Trên thực tế, trong khoảng thời gian 10 năm từ 1980-1990, công tác hướng nghiệt đã được triển khai đối với hệ thống giáo dục phổ thông theo kế hoạch, chương trình và nội dung của Bộ GD v
Trang 1371(V) GD-98 511/67 - 98 Mã số: PKK 04B8
Trang 2MỞ ĐẦU
Khi xem xét con người, chủ nghĩa Mác đã khẳng định
là trong mọi hình thái kinh tế, mọi trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, con người luôn luôn là nhân tổ quyết đỉnh Với ý nghĩa đó, đã từ lâu, con người đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều khoa học : sinh học, y học, kinh tế, nghệ thuật, triết học Khoa học giáo dục nghiên cứu con người dưới gốc độ nhận thức những quy luật hình thành và phát triển nhân cách, đặc biệt là đối với lớp trẻ thanh thiếu niên Sự hình thành và phát triển nhân cách này luôn được đặt trong mối quan hệ mật thiết với các hình thái kinh tế xã hội, nhằm chuẩn bị cho xã hội một lực lượng lao động trẻ tương ứng với trình độ phát triển của xã hội đó Mỗi cá nhân hình thành và phát triển không chỉ tuân theo những bàn trạng di truyền sẵn có mà chủ yếu theo sự phát triển của văn hóa, của tiến bộ lịch sử - xã hội Nhận cách con người hình thành trong hoạt động có ý thức vã cố tình sáng tạo theo nhu cầu của minh Nội dung của thế giới nội tâm và chỉ thể cuộc sống từng con người không thể chỉ
là từ những gì tự nhiên trực tiếp đưa lại mà chủ yếu là từ kỹ thuật đến kinh tế ; từ kinh nghiệm, lòng tin đến khoa học ;
từ văn hoá dân tộc đến giao lưu nhân loại
Nhân cách con người chỉ được hình thành trong các mối quan hệ xã hội, trong hoạt động lao động (trí óc, chân tay) Các Mác viết : "Con người được phân biệt với súc vật ngay từ khi người ta bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình" (1, tr 286)
Trong hoạt động thực tiễn, con người chuyển hóa sức
Trang 3mạnh tự nhiên thành sức mạnh của chính mình trắc lượng sản xuất và các quan hệ giữa người với người) Những quan hệ này không chỉ biểu hiện ở phương thức hoạt động bên ngoài mà còn bao hàm cả thế giới nội tâm của con người
Xã hội càng văn minh, sản xuất xã hội càng phát triển thì thế giới nội tâm của con người càng phong phú, bởi vì tiêu chuẩn khách quan, phổ biến và cao nhất của tiến bộ xã hội là sự phát triển của lực lượng sản xuất, trong đó ban gồm sự phát triển của bàn thân con người Trước hết là sự phát triển phong phú của bản tính con người với tư cách là mục đích tự thân (1, tr 158) Như vây, tiến bộ xã hội gắn liền với việc giải phóng con người, tạo ra những điều kiện hữu hiệu để phát triển toàn diện và hài hòa cá nhân, tạo cho con người được làm chủ quá trình lịch sử của chính mình
Đó không chỉ là mục đích cần đạt tới của chủ nghĩa nhân đạo Mácxít chân chính mà còn là mục đích mang tính chiến
lược lâu dài của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân
Nhà trường các cấp của chúng ta hiện nay có nhiệm
vụ hình thành và phát triển nhân cách cho thanh thiếu niên thông qua các nội dung giáo dục hết sức đa dạng và phong phú Đó là giáo dục đức dục, trí dục, thể dục, thẩm mỹ, lao động sàn xuất và hướng nghiệp bằng nhiều con đường như dạy học trong nhà trường, tham gia thực tiễn ngoài xã hội, giáo dục trong gia định và các đoàn thể, các cộng đồng xã hội giáo dục bằng các phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiện kỹ thuật
Nhà trường phổ thông được coi là bộ phận cực kỳ quan trọng của hệ thống giao dục quốc dân, tác động một cách có tổ chức, khoa học đến quá trình hình thành nhân cách của thanh thiếu niên Với mục đích giáo dục tương ứng với từng lứa tuổi, từng trình độ nhận thức, giáo dục
Trang 4phổ thông sẽ tạo ra tiền đề cần thiết về mặt trí tuệ và thể chất cho những giai đoạn phát triển tiếp theo của mỗi con người
Nếu như mục đích của việc hình thành nhân cách cho thanh thiếu niên trong chế độ xã hội chủ nghĩa nước ta là tạo cho họ khả năng tham gia tích cực, sáng tạo vào lao động xã hội, thì hướng nghiệp, phần nội dung gắn bó hữu
cơ trong giáo dục toàn diện của nhà trường phổ thông, sẽ thực hiện nhiệm vụ phát triển nhận thức của tuổi trề đối với hoạt động tương lai của họ, sao cho phù hợp với những nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, của đất nước trong những điều kiện lịch sử cụ thể
Công tác hướng nghiệp đối với sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam nói chung và nhà trường phổ thông nói riêng là một phạm trù còn rất mới mẻ cả về mặt lý thuyết và hoạt động thực tiễn Thời gian trước đây, những vấn đề có liên quan tới công tác hướng nghiệp, tùy thuộc vào điều kiện cụ thể của tường giai đoạn lịch sử, đã được nhiều tác giả đã đề cập tới ở góc độ này hay góc độ khác Vào những năm 80 phải kể tới sự đóng góp của các tác giả như : Phạm Hoàng Gia, Lê Sơn, Phạm Tất Dong đã nêu ra một số cơ sở tâm lý,
nội dung của công tác hướng nghiệp (3 ; 7 ; 8) Đặc biệt
bằng luận văn phó tiến sĩ của mình, tác giả Phạm Tất Dong
là người đầu tiên đặt nền móng cho việc thiết lập những cơ
sở lý thuyết về hướng nghiệp vào những năm 80, nhất là những năm cuối của thập kỷ này Cùng với chiến thắng của dân tộc, giải phóng miền Nam, thống nhất tổ quốc, công cuộc xây dựng CNXH đặt ra cho sự nghiệp giáo dục những nhiệm vụ mới, trong đó nổi lên vấn đề hướng nghiệp cho tuổi trề Nhiều văn bản chỉ thị của Nhà nước, của ngành giáo dục và nhiều bài viết của không ít tác giả đã đưa ra chương trình, nội dung, cách thức tổ chức công tác hướng
Trang 5nghiệp trong nhà trường phổ thông (6 ; 11) Trên thực tế, trong khoảng thời gian 10 năm từ 1980-1990, công tác hướng nghiệt đã được triển khai đối với hệ thống giáo dục phổ thông theo kế hoạch, chương trình và nội dung của Bộ
GD và ĐT hoạch định (4) nhằm làm tốt việc phân hướng học sinh tốt nghiệp các cấp PTCS và PTTH sau khi tốt nghiệp ra trường Mặc dù mới chỉ
là những bước đi đấu tiên của nhà trường phổ thông vào lĩnh vực hướng nghiệp, nhiều khó khăn xuất hiện (hệ thống nội dung, chương trình hướng nghiệp, hình thức tổ chức hướng nghiệp, hệ thống tư vấn nghệ cho học sinh, cơ sở
vật chất phục vụ chợ côn gtác này, đội ngũ cán bộ
chuyên môn về hướng nghiệp côn quá thiếu thốn và non
yếu), song ớ một mức độ nào đô, thông qua kết quả việc
triển khai các chỉ thị của Nhà nước và của ngành về hướng nghiệp, chúng ta cũng thấy được sự cố gắng của hệ thống giáo dục khi triển khai công tác mới mè này Bên cạnh việc hình thành được một nội dung công việc hoàn toàn không
có trước 'đây trong công tác giáo dục toàn diện của nhà trường, tăng cường vai trò xã hội của mỗi trường khi thực hiện mục đích giáo dục, xây dựng được một số tài liệu làm
cơ sở chỉ đạo cho việc thực hiện chương trình, nội dung hướng nghiệp ; chúng ta đã thiết lập được một số mạng lưới các trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp (KTTH) và hướng nghiệp ở các tỉnh và một số thành phố, đô thị lớn của cả nước Cho dù hiện nay tên gọi của các trung tâm này
có thể đã thay đổi, nội dung các phần việc của nó mang tính "kinh te hơn, nhưng xét về chức năng cơ bản, đây vẫn
là những cơ sở trụ cột của công tác hướng nghiệp ở các địa phương Mặc dù những mầm mống, những yếu tố của hướng nghiệp đã tổn tại trong hoạt động giáo dục của nhà trường như là những nội dung chính khóa, nhưng lý giải nó
Trang 6như một hệ thống tất yếu, khoa học để tác động vào sự hình thành nhân cách người học sinh như thế nào thì chúng ta vẫn đang ở những bước khởi đầu Hơn 10 năm đã qua, kể
từ ngày Chính phủ ban hành quyết định 126/CP 1981) về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường và Thông tư 31/TT của Bộ Giáo dục hướng dẫn việc thực hiện quyết định cho các cơ quan quản lý giáo dục, trường phổ thông các cấp và các cơ quan liên ngành, cùng với sự biến đối lớn lao của xã hội, giáo dục phổ thông và những vấn đề có liên quan tới vấn đề hướng nghiệp cũng có những thay đổi cần được nhận thức sâu sắc và thực tiễn hơn
(10-03-Trước hết phải thấy rằng, mấy năm trở lại đây, một số định hướng về giá trị nghề nghiệp đối với thanh thiếu niên
bi đảo lộn Trước đây, chúng ta thường lấy sức mạnh tư tưởng để động viên thanh niên đi vào những lĩnh vực có nhiều gian khổ như nông nghiệp, dạy học ở những vùng núi cao, vùng xa xôi hẻo lánh, lâm nghiệp, giao thông, duy tu đường bộ đường sắt, nghề mỏ, cơ khí kèm theo đó là phân luồng học sinh theo chỉ tiêu Nhà nước mà không tính tới năng lực, nhu cầu, sở thích của mỗi cá nhân Ai được đào tạo ra cũng có việc làm và như người ta nói - trở thành cái đinh vít trong một cơ chế đã được định vị sản của nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp Thời xưa đi học và làm quan là con đường và mục đích phấn đấu của mỗi sĩ tử thì thời bao cấp, đi học và làm cán bộ là những khái 'niệm dẫn xuất tất yếu của mỗi học sinh Sống dưới lý tưởng và sự "bao dung" của cơ chế kinh tế cũ, hầu như mọi giá trị nghề nghiệp được sắp sẵn mà không cần có
sự phán xét, cân nhắc của cá nhân
Năm học 1988-1989, điều tra trên 308 sinh viên năm
Trang 7thứ 4 các khoa toán, lý, văn, sinh, địa Trường Đại học sư
phạm Việt Bắc với câu hồi : "Vào thời điểm hiện nay nếu
cho chuyển đổi nghề thì anh (chị) có suy nghỉ gì ?" Trên
các phần kín, với 3 cách trả lời định sản : ở lại nghề dạy
học ( 1 ) ; đi sang nghề khác (2) ; và còn lưỡng lự (3) chúng
tôi đã được kết quả sau :
Từ kết quả điều tra cho ta thấy, mặc dù đã qua 4 năm
học tập số sinh viên không muốn theo nghề được đào tạo
vẫn chiếm tỷ trọng lớn : 48,3% Tỷ lệ này tăng lên đối với
sinh viên ở các khoa có chiều hướng khó kiếm việc làm sau
khi tốt nghiệp : văn 51%, sinh 58%, địa 86% Số sinh viên
có nguyện vọng chuyển nghề này tuy thế, vẫn sẽ phải làm
việc suốt đời trong nghề dạy học, đó là mâu thuẫn tất yếu
nảy sinh trong việc phân lượng học sinh theo kiểu kế
hoạch, bao cấp trước đây Tình hình biến đổi hiện nay trong
công tác tuyển sinh đã cho phép học sinh phổ thông sự lựa
chọn nghề theo năng lực của bản thân, nhưng đó mới chỉ là
điều kiện khách quan, vấn đề là phải tạo cho người học sinh
có năng lực tận dụng điều kiện khách quan này Đây quả
thực là một quá trình hết sức phức tạp, do nền kinh tế thị
trường hiện nay tạo ra cách nhìn cho môi người trong xã
Trang 8hội đối với việc làm của họ theo quy luật lợi ích nhiều hơn
là lý tưởng Nói cách khác, khi tìm một việc làm, mỗi cá nhân sẽ xác định trước tiên những công việc đem lại cho họ lợi ích kinh tế lớn hơn Nghề nào đem lại tiền lương cao, nghề đó thu hút nguyện vọng của nhiều người trong xã hội Việc xóa bao cấp trong các doanh nghiệp Nhà nước và sự xuất hiện doanh nghiệp tư nhân làm cho việc tuyển chọn cán bộ vào làm việc tại các cơ sở trở nên kỹ càng và thận trọng hơn Những doanh nghiệp trả lương cho cán bộ công nhân ở mức cao là những xí nghiệp có quá trình công nghệ tiến tiến, bộ máy quản lý năng động, hợp lý và tại những doanh nghiệp này công tác tuyển chọn người càng khắt khe hơn Người học sinh nhiều khi không thấy tất cả những yếu
tố đó trong việc tuyển chọn cán bộ của nền kinh tế thị trường mà chỉ thấy nổi bật lên yếu tố đồng tiền để đua chen nhau trong các kỳ thi tuyển vàn một số trường, đệ đơn vào các doanh nghiệp một cách tự phát Để lập lại trật tự để có
sự định hướng đúng cho tuổi trề, mà phải chăng do lỗi tại chúng ta đã để tình trạng giáo dục xuống cấp trong bước đi ban đầu vào kinh tế thị trường, đã quá coi nhẹ mảng công tác hướng nghiệp (nếu không nói là lãng quên) trong giáo dục toàn diện hiện nay của các trường phổ thông ; chúng ta cần tính tới việc xây dựng lại từ đầu cái hào khí làm hướng nghiệp cách đây mười mấy năm và đưa vào cho nó một sinh lực mới, một cách nhìn mới phù hợp với cuộc sống hiện nay
Xuất phát từ những lý giải trên, chúng tôi thấy để có bước đi ban đấu vào công tác hướng nghiệp một cách khoa học, cần thiết phải xây dựng một hệ thống lý thuyết về hướng nghiệp có cơ sở khoa học phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội hiện nay của đất nước, đó cũng chính là mục đích cơ bản của cuốn sách nay Do điều kiện thời gian và
Trang 9không gian, trong quá trình nghiên cứu và đề xuất hệ thống hướng nghiệp nay, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát trên địa bàn thực ' tế của một số tỉnh miền núi phía Bắc Nội dung cuốn sách nhằm giải quyết những nhiệm vụ sau :
1 Xây dựng một số khái niệm cơ bản về hướng nghiệp
2 Hình thành hệ thống hướng nghiệp theo quan điểm
Trang 10"Nghề nào hay nhất ?"
Đối với một số học Binh cuối cấp phổ thông, việc tim
ra câu trả lời cho những đắn đo trên là không khó khăn lắm (tất nhiên số này rất hiếm) Đa số còn lại, những câu hỏi đặt
ra cho các em nhiều suy nghĩ, buộc các em phải tìm kiếm lâu dài, bởi có biết bao nghề đáng yêu, đăng gửi gắm "số phận" của mình, có biết bao con đường để đạt tới mục đích: của cuộc sống riêng
Song, việc xác định cho mình một hướng đi, một nghề nghiệp chỉ cố thể có được ờ những cá nhân cố khả năng nhận thức và nhận thức một cách tự do các đối tượng bền ngoài, có khả năng xem xét, so sánh, đánh giá những dạng khác nhau của
hoạt động lao động để đi tới một quyết định cho bản thân Tất nhiên, sự tự lựa chọn này không bao giờ được coi
là tuyệt đối, bởi vì nó còn bị giới hạn bởi nhiều điều kiện :
Trang 11kinh tế, chính trị, xã hội, năng lực bản thân
Như vậy, lựa chọn nghề là một quá trình biểu hiện tính năng động của chủ thể, nó không chỉ liên quan tới nội dung hay hình thức của đối tượng lựa chọn mà còn chịu sự chi phối của chính tính năng động ấy Điều chỉnh, hướng dẫn và phát triển tính năng động này cho mỗi cá nhân là trọng trách của công tác hướng nghiệp, nó tham gia vào hệ thống khách quan điều chỉnh các điều kiện chủ quan, giúp các cá nhân đi tới nghề nghiệp một cách khoa học và đúng đắn
Vậy có thể hiểu như thế nào về khái niệm "Hướng nghiệp" ? Tháng 10/1980, Hội nghị lần thứ 9 những người đứng đầu cơ quan giáo dục nghề nghiệp các nước XHCN họp tại La Habana thủ đô Cuba đã thống nhất về khái niệm hướng nghiệp như sau : "Hướng nghiệp là hệ thống những biện pháp dựa trên cơ sở tâm lý học, sinh lý học, y học và nhiều khoa học khác để giúp đỡ học sinh chọn nghề phù hợp với nhu cầu xã hội, đồng thời thỏa mãn tối đa nguyện vọng thích hợp với những năng lực, sở trường và điều kiện tâm sinh lý cá nhân, nhằm mục đích phân bố hợp lý và sử dụng có hiệu quả nhất lực lượng dự trữ có sẵn của đất nước"
Khái niệm nêu trên Về hướng nghiệp là sự kết hợp tương đối hài hòa nhu cầu của mỗi cá nhân và nhu cầu xã hội Khái niệm đặt nhiệm vụ đào tạo con người cho xã hội làm nhiệm vụ trung tâm, trước tiên, đồng thời luôn đảm bảo tính cá thể trong sự phát triển tự do của mỗi nhân cách Khái niệm trên cũng đê cập có tới tính chất phức tạp của công tác hướng nghiệp, đòi hỏi phải có sự tham gia đồng
bộ của nhiều bộ phận xã hội nhằm giải quyết hợp lý lực lượng lao động dự trữ có Bản của đất nước: Khái niệm trên đây là đầy đủ vì nó bao gồm trong đó nội dung, cấu trúc,
Trang 12đặc trưng cơ bản, phương pháp tiến hành và mục đích hướng nghiệp
Nói một cách ngắn gọn, dưới góc độ giáo dục phổ thông, hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng xã hội vào thế hệ trê, lấy sự chỉ đạo của một hệ thống
sư phạm làm trung tâm giúp cho các em quen biết với một
số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức nghề nghiệp tương lai
Hiện nay, việc thống kê nghề và chuyên môn là vô cùng khó khăn do tính chất phức tạp của bản thân mỗi nghề (chẳng hạn chỉ riêng những nghề có liên quan tới kỹ thuật điện đã có thể tới trẽn 500 nghề như : điện lạnh, điện nguội, điện lắp ráp, điện máy nổ, điện chiếu sáng, điện dân dụng ) cũng như sự phát triển nhanh chóng của kỹ thuật, công nghệ Theo các sách báo, trên thế giới có khoảng
6500 nghề và trong mỗi nghề tại gồm nhiều chuyên môn và trong mỗi chuyên môn lại phân nhánh thành những phạm vi hẹp hơn nữa (ví dụ nghề dạy học có thầy dạy toán, có thầy dạy lý, dạy văn Trong dạy toán lại có thầy chuyên dạy toán cao cấp, toán sơ cấp, toán ứng dụng ) Ở nước ta, theo danh mục nghề do Viện Khoa học dạy nghề thiết lập
có khoảng 400 nghề đang được đào lạo tại các trường lớp dạy nghề, còn những.nghề mang tính truyền thống và phổ thông (nghề làm nón, xe hương, làm nước chấm, đánh giầy, bán báo rong ) thì chưa có số liệu nào thống kê cho hết Tất nhiên để đi tới việc phân loại nghề một cách tương đối đầy đủ và khoa học, chúng ta có thể xem xét một
số khái niệm công cụ mở đầu như : nghề nghiệp và việc làm
2 Nghề nghiệp
Trang 13Nghề nghiệp theo chữ La tinh Professio có nghĩa là công việc chuyên môn được hình thành một cách chính
thống, là dạng lao động đòi hỏi một trình độ học vấn nào
đó, là cơ sở hoạt động cơ bản giúp con người tồn tại
Theo tác giả E.A.Klimov thì : "Nghề nghiệp là một lĩnh vực sử dụng sức lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới hạn, cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động xã hội mà có), nó tạo cho con người khả năng sử dụng lao động của mình để thu lấy những phương tiện cắn thiết cho việc tớn tại và phát triển (2) Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm nghề là "công việc chuyên làm theo sự phân công lao động của xã hội" (10, tr 670) Từ một số khái niệm nêu trên, chúng ta có thể hiểu nghề nghiệp như một dạng lao động vừa mang tính xã hội (sự phân công xã hội), vừa mang tính cá nhân (nhu cầu bản thân), trong đố con người với tư cách là chủ thể hoạt động đòi hỏi để thỏa mãn những nhu cầu nhất định của xã hội và
cá nhân Như vậy nới tới nghề nghiệp trước hết phải nói tới
những khách quan do xã hội đặt ra : khi xã hội chưa có những đòi hỏi phải trồng trọt và chăn nuôi thi chưa có cái gọi là nghề trồng trọt và chăn nuôi Nhưng bản thân nhu cầu về trồng trọt và chăn nuôi của xã hội khi không thỏa mãn những đòi hỏi kiếm sống của mỗi cá nhân thi những dạng lao động trên chỉ được coi như là đối tượng trong sự tìm kiếm chứ chưa thể là nghề của cá nhân đó
Bất cứ nghề nghiệp nào cũng hàm chứa trong nô một
hệ thống giá trị : tri thức nghề, kỹ năng, kỹ xảo nghề, truyền thống nghề, hiệu quả do nghề mang lại Những giá trị này có thể được hình thành theo con đường tự phát (tức
là do tích lũy kinh nghiệm trong quá trình sống với cộng đồng mà có) hoặc theo con đường tự giác (do được đào tạo
trong các cơ sở trường, lớp dài hạn hay ngắn hạn)
Trang 14Hoạt động trong bất kỳ nghề nghiệp nào, mỗi cá nhân phải tiều tốn một số lượng vật chất (thể xác) và tinh thần (trí tuệ) nhất định Cá nhân sống bằng nghề nào thì lượng tiêu háo về thể xác và tinh thần của mỗi người đó cho dạng lao động này là lớn nhất Chính vì thế, nghề được coi như đối tượng hoạt động cơ bản, chí ít cũng là trong một giai đoạn nào đó của đời sống cá nhân, và trong đa số các trường hợp, nó gắn bó với cả cuộc đời con người, hoặc giả còn truyền từ đời này sang đời khác Nghề luôn luôn là cơ
sở giúp cho con người có nghiệp (việc làm) và từ đó tạo ra sản phẩm thỏa mãn nhu cầu cá nhân cũng như nhu cầu xã hội Còn nếu như chỉ có nghệ mà không có nghiệp, đó là sự thất nghiệp Bất cứ việc làm nào cũng gần với một nghề cụ thể (hoặc một chuyên môn cụ thể), song không thể đóng nghìn việc làm với với nghề Việc làm là một hoạt động cụ thể nhằm biến đổi đối tượng phục vụ cho lợi ích của bản thân Như vậy, việc làm có thể có cơ sở từ nghề được đào tạo và cũng có thể là những công việc nhất thời đáp ứng kế sinh nhai của chủ thể
Đôi khi người ta nhầm lẫn giữa nghề nghiệp với việc làm cũng xuất phát từ quan niệm về những kỹ năng của một hoặc nhiêu nghề được cá nhân sử dụng trong quá trình lao động Nếu việc làm diễn ra trong một thời gian dài, có
cơ sở từ nghề được đào tạo có thu nhập ổn định, trong quá trình lao động cá nhân thường xuyên sử dụng một hệ thống tri thức và các kỹ năng được huấn luyện (tay nghề) khi đó
cá nhân không chỉ có nghề mà có cả nghiệp
Nói tóm gọn, nghề nghiệp là một dạng lao động đòi
hỏi ở con người một quá trình đào tạo \chuyên biệt, có những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nhất đính Nhờ quá trình hoạt động nghề nghiệp, con người có thể tạo
ra săn phẩm thỏa mãn những nhu cầu của cá nhân và xã
Trang 15hội
Ví dụ như nghề tiện là một dạng hoạt động gắn liền với quá tình gia công kim loại trên máy tiện và đòi hỏi nhiều kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo lao động riêng Người thợ tiện phải biết cấu tạo của công cụ cắt gọi, biết tính chất và các phương thức gia công nguyên liệu trên máy Người thợ tiện đồng thời phải biết điều kiện (vận hành) một số máy tiện cơ bản, bảo dưỡng máy, mài lưỡi dao tiện, đọc các bản
vẽ cũng như nhận biết các tài liệu công nghệ
Nghề nghiệp cũng được xuất hiện dưới ảnh hưởng của
sự phân công lao động xã hội Những nghề đầu tiên xuất hiện vào giai đoạn nảy sinh chế độ công xã nguyên thủy : săn bán, hái lượm Sự phân công lao động diễn ra trong giai đoạn này mang tính tự phát, nhằm bảo tồn cuộc sống Với
Bự phát triển của sức sản xuất, bóng quá trình hoàn thiện công cụ lao động, một số bộ lạc chuyển từ hình thức hái lượm trước đây sang trồng trọt, còn một số bộ lạc khác từ săn bắn chuyển sang chăn nuôi Chính việc phân chia này làm nảy sinh những nghề đấu tiên đó là chăn nuôi và trồng trọt Người ta gọi đó cuộc đại phân công lẩn thứ nhất Cuộc
đại phân công lần thứ hai tách lao động thủ công khỏi lĩnh
vực trồng trọt Kết quả của cuộc đại phân công lẩn này là
sự ra đời của hàng loạt nghề mới : rèn, mộc, đổ gốm, thuộc
da, dệt vải, may mặc Theo đà phát triển của sản xuất, công cụ ngày một hoàn thiện, máy móc xuất hiện dẫn tới sự biến đổi từ phương thức sản Xuất thủ công đơn chiếc sang đại công trường thủ công sản xuất theo dây truyền và rồi tiến lên cơ giới hóa, điện khí hóa, tự động hóa Kèm theo
sự biến đổi này là quá trình xuất hiện của hàng nghìn nghề mới trong danh mục các nghề nghiệp có trong xã hội
Ngày nay, gắn liền với nhịp điệu phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ t.luật, thường xuyên diễn ra quá
Trang 16trình biến mất của một số nghề và xuất hiện một số nghề khác
Ví dụ, trong công nghiệp khai thác than và quặng mỏ, các nghệ cuốc lò thủ công, chuyên chở than và quặng bằng mang vác đã bị xóa bỏ, đồng thời có những nghề mới xuất
hiện như thợ lái máy liên hợp khai thác mỏ, thợ tải băng truyền, thợ khoan lò Mặc khác, từ hàng loạt những nghề
cũ lại có sự phân nhánh thành những nghề mới tương ứng với quá trình công nghiệp hiện đại Chẳng hạn bên cạnh nghề quét sơn thủ công lại có thợ sơn bóng và sơn phủ bằng máy ; bên cạnh thợ giặt là thủ công lại có những người thợ là bằng máy nén hơi hay máy cán ép
số nghề như ta thấy, hiện nay lên tới hàng chục nghìn, vậy thì sự khác nhau giữa các nghề là ở chỗ nào ? có nhiều cách phân loại nghề và mỗi cách như chúng tôi trình bày dưới đây chỉ thâu tóm được những đặc trưng cơ bản nhất của nghề theo một bình diện nào đó Tuy nhiên, trên cơ sở của sự phân loại, nó cho phép chúng ta phân biệt được giữa các nghề (hay nhóm nghề) theo dấu hiệu bản chất chưa nghề (hay nhóm nghề) đó với các nghề (hay nhóm nghề) khác
Ví dụ đối với người làm vườn thì đối tượng lao động
là cây trồng và những hiện tượng sinh học có liên quan ; đối tượng của người bác sĩ là người bệnh và những hiện
Trang 17tượng bệnh lý sinh lý người
Trong đối tượng lao động, chúng ta cần đặc biệt lưu ý tới nguyên liệu có trong đối tượng Chẳng hạn, người thợ nguội có quan hệ đối tượng thông qua việc tiếp xúc với các nguyên liệu như kim loại, hợp kim
Căn cứ trên đối tượng lao động, các nghề được phân thành các dạng :
- Nghề có đối tượng là thiên nhiên (trồng trọt, chăn nuôi ) ;
- Nghề có đối tượng là con người (dạy học, chữa bệnh
; Nghề có đối tượng là các dấu hiệu (đánh máy chữ, sắp chữ in, kế toán ) ;
Nghề có đối tượng chụp ảnh, soạn nhạc viết văn !
- Nghề có mục đích nhận thức (điều tra các vụ án, thanh tra ) ;
- Nghề có mục đích tìm tòi sáng tạo (nghiên cứu khoa học, sáng tác lai tạo giống mới )
3 Công cụ và phương tiện tao động
Công cụ và phương tiện lao động không chỉ bao gồm
Trang 18những dụng cụ, thiết bị máy gia công nhằm biến đổi đối tượng lao động mà còn bao gồm cả những phương tiện giúp cho quá trình nhận thức của con người đạt được kết quả dễ dàng, giảm nhẹ sức lực căng thẳng về bắp thịt và thần kinh
ở mức tối đa Công cụ lao động có thể là thủ công hay máy móc Để sử dụng các công cụ và phương tiện lao động, con người phải có kiến thức, kỹ năng và kỹ xảo tương ứng, phải
có ý thức cải tiến và hoàn thiện công cụ lao động, song như vậy không có nghĩa là tất cả các phương tiện và công cụ thủ công đá bị loại bỏ Các công việc như tháo lắp, sử chữa, điều chỉnh các công cụ và phương tiện lao động cần đến
"bàn tay vàng" của lao động thủ công Kỹ thuật càng phức tạp thỉ giá trị sáng tạo, hoạt động trí lực của con người càng
được phát huy cao độ, tay nghề về mọi phương diện của
người thợ càng phải tính thông
Căn cứ vào công cụ lao động, người ta chia các nghề thành 4 dạng :
- Lao động chân tay (sửa chữa xe đạp, thợ thủ công truyền thống ) ;
- Lao động bên máy (tiện, phay, bào ) ;
- Lao động bên máy tự động (thợ máy tính điện tử, thợ điều khiển các trạm máy tự động ) ;
- Lao động bằng công cụ đặc biệt là ngôn ngữ (dạy
học, ca hát, phát thanh viên )
4 Điều kiện lao động
Đó là hoàn cảnh xung quanh (con người và tự nhiên)
mà trong đó công việc lao động của con người diễn ra Trong tất cả những điều kiện lao động thì các điều kiện xã hội, khí hậu và vệ sinh môi trường được đặc biệt lưu ý Dựa trẽn điều kiện lao động, người ta chia nghề thành 4 dạng :
Trang 19- Nghề có môi trường đạo đức - chính trị (tòa án, chính trị) ;
- Nghề có môi trường vật lý đặc biệt (du hành vũ trụ, thợ hầm lò, thợ lặn ) ;
- Nghề làm trong điều kiện không gian bình thường (kế toán, thư viện ) ;
- Nghề làm trong không gian khoáng đạt (trong rừng,
chăn nuôi trên đồng cỏ )
Trong mỗi nghề, mặc dù có khác nhau về 4 dấu hiệu trên đây nhưng đều được bao gồm 3 dạng công việc thành phần sau :
Công việc cơ bản : diễn ra trong một thời gian dài và
để thực hiện công việc, con người cần được đào tạo đặc biệt ;
- Công việc hỗ trợ, giúp cho công việc cơ bạn tiến hành thuận lợi (điều chỉnh, gá lắp ) ;
- Công việc chuẩn bị và kết thúc (chuẩn bị đó nghề và chỗ làm việc, lau chùi máy móc, bảo quản bán thành phẩm )
2.2 Cách phân loại thứ hai
Thao tác này người ta phân loại nghề theo đối tượng lao động và thao tác lao động
Cách phân loại thứ hai này khác cách phân loại thứ nhất ở chỗ người ta đã thay thế dấu hiệu "mục đích lao động" bằng dấu hiệu "thao tác lao động cơ bản" Với cách phân loại thứ hai, các nghệ được nhóm họp theo những dạng sản xuất (đơn rất tổ hợp, phổ biến) hay là những loại sản xuất (tổng hợp, chuyên ngành hẹp và chuyên ngành rộng) Dưới đây chúng ta điểm quà vài nết về những dạng sản xuất đó
Trang 203 Nghề chuyên ngành hẹp
Đó là những nghề chỉ đòi hỏi một nhóm thao tác nhỏ nhất định trong toàn bộ quy trình làm ra sản phẩm (ví dụ : thợ đóng gạch trong sản xuất gạch, thợ đốt lò trong nghề lái tàu hỏa )
Cũng với cách phân loại thứ hai, các nghề còn được phân chia theo các dạng công cụ lao động, hoặc là theo các thuộc
tính của các lĩnh vực sản xuất trong nền kinh tế quốc dân (ví dụ các nghề trong công nghiệp dệt, công nghiệp thực phẩm, hoặc là các nghề trong một tổ hợp các lĩnh vực như thợ nguội, sửa chữa điện , thường cố mặt trong
nhiều linh vực của nền kinh tế quốc dân)
3 Hệ thống hướng nghiệp và cấu trúc của hệ thống
3.1 Tiếp cận hệ thống trong khi xây dựng hệ thống hướng nghiệp
Trong ba thập niên trở lại đây, tiếp cận hệ thống trong nghiên cứu khoa học được nhiều tác giả coi như quan điểm
cơ bản có tính phương pháp' luận cơ bản (5)
Quan điểm tiếp cận hệ thống giúp chúng ta khả năng
Trang 21xem xét toàn diện các hiện tượng nghiên cứu, phát hiện các cấu trúc và sự phát triển trong mối liên hệ giữa các thành phần cấu trúc của hệ thống Chính vì lẽ đó, tiếp cận hệ thống không chỉ cho ta biết những dấu hiệu bên ngoài mà
cả những dấu hiệu bản chất bên trong của hiện tượng cần nghiên cứu Với ưu thế như vậy, quan điểm tiếp cận hệ thống đã được vận dụng vào việc nghiên cứu các linh vực của hoa học tự nhiên cũng như những lĩnh vực khác nhau của khoa học xã hội, trong đó có vấn để hướng nghiệp
- Hướng nghiệp xét dưới tư cách là một hệ thống giáo
dục xã hội, mặc dù mang tính độc lập tương đối về mặt lý luận, song nó được hình thành ở gianh giới của các khoa học : giáo dục học, tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, triết học và y tế học Dựa trên quan điểm tiếp cận hệ thống, chúng ta sẽ nhìn nhận hướng nghiệp trong mối quan hệ hữu
cơ giữa nó (hệ thống hướng nghiệp) với giáo dục học (hướng nghiệp trong quá trình giáo dục), với tâm lý học (phát hiện, bồi dưỡng và điều chỉnh nhu cầu, hứng thú và năng lực nghề nghiệp của thanh thiếu niên), với kinh tế học (hiệu quả kinh tế của công tác hướng nghiệp), xã hội học (điều chinh, phân lượng nguồn lao động dự trữ của đất nước), y học (xem xét và điều chỉnh năng lực thích ứng của
cá nhân với nhu cầu đòi hỏi về mặt sinh học của nghề nghiệp) và triết học (sự phát triển biện chứng về nhận thức nghề của tuổi trẻ với các quy luật tồn tại khách quan của xã
hội) v.v với quan điểm tiếp cận hệ thống, vấn đề xây dựng
lý luận hướng nghiệp và tổ chức công tác hướng nghiệp phải được xem xét toàn diện từ mục đích chung, mục đích riêng của một thành phần chức năng và cấu trúc của toàn hệ thống, nội dung và hình thức tổ chức các hoạt động hướng nghiệp dưới đây, chúng ta sẽ xem xét những vần để cơ bản nhất có trong hệ thống hướng nghiệp
Trang 22Nói tới công tác hướng nghiệp là nói tới uá triìndẫn
dắt sự phát triển nhân cách chia từng con nghẹườiheo những mô hạnìnnhân cách nghề nghiệp 'c thể Trên đểthếiới
cố óàng nghìn nghé,ềbao gớmồhàng chục nghìn chuyên mở ônhác nhau Những nghệ ềhác nhau về nội dung, hình thức, tính chất điều kiện lao động Nhân cách con nóngườiao giờ cũng là một chỉnh thể với một cấu trúc tâm ~ lýác định Sự phát triển nhân cách một cách toàn diện, hiểu theo một ý nghĩa nào đó, là phát triển các mặt khác nhau của nhân cách Môi nhân cách có thể ' bao gồm 4 cấu trúc nhỏ là xu hướng ; kinh nghiệm ; đặc điểm của các quả trình phân ánh tâm lý ; đặc điểm về khí chất giới tính, qua tuổi và bệnh lý
Sự phù hợp của một con người cụ thể bao giờ cũng thể hiện sự phù hợp, đồng bộ những đặc điểm trong cơ 4 cấu trúc nói trên của nhân cách với yêu cầu của một nghề nào
đó Tuy nhiên cần phải thấy rằng không phải bao giờ cũng
có Bự phù hợp giữa những cấu trúc này của cá nhân với nhu cầu xã hội Giữa chúng ta có thể diễn ra xung đột tạm thời và bản thân mới thành phần của mối quan hệ luôn luôn
có sự biến đối, phát triển dưới tác động của cách mạng xã hội, của giáo dục cũng như sự rèn luyện của bạn thân Như vậy, công tác hướng nghiệp không chỉ dựa vào sự phù hợp ngẫu nhiên giữa các cấu tác nhân cách và nhu cẩu xã hội (trong đó có nhu cầu nghề nghiệp) mà điều quan trọng hơn
là phải tạo ra được sự phù hợp nghề trên cơ sở giáo dục và dạy học, mở ra các khả năng sử dụng hợp lý nguồn lao động của đất nước Chính vì thế công tác hướng nghiệp phải được tiến hành liên tục và lâu dài Tùy thuộc và đặc trưng của từng giai đoạn phát triển cá nhân mà trong cả tiến trình lâu dài, liên tục này công tác hướng nghiệp bao hàm trong đó những nội dung, biện pháp tiến hành khác nhau nhằm đạt tới những mức độ xác định Dựa trên cách hiểu như vậy , căn cứ trên những giai đoạn phát triển của cá
Trang 23nhân, ta có thể đề cập tới một số thành phấn chủ yếu tạo nên cấu trúc của khái niệm hướng nghiệp như sau
3.2 Giới thiệu và tuyên truyền nghề
Đây là nội dung nhằm giúp cho học sinh quen biết với một số lượng nghề nhất đỉnh, tiêu biểu cho những linh vực quan trọng nhất của hển kinh tế quốc dân và của địa phương trong giai đoạn hiện nay Nội dung của giới thiệu
và tuyên truyền không dừng lần ở hình thúc bẽn ngoài của nghề nghiệp mà phải mang lại cho học sinh những hiểu biết đặc trưng cơ bàn và những yêu cầu của nghề đối với con người Giới thiệu và tuyên uyển nghe còn có mục đích giáo dục cho học sinh ý thức và hứng thú đối với lao động xã hội nói chung và đối với một nghề, một lĩnh vực nói riêng
1 Góp ý nghề (hoặc tư vấn nghề)
Để có thể giúp cho học sinh lựa chọn nghề một cách hợp lý khoa học, cần thiết phải làm cho các em hiểu rõ những đặc điểm khách quan và chủ quan mà nghề nghiệp đòi hỏi
Có liên quan tới những điều kiện khách quan đó là nhu cầu phân bố lực lượng lao động dữ trữ của xã hội, của từng địa phương theo từng lĩnh vực kinh tế ; đó là những đòi hỏi của bạn thân nghề nghiệp đình lựa chọn đối với cá nhân
Còn những điều kiện chủ quan phải kể tới sở thích, khuynh hướng, năng lực đối với một dạng lao động, một nghề nào đó, đồng thời đó cũng là tình trạng sức khỏe, đặc điểm giới tính
Do đó, khi tiến hành công tác hướng nghiệp, nhất thiết phải nghiên cứu một cách cố hệ thống tất cả nhưng điều kiện khách quan và chủ quan trên để cố thể chỉ cho từng học sinh thấy rõ những cơ sở khoa học và hợp lý khi
Trang 24chọn lựa nghề Như vây góp ý nghề là hệ thống các biện pháp y học, tâm lý sư phạm, nhằm phát triển chèn đoán và đánh giá sự phắt triển chủ quan, khách quan của con người
và môi trường hoạt động của con người, nhằm giúp cho thế
hệ trẻ có cơ sở khoa học Góp ý nghề là chỗ dựa của học sinh, cho gia đình các em và các cơ quan tuyển chọn làm tốt công tác hướng nghiệp
2 Tuyển chọn nghề
Là xác đính sự phù hợp hay không phù hợp của con người đối với một lĩnh vực lao động, một nghề hay một chuyên môn nào đố Trong quá trình tuyển chọn, con người trở thành đối tượng xem xét của các cán bộ chuyên môn theo các chỉ tiều cần thiết về y học, trình độ học vấn, giáo dục, giới tính và những chỉ tiêu khác
3 Thích ứng nghề
Đây là nội dung nằm trong giai đoạn cuối cùng và cũng là giai đoạn cuối cùng của công tác hướng nghiệp Thích ứng nghề là quá trinh đưa dấn con người vào lao động nghề nghiệp, là thời kỳ chuyển thanh niên sang hình thái cán bộ hoặc công nhân có tay nghề Sự chuyển biến này diễn ra ở các mặt phát triển của cá nhân (thể lực, tâm lý, tay nghề, kinh nghiệm sống, đạo đức ) Toàn bộ quả trình thích ứng nghề được diễn ra theo thứ tự ứng với
các mức độ Bầu : - Thích ứng với môi trường dạy nghề
(thích ứng ban đầu) Ở mức độ này, ở học sinh xuất hiện sự
tự đánh giá để xem xét quyết đỉnh học nghề của mình có đúng hay không, trên cơ sở đó mà hình thành thái độ han đầu với nghề, với các hoạt động học tập, sinh hoá và sản xuất của một trường nghề Cũng trong giai đoạn này, học sinh tự tìm cho mình sức hấp dẫn của nghề nghiệp, thử so sánh giữa ước mơ cũ và hiện thức để xây dựng niêm tin
Trang 25Do tính chất mới mẻ này của sự phát triển tâm lý sức hấp dẫn của nghề nghiệp phụ thuộc không nhỏ vào cách cư xử ban đầu của cơ sở đào tạo nghề nghiệp hoặc là gây cho các
em những ấn tượng tốt đẹp, giúp các em có được một thích ứng thuận chiều theo môi trường mới, hoặc là phá vỡ hy vọng và niềm tin, buộc các em phải tìm tới một sự thích ứng mới
- Nắm vững nghề Việc nắm vững nghề được thực
hiện thông qua quá trình tiếp xúc với các môn văn hóa kỹ thuật cơ sở, chuyên môn và thực hành sản xuất Mức độ thích ứng này diễn ra lâu dài và chiếm một vai trò to lớn, ấn tượng về nghề được biểu lộ cụ thể bằng kết quả học tập, thử thách tay nghề Chính kết quả cụ thể gây tác động trực tiếp đến sự bồi đắp hay hao mòn lý tưởng nghề nghiệp
- Nắm vững tay nghề trong môi trường sản xuất Đây
là giai đoạn thử thách thực sự để có thể trở thành người sản' xuất thực thụ Từ thực tiễn sản xuất và thông qua mối quan
hệ qua lại giữa học sinh với cán bộ, công nhân làm việc tại
cơ sở sản xuất, các em tự đặt mình vào khuôn khổ, nỗ lực
về tay nghề, ảnh hưởng đậm nét về phẩm chất đạo đức nghề nghiệp của những người thợ xung quanh Chính mối quan hệ phức tạp này làm cho quá trình thích ứng trở nên lý thú nhưng cũng không kém phần rắc rối, nó có thể gây nên những biến đổi rõ rệt về lý tưởng nghề nghiệp
Cả ba mức độ thích ứng chúng ta vừa xét có quan hệ mật thiết với nhau, kết tiếp nhau, tạo thành một quá trình thích ứng hoàn chỉnh tác động vào giai đoạn cuối cùng trong công tác hướng nghiệp
Trường phổ thông chúng ta đang dần từng bước chuyển sang thành trường thống nhất, phổ thông, lao động,
kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp và có phần dạy một số nghề đơn giản, truyền thống của địa phương Chính vì vậy
Trang 26nội dung khái niệm hướng nghiệp sẽ được triển khai nhiều nhất ở nhà trường phổ thông
là vấn đề tuyên truyền, giới thiệu nghề, góp phần đắc lực vào công tác tuyển chọn Ở những mức độ xác định, cũng cần tạo ra những điều lượn cần thiết và có thể được để họe sinh bước đầu tập thích ứng với một số nghề nghiệp phổ biến nhất trong nền kinh tế quốc dân và nghề truyền thống địa phương
Hướng nghiệp trong trường phổ thông là một khâu của công tác hướng nghiệp toàn xã hội, nó giúp cho thế hệ trẻ có ý thức đúng đắn về nghề nghiệp và lựa chọn nghề Mặc dù nhiệm vụ chủ yếu của trường phổ thông không phải
là sự đào tạo nghề cho học sinh, nhưng trong điều kiện cho phép, một mặt nó tiến hành định hướng nghề, tư vấn nghề, góp phần vào công tác tuyển chọn nghề và mặt khác nó đàm bảo ở mức độ cần thiết về tay nghệ cho học sinh để giảm nhẹ gánh nặng cho mức độ thích ứng trong trường cũng như trong thực tế sản xuất
Ngoài những thành phần nêu trên trong cấu trúc của hướng nghiệp, chúng ta sẽ đề cập một cách chi tiết tới một thành phần cơ bản của cấu trúc là : lựa chọn nghề ở những phần sau
3.3 Một số nét về công tác hướng nghiệp trong trường nghề
Trong các trường chuyên nghiệp, việc làm cho học sinh thích ứng với nghề, trước hết là với những điều kiện mới mẻ của trường học nghề là một nội dung đặt ra trong công tác hướng nghiệp Có một số người cho rằng công tác hướng nghiệp chỉ đặt ra đối với học sinh cuối cấp và kết thúc ở bậc phổ thông, đố là một Bự hiểu lấm đối với tính liên tục và lâu dài của công tác hướng nghiệp Xét thực tế,
Trang 27không phải tất cả học sinh phổ thông thi đỗ vào trường chuyên nghiệp đều yêu thích nghề và nghệ đó phù hợp với ước vọng của bản thân Rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề và đôi khi, có những lý do ngẫu nhiên dẫn
họ vào nghề nghiệp Những lý do ngẫu nhiên này là một cản trở trong quá trình học nghề của học sinh chuyên nghiệp Thêm vào đó, việc nhập học của một số học sinh chuyên nghiệp hiện nay có những động cơ rất khác biệt, cố khi không phải do động cơ muốn tiếp tục nhận được một trình độ học vấn cao hơn, không phải do ý thức trách nhiệm của bản thân đối với nhu cầu trong lỉnh vực hoạt động đó của xã hội mà lại được đặt lên trước tiên là động cơ "chỉ cần có một nghề" hoặc "miễn là vào được đại học" Đối với những học sinh như vậy, họ thấy không cần thiết phải tìm hiểu xem đó là nghề nào, hay dở ra sao Ngược lại, một số học sinh có được động cơ đúng đắn khi vào học, nhưng do quá trình học tập, học sinh đó chưa đạt được những kết quả
mà yêu cầu nghề nghiệp đòi hỏi và điều này cũng dẫn tới
Bự ngả nghiêng đối với nghề nghiệp Do vậy, khi học sinh phổ thông đã bước vào trường nghề, công tác hướng nghiệp vẫn còn phải tiếp tục để bồi dưỡng (và thậm chí bắt đấu hình thành) hứng thú nghề nghiệp, thay đổi những động cơ lựa chọn nghề sai trái không Phù hợp với nhiệm vụ và nghề nghiệp đó đào tạo Mặt khác công tác hướng nghiệp trong trường nghề còn có nhiệm vụ nâng cao mức độ phù hợp (nếu có) giữa những đặc điểm có sản trong con người của học sinh như : chí hướng, năng lực, lý tưởng nghề nghiệp với nhu cầu đòi hỏi nghề nghiệp
Khi xét nhiệm vụ hướng nghiệp của nhà trường phổ thông, người ta chỉ đặt ra việc hình thành mức độ tay nghề ban đấu, phổ biến và đơn giàn nhất Song các trường chuyên nghiệp, vấn đề rèn luyện tay nghề tinh thông là
Trang 28công việc bắt buộc Ví dụ, những kỹ năng và kỹ xảo nghề
mà học sinh chuyên nghiệp học tập phải được giữ gìn và sử dụng một cách thành thạo trong lĩnh vực hoạt động xác định Tổng số những kỹ năng và kỹ xảo có được trong quá trình học tập ở trường chuyên nghiệp tạo nên cơ sở của tay nghề (bậc thợ) trong chuyên môn, giúp cho người thợ (công nhân, nông dân, bác sỹ, kỹ sư ) đi sâu hơn vào nghề nghiệp, đáp ứng ngày càng cao những đặc điểm của nghề đòi hỏi
Công tác hướng nghiệp trong trường nghề khẳng định trên thực tế kết quả về sự phù hợp hay không phù hợp giữa quá trình phát triển của bản thân với nhu cầu đòi hỏi của nghề nghiệp Nếu ta coi nhân cách nghề nghiệp là một cấu trúc động, luôn biến đổi thi trường nghề là môi trường thuận lợi cho cấu trúc này phát triển đồng bộ theo dự tính chỉ quy trình đào tạo nghề nghiệp (mục tiêu đào tạo của trường chuyên nghiệp) Vì thế, nếu mô hình chủ yếu của công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông là "con người - nghề nghiệp", khẳng định tính chủ thể của cá nhân khi lựa chọn nghề, thi mô hình của các trường chuyên nghiệp trong vấn đề này là "nghề nghiệp - con người", quy định tính khách thể của việc học nghề đối với học sinh Tính khách thể của học sinh các trường chuyên nghiệp trong mô hình "nghề nghiệp - con người", nói rõ rằng với
họ, vấn đề cơ bản là lựa chọn phương tiện và cách thức để đạt được một mức độ nào đó của nghề nghiệp
Từ sự phân tích trên, ta có thể đi tới một nhận xét cơ bản là : Trường nghề sẽ là môi trường thuận lợi hơn cả đối với quá trình hình thành, cải biến và phát triển các phẩm chất nghề nghiệp (hứng thú, động cơ, phẩm chất đạo đức,
ty tưởng nghề nghiệp, tay nghề ), là giai đoạn tiếp tục của
sự hoàn thiện ở mức độ cao trong công tác hướng nghiệp
Trang 29Nó là một bộ phận gắn bó hữu cơ với quá trình thực hiện công tác hướng nghiệp ở nhà trường phổ thông
4 Lựa chọn nghề và cấu trúc của nó
Như ta thấy, lựa chọn nghề là một quá trình lâu đài và phức tạp, nó được biểu hiện ở những mức độ khác nhau ngay trong những lớp đầu của trường phổ thông cơ sở, được tiếp tục phát triển và hoàn thiện dần ở những lớp sau
và nhất là ở lớp cuối cấp phổ thông trung học, trong các trường lớp dạy nghề ; nó được tạm coi là kết thúc khi con người đã có những khả năng lao động nghề nghiệp độc lập (ta nói "tạm coi là kết thúc vì cũng có thể xảy ra những biến động trong quá trinh công tác thay đổi vị trí công tác, chuyển nghề lúc đó con người lại cần có một thời gian nhất định để thích ứng với nghề nghiệp và hoàn cảnh mới) Trong quá trình tồn tại và phát triển, giai đoạn lựa chọn nghề được coi là một bộ phận, một mắt xích trong cấu trúc đời sống con người Khi xác định cho mình một hướng
đi, một vị trí hoạt động trong đời sống xã hội, chính là lúc con người lựa chọn nghê Quá trình lựa chọn như ta thường thấy, không phải là chốc lát, không diễn ra một lần mà nảy sinh trong những mối quan hệ phức tạp "tôi và nghề nghiệp", "tôi và gia đình", "tôi và chức vụ" Điều đó có nghĩa là lựa chọn nghề được đặt trong một hệ thống các mối quan hệ giữa chủ thể (người lựa chọn) và những điều kiện khách quan có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đối với nghề nghiệp Hiểu rô đặc điểm này, công tác hướng nghiệp cần thiết phải tạo được hiệu quả tối ưu giữa các mối quan hệ của hệ thống, giải quyết có hiệu quả sự sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các mối quan hệ phù hợp với cải vốn có của chủ thể và nhu cầu xã hội Xuất phát từ những quan hệ này khái niệm hướng nghiệp (bao gồm trong nổ việc lựa
Trang 30chọn nghề, tuyển chọn nghề ) được luận giải theo mốt nghĩa rộng hơn Hướng nghiệp theo lãnh thổ, theo cương vị
và hơn thế nữa theo một tư tưởng xác định của mỗi cá nhân Nếu như xem xét lựa chọn nghề tách khỏi các dạng lựa chọn (các mối quan hệ) trong đặc trưng của cuộc sống con người thì sẽ dẫn tới sự hạn chế kết quả thực tế của các biện pháp hướng nghiệp, giới hạn khả năng điều khiển quá trình tái sản xuất đội ngũ cán bộ trong nước
Đề cập tới quan hệ lôgíc của cá nhân khi lựa chọn nghề, người ta thấy rằng nó được sắp đặt theo một cấu trúc phản ánh trình tự cấp thiết phải giải quyết các mối quan hệ
mà con người đặt ra Trình tự sắp xếp các mối quan hệ đi từ vấn đề có ý nghĩa nhất đối với cá nhân trong hiện tại (hoặc trong tương lai) Trong khi lựa chọn nghề, ở mỗi cá nhân
có thể có những cách biểu hiện các mối quan hệ đặc trưng cho một kiểu cấu trúc sau
4.1 Các mối quan hệ tách rời nhau, kế tiếp nhau, xuất hiện theo thời gian
Khi đó mối quan hệ cấp thiết thứ nhất được giải quyết thoả đáng thì đồng thời xuất hiện dạng cấp thiết thứ hai và
cứ như vậy các mối quan hệ theo thứ bậc kế tiếp nhau
thành một chuỗi (Sơ đồ 1 )
Trang 31Trên sơ đồ 1 cho ta một ví dụ về cấu trúc kiểu tách rời trong lựa chọn nghề theo thứ tự ưu tiên về tính cấp thiết đối với một cá nhân Đối với mỗi người, vị trí của các thành phần trong cấu trúc (có đánh số) có thể là khác nhau chứ không nhất thiết phải tuân theo một thứ tự xác định Chẳng hạn, kết quả nghiên cứu của tổ tâm lý giáo dục trong các năm học 92-
93 và 93-94 trên 2.400 học sinh cuối cấp phổ thông trung học của một số tỉnh phía Bắc cho ta thấy các thành phần trong cấu trúc này sắp xếp theo 3 dạng sau (Sơ đồ 2) ở vùng thành phố
Trong kiểu cấu trúc này người ta có thể phân loại 2 dạng:
- Dạng phổ biến : Phản ánh tính tức thời của việc lựa chọn nghề, các yếu tố tham gia vào quá trình lựa chọn thay đổi hàng tháng, hàng năm
- Dạng chuẩn tắc : Phàn ánh mối quan hệ bền vững và trình tự cấu trúc tương đối ổn định trong con người, các yếu tố
Trang 32tham gia vào quá trình lựa chọn nghề xuất hiện như một khuôn mẫu, tồn tại trong suốt tiến trình lâu dài, có khi diễn ra trong toàn hộ cuộc sống
4.2 Các mối quan hệ giao nhau, xen kẽ vào nhau
Khác với cấu trúc kiểu tách rời, khi các mối quan hệ xuất hiện với một số lượng nào đó trong cùng một thời điểm,
ta có cấu trúc theo kiểu giao nhau Cấu trúc này hàm xúc, phức tạp và biểu hiện sự xung đột giữa các thành phần (các mối quan hệ) tham gia vào quá trình lựa chọn nhiều hơn
Trên sơ đồ 3 phản ánh một cấu trúc theo kiểu giao nhau Mỗi ô vuông biểu thị cho một quan hệ Các chữ số biểu thị thứ tự về tính cấp thiết của việc giải quyết các mối quan
hệ Nhìn vào sơ đồ ta thấy : ở vị trí cấp thiết số 1 có 2 mối
quan hệ cùng xuất hiện (A, B) ; ở vị trí cấp thiết số 3 có ít nhất
3 mối quan hệ cùng xuất hiện (C, D, D) ; ở vị trí cấp thiết số 4
có ít nhất 2 mối quan hệ cùng xuất hiện (Đ, C) Nếu sắp xếp
theo thứ tự, ta có (A, B), (B, C), (C, D, Đ), (E, Đ)
Sự hình thành cấu trúc theo kiểu nào trong lựa chọn nghề trước hết phụ thuộc vào tiềm năng có được của nhân cách : vốn tri thức, các mối quan hệ gián tiếp, phẩm chất đạo đức, năng lực và sau nữa là điều kiện vốn có của nhu cầu xã hội đối với nghề nghiệp (uy tín nghề, đặc trưng đòi hỏi của
Trang 33nghề ) Công tác hướng nghiệp là cái cầu nối đến giữa nhân cách và điều kiện khách quan (nghề nghiệp), nó có thể lăm cho thứ tự ưu tiên của cấu trúc kiểu tách rời trở nên hợp lý, giúp cho mỗi cá nhân khi lựa chọn nghề biết đặt mối quan hệ vào vị trí hợp lý nhất cho bản thân và xã hội, hoặc là nó giúp cho việc giảm bớt những xung đột giữa các mối quan hệ
Ngoài ra, trong khi phân tích và đánh giá các kiểu cấu trúc của sự lựa chọn nghê, cẩn lưu ý rằng một loại cấu trúc hiếm có một sự "trong sạch" tuyệt đối Cũng có thể chúng ta không loại trừ kiểu cấu trúc hôn hợp giữa kiểu tách rời theo giai đoạn và kiểu giao nhau, khi cá nhân vừa có sự quyết định
sơ bộ ngả về yếu tố này nhưng vẫn còn lại "vùng xung đột" chờ đợi sự đấu tranh động cơ mãnh hệt để giải quyết giữa những điêu kiện chủ quan với những đòi hỏi khách quan của nghề nghiệp và xã hội
Công tác hướng nghiệp sẽ góp phấn điều chỉnh quá trình lựa chọn nghề, nâng cao các mức độ điều khiển nó, tạo cho việc lựa chọn nghề có một cấu trúc cân đối và hợp lý nhất
II MỘT SỐ TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CỦA NHÀ NƯỚC VỀ CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP
Công tác hướng nghiệp cho học sinh trong trường phổ thông là một trong những vấn đề cổ tính chiến lược trước mắt
và lâu dài.: Phản ánh một trong những tính chất cơ bản của nhà
trường chúng ta Hướng nghiệp còn là biện pháp phân bố hợp lý nguồn lao động dự trữ của đất nước, vì thế Đảng và Nhà nước rất quan tâm tới vấn đề này Dưới đây chúng ta xem xét một số nét cơ bản về thực trạng sử dụng học sinh tốt nghiệp ra trường và tư tưởng của Đảng và Nhà nước đối với công tác hướng nghiệp
1 Một vài nét về việc sử dụng học sinh tốt nghiệp ra
Trang 34trường
Sử dụng một cách đúng đắn tiềm lực của thế hệ trẻ cả về thể chất và tinh thần là một nguyên tắc chỉ đạo của tổ chức lao động khoa học và là điều kiện cần thiết để đảm bảo nhịp điệu phát triển nhanh chóng của xã hội Giải quyết vấn đề này phải nhìn nhận về cả hai phương diện: một là làm sao giúp cho mỗi người có thể tìm thấy cho mình một lĩnh vực hoạt động phù hợp với nàng lực, sở trường của bản thân và hai là phải tạo ra những phương thức đào tạo đúng đắn, hợp lý nhằm thu hút thế
hệ trẻ theo nhu cầu lao động của nghề nghiệp xã hội Giải quyết những vấn đề đặt ra, có ý nghĩa lớn lao về kính tế, là công việc không chỉ của mỗi cá nhân, một đơn vị tập thể mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội Nó đòi hỏi một thời gian dài, có định hướng, có kết hoạch và hết sức khoa học Nhìn lại những năm qua, hàng năm ở nước ta có hàng triệu học sinh phổ thông tốt nghiệp ra trường, song như ta thấy có
sự mất cân đối nghiêm trọng giữa phát triển giáo dục phổ thông trung hóc đối với đào tạo nghề (tỷ lệ học sinh vào phổ thông trung học hàng năm khoảng 28-30%, trong khi đó học sinh vào trường nghề giảm từ 21,2% năm học 1977-1978 xuống còn 6,98% năm học 1980-1981) Có sự mất cân đối giữa đào tạo công nhân với đào tạo trung đại học Hiện nay ở
ta cứ 3 cán bộ đại học và trung học thì có 1 công nhân (năm 1977-1978) và giảm xuống còn 1/1 vào năm 1980-1981 Hàng năm, số lượng học sinh tốt nghiệp các cấp chưa được bố trí công ăn việc làm có tới nửa triệu, song như điều tra sơ
bộ của tổ tâm lý giáo dục trường ĐHSP Việt Bắc có trên 2.400 học sinh cuối cấp PTTH cho ta biết khoảng 93,7% có
dự tính và nguyện vòng lên đại học, 4,5% đi theo các hướng khác, chỉ cố 1,7% có nguyện vọng vào học nghệ (con sỗ của viện dạy nghề điều tra trên 2.000 học sinh vùng đồng bằng cho ta thấy : 89,3% thích đi học đại học ; 5,9% đi các hướng
Trang 35khác ; 4,7% có nguyện vọng học nghề)
Đồng chí Võ Nguyên Giáp đã nhận định : "Chúng ta chưa nhận thúc rõ tầm quan trọng của vấn đề này và những năm qua đã tiến hành công tác này chậm quá Vì thế hàng năm, mấy chục vạn học sinh phổ thông trung học ra trường chưa được chuẩn bị và cảm thấy bỡ ngỡ khi đi vào lao động sản xuất Thậm chí có nhiều người mới chỉ thấy có một con đường tiếp tục đi lên là : phổ thông cơ sở - phổ thông trung học - rồi vào đại học, không được như vậy thì cho rằng giáo dục không đáp ứng được nhu cầu xã hội
(Ví dụ : Trên mặt trận nông nghiệp - mặt trận yêu cầu số lượng tuổi trề đông đảo nhất, có sức khỏe trình độ văn hóa tại
là nơi thanh niên học sinh sau khi học xong phổ thông muốn
xa rời nhiều nhất Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong các năm học 1996-1997 và 1997-1998 tại 18 trường PTTH các tỉnh Bắc Thái, Cao Bằng, Hà Tuyên, Hà Bắc, Quảng Ninh trên
1547 học sinh lớp 12, chỉ 1,2% số học sinh có nguyện vọng được ở lại quê hương sản xuất Đây là một tỷ lệ rất thấp, phản ánh xu hướng muốn thoát ly nông nghiệp của thanh niên, mặc
dù chính trên mảnh đất quê hương ấn đã nuôi họ trưởng thành
từ 3-4 nghề)
Đó là chưa kể tới sự am hiểu tình hình phát triển kinh tế của ngay chính địa phương nơi trường đống
Trang 36Thi tuyển vào trường chuyên nghiệp bao giờ cũng là sự lựa chọn từ tống số lớn học sinh để thu nhận lấy một số lượng vừa đủ theo nhu cầu phát triển kinh tế Ở nước ta, trong phát triển tâm lý xã hội nói chung của các bậc cha mẹ, vẫn coi các kỳ thi tuyển chọn là mục đích duy nhất đối với sự đi lên của con em họ, chính trào lưu này đã tạo cho không khí thi cử hết sức căng thẳng Tỷ lệ số học sinh thi vào so với khả năng tuyển chọn chênh lệch nhau quá lớn, có khi là 1 chọi 100 mặc
dù học kém, không có cơ sở để tin là mình thi đỗ vẫn cứ tham gia bồi dưỡng, luyện thi cho con cái Đây không chỉ là sự chi phí khá lớn của nhà nước, mà đồng thời làm xuất hiện không
ít những hiện tượng tiêu cực trong và ngoài nhà trường vào các kỳ thi
Tình trạng trên đây của nhà trường phổ thông chúng ta dẫn tới đòi hỏi trước mắt phải làm Bao Cho hàng chục triệu học sinh ra trường hàng năm được định hướng về nghề nghiệp, được chuẩn bị về tư tưởng, về kỹ năng lao động có trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật cần thiết để hăng hái đi vào các lĩnh vực nghề nghiệp Không làm được điều đó, chúng ta không thể sử dụng hợp lý sức lao động của thế hệ trẻ, chưa gắn được trách nhiệm của người thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
2 Tìm hiểu các văn bản của Đảng và Nhà nước về công tác hướng nghiệp
Với tất cả những lý do tồn tại đã nêu trên, nhằm đảm bảo tốt việc thực hiện mục tiêu đào tạo, ngày 13/9/1981, chỉnh phủ
đã ra quyết đính 126/CP "Về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý học sinh các cấp phổ thông
cơ sở và phổ thông trung học tốt nghiệp ra trường" Để triển khai quyết định trên, ngày 17/11/1981 Bộ Giáo dục đã ra
Trang 37thông tư số 31/TT hướng dẫn việc thực hiện quyết định cho các cơ quan quản lý giáo dục, trường phổ thông các cấp và các cơ quan liên ngành Trên cơ sở của hai văn bản này, chúng ta sẽ đi sâu tìm hiểu mấy vấn đề cơ bản sau
2.1 Nội dung của các văn bàn
Các văn bản đã xác định công tác hướng nghiệp là một
bộ phận gắn bó hữu cơ với toàn bộ hoạt động giáo dục trong mọi cấp học, trong chương trình nội dung các môn học chính khóa và các hoạt động ngoại khóa, trong phương pháp chỉ đạo
tổ chức hoạt động giáo dục và dạy học của nhà trường phổ thông Đặc biệt công tác hướng nghiệp phải được tiến hành trên cơ sở nội dung giáo dục lao động - giáo dục kỹ thuật tổng hợp và tổ chức lao động sản xuất Cụ thể, trong nội dung, hai văn bản đã đề cập tới những yêu cầu cơ bản đối với công tác hướng nghiệp như sau :
Giúp cho học sinh hiểu được hệ thống nghề nghiệp trong
xã hội, phương hướng phát triển nền kinh tế quốc dân nói chung và của địa phương nói riêng nhằm xác định cho bản thân trách nhiệm, nghĩa vụ sẵn sàng tham 'gia vào lao động sản xuất
- Trên cơ sở của sự hiểu biết về nghề nghiệp và nền kinh
tế quốc dân, về địa phương, cùng những đòi hỏi khách quan của hoàn cảnh mà biết đối chiếu với sự phát triển, năng lực, sở trường, tình trạng tâm sinh lý, sức khỏe của bản thân để điều chỉnh động cơ lựa chọn nghề
- Tạo ra những điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, về các mối quan hệ xã hội và ý thức cầu tiến của học sinh để các
em tích cực tham gia vào các hình thức lao động kỹ thuật do nhà trường tổ chức, nâng cao ý thức và thái độ lao động, có dịp thử sức mình trong hoàn cảnh thực tiễn, kết luận về sự phù hợp nghề nghiệp của bản thân
Trang 38- Phải làm cho mỗi học sinh có được tính năng động chủ quan trong lựa chọn nghề, có khả năng tự quyết định được con đường nghề nghiệp tương lai của mình
Như vây, yêu cầu của công lác hướng nghiệp chính là kích thích phát triển hứng thú lao động - nghề nghiệp của học sinh, uốn nắn sự phát triển hứng thú đó cho phù hợp với Bự phát triển sản xuất của địa phương và đất nước Công tác hướng nghiệp còn cần thiết phải hình thành những năng lực : lao động kỹ thật - nghề nghiệp cho học sinh, tạo cho các em điều kiện cơ bản để quyết định chọn nghề Hơn thế nữa, hướng nghiệp phải được coi như một hoạt động điều chinh động cơ chọn nghề của thế hệ trẻ, sao cho mỗi thanh thiếu niên học sinh có được tâm lý sẵn sàng lao động, thỏa mãn với
sự lựa chọn nghề nghiệp của mình, hăng hái bước vào cuộc sống lao động hiện nay
2.2 Nội dung công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông
- Công tác hướng nghiệp phải cung cấp cho học sinh sự
hiểu biết về hệ thống nghề 'nghiệp trong xã hội, đặc biệt đối với những nghề phổ biến và quan trọng nhất của nền kinh tế, đồng thời cũng phải giúp cho học sinh quen biết với những nghề chính của địa phương (trên địa bàn huyện) và những nghề có tính chất truyền thống Bên cạnh hệ thống nghề nghiệp, trong các giờ hướng nghiệp cũng phải cho học sinh hiểu biết hệ thống các trường nghề (trường dạy nghề, các trường trung học và đại học chuyên nghiệp)
- Nội dung công tác hướng nghiệp còn bao gồm cả những yêu cầu mà nghề nghiệp đòi hỏi cần có ở con người :
về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, tâm sinh lý và điều bện sức khỏe
Đó là những dự kiến đặt ra trước học sinh, giúp các em cổ cơ
sở khoa học, lường thấy hiện thực trong nghề của mình sẽ lựa chọn, xem xét sự phù hợp hay không phù hợp với mình
Trang 39- Thông qua các giờ hướng nghiệp, giúp học sinh có thái
độ đúng đắn đối với lao động xã hội và người 'lao động ; thấy
rõ trách nhiệm của mình giữa hưởng thụ và cống hiến, giữa cá nhân và tập thể ; đánh giá đúng những khó khăn và thuận lợi của đất nước, của địa phương nhằm tạo cho mình tâm lý sẵn sàng đi vào mọi nghề, mọi nơi mà tổ quốc kêu gọi
- Nội dung công tác hướng nghiệp phải khơi dậy chí hướng và hứng thú nghề nghiệp cho học sinh Những mầm mống tốt, những học sinh có thiên hướng nghề rõ rệt cần được phát hiện, duy trì và giúp đỡ phát triển
- Công tác hướng nghiệp không chỉ dừng lại ở mức độ nhận thức mà điêu cần thiết là phải hình thành cho học sinh hệ thống tri thức kỹ thuật, công nghệ học của sản xuất, bảo hiểm
kỹ thuật và lao động cố văn hoá Những hiểu biết này là cơ sở
để hình thành cho học sinh những kỹ năng, kỹ xảo ban đầu về nghề nghiệp nhưng trước mắt là để giăm nhẹ mức độ căng thẳng trong quá trình tiếp xúc với nghề nghiệp sau này - Nội dung công tác hướng nghiệp triển khai trong quá trình lao động sản xuất sẽ giúp cho học sinh nắm được những nguyên
lý của tổ chức và quản lý sân xuất XHCN, là cơ sở giúp các
em xác định phẩm chất, năng lực nghề nghiệp của bản thân - Nội dung công tác hướng nghiệp tiến hành trong các bộ môn khoa học cơ bản sẽ tạo cho học sinh có điều kiện hiểu được sự vận dụng tri thức trong các lĩnh vực nghề nghiệp, thấy rõ tiêm năng và triển vọng của địa phương, của đất nước đối với sự phát triển kinh tế và viễn cảnh tương lai của một số ngành nghề
2.3 Phương hướng thực hiện công tác hướng nghiệp
Các văn bản của nhà nước đã đề cập tới phương hướng thực hiện công tác hướng nghiệp trước mắt và lâu dài, đó là theo sát đường tối kinh tế của Động phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng địa phương, nhất là trong địa bàn huyện
Trang 40Công tác hướng nghiệp phải nhằm vào nhiệm vụ trung tâm và các trọng điểm của kế hoạch nhà nước Tuy nhiên, với đặc điểm của một nước đi lên từ nông nghiệp, việc thu hút nhân lực vào các lĩnh vực này là hết sức cần thiết, do đó phải cần thiết chú ý tới các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thủ công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp ; ở thành phố thì cần quan tâm tới các nghề tiểu thủ công, dịch vụ Hiện nay, công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt cả thời kỳ quá độ, vì vây, cần thiết phải lưu ý tới nhu cầu ngày càng tăng của từng ngành công nghiệp mà học sinh hướng vào các lĩnh vực công nghiệp hiện đại Mặc
dù trước mắt hướng này chưa có yêu cầu lớn, nhưng đây là một hướng rất cơ bản khi tính đến cả yêu cầu chuẩn bị mở rộng đội ngũ công nhân lành nghề cho các ngành công nghiệp then chốt như năng lượng, cơ khí, luyện kim, hóa chất, công nghiệp khai thác, công nghiệp chế biến, công nghệ thông tin, bưu chính viễn thông
Các văn bản cũng đều nhấn mạnh rằng, công tác hướng nghiệp xe được thực hiện mà không đòi hỏi điều kiện gì đặc biệt trong khi lại liên tục cố gắng tạo lên những điều kiện ngày càng tốt hơn Điều kiện cần thiết nhất, cắn ngay, là nhà trường phải có nhận thức đúng, có tổ chức tốt, đồng thời các cấp bộ Đảng, chính quyền và cơ sở sản xuất phải có trách nhiệm tích cực giải quyết vấn đề này theo khả năng của mình Cần phải làm cho các bậc cha mẹ học sinh hiểu rõ hơn lợi ích của công tác hướng nghiệp vã nhận thức đúng đắn vị trí của mỗi hoạt động nghề nghiệp trong xã hội, khuyên nhủ con em mình thấy được vinh dự và trách nhiệm của tuổi trẻ trước những đòi hỏi của đất nước
III VỊ TRÍ CỦA CÔNG TÁC HƯỚNG NGHIỆP TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC
Trong toàn bộ sự nghiệp giáo dục phổ thông thì giáo dục