điều tra và đánh giá nhằm mang lại một hệ thốngtính toán thống nhất, xây dựng trên cơ sở khoa học, sử dụng các phương pháp tínhtoán điểm hòa vốn nhằm hỗ trợ cho các quyết định quản lý tại Nhà hát Múa rốiThăng Long
Thứ hai, điều tra khảo sát về thực trạng công việc và mong muốn của các cá nhânlàm các nhiệm vụ khác nhau tại Nhà hát từ đó có biện pháp hoàn thiện công tác tổchức chi phí tại Nhà hát
Mục đích cụ thể của cuộc khảo sát:
- Xác định hoạt động thu chủ yếu của Nhà hát
- Căn cứ số liệu thống kê của phòng hành chính tổng hợp xác định số buổi biểu diễncác năm tương ứng với chi phí phát sinh từng năm, từ đó xác định chi phí trungbình cho một buổi diễn trong năm và xác định lượng vé tối thiểu cần bán để cóđược doanh thu hòa vốn cho mỗi buổi biểu diễn
2.2.2 Điều tra khảo sát
2.2.2.1 Phân tích tình hình kinh phí thực hiện các năm
Với qui mô rạp 300 chỗ ngồi và biểu diễn rối cạn lưu động phục vụ tại các trườnghọc trước hết cần xem xét báo cáo hoạt động biểu diễn của nhà hát trong 3 năm gầnđây: 2010, 2011, và 2012
Trang 38Bảng 2.1 Bảng phân tích tình hình kinh phí gia đoạn 2010-2012
(nguồn: Phòng Hành chinh Tổ chức Nhà hát Múa rối Thăng Long)
Qua bảng phân tích ta thấy, kinh phí hoạt động của Nhà hát qua các năm có đươcchủ yếu từ nguồn thu hoạt động sự nghiệp biểu diễn nghệ thuật (trung bình 99%),thực tế cho thấy đây là nguồn thu chủ yếu của đơn vị Phân tích nguồn thu này đóngvai trò quan trọng trong việc phản ánh tình hình tài chính ,vì thế các phần sau đượcchú trọng phân tích tới các yếu tố cấu thành nên nguồn thu này
Trang 39Bảng 2.2 Phân tích tình hình kinh phí bổ sung giai đoạn 2010-2012
Trang 40Từ số liệu bảng 2.1 ở trên ta thấy:
- Kinh phí được bổ sung từ hoạt động sự nghiệp tăng đột biến năm 2011 so với năm
2010 (42,88%), và giảm tỷ lệ tăng vào năm 2012 (so với năm 2011 chỉ tăng 15,18%).Theo đó kinh phí thu được trung bình một buổi diễn tăng từ 12.622.491đ năm 2010, lên18.003.612đ năm 2011, và 21.053.203đ năm 2012
- Mâu thuẫn với việc doanh thu các năm tăng, lượng vé tiêu thụ trong các năm lại có
xu hướng giảm dần, năm 2011 so với năm 2010 giảm 900 vé tương ứng 0,19%, năm 2012
so với năm 2011 giảm 9.900 vé tương ứng 2,11%
- Số buổi biểu diễn trung bình ngày giảm dần qua các năm 5,24 buổi/ngày năm 2010xuống 5,18 buổi/ngày năm 2011 và còn 5,05 buổi/ngày năm 2012
Qua điều tra việc tăng doanh thu của Nhà hát có được là do nhà hát trong 2 năm liêntiếp đều tăng giá vé, cụ thể nếu như năm 2010 Nhà hát lưu hành 2 loại vé 60.000 và40.000 thì sang năm 2011 là 2 loại vé 100.000 và 60.000, đến năm 2012 nhà hát thay đổi
tỷ lệ vé bán trong các buổi bằng cách tăng hàng ghế 100.000 lên và giảm hàng ghế 60.000xuống
Kết luận: Việc tăng doanh thu chính là do Nhà hát thay đổi cơ cấu vé bán và tăng giá vé,
trong khi đó lượng vé bán ra giảm dần qua các năm tương ứng với lượng khách đến xembiểu diễn giảm rõ rệt trong năm 2012 Lý giải cho việc giảm lượng khách xem biểu diễncủa Nhà hát là sự phát triển rộng rãi của loại hình múa rối nước ở các làng nghề và khuvui chơi giải trí tại Hà Nội cũng như ở khắp cả nước như: Khu vui chơi giải trí ThiênĐường Bảo Sơn, Bảo tàng dân tộc học, Nhà hát múa rối Trung ương; xa hơn là các độimúa rối ở các làng truyền nghề thống Chùa Thầy, Bát Tràng; Khu du lịch Bãi Cháy – HạLong; các đoàn rối ở phía Nam
Trong môi trường cạnh tranh gay gắt như vậy, việc tăng giá vé liên tục không phải là cứucánh giúp Nhà hát có thể tự đảm bảo chi phí hoạt động của mình, mà về lâu dài là việcxác định, hoạch định được các chi phí phát sinh để có biện pháp quản trị chi phí một cáchphù hợp