1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam

105 1,2K 13
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Trạng Nguồn Nhân Lực Phục Vụ Cho Ngành Dịch Vụ Logistics Ở Việt Nam
Tác giả Vũ Ngọc Dương
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế Quốc Dân
Thể loại Đề án môn học
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam

Trang 1

PHỤ LỤC `100

Trang 2

Danh mục các chữ viết tắt.

STT Chữ viết

tắt

Nghĩa đầy đủ

1 AFFA ASEAN Federation of

Forwarders Association

Hiêp hội giao nhận các nước ASEAN

2 ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á.

3 CIF Cost, Insurance and Freight Giá tiền, bảo hiểm và cước.

4 CIP Carriage and Insurance Paid to Cước phí và bảo hiểm trả tới

8 FDI : Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

9 FOB Free On Board Miễn trách nhiệm trên boong tàu nơi đi

10 GVC Global value chain Chuỗi giá trị toàn cầu

11 ITEC Internatinonal truck and engine Nhà cung cấp hàng đầu về động cơ

diesel tầm trung

12 TMS Transport management system Hệ thống phần mềm TMS

13 MTO Multimodal transport operator Dịch vụ vận tải đa phương thức

14 WMS Ware house management system Hệ thống phần mềm WMS

15 WTO World trade Organization Tổ chức thương mại thế giới

16 V IFFAS Viet Nam freight forwarders

association

Hiệp hội giao nhận kho vận Việt Nam.

17 3PL Third party logistics Dịch vụ logistics thứ 3

18 3PLP Third party logistics provider Nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ 3

Trang 3

Bảng 2.1 Danh sách một số đối tác chuỗi cung ứng hàng

Hình 1.9 Hình minh họa những khó khăn của dịch vụ

Bảng 2.2 Bảng lực lượng lao động có trình độ từ cao đẳng

Bảng 2.3 Bảng so sánh quốc tế về các chỉ tiêu giáo dục 82

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính tất yếu của đề tài

Trang 4

Nguồn nhân lực đối với các doanh nghiệp dịch vụ là yếu tố quyết định

sự thành công của doanh nghiệp đó trên thương trường.Trong những năm gần đây , ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam đã và đang phát triển rất nhanh chóng , từ một vài doanh nghiệp giao nhận quốc doanh của đầu thập niên 90 đến nay đã có hơn 600 công ty được thành lập và hoạt động từ Nam , trung , Bắc Sự phát triển một cách ồ ạt của các công ty giao nhận , logistics thời gian qua trong khi nguồn nhân lực để phục vụ cho ngành dịch vụ này lại phát triển một cách không tương xứng , bị thiếu hụt một cách trầm trọng

Khi Việt Nam gia nhập WTO , bên cạnh những thuận lợi các doanh nghiệp logistics của Việt Nam cũng sẽ phải găp những khó khăn hết sức to lớn bởi khi đó Việt Nam sẽ phải cam kết dỡ bỏ các rào cản đối với ngành dịch

vụ này, đồng nghĩa với việc các doanh nghiệp logistics nước ngoài với tiềm lực tài chính hết sức to lớn của mình sẽ đổ xô vào Việt Nam và như vậy nguy

cơ các doanh nghiệp logistic của Việt Nam bị đè bẹp trên sân nhà đã hiển hiện trước mắt.Vì thế các doanh nghiệp của ta cần nhanh chóng củng cố cả về tiềm năng tài chính củng như chất lượng nguồn nhân lực.Vì thế cấn phải nghiên cứu để thấy rõ thực trạng nguồn nhân lực đang phục vụ trong ngành dịch vụ logistic từ đó đưa ra những giải pháp giúp phát triển nguồn nhân lực chất lương cao để phục vụ một cách tốt nhất ngành dịch vụ hàng triệu USD này.Với những lý do nêu trên việc xem xét về thực trạng nguồn nhân lực phục vụ ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế sẽ có những biện pháp hợp lý để tăng cường nguồn nhân lực cả về chất và lượng để thoả mãn nhu cầu của ngành dịch vụ này

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề án là nghiên cứu một cách sâu rộng thực trạng nguồn nhân lực phục vụ ngành dịch vụ logistic ở Việt Nam và từ đó đưa ra định hướng để phát triển nguồn nhân lực ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam

Trang 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề án là nguồn nhân lực phục vụ ngành logistics tại Việt Nam Đề án đưa ra những giải pháp hết sức thiết thực giúp phát triển nguồn nhân lực này để các doanh nghiệp logistics Việt Nam có thể cạnh tranh với các đối thủ lớn đến từ nước ngoài trong xu thế hội nhập của Việt Nam, đặc biệt khi Việt Nam là thành viên của WTO

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Đề án tập trung nghiên cứu tình hình phát triển nguồn nhân lực của Việt Nam kể từ năm 2000 trở lại đây Đề án tập trung chủ yếu vào lĩnh vực logistics trong ngành cung ứng dịch vụ đường biển

4 Phương pháp nghiên cứu

Đề án sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu trong khoa học xã hội bao gồm phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích và tổng hợp

Đề án sử dụng các số liệu thống kê phù hợp với quá trình phân tích và tổng hợp thực tiễn thực trạng của nguồn nhân lực phục vụ ngành dịch vụ logistic tại Việt Nam; phân tích và tổng hợp kinh nghiêm quốc tế trong việc phát triển ngành dịch vụ logistic

vụ logistics ở Việt Nam

Phần 3 : Định hướng phát triển nguồn nhân lực cho ngành logistics

Trang 7

PHẦN 1- TỔNG QUAN VỀ NGÀNH DỊCH VỤ LOGISTICS VÀ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CUNG ỨNG CHO DỊCH

và bán thành phẩm, … trong cả hệ thống quản lý phân phối vật chất của doanh nghiệp Trong quá trình đó, logistics có cơ hội phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực kinh doanh Trong thời gian đầu, logistics chỉ đơn thuần được coi là một phương thức kinh doanh mới, mang lại hiệu quả cao cho các doanh nghiệp Cùng với quá trình phát triển, logistics đã được chuyên môn hóa và phát triển trở thành một ngành dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng quan trọng trong giao thương quốc tế Theo thống kê của công ty Armstrong & Associates (Hoa Kỳ), tổng dung lượng thị trường logistics Bên thứ 3 (Third Party Logistics)1 của Hoa Kỳ tăng trưởng với tốc độ 18%/năm và đạt 77 tỷ USD trong năm 2003 Tuy nhiên, một điều khá thú vị là logistics được phát minh và ứng dụng lần đầu tiên không phải trong hoạt động thương mại mà là trong lĩnh vực quân sự Logistics được các quốc gia ứng dụng rất rộng rãi trong 2 cuộc Đại chiến thế giới để di chuyển lực lượng quân đội cùng với vũ khí có khối lượng lớn và đảm bảo hậu cần cho lực lượng tham chiến Hiệu quả của hoạt động logistics, do đó là yếu tố có tác động rất lớn tới thành bại trên chiến trường Cuộc đổ bộ thành công của quân đồng minh vào vùng Normandie tháng 6/1994 chính là nhờ vào sự nỗ lực của khâu chuẩn bị hậu

Trang 8

cần và quy mô của các phương tiện hậu cần được triển khai Sau khi chiến tranh thế giới kết thúc, các chuyên gia logistics trong quân đội đã áp dụng các

kỹ năng logistics của họ trong hoạt động tái thiết kinh tế thời hậu chiến Hoạt động logistics trong thương mại lần đầu tiên được ứng dụng và triển khai sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc Trong lịch sử Việt Nam, 2 người đầu tiên ứng dụng thành công logistics trong hoạt động quân sự chính là vua Quang Trung-Nguyễn Huệ trong cuộc hành quân thần tốc ra miền Bắc đại phá quân Thanh (1789) và sau đó là Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).Trải qua dòng chảy lịch sử, logistics được nghiên cứu

và áp dụng sang lĩnh vực kinh doanh Dưới góc độ doanh nghiệp, thuật ngữ

“logistics” thường được hiểu là hoạt động quản lý chuỗi cung ứng (supply chain management) hay quản lý hệ thống phân phối vật chất (physical distribution management) của doanh nghiệp đó Có rất nhiều khái niệm khác nhau về logistics trên thế giới và được xây dựng căn cứ trên ngành nghề và mục đích nghiên cứu về dịch vụ logistics, tuy nhiên, có thể nêu một số khái niệm chủ yếu sau:

1 Liên Hợp Quốc (Khóa đào tạo quốc tế về vận tải đa phương thức và

quản lý logistics, Đại học Ngoại Thương, tháng 10/2002): Logistics là hoạt

động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng

2 Ủy ban Quản lý logistics của Hoa Kỳ: Logistics là quá trình lập kế

hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng

3 Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ-1988: Logistics là quá trình liên

kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hiệu quả, tiết kiệm chi phí của dòng lưu chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu, hàng tồn, thành phẩm và các thông tin liên

Trang 9

quan từ điểm xuất xứ đến điểm tiêu thụ, nhằm mục đích thỏa mãn những yêu cầu của khách hàng

4 Trong lĩnh vực quân sự, logistics được định nghĩa là khoa học của

việc lập kế hoạch và tiến hành di chuyển và tập trung các lực lượng, … các mặt trong chiến dịch quân sự liên quan tới việc thiết kế và phát triển, mua lại, lưu kho, di chuyển, phân phối, tập trung, sắp đặt và di chuyển khí tài, trang thiết bị

5 Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): Trong Luật

Thương mại 2005, lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ logistics được pháp điển hóa Luật quy định “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ

khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hạng hoặc các

dịch vụ khác có liên quan tới hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để

hưởng thù lao”

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng các khái niệm về dịch vụ logistics có thể chia làm hai nhóm:

Nhóm định nghĩa hẹp mà tiêu biểu là định nghĩa của Luật Thương mại

2005 có nghĩa hẹp, coi logistics gần như tương tự với hoạt động giao nhận hàng hóa Tuy nhiên cũng cần chú ý là định nghĩa trong Luật Thương mại có

tính mở, thể hiện trong đoạn in nghiêng “hoặc các dịch vụ khác có liên quan

tới hàng hóa” Khái niệm logistics trong một số lĩnh vực chuyên ngành cũng

được coi là có nghĩa hẹp, tức là chỉ bó hẹp trong phạm vi, đối tượng của ngành đó (như ví dụ ở trên là trong lĩnh vực quân sự) Theo trường phái này, bản chất của dịch vụ logistics là việc tập hợp các yếu tố hỗ trợ cho quá trình vận chuyển sản phẩm từ nơi sản xuất tới nơi tiêu thụ Theo họ, dịch vụ logistics mang nhiều yếu tố vận tải, người cung cấp dịch vụ logistics theo khái niệm này không có nhiều khác biệt so với người cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức (MTO)

Trang 10

Nhóm định nghĩa thứ 2 về dịch vụ logistics có phạm vi rộng, có tác động

từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng Theo nhóm định nghĩa này, dịch vụ logistics gắn liền cả quá trình nhập nguyên, nhiên vật liệu làm đầu vào cho quá trình sản xuất, sản xuất ra hàng hóa và đưa vào các kênh lưu thông, phân phối để đến tay người tiêu dùng cuối cùng Nhóm định nghĩa này của dịch vụ logistics góp phần phân định rõ ràng giữa các nhà cung cấp từng dịch vụ đơn lẻ như dịch vụ vận tải, giao nhận, khai thuê hải quan, phân phối, dịch vụ hỗ trợ sản xuất, tư vấn quản

lý … với một nhà cung cấp dịch vụ logisitcs chuyên nghiệp, người sẽ đảm nhận toàn bộ các khâu trong quá trình hình thành và đưa hàng hóa tới tay người tiêu dùng cuối cùng Như vậy, nhà chung cấp dịch vụ logistics chuyên nghiệp đòi hỏi phải có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng để cung cấp dịch vụ mang tính “trọn gói” cho các nhà sản xuất Đây là một công việc mang tính chuyên môn hóa cao Ví dụ, khi một nhà cung cấp dịch vụ logistics cho một nhà sản xuất thép, anh ta sẽ chịu trách nhiệm cân đối sản lượng của nhà máy

và lượng hàng tồn kho để nhập phôi thép, tư vấn cho doanh nghiệp về chu trình sản xuất, kỹ năng quản lý và lập các kênh phân phối, các chương trình makerting, xúc tiến bán hàng để đưa sản phẩm đến với người tiêu dùng

Khái niệm logistics theo nghĩa rộng luôn gắn liền với khái niệm chuỗi logistics-khái niệm logistics xây dựng trên cơ sở chu trình thực hiện Chuỗi logistics có thể được biểu diễn dưới dạng lưu đồ như sau:

Hình1.1 Lưu đồ miêu tả chuỗi logistics

n liệu (Raw Materi

al Storage)

Sản xuất (Manufacturring)

Kho

dự trữ sản phẩm (Finish

ed goods storage)

Thị trường tiêu dùng (Markets)

Trang 11

1.1.2 Bản chất kinh tế của logistic

Một trong những vấn đề quan trọng đối với nhà sản xuất là làm thế nào

để bán hàng hóa, dịch vụ tới tay người tiêu dùng với giá thành thấp nhất nhằm tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm Giá bán của hàng hóa đến tay người tiêu dùng phải đảm bảo tối thiểu bù đắp các chi phí:

máy

B

Trang 12

C 4: chi phí cơ hội vốn cho hàng tồn trữ

C 5: chi phí bảo quản hàng hóa

Chúng ta nhận thấy, C1 phụ thuộc vào công nghệ sản xuất Vì vậy muốn

hạ giá thành xuất xưởng của sản phẩm, người ta tập trung vào việc cải tiến công nghệ, bao gồm hợp lý hóa dây chuyền sản xuất nhằm nâng cao năng suất của máy móc, thiết bị, lao động, sử dụng hợp lý nguyên vật liệu, năng lượng Đây là vấn đề quan trọng mà mọi nhà sản xuất phải tính đến

Chi phí cho hoạt động marketing C2 thường được nhà sản xuất ấn định ở

mức độ nhất định nào đó và có thể kiểm soát dễ dàng

Chi phí vận tải C3 chiếm một tỷ trọng khá lớn - một phần ba cho đến hai

phần ba chi phí lưu thông phân phối Mặc dù ngành vận tải đã có những cố gắng giảm chi phí vận tải bằng những giải pháp công nghệ như vận tải hàng hóa bằng container, đóng mới các phương tiện, thiết bị có sức chở lớn, tổ chức vận tải đa phương thức,… nhưng chi phí vận tải vẫn không ngừng tăng lên do giá nhiên liệu ngày một leo thang Điều này buộc các nhà sản xuất áp dụng nhiều biện pháp góp phần giảm chi phí vận tải Một trong những giải pháp đó là tăng khả năng sử dụng các trang thiết bị, công cụ và phương tiện vận tải bằng cách thiết kế các sản phẩm, đóng gói bao bì hàng hóa nhằm tăng

tỷ trọng chất xếp của hàng hóa (cargo density)

Chi phí cơ hội vốn C4 là suất sinh lời tối thiểu mà công ty kiếm được khi

vốn không đầu tư cho hàng tồn trữ mà cho một hoạt động khác Để đơn giản,

ta giả thiết rằng mức sinh lời tối thiểu của vốn là mức lãi suất phải trả khi vay vốn của một tổ chức tài chính, cho nên C4 được xác định như sau:

C 4 = (qi k v ) t [(1+r) t -1] (2)

Trong đó:

Trang 13

- qi: số lượng sản phẩm cho một lần gửi hàng đi

- kv: định mức vốn cho một đơn vị sản phẩm Mức vốn này phụ thuộc vào công nghệ sản xuất

- t = 1 ÷ m: số đơn vị thời gian chịu lãi suất hàng năm của hàng tồn trữ (tháng hoặc năm)

- r: mức lãi suất phải trả cho vốn vay

Qua công thức (2) ta thấy C4 phụ thuộc vào thị trường vốn (r), công nghệ

sản xuất (kv), và khối lượng vật tư, sản phẩm tồn trữ Nếu r cố định và kv cố

định thì C4 tỷ lệ thuận với qi, tức là khi qi nhỏ bao nhiêu lần thì C4 nhỏ bấy

nhiêu lần và ngược lại

Trước đây, khi thị trường tiêu thụ còn bị hạn chế, số lượng sản phẩm sản xuất còn ít, mức lãi vay còn thấp, nên các nhà sản xuất ít quan tâm đến chi phi này Ngày nay, khi thị trường tiêu thụ được mở rộng, số lượng sản phẩm nhiều lên, mức lãi suất vay cao thì chi phí này chiếm một phần đáng kể trong tổng chí phí liên quan đến hàng tồn trữ Điều này buộc các nhà sản xuất phải

có giải pháp thích hợp để giảm chi phí này Và giải pháp đó chính là giảm khối lượng cho một lượt sản xuất và giao hàng (qi) xuống

Chi phí bảo quản hàng hóa C5 bao gồm chi phí thuê kho bãi, bảo quản

hàng hóa, đưa hàng hóa ra vào kho, hàng bị hư hỏng, bảo hiểm cho hàng hóa

C 5 = qi T bq g lk + q i k.g + C bh (3)

Trang 14

Trong đó:

- Tbq: thời gian bảo quản trong kho của lô hàng qi

- glk: chi phí trung bình cho một đơn vị hàng hóa lưu kho một ngày

- k: tỷ lệ tổn thất, hư hỏng hàng lưu kho

- g: giá trị của đơn vị hàng lưu kho

- Cbh: chi phí bảo hiểm cho lô hàng lưu kho

Theo công thức (3) ta thấy chi phí C5 có quan hệ với qi; nếu qi nhỏ, thời gian tồn trữ t nhỏ, dẫn đến chi phí này nhỏ, và ngược lại

Qua đây, chúng ta thấy để giảm giá thành hàng hóa cần phải tổ chức tốt

và kiểm soát chặt chẽ chi phí vận tải cũng như những chi phí liên quan đến lượng hàng tồn trữ (chi phí cơ hội vốn của hàng tồn trữ và chi phí bảo quản) Đây là những thành phần cơ bản của logistics Vậy ta có:

Trang 15

Q = Σ qi (6)

Như vậy, thay vì lưu thông một lần với khối lượng Q, ta giao hàng làm n lần Ta có tổng chi phí logistics khi lưu thông khối lượng hàng Q trong thời gian T như sau:

Σ Cilog = Σ C 3 + Σ C 4 + Σ C 5 (7)

Như phân tích ở trên, bằng cách tăng n ta giảm được qi thì vẫn có Σ C4

+Σ C 5 thấp hơn, nhưng lại phát sinh các vấn đề sau:

- Thời gian giao hàng ngắn hơn nên đòi hòi hỏi công tác tổ chức vận tải sao cho đảm bảo, tức là dịch vụ vận tải đa phương thức phải nâng cao Như vậy có nghĩa là chi phí vận tải sẽ tăng lên

- Vì giao hàng nhiều đợt nên vấn đề kiểm soát hàng hóa, vật tư trong lưu thông phải chặt chẽ hơn, đòi hỏi phải có một hệ thống thông tin nhanh nhóng, chính xác Chính vì vậy mà bất kỳ một hệ thống logistics nào cũng phải có một hệ thống thông tin song hành để kiểm soát kịp thời dòng dịch chuyển của hàng hóa

Qua những phân tích ở trên, chúng ta thấy mấu chốt ở đây là khối lượng hàng cung ứng qi cần phải là bao nhiêu để làm giảm Clog = C 3 + C 4 + C 5 Đây

chính là quan điểm xương sống của logistics hay chính là bản chất của logistics

Trang 16

1.1.3.Thị trường logistics và những hiểu đúng nên có

Hình 1.2: Hình vẽ miêu tả về thị trường 3PL

Bấy lâu nay chúng ta đã dần nghe nói nhiều về logistics, về thị trường logistics, rồi các công ty giao nhận vận tải, hãng tàu của ta đều nhất loạt cho

ra đời dịch vụ logistics hoặc đổi tên thành công ty có cái đuôi “logistics” vào cho nó “oách”.Tuy vậy, nhưng phần lớn những công ty đó đều có những quan niệm nhầm lẫn trong logistics Chúng ta có hẳn một phần của luật thương mại

và nghị định cho logistics Tuy nhiên trong bài viết này sẽ không đề cập đến điều này Lý do vẫn còn lộn xộn trong việc định nghĩa về logistics là do nó còn mới, nó chưa được chuẩn hóa

Bản thân trên thế giới điều này cũng còn lộn xộn cơ mà huống chi ta…Vào năm 2000, Ủy Ban Châu Âu còn tài trợ cho một dự án nghiên cứu về logistics và vận tải đa phương thức có tên là PROTRANS Dự án này nhằm thiết lập các định nghĩa chuẩn và đánh giá một cách toàn diện thị trường logistics tại Châu Âu (bạn cũng có thể tìm được nó , báo cáo miễn phí trên internet hoac download tai day: )

Quay lại Việt nam, phần này chỉ bàn về khái niệm Dịch vụ logistics thứ

ba (Third party Logistics -3PL) và nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ 3 (3PLP-Third Party Logistics Provider) Đôi khi từ viết tắt giữa 3PL và 3PLP

có thể được thay thế cho nhau

Và dĩ nhiên sẽ nhiều người còn đang thắc mắc giữa 3PL và nhà giao nhận, nhà vận tải, nhà cung cấp kho bãi có gì khác nhau

Trang 17

Xin lưu ý , các định nghĩa này là do thống nhất trên thế giới (nguồn tham khảo là dự án PROTRANS và CSCMP cũng như MIT về transportation and logistics).

Vậy thì ta hãy bắt đầu bằng định nghĩa dịch vụ logistics thứ ba (3PL) là gì?

Third-party logistics (3PL) are activities carried out by an external company on behalf of a shipper and consisting of at least the provision of

management of multiple logistics services These activities are offered in an

integrated way, not on a standalonebasis The co-operation between the shipper and the external company is an intended continuous relationship.

(nguôn ; dự án Protrans, EU)3PL là một quá trình tiến hóa

Nghĩa là: Dịch vụ logistics thứ ba là những hoạt động được thực hiện bởi một công ty bên ngoài thay mặt một chủ hàng và ít nhất cũng đảm bảo thực hiện được việc quản lý nhiều hoạt động logistics Các hoạt động này được cung cấp theo hướng tích hợp chứ không phải là một loại riêng rẽ Sự hợp tác giữa chủ hàng và công ty bên ngoài là một mối quan hệ liên tục có chủ định.Như vậy có thể hiểu là nhà cung cấp dịch vụ logistics thứ ba là người có thể cung cấp một dịch vụ tích hợp trọn gói cho khách hàng (one stop shop logistics service) Dĩ nhiên không phải lúc nào khách hàng cũng sẵn sàng outsource hết các hoạt động logistics của mình

Thị trường cho các 3PL người ta gọi là thị trường 3PL hoặc thị trường contract logistics (chỉ các quan hệ hợp đồng dài hạn giữa 3PL và khách hàng),

để phân biệt với các thị trường chuyên biệt như thị trường giao nhận, thị trường vận tải biển, vận tải đường bộ

Ta cũng cần lưu ý các 3PL (hay 3PLP) xuất hiện là một quá trình tiến hóa từ các nhà vận tải, nhà giao nhận, nhà cung cấp kho bãi, đồng thời cả những công ty tư vấn, cung cấp giải pháp công nghệ nữa

Ta có thể thấy xu hướng này qua các dẫn chứng sau:

Trang 18

+ Phần lớn các hãng tàu lớn đều mở thêm mảng dịch vụ logistics (3PL) như Maersk Logistics (Con đẻ của Maersk Line), APL Logistics (Con đẻ của APL Line-NOL), MOL Logistics (của MOL)…

+ Phần lớn các nhà giao nhận lớn cũng vậy : Kuehne-Nagel Mở thêm bộ phận contract logistics, Hay DHL cũng vậy

+ Phần lớn các hãng vận tải đường bộ lớn cũng mở rộng hoạt động logistics của mình như Ryder, YRC Logistics

…Đây là danh sách các đại gia trong thị trường 3PL (contract logistics):

Hình 1.3 : Đồ thị danh sách các đại gia trong thị trường 3PL

Điều kiện gì để trở thành 3PL:

Như đã định nghĩa ở trên thì 3PL phải là người có năng lực cung cấp dịch vụ logistics trọn gói (nên nhớ bao gồm cả quản lý dòng chảy hàng hóa, lẫn thông tin –hệ thống CNTT và khả năng quản lý các nhà cung cấp (các nhà vận tải, cho thuê kho bãi, giao nhận )) Xin lưu ý các nhà cugn cấp của các 3PL lại chính là các nhà vận tải, kho bãi hoặc giao nhận thuần túy

Nhìn vào Việt Nam:

Phần lớn các công ty giao nhận Việt Nam vẫn mới chỉ là nhà giao nhận thuần túy Chỉ một số với kinh nghiệm, năng lực về quản lý , năng lực về CNTT mới trở thành 3PL thực thụ Nếu nhìn kỹ thì tôi vẫn chưa thấy được

Trang 19

một case study điển hình về 3PL thực thụ của Việt Nam Hi vọng rằng trong tương lại có thể có nhiều công ty Việt Nam làm được điều đó.

Vậy thì có nghĩa là thị trường 3PL (contract logistics) của Việt Nam vẫn

bị thống trị bởi các 3PL nước ngoài? Câu trả lời là đúng vậy Lý do cơ bản là phần lớn các công ty Việt Nam vẫn chưa nghĩ đến việc outsource logistics ra ngoài (có chăng chỉ là vận tải thuần túy, thuê kho thuần túy) Điều gì nằm sau điều ấy: có lẽ là miếng bánh béo bở ấy còn xâu xé được!! phần khác không có công ty 3PL nào của Việt Nam làm được điều đó, còn nếu thuê các 3PL nước ngoài thì quá mắc chăng !! Trong khi các công ty nước ngoài (tạm gọi FDI) ở Việt Nam thì vẫn có khuynh hướng sử dụng các 3PL nước ngoài hơn (bởi kinh nghiệm và năng lực thực thụ của họ !!??)

Tương lai: Tăng trưởng đầy xán lạn…

Không riêng gì Việt Nam trên thế giới thị trường 3PL tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ bởi xu hướng thuê ngoài vẫn không ngừng gia tăng…

Hình 1.4: Hình ảnh minh họa sự phân chia thị trường 3PL của các nước Châu Á

Cũng theo Frost & Sullivan thì mỗi năm còn tăng 10-15% nữa…và tương lai sán lạn đang chờ các 3PL khai thác đây dĩ nhiên các 3PL cũng cần chuẩn bị để mà đón nhận , dĩ nhiên

Trang 20

cần nghĩ rằng nhưng gã khổng lồ 3PL nước ngoài cũng không dễ dàng gì làm ngơ…Cuối cùng hãy xem ta nên tập trung vào đâu theo gợi ý của Frost&Sullivan

Hình 1.5: Hình minh hoạ nơi cần tập trung đầu tư vào thị trường 3PL.

1.1.4.Đặc điểm của ngành dịch vụ logistics

1.1.4.1 Đặc điểm của dịch vụ logistics

Các chuyên gia nghiên cứu về dịch vụ logistics đã rút ra một số đặc điểm

cơ bản của ngành dịch vụ này như sau:

* Logistics là tổng hợp các hoạt động của doanh nghiệp trên 3 khía cạnh chính, đó là logistics sinh tồn, logistics hoạt động và logistics hệ thống

- Logistics sinh tồn có liên quan tới các nhu cầu cơ bản của cuộc sống Logistics sinh tồn đúng như tên gọi của nói xuất phát từ bản năng sinh tồn của con người, đáp ứng các nhu cầu thiết yếu của con người: cần gì, cần bao nhiêu, khi nào cần và cần ở đâu Logistics sinh tồn là bản chất và nền tảng của hoạt động logistics nói chung;

Trang 21

- Logistics hoạt động là bước phát triển mới của logistics sinh tồn và gắn với toàn bộ quá trình và hệ thống sản xuất các sản phẩm của doanh nghiệp Logistics hoạt động liên quan tới quá trình vận động và lưu kho của nguyên liệu đầu vào vào trong, đi qua và đi ra khỏi doanh nghiệp, thâm nhập vào các kênh phân phối trước khi đi đến tay người tiêu dùng cuối cùng;

- Logistics hệ thống giúp ích cho việc duy trì hệ thống hoạt động Các yếu tố của logistics hệ thống bao gồm các máy móc thiết bị, nguồn nhân lực, công nghệ, cơ sở hạ tầng nhà xưởng, …

Logistics sinh tồn, hoạt động và hệ thống có mối liên hệ chặt chẽ, tạo cơ

sở hình thành hệ thống logistics hoàn chỉnh

* Logistics hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp: Logistics hỗ trợ toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp, ngay cả khi sản phẩm đã ra khỏi dây chuyền sản xuất của doanh nghiệp và đến tay người tiêu dùng Một doanh nghiệp có thể kết hợp bất cứ yếu tố nào của logistics với nhau hay tất cả các yếu

tố logistics tùy theo yêu cầu của doanh nghiệp mình Logistics còn hỗ trợ hoạt động của doanh nghiệp thông qua quản lý di chuyển và lưu trữ nguyên vật liệu

đi vào doanh nghiệp và bán thành phẩm di chuyển trong doanh nghiệp

* Logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics Cùng với quá trình phát triển của mình, logistics đã làm đa dạng khóa khái niệm vận tải giao nhận truyền thống Từ chỗ chỉ thay mặt khách hàng để thực hiện các khâu rời rạc như thuê tàu, lưu cước, chuẩn bị hàng, đóng gói hàng, tái chế, làm thủ tục thông quan, … cho tới cung cấp dịch vụ trọn gói từ kho đến kho (Door to Door) Từ chỗ đóng vai trò đại lý, người được ủy thác trở thành một chủ thể chính trong các hoạt động vận tải giao nhận với khách hàng, chịu trách nhiệm trước các nguồn luật điều chỉnh Ngày nay, để có thể thực hiện nghiệp vụ của mình, người giao nhận phải quản lý một hệ thống đồng bộ từ giao nhận tới vận tải, cung ứng nguyên vật liệu phục vụ sản xuất kinh doanh, bảo quản

Trang 22

hàng hóa trong kho, phân phối hàng hóa đúng nơi, đúng lúc, sử dụng thông tin điện tử để theo dõi, kiểm tra, … Như vậy, người giao nhận vận tải trở thành người cung cấp dịch vụ logistics.

* Logistics là sự phát triển hoàn thiện dịch vụ vận tải đa phương thức:Trước đây, hàng hóa đi theo hình thức hàng lẻ từ nước xuất khẩu sang nước nhập khẩu và trải qua nhiều phương tiện vận tải khác nhau, vì vậy xác suất rủi ro mất mát đối với hàng hóa là rất cao, và người gửi hàng phải ký nhiều hợp đồng với nhiều người vận tải khác nhau mà trách nhiệm của họ chỉ giới hạn trong chặng đường hay dịch vụ mà họ đảm nhiệm Tới những năm 60-70 của thế kỷ XX, cách mạng container trong ngành vận tải đã đảm bảo

an toàn và độ tin cậy trong vận chuyển hàng hóa, là tiền đề và cơ sở cho sự ra đời và phát triển vận tải đa phương thức Khi vận tải đa phương thức ra đời, chủ hàng chỉ phải ký một hợp đồng duy nhất với người kinh doanh vận tải đa phương thức (MTO-Multimodal Transport Operator) MTO sẽ chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện toàn bộ việc vận chuyển hàng hóa từ khi nhận hàng cho tới khi giao hàng bằng một chứng từ vận tải duy nhất cho dù anh ta không phải là người chuyên chở thực tế Như vậy, MTO ở đây chính là người cung cấp dịch vụ logistics

1.1.4.2.Vai trò của logistics.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thế giới theo hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa, dịch vụ logistics ngày càng đóng vai trò hết sức quan trọng thể hiện ở những điểm sau:

* Là công cụ liên kết các hoạt động trong chuỗi giá trị toàn cầu Global Value Chain) như cung cấp, sản xuất, lưu thông phân phối, mở rộng thị trường cho các hoạt động kinh tế

(GVC-Khi thị trường toàn cầu phát triển với các tiến bộ công nghệ, đặc biệt là việc mở cửa thị trường ở các nước đang và chậm phát triển, logistics được các nhà quản lý coi như là công cụ, một phương tiện liên kết các lĩnh vực khác nhau của chiến lược doanh nghiệp Logistics tạo ra sự hữu dụng về thời gian

Trang 23

và địa điểm cho các hoạt động của doanh nghiệp Thế giới ngày nay được nhìn nhận như các nền kinh tế liên kết, trong đó các doanh nghiệp mở rộng biên giới quốc gia và khái niệm quốc gia về thương mại chỉ đứng hàng thứ 2

so với hoạt động của các doanh nghiệp, ví dụ như thị trường tam giác bao gồm 3 khu vực địa lý: Nhật, Mỹ-Canada và EU Trong thị trường tam giác này, các công ty trở nên quan trọng hơn quốc gia vì quyền lực kinh tế của họ

đã vượt quá biên giới quốc gia, quốc tịch của công ty đã trở nên mờ nhạt Ví

dụ như hoạt động của Toyota hiện nay, mặc dù phần lớn cổ đông của Toyota

là người Nhật và thị trường quan trọng nhất của Toyota là Mỹ nhưng phần lớn

xe Toyota bán tại Mỹ được sản xuất tại nhà máy của Mỹ thuộc sở hữu của Toyota Như vậy, quốc tịch của Toyota đã bị mờ đi nhưng đối với thị trường

Mỹ thì rõ ràng Toyota là nhà sản xuất một số loại xe ô tô và xe tải có chất lượng cao

* Logistics có vai trò quan trọng trong việc tối ưu hóa chu trình lưu chuyển của sản xuất kinh doanh từ khâu đầu vào nguyên vật liệu, phụ kiện, … tới sản phẩm cuối cùng đến tay khách hàng sử dụng Từ thập niên 70 của thế

kỷ XX, liên tiếp các cuộc khủng hoảng năng lượng buộc các doanh nghiệp phải quan tâm tới chi phí, đặc biệt là chi phí vận chuyển Trong nhiều giai đoạn, lãi suất ngân hàng cũng cao khiến các doanh nghiệp có nhận thức sâu sắc hơn về vốn, vì vốn bị đọng lại do việc duy trì quá nhiều hàng tồn kho Chính trong giai đoạn này, cách thức tối ưu hóa quá trình sản xuất, lưu kho, vận chuyển hàng hóa được đặt lên hàng đầu Và với sự trợ giúp của công nghệ thông tin, logistics chính là một công cụ đắc lực để thực hiện điều này

* Logistics hỗ trợ nhà quản lý ra quyết định chính xác trong hoạt động sản xuất kinh doanh

Trong quá trình sản xuất kinh doanh, nhà quản lý phải giải quyết nhiều bài toán hóc búa về nguồn nguyên liệu cung ứng, số lượng và thời điểm hiệu quả để bổ sung nguồn nguyên liệu, phương tiện và hành trình vận tải, địa điểm, khi bãi chứa thành phẩm, bán thành phẩm, … Để giải quyết những vấn

Trang 24

đề này một cách có hiệu quả không thể thiếu vai trò của logistics vì logistics cho phép nhà quản lý kiểm soát và ra quyết định chính xác về các vấn đề nêu trên để giảm tối đa chi phí phát sinh đảm bảo hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh.

* Logistics đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo yếu tố đúng thời gian-địa điểm (just in time)

Quá trình toàn cầu hóa kinh tế đã làm cho hàng hóa và sự vận động của chúng phong phú và phức tạp hơn, đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ, đặt ra yêu cầu mới đối với dịch vụ vận tải giao nhận Đồng thời, để tránh hàng tồn kho, doanh nghiệp phải làm sao để lượng hàng tồn kho luôn là nhỏ nhất Kết quả là hoạt động lưu thông nói riêng và hoạt động logistics nói riêng phải đảm bảo yêu cầu giao hàng đúng lúc, kịp thời, mặt khác phải đảm bảo mục tiêu khống chế lượng hàng tồn kho ở mức tối thiểu Sự phát triển mạnh mẽ của tin học cho phép kết hợp chặt chẽ quá trình cung ứng, sản xuất, lưu kho hàng hóa, tiêu thụ với vận tải giao nhận, làm cho cả quá trình này trở nên hiệu quả hơn, nhanh chóng hơn, nhưng đồng thời cũng phức tạp hơn

Trang 25

hiệu quả hơn Giảm chi phí trong sản xuất, quá trình sản xuất kinh doanh tinh giản, hiệu quả sản xuất kinh doanh được nâng cao góp phần tăng sức cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường Thực tế những năm qua tại các nước Châu Âu, chi phí logistics đã giảm xuống rất nhiều và còn có xu hướng giảm nữa trong các năm tới.

b Dịch vụ logistics có tác dụng tiết kiệm và giảm chi phí trong hoạt động lưu thông phân phối

Giá cả hàng hóa trên thị trường chính bằng giá cả ở nơi sản xuất cộng với chi phí lưu thông Chi phí lưu thông hàng hóa, chủ yếu là phí vận tải chiếm một tỷ lệ không nhỏ và là bộ phận cấu thành giá cả hàng hóa trên thị trường, đặc biệt là hàng hóa trong buôn bán quốc tế Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông C Mác đã từng nói “Lưu thông có ý nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian được giải quyết bằng vận tải” Vận tải

có nhiệm vụ đưa hàng hóa đến nơi tiêu dùng và tạo khả năng để thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Trong buôn bán quốc tế, chi phí vận tải chiếm tỷ trọng khá lớn, theo số liệu thống kê của UNCTAD thì chi phí vận tải đường biển chiếm trung bình 10-15% giá FOB, hay 8-9% giá CIF Mà vận tải

là yếu tố quan trọng nhất trong hệ thống logistics cho nên dịch vụ logistics ngày càng hoàn thiện và hiện đại sẽ tiết kiệm cho phí vận tải và các chi phí khác phát sinh trong quá trình lưu thông dẫn đến tiết kiệm và giảm chi phí lưu thông Nếu tính cả chi phí vận tải, tổng chi phí logistics (bao gồm đóng gói, lưu kho, vận tải, quản lý, …) ước tính chiếm tới 20% tổng chi phí sản xuất ở các nước phát triển, trong khi đó nếu chỉ tính riêng chi phí vận tải có thể chiếm tới 40% giá trị xuất khẩu của một số nước không có đường bờ biển

Trang 26

c Dịch vụ logistics góp phần gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Dịch vụ logistics là loại hình dịch vụ có quy mô mở rộng và phức tạp hơn nhiều so với hoạt động vận tải giao nhận thuần túy Trước kia, người kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận chỉ cung cấp cho khách hàng những dịch vụ đơn giản, thuần túy và đơn lẻ Ngày nay, do sự phát triển của sản xuất, lưu thông, các chi tiết của một sản phẩm có thể do nhiều quốc gia cung ứng và ngược lại một loại sản phẩm của doanh nghiệp có thể tiêu thụ tại nhiều quốc gia, nhiều thị trường khác nhau, vì vậy dịch vụ mà khách hàng yêu cầu từ người kinh doanh vận tải giao nhận phải đa dạng và phong phú Người vận tải giao nhận ngày nay đã triển khai cung cấp các dịch vụ nhằm đáp ứng yêu cầu thực tế của khách hàng Họ trở thành người cung cấp dịch vụ logistics (logistics service provider) Rõ ràng, dịch vụ logistics đã góp phần làm gia tăng giá trị kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải giao nhận

Theo kinh nghiệm ở những nước phát triển cho thấy, thông qua việc sử dụng dịch vụ logistics trọn gói, các doanh nghiệp sản xuất có thể rút ngắn thời gian từ lúc nhận đơn hàng cho đến lúc giao sản phẩm cho khách hàng từ 5-6 tháng xuống còn 2 tháng Kinh doanh dịch vụ này có tỷ suất lợi nhuận cao gấp 3-4 lần sản xuất và gấp từ 1-2 lần các dịch vụ ngoại thương khác

d Logistics phát triển góp phần mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế.

Sản xuất có mục đích là phục vụ tiêu dùng, cho nên trong sản xuất kinh doanh, vấn đề thị trường luôn là vấn đề quan trọng và luôn được các nhà sản xuất và kinh doanh quan tâm Các nhà sản xuất kinh doanh muốn chiếm lĩnh

và mở rộng thị trường cho sản phẩm của mình phải cần sự hỗ trợ của dịch vụ logistics Dịch vụ logistics có tác dụng như chiếc cầu nối trong việc chuyển dịch hàng hóa trên các tuyến đường mới đến các thị trường mới đúng yêu cầu

về thời gian và địa điểm đặt ra Dịch vụ logistics phát triển có tác dụng rất lớn trong việc khai thác và mở rộng thị trường kinh doanh cho các doanh nghiệp

Trang 27

e Dịch vụ logistics phát triển góp phần giảm chi phí, hoàn thiện và tiêu chuẩn hóa chứng từ trong kinh doanh quốc tế

Thực tiễn, một giao dịch trong buôn bán quốc tế thường phải tiêu tốn các loại giấy tờ, chứng từ Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, chi phí về giấy tờ

để phục vụ mọi mặt giao dịch thương mại trên thế giới hàng năm đã vượt quá

420 tỷ USD Theo tính toán của các chuyên gia, riêng các loại giấy tờ, chứng

từ rườm rà hàng năm khoản chi phí tiêu tốn cho nó cũng chiếm tới hơn 10% kim ngạch mậu dịch quốc tế, ảnh hưởng rất lớn tới các hoạt động buôn bán quốc tế Logistics đã cung cấp các dịch vụ đa dạng trọn gói đã có tác dụng giảm rất nhiều các chi phí cho giấy tờ, chứng từ trong buôn bán quốc tế Dịch

vụ vận tải đa phương thức do người kinh doanh dịch vụ logistics cung cấp đã loại bỏ đi rất nhiều chi phí cho giấy tờ thủ tục, nâng cấp và chuẩn hóa chứng

từ cũng như giảm khối lượng công việc văn phòng trong lưu thông hàng hóa,

từ đó nâng cao hiệu quả buôn bán quốc tế

Ngoài ra, cùng với việc phát triển logistics điện tử (electronic logistics)

sẽ tạo ra cuộc cách mạng trong dịch vụ vận tải và logistics, chi phí cho giấy

tờ, chứng từ trong lưu thông hàng hóa càng được giảm tới mức tối đa, chất lượng dịch vụ logistics ngày càng được nâng cao sẽ thu hẹp hơn nữa cản trở

về mặt không gian và thời gian trong dòng lưu chuyển nguyên vật liệu và hàng hóa Các quốc gia sẽ xích lại gần nhau hơn trong hoạt động sản xuất và lưu thông

1.2 Vấn đề phát triển nguồn nhân lực cung ứng cho dịch vụ logistics

1.2.1 Đăc điểm nguồn nhân lực ngành logistics

Thiếu người : Trên các báo chí, phương tiện truyền thông liên tục đưa

tin về tình trạng thiếu hụt lao động ở tất cả các trình độ, ở tất cả các bộ ngành Câu chuyên ngành nhân lực đã trở thành tâm điểm kéo theo sự chú ý của xã hội đặc biệt với các doanh nghiệp Trăm thứ đổ dồn vào việc thiếu nhân lưc như quản lý, vận hành, marketing, bán hàng Rất nhiều doanh nghiệp đang phải đau đầu khi giải bài toán nhân sự và các doanh nghiệp cung ứng ngành

Trang 28

dịch vụ logistic ở Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật chung , cũng đang đau đầu vì thiếu nguồn nhân lực Từ cuối năm 2006-thời điểm Việt Nam gia nhập WTO, Thị trường chứng khoán Việt Nam (TTCKVN) tạo đà cho sự bùng nổ của ngành tài chính với hàng loạt công ty, quỹ đầu tư, ngân hàng mới, chính trong lúc này, những nhân sự trở thành mốc nhắm của các doanh nghiệp mới, sử dụng các bổng lộc, quyền lợi và lương bổng đã khiến không ít doanh nghiệp bị rút ruột lao đồng cả trình độ cao và thấp, sự di chuyển đã tạo nên một làn sóng không chỉ trong thời gian ngắn mà còn trong các năm tiếp theo Không chỉ trong lĩnh vực tài chính, vài năm trước đây nhiều doanh nghiệp CNTT, phần mềm cũng đã phải băn khoăn khi lưa chọn nhân sự Bên cạnh việc bị chèo kéo bởi các công ty khác, doanh nghiệp còn đau đầu với nạn "nhảy việc",đặc biệt là các công ty cung ứng dịch vụ logistic của Việt Nam đang phải đối đầu với việc các nguồn nhân lực chất lượng cao quay sang đầu quân cho những đối thủ cạnh tranh nước ngoài.

Kỹ năng, tác phong thiếu chuyên nghiệp: Kỹ năng làm việc của lao

động phục vụ , đặc biệt các lao động mới ra trường là nỗi lo thường trực của doanh nghiệp logistic bởi logistic là một ngành mới ,hầu như chưa có một trường lớp nào đầu tư giảng dạy chuyên sâu về lĩnh vực này Theo ý kiến của nhiều chủ doanh nghiệp, các cán bộ phụ trách nhận sự của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistic thì nguyên nhân chính của thực trạng này nảy sinh ngay từ trong giảng đường, sinh viên chỉ được học kiến thức mà chưa được rèn luyện kỹ năng Nhiều doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistic đã phải đào tạo lại sinh viên khi ra trường và vừa đào tạo vừa phải lo lắng vì nhân viên luôn có ý định nhảy việc, tìm công việc mới để có thêm "kinh nghiệm"

1.2.2 Kinh nghiệm cung ứng dịch vụ logistics của một số nước và bài học đối với Việt Nam.

1.2.2.1 Kinh nghiệm của một số nước.

Đáng ra sau đây sẽ là kinh nghiệm cung ứng ngành dịch vụ logistic của một số quốc gia nhưng theo quan điểm cá nhân thì các doanh xây dựng các

Trang 29

chiến lược toàn cầu còn các quốc gia , các chính phủ lại xây dựng các chiến lược “nương “ theo doanh nghiệp la xu thế chung trên toàn thế giới hiện nay ,

do đó sau đây xin đề cập đến những kinh nghiệm cung ứng dịch vụ logistic của một vài tập đoàn nổi tiếng trên thế giới là chính :

a) Kinh nghiệm kinh doanh dịch vụ logistic của bưu chính Singapore Bưu chính Singapore (SingPost) không chỉ kinh doanh các dịch vụ bưu chính mà còn kinh doanh/cung cấp mạng lưới dịch vụ phân phối “một điểm dừng” và đề nghị tất cả các dịch vụ Logistics đáp ứng nhu cầu của khách hàng từ nhà kho, hoàn thành và chuyển giao hàng hoá trong nước và quốc tế (SingPost Logistics) Với sự xuất hiện của Thương mại điện tử (TMĐT), việc kinh doanh ngày nay trở nên dễ dàng hơn theo nhiều hướng mới Chỉ cần một nhấn chuột trên mạng Internet, khách hàng có thể mua được hàng hoá tại bất kỳ nơi nào trên thế giới Tuy nhiên, việc bán hàng qua Internet chỉ có thể thực hiện khi có sự trợ giúp của các dịch vụ phụ trợ như: dịch vụ Logistics, mạng lưới chuyển giao trong nước và quốc tế SingPost đề xuất cung cấp các dịch vụ cho khách hàng bao gồm:

+ Hệ thống nhà kho;

+ Kiểm soát hàng tồn kho;

+ Dịch vụ trợ giúp khách hàng;

+ Dịch vụ nhận và đóng gói hàng hoá;

+ Dịch vụ giao tận nhà (door to door); v.v

Trợ giúp cho các dịch vụ nói trên, SingPost đề xuất các phương thức/gói dịch vụ đa dạng mà khách hàng có thể lựa chọn như: Speedpost Islandwide; Speedpost Worldwide; SpeedPost; Giải pháp chuyển giao hoàn thiện; Chuyển phát đúng giờ hoặc trả lại tiền

Các dịch vụ Logistics mà SingPost Logistics cung cấp đề xuất cho khách hàng giải pháp một điểm dừng mà sẽ chịu trách nhiệm cho tất cả các sản phẩm của khách hàng hay chuyển phát logistics, vì vậy khách hàng chỉ phải

Trang 30

tập trung vào việc kinh doanh của họ mà thôi Các dịch vụ kinh doanh này bao gồm:

+ Thiết lập TMĐT;

+ Đặt hàng và xử lý;

+ Tiếp nhận và chuyển phát tận nhà (Door to door);

+ Theo dõi vận chuyển và đặt hàng;

+ Lưu kho hàng hoá;

+ Gửi hoá đơn bán hàng;

+ Các dịch vụ hoàn thiện mạng của SingPost

Bài học kinh nghiệm cơ bản nhất trong kinh doanh dịch vụ logistics của SingPost là tận dụng ưu thế và kinh nghiệm sẵn có của mạng lưới, nhân lực

và cơ sở hạ tầng bưu chính; ứng dụng phương pháp quản lý hiện đại; thiết lập nhiều gói dịch vụ; cạnh tranh bằng giá và chất lượng dịch vụ, lấy phục vụ bưu chính là ưu tiên

b) Kinh nghiệm quản lý chuỗi cung ứng của Walmart

Thấu hiểu chuỗi cung ứng đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra

sự khác biệt Walmart có những chiến lược chuỗi cung ứng rất smart mà đến Hình 1.6: Hình minh hoạ tập đoàn Walmart

bây giờ Kmart hay các nhà bán lẻ khác còn đang học hỏi rất nhiều:

Walmart là công ty tiên phong về khái niệm cross-docking, sau này trở lên rất phổ biến

Trang 31

Walmart đi tiên phong ứng dụng RFID mà bây giờ trên báo nào cũng phải nhả vài từ về RFID, tuy nhiên hiệu quả

Hình minh hoạ về tập đoàn Walmart

RFID đến đâu thì vẫn cần phải có thời gian

Walmart là công ty tiên phong với CPFR mà trước hết với P&G, từ này tôi xin giải thích sau, tuy nhiên có thể hiểu là hoạch định, dự báo bổ sung cộng tác nghĩa là cả hai cùng chia sẻ thông tin với nhau để dự báo và hoạch định tốt hơn Cái này liên quan đến hiệu ứng Bull Whip mà tôi cũng xin được trình bày vào dịp khác

•Walmart sẽ mua hàng theo chính sách factory gate pricing nghĩa là walmart sẽ vận chuyển hàng từ cửa nhà máy

•Walmart rất chịu khó giành thời gian làm việc với nhà cung cấp và dĩ nhiên chỉ để hiệu cấu trúc chi phí của họ thế nào đại khái anh mua nguyên liệu của ai? Giá bao nhiêu? Công nhân của anh là ai? Lương thế nào? Có giảm được không? Vận chuyển nguyên liệu thế nào? Có phụ phí không? Margin của anh bao nhiều? Tại sao lại là thế? Tại sao? Và dĩ nhiên chỉ sau khi thỏa mãn thì walmart mới ký hợp đồng dài hạn ngon chưa rất dài hạn nhưng cam kết giảm giá mỗi ngày nhé ?

•Walmart có hệ thống trung tâm phân phối đáp ứng 85% nhu cầu hàng hóa so với 50-60% của đối thủ cạnh tranh Và dĩ nhiên chỉ làm thế thì Walmart mới cross-docking liên tục được

Trang 32

•Walmart cũng sở hữu 3500 xe tải để đáp ứng cho tất cả các hệ thống siêu thị của mình

•Walmart rất giỏi ứng dụng hệ thống tin để tối ưu hóa tất tần tật từ vận tải, tồn kho , lead time, OTIF,

c) Kinh nghiệm quản lý chuỗi cung ứng của Trung Quốc

c1) Thị trường địa lý:

Lãnh thổ Trung Quốc rất là rộng lớn Khó có thể đưa một sản phẩm được sản xuất tập trung đến tay của mọi người tiêu dùng ở Trung Quốc vì chi phí cho quá trình phân phối rất cao và làm cho giá cả hàng hoá vượt quá mức giá

có thể chấp nhận được của người tiêu dùng Thực tế là người tiêu dùng Trung Quốc thường mua những sản phẩm được sản xuất ở địa phương, được phân phối mức giá có thể chấp nhận được

Trên thực tế, tại Trung Quốc có ba thị trường: một thị trường đã phát triển

ở vùng duyên hải phía đông; một thị trường đang phát triển ở khu vực trung tâm của Trung Quốc; một thị trường mới mở ở vùng Viễn tây của Trung Quốc

Thị trường rộng lớn và giàu có ở vùng duyên hải phía Đông Trung Quốc, với dân số hơn 300 triệu người có thể tiêu dùng cả hàng hoá nhập khẩu và hàng hoá nội địa Đây là một thị trường cạnh tranh của các nhãn hiệu và hệ thống phân phối Thị trường này có một hệ thống logistics hiệu quả hỗ trợ cho họat động phân phối

Thị trường khu vực trung tâm của Trung Quốc bao gồm một vùng rộng lớn các khu vực nông nghiệp và các trung tâm thành phố Chính phủ đang nhanh chóng xây dựng các thành phố, các đặc khu kinh tế trong khu vực này

và cải thiện các hệ thống đường ô tô và đường sắt Người dân ở đây có tiền để mua hàng hoá, nhưng hệ thống phân phối và logistics chưa phát triển tương ứng, nên việc lưu thông hàng hoá giữa khu vực này và những khu vực khác rất khó khăn và tốn kém

Khu vực phía tây Trung Quốc là một vùng đất xa xôi, hẻo lánh chưa phát triển nhiều Thị trường ở đây được nuôi dưỡng bởi các họat động đầu tư và

Trang 33

phát triển của nhà nước Người dân ở khu vực này không có khả năng mua sắm nhiều và việc đưa hàng hoá từ nơi khác đến đây cũng rất khó khăn và tốn kém vì cơ sở hạ tầng cho họat động phân phối và logistics còn rất thiếu thốn.Hiện nay, Trung Quốc đang cố gắng phát triển kinh tế ở cả ba khu vực này Tuy nhiên, mỗi khu vực lại có tốc độ phát triển khác nhau Vấn đề của các doanh nghiệp là xác định khu vực đầu tư Ở Trung Quốc chưa có một hệ thống phân phối có thể đưa hàng hoá đến mọi nơi Các yếu tố văn hoá - xã hội

ở các địa phương rất khác biệt nhau nên nhu cầu về hàng hoá cũng không giống nhau Một công ty có thể có một kế hoạch dài hạn 30 năm ở Trung Quốc, nhưng trong kế hoạch ngắn hạn phải xác định khu vực mục tiêu

c 2) Thị trường sản phẩm:

Đây là một thị trường lớn cho các hàng hoá tiêu dùng thông thường và các công nghệ chuẩn Nhiều công ty Mỹ đã đầu tư tốn kém cho những hợp đồng và các đại lý bán hàng độc lập nhưng đã thất bại Các kỹ sư và nhà quản

lý từ chối mua các thiết bị không được kiểm định vì họ không muốn bị phê bình khi các thiết bị này bị hư hỏng và phải sửa chữa Họ thích sự bảo đảm của các thiết bị tiêu chuẩn

Trung Quốc là thị trường cho những hàng hoá mà các xã hội công nghiệp phát triển đã có từ lâu như ô tô, truyền hình, máy tính cá nhân, đồ điện gia dụng, thực phẩm chế biến và đồ uống nhe… Đây là một thị trường mà các nhà tiếp thị gọi là thị trường mới cho các sản phẩm hiện tại Tại đây diễn ra các cuộc chiến khốc liệt giành thị phần của Coca Cola và Pepsi Cola, Electrolux và Siemens, TCL và Motorola…

Hệ thống phân phối ở Trung Quốc rất manh mún vì trước đây nhà nước khuyến khích nền kinh tế địa phương tự sản, tự tiêu Không có hệ thống phân phối quốc gia Nhà nước là chủ sở hữu của các hệ thống logistics như đường sắt, đường bộ, kho tàng, bến bãi… và rất hạn chế đầu tư nước ngoài vào các lĩnh vực này Xét trên khía cạnh tích cực thì điều này giúp cho các công ty Trung Quốc tăng khả năng cạnh tranh với các công ty nước ngoài và có thể xây

Trang 34

dựng thương hiệu của họ Nhưng mặt khác Trung Quốc đã phải chi phí tốn kém cho hệ thống phân phối thiếu thốn và không hiệu quả Hàng hoá bị thất thoát trong quá trình phân phối từ một tỉnh đến tỉnh lân cận Việc vận chuyển nhanh hàng hoá bị tiêu phí tại các nhà ga vì hệ thống nhà kho và thông tin thiếu thốn Việc đánh thuế cao vào hàng hoá khuyến khích nạn buôn lậu.

Tóm lại, chính phủ Trung Quốc cần phải đầu tư rất nhiều vào việc phát triển các cơ sở hạ tầng cho các hệ thống phân phối để đáp ứng nhu cầu phát triển của toàn bộ nền kinh tế

c3 )Tác động của thị trường khách hàng đến chiến lược phân phối:

Mọi thị trường nội địa đều phát triển từ thị trường tiêu dùng đại chúng sang thị trường tiêu dùng được phân khúc Hiện nay, trên cơ sở nghiên cứu hành vi người tiêu dùng các nhà sản xuất đã định vị đến 44 phân khúc thị trường Cơ sơ dữ liệu của Lands End catalog xác định đến 1.500 phân khúc người tiêu dùng với các hành vi mua hàng khác nhau

Thị trường Trung Quốc chỉ với khu vực phát triển phía đông đã có số dân tương đương dân số của Mỹ hoặc cộng đồng châu Au Đây là một thị trường hỗn hợp của nhiều phân khúc khác nhau bao gồm những người trẻ tuổi và người lớn tuổi, người giàu và người nghèo, công nhân và người quản lý, những người lao động chân tay và những người lao động trí óc, cư dân thành thị và những người nhập cư, thế hệ X và những người sống theo truyền thống…

Thị trường Trung Quốc có rất nhiều phân khúc khác nhau nhưng vẫn còn nhiều người Trung Quốc chưa đủ khả năng để mua những sản phẩm đáp ứng nhu cầu của mình Điều này sẽ xảy ra khi Trung Quốc thực hiện tín dụng tiêu dùng và trở thành một xã hội tiêu dùng hơn nữa Trung Quốc hiện nay là một thị trường đại chúng rộng lớn cho các hàng hoá đạt chuẩn được hỗ trợ bằng hình ảnh công ty, quảng cáo và các chương trình khuyến mãi hơn là bằng các nhãn hiệu sản phẩm và hoặc là các chiến lược khác biệt giá

Trong khi chìa khoá cho sự thành công tại thị trường Mỹ là các phát minh mới nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng biệt thì chìa khoá cho sự thành

Trang 35

công tại thị trường Trung Quốc lại là việc xây dựng hệ thống phân phối hàng hoá đã đạt chuẩn để có thể đưa được hàng hoá đến thật nhiều điểm bán hàng trong thị trường rộng lớn này.

Các công ty nước ngoài sẽ tập trung lực lượng nhiều hơn vào các thị trường được phân khúc đáp ứng cho các nhu cầu riêng biệt Các công ty Trung Quốc có lợi thế hơn ở thị trường đại chúng vì họ có những kiến thức về địa phương và văn hoá của người Trung Quốc để xây dựng hình ảnh của công

ty và sử dụng những hiểu biết của họ trong hệ thống phân phối phức tạp để có được độ bao phủ thị trường rộng lớn Có được những thành quả này, các công

ty Trung Quốc sẽ tiếp tục thành công trong xã hội tiêu dùng có phân khúc ở giai đọan phát triển sắp tới

Tuy nhiên các công ty nước ngoài có ba lợi thế mà các công ty Trung

Quốc cần phải quan tâm Thứ nhất, họ có thể làm rất tốt công việc nghiên cứu

thị trường để tìm ra những phân khúc mới và có được những nhóm khách hàng

riêng biệt Lợi thế thứ hai là họ có các họat động R & D rất tốt và biết cách làm

khác biệt sản phẩm Do đó các công ty Trung Quốc phải đầu tư vào các họat động nghiên cứu thị trường để tạo nên giá trị cho các phân khúc khách hàng

mới Thứ ba là các công ty nước ngoài có rất nhiều kinh nghiệm trong việc

thiết kế và thực hiện các họat động quản lý chuỗi cung ứng Sau khi Trung Quốc gia nhập WTO, đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối và logistics

sẽ có thể vượt qua các lợi thế của các công ty Trung Quốc sớm hơn

c4) Kênh phân phối và việc bao phủ thị trường:

Bước đầu tiên của một doanh nghiệp khi xâm nhập thị trường Trung Quốc là phải xác định khu vực thị trường mà doanh nghiệp sẽ xây dựng mạng lưới phân phối bao phủ

Đa phần các doanh nghiệp lớn sẽ bán hàng đến khoảng 30 -35 thành phố

ở Trung Quốc Nhưng có một thị trường bán buôn ở nhiều thành phố có thể cung cấp hàng đến những thành phố nhỏ và cả vùng nông thôn Trung Quốc Các nhà sản xuất sẽ gởi hàng của mình đến những thị trường bán buôn ở

Trang 36

những thành phố khác nhau và từ đây hàng hoá sẽ được đưa đến mọi nơi ở Trung Quốc Tuy nhiên hàng hoá sẽ phải cạnh tranh với hàng hoá của những nhà bán buôn khác, nhà sản xuất có thể phải cắt giảm giá và sẽ bị phá vỡ kế hoạch doanh thu.

Đa phần các công ty thành công là bắt đầu từ thị trường của một thành phố hay một tỉnh và tối ưu hoá hệ thống phân phối của họ trong khu vực đó Làm tốt hệ thống phân phối ở một khu vực, doanh nghiệp sẽ có thể rút ra nhiều bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng mô hình phân phối cho những khu vực khác

Sau khi xác định khu vực thị trường mục tiêu, công ty nên xác định kênh bán lẻ cho đến tay người tiêu dùng Hàng hoá sẽ được đưa vào siêu thị, các chuỗi cửa hàng hoặc các cửa hàng nhỏ? Hãy bắt đầu với kênh phân phối và sau đó là nhà phân phối

Các công ty P & G, Nestle, Bestfoods, Johnson & Johnson đưa các công

ty thương mại quốc gia vào mạng lưới những nhà phân phối để có được kênh bán lẻ

c5) Các vấn đề bán lẻ:

Vào năm 2000 có 1 triệu điểm bán lẻ tại Trung Quốc, hơn 90% sở hữu tư nhân Ở các thành phố chiếm 22% các điểm bán lẻ, nhưng lại chiếm 60% hàng hoá được bán ra ở Trung Quốc Chuỗi bán lẻ chiếm khoảng 5% doanh

số bán và phát triển nhanh chóng Tại Thượng Hải, chuỗi bán lẻ chiếm 75% doanh số bán hàng của các siêu thị

Vào thập kỷ 90, một số cửa hàng high – end bị thất bại và một số lại tiếp tục ra đời tại Thượng Hải và Bắc Kinh Tuy nhiên, các cửa hàng high – end hàng mỹ phẩm lại thành công Ở Trung Quốc có khoảng 3 triệu triệu phú và 1.000 tỷ phú cùng với hơn 42 triệu du khách mỗi năm làm cho các cửa hàng high – end mỹ phẩm có một tương lai nhiều triển vọng

Tại thị trường bán lẻ hàng quần áo, đồ điện gia dụng và các lọai hàng tiêu dùng khác của Trung Quốc, có khá phong phú các điểm bán lẻ các nhãn hiệu

Trang 37

hàng hoá của Hồng Kông và nước ngoài với mức giá khác nhau và với các thiết

kế riêng biệt Các cửa hàng bán lẻ của Trung Quốc không bán nhiều nhóm hàng này Hàng hoá có giá trị trộn lẫn với những hàng hoá giá rẻ, và các hàng hoá có liên quan bán rải rác ở các cửa hàng Các mặt hàng có gía bán sỉ rẻ được bày bán rất nhiều trong khi những mặt hàng cần thiết khác lại không có Chuỗi các cửa hàng bán lẻ nước ngoài sẽ làm thay đổi tình trạng này

Doanh số ở các siêu thị có xu hướng tăng nhanh Các tập đoàn bán lẻ nước ngoài như Carrefour, Wal-mart, Parkson… có những kế hoạch phát triển nhiều tham vọng Các tập đoàn bán lẻ lớn của Trung Quốc như Yuexiu và Daoneijia hợp nhất để cạnh tranh kiểm soát các thị trường địa phương

Các nhà sản xuất muốn tăng lợi nhuận trong các chuỗi bán lẻ cần phải xây dựng thương hiệu của họ Chuỗi cửa hàng bán lẻ sẽ cung cấp các công cụ hiệu quả cho việc mua hàng tập trung và hệ thống quản trị kho hàng

Các nhà sản xuất cần phải tìm những nhà phân phối thích hợp để đưa vào những kênh phân phối này Sự phát triển năng lực của các nhà phân phối là yếu tố quan trọng để lựa chọn Nhà sản xuất cần phải giữ vai trò chủ đạo trong việc quản lý các mối quan hệ với những nhà cung cấp, và giúp họ tạo nên những giá trị cho các khách hàng

Một trong những vấn đề mà các chuỗi bán lẻ của Trung Quốc phải đối mặt là quy mô điều hành lớn Các chủ doanh nghiệp ở Trung Quốc thường có truyền thống thuê mướn các thành viên gia đình để quản lý và kiểm soát các họat động mua hàng Các doanh nghiệp bán lẻ không điều hành theo phương cách truyền thống này thì phải chuyên nghiệp hoá các hoạt động điều hành và cấu trúc quản lý

c6) Bán hàng trực tiếp:

Việc bán hàng trực tiếp cũng khá phát triển ở Trung Quốc Tuy nhiên, các họat động marketing đa cấp có một số vấn đề về chất lượng sản phẩm hoa hồng cho các đại lý bán hàng Do đó, các họat động chiêu thị cần phải được

Trang 38

quản lý chặt chẽ hơn và các đại lý bán hàng phải là các nhân viên được trả lương của công ty Hàng hoá bán trực tiếp phải sẵn có trong các cửa hàng.Việc bán hàng qua mạng đang phát triển ,nhưng còn nhiều hạn chế do những hạn chế trong vấn đề thanh toán, cơ sở hạ tầng của hệ thống mạng và các họat động quản trị mạng.

c7) Việc quản trị quan hệ phân phối

Các công ty nước ngoài nhận thấy các nhà phân phối Trung Quốc không biết cách tiếp thị cho hàng hoá của họ Họ cũng không có thông tin về hàng hoá và doanh số bán hàng Do đó các nhà sản xuất khó có thể lên kế hoạch sản xuất và không biết những phản hồi của khách hàng để hoàn thiện sản phẩm của mình

Các nhà bán buôn thường trữ hàng vì giá rẻ chứ không vì nhu cầu thực

sự Điều này gây ra các vấn đề trong việc dự báo nhu cầu, kiểm soát kho hàng

và chuỗi cung ứng

Do đó, các nhà sản xuất phải đặt người của họ ở các nhà phân phối và bán buôn.Điều này có thể giúp các nhà phân phối học tập các kỹ thuật và hệ thống quản lý phân phối hiện đại

Thành công trong lĩnh vực phân phối là một thách thức có thể mang lại thành công hay thất bại cho các công ty ở Trung Quốc Người chiến thắng là những người biết nhận ra những chỗ trống trong những giới hạn của hệ thống Hình 1.7 Hình minh hoạ thị trường 3PL

phân phối và duy trì các cơ hội gia tăng giá trị cho nhà phân phối và nhà bán lẻ

d) Kinh nghiệm của 100 đối tác chuỗi cung ứng hàng đầu thế giới

Cho dù công ty của bạn là một nhà cung ứng, nhà sản xuất hay bán lẻ, chuỗi cung ứng bạn quản lý đang ngày

Trang 39

càng trở lên phụ thuộc lẫn nhau Không một công ty riêng rẽ nào có thể thành công trừ phi các đối tác tham gia

vào chuỗi cung ứng ấy hoạt động một cách trơn tru.

Trên thực tế, chìa khoá cho thành công trong kinh doanh toàn cầu ngay nay đều liên quan đến việc xây dựng một chuỗi cung ứng vững mạnh thông qua việc hợp tác với những đối tác tốt nhất Những đối tác quan trọng sống còn bao gồm những công ty về công nghệ có thể thiết kế và chia sẻ dự liệu hữu dụng, các công ty cung cấp dịch vụ logistics thứ ba và các nhà vận chuyển có thể lưu chuyển sản phẩm từ nhà cung cấp đến khách hàng, các công ty tư vấn có thể giúp cải thiện quy trình và truyền thông trong kinh doanh, và số lượng không kể hết các nhà cung cấp có thể tạo ra cũng như phá

vỡ một chuỗi cung ứng thành công

Trong báo cáo 100 Đối tác trong chuỗi cung ứng hàng đầu của tạp chí Global Logistics và Supply Chain Strategies lần thứ 4 này dành toàn bộ nghiên cứu về tầm quan trọng trong việc liên kết các đối tác Trong các phần tiếp theo , các chuyên gia về logistics và chuỗi cung ứng sẽ chia sẻ những câu chuyện thành công và giải thích những thành tựu đóng góp cho sự thành công của chuỗi cung ứng Các nhà sản xuất và bán lẻ hiểu được rằng họ đang canh tranh trên bối cảnh thị trường toàn cầu Họ chỉ có thể thành công với sự hỗ trợ

từ các đối tác sở hữu những kỹ năng và dịch vụ mà học cần để kết nối và tăng cường năng lực cho các bên tham gia vào chuỗi cung ứng.Những đánh giá này còn đưa những thông tin hữu ích về việc một công ty làm sao có thể thu lợi được thông qua làm việc hợp tác với các đối tác tin cậy

Báo cáo lần này được thực hiện trên phạm vi toàn cầu,với gần 2000 đề cử

từ các công ty lớn nhỏ trong nhiều ngành nghề khác nhau trên cả năm châu lục Hơn 400 nhà cung cấp dịch vụ trong chuỗi cung ứng- từ phần mềm đến những công nghệ chuyên sâu, đến những 3PL toàn cầu, hay các dịch vụ vận tải chuyên nghiệp Các nhà cung cấp dịch vụ được đề cử dĩ nhiên là những nhà

Trang 40

cung cấp nổi tiếng Phạm vi của đề cử cho thấy bạn đọc của chúng tôi đang tìm kiếm những kết quả và không chỉ giới hạn về quy mô và phạm vi địa lý.Báo cáo là kết quả của khảo sát trong vòng 6 tháng mà chúng tôi hỏi các chuyên viên về logistics và chuỗi cung ứng để đề cử những nhà cung cấp dịch

vụ có ảnh hưởng quan trọng đến chuỗi cung ứng của họ về cả hiệu năng, hiệu quả hoạt động cũng như dịch vụ khách hàng trên toàn chuỗi cung ứng Mục đích giới thiệu danh sách các nhà cung cấp đáng tin cậy được thừa nhận bởi khách hàng

Như các bản báo lần trước và có lẽ là mãi mãi- 10 tiêu chí về chất lượng

mà chủ hàng cần ở nhà cung cấp sẽ được liệt kê ở đây

1 Sự tin cậy - không nghi ngờ gì nữa, yếu tố quan trọng nhất mà các chủ

hàng của chúng tôi đánh giá chính là sự tin cậy Các khách hàng của họ sẽ không chấp nhận sự tha thứ nào cho những dịch vụ hỏng Và chỉ khi nhà cung cấp chứng tỏ được sự tin cậy , thì một mối quan hệ đối tác lâu dài mới được thiết lập

2 Sự xuất sắc có tính liên tục- Khi mà hiệu quả hoạt động tốt là điều

đang được mong đợi, thì sự khen ngợi cao hơn sẽ dành cho những dịch vu vượt qua những yêu cầu Ít nhất một phần tư các đề cử của chúng tôi đều cho thấy những ví dụ về việc nhà cung cấp hoàn thành vượt mong đợi của khách hàng

3 Giá trị và tiết kiệm chi phí - Như nhiều độc giả nhận xét, động lực chính

của họ khi mua hay sử dụng công nghệ hoặc dịch vụ mới chính là vấn đề tiết kiệm chi phí, nhưng phần lớn các thước đo tài chính thì chính là giá trị tính trên yếu tố tăng doanh số, sản xuất hoặc các thước đo khác liên quan đến doanh số

4 Chuyên nghiệp và kinh nghiệm - Các nhà sản xuất và bán đang

ngày càng tìm kiếm các nhà cung cấp công nghệ và dịch vụ mà có thể áp dụng tốt nhất cho hoạt động của mình Các nhà cung cấp có sự chuyên nghiệp

sẽ nhanh chóng trở thành đối tác tin cậy

5, Khả năng giải quyết khó khăn phát sinh - Nhiều đề cử được dành

cho những công ty có thể khả năng giải quyết tình huống khó khăn tốt Các đối tác như vậy có thể giải quyết một cách hiệu quả những sự kiện bất ngờ mà

Ngày đăng: 06/04/2013, 17:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan anh -Việt báo : Dịch vụ giao nhận vận tải khó thoát kiếp làm thuê Khác
2. Bộ phận nghiên cứu và tư vấn công ty SCM : Kết quả về khảo sát logistics năm 2008- Đánh giá tính hiệu quả sử dụng dịch vụ logistics và xu hướng tương lai tại Việt Nam Khác
4. Hoàng Lâm Cường : Phát triển logistics nhằm tăng cường sức cạnh tranh của các công ty giao nhận vận tải Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Khác
5. Dương Ngọc Dũng - Việt Báo : Chiến lược kinh doanh của các nước đang phát triển xuất khẩu dịch vụ Khác
6. Phước Hà - Việt Báo : Dịch vụ logistics- nguồn lợi tỷ USD bị bỏ rơi Khác
7. Lê Phúc Hoà và Lý Bách Chấn - trường Đại học GTVT- tp Hồ Chí Minh : Bản chất kinh tế của logisics Khác
8. Vương Đình Nam- cục trưởng cục Hàng hải Việt Nam : Gia nhập WTO- cơ hội và thách thức đối với ngành hàng hải Việt Nam Khác
9. Trường Nam – trang web binhphuoc . org : Xuất khẩu -dịch vụ tiềm năng chưa khai phá Khác
10. Dương Hằng Nga – trang web giaothongvantai.com : Logistics ở Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh Khác
11. Đỗ Xuân Quang (MBA) –trang web saga.vn : Thực trạng định hướng phát triển ngành dịch vụ logistics tại Việt Nam Khác
12. Đỗ Xuân Quang – giám đốc điều hành vector aviation : Tri thức là sức mạnh Khác
13. Thời báo kinh tế Sài Gòn : Dịch vụ logistics : yếu toàn diện Khác
14. Trang web giaothongvantai.com : Bao giờ logistics không còn là tấm áo thời trang của doanh nghiệp Khác
15. Trang web vietnamshipper.com : Nâng cao năng lực cạnh tranh của logistics Việt Nam hậu WTO bắt đầu từ đâu Khác
16. Trang web vst.vista.gov.vn : Phát triển dịch vụ logisitcs Khác
17. Trang web 360vietnam.com : Chuỗi cung ứng của I-phone Khác
18. Trang web 360vietnam.com : Walmart quản lý chuỗi cung ứng của mình như thế nào Khác
19. Trang web 360vietnam.com : Thị trường logistics và những hiếu đúng nên có Khác
20. Trang web 360vietnam.com : Báo cáo đánh giá hiệu quả logistics của worldbank và Việt Nam xếp thứ 53/150 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1.3 : Đồ thị danh sách các đại gia trong thị trường 3PL - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Hình 1.3 Đồ thị danh sách các đại gia trong thị trường 3PL (Trang 18)
Hình 1.4: Hình ảnh minh họa sự phân chia thị trường 3PL của các nước Châu Á - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Hình 1.4 Hình ảnh minh họa sự phân chia thị trường 3PL của các nước Châu Á (Trang 19)
Hình 1.5: Hình minh hoạ nơi cần tập trung đầu tư vào thị trường 3PL. - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Hình 1.5 Hình minh hoạ nơi cần tập trung đầu tư vào thị trường 3PL (Trang 20)
Hình 1.6: Hình minh hoạ tập đoàn Walmart. - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Hình 1.6 Hình minh hoạ tập đoàn Walmart (Trang 30)
Bảng 2.1 Danh sách một số đối tác chuỗi cung ứng hàng đầu tiêu  biểu - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Bảng 2.1 Danh sách một số đối tác chuỗi cung ứng hàng đầu tiêu biểu (Trang 52)
Hình 1.8 Hình minh hoạ về chuỗi cung ứng của Nike - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Hình 1.8 Hình minh hoạ về chuỗi cung ứng của Nike (Trang 55)
Hình1.9: Hình minh họa những khó khăn của dịch vụ logistics ở Việt Nam - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Hình 1.9 Hình minh họa những khó khăn của dịch vụ logistics ở Việt Nam (Trang 77)
Bảng 2.2: LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG Cể TRèNH ĐỘ TỪ CAO  ĐẲNG TRỞ LÊN CHIA THEO LĨNH VỰC ĐÀO TẠO - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
Bảng 2.2 LỰC LƯỢNG LAO ĐỘNG Cể TRèNH ĐỘ TỪ CAO ĐẲNG TRỞ LÊN CHIA THEO LĨNH VỰC ĐÀO TẠO (Trang 81)
BẢNG 2.3: SO SÁNH QUỐC TẾ VỀ CÁC CHỈ TIÊU GIÁO DỤC  So sánh quốc tế về các chỉ tiêu giáo dục - 769 Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ cho ngành dịch vụ logistics ở Việt Nam
BẢNG 2.3 SO SÁNH QUỐC TẾ VỀ CÁC CHỈ TIÊU GIÁO DỤC So sánh quốc tế về các chỉ tiêu giáo dục (Trang 82)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w