766 Phân tích và xây dựng biện pháp cải thiện tình hình sử dụng nhân lực ở Xí nghiệp than Nam Mẫu - Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Từ khi chuyển từ cơ chế quản lý quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường Đất nước ta không ngừng đổi mới trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá - xã hội Từ một nước thuần nông nghèo nàn, lạc hậu nay đã cơ bản trở thành một nước có nền công nghiệp hoá Sau chiến tranh, mặc dù đất nước bị tàn phá năng nề, bị
cô lập, cấm vận trên nhiều lĩnh vực.nhưng Việt Nam đã cố gắng phấn đấu phát huy nội lực trong nước và tranh thủ mọi sự giúp đỡ của các nước anh em bè bạn đồng thời tăng cường công tác ngoại giao mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới Được các nước đồng tình ủng hộ giúp đỡ Đến nay Việt nam đã làm bạn và hợp tác với hơn một trăm quốc gia trên thế giới, có mối quan hệ hữu nghị và cùng nhau hợp tác trên nhiều lĩnh vực như: phát triển kinh tế, chính tri, an ninh quốc phòng, văn hoá - xã hội Tất cả những thành quả nêu trên đều do công của những con người đầy tài năng sáng tạo và lòng nhiệt huyết
Cùng với sự đi nên của Đất nước, các doanh nghiệp quốc doanh và tư nhân thực hiện đúng các chủ trương chính sách của đảng, pháp luật của nhà nước và quy định của từng nghành Đã từng bước được củng cố và thành lập mới để đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của thị trường Từ đó xu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp diễn ra ngày càng gay gắt và khốc liệt Muốn đứng vững trên thị trường, họ phải tự tìm cho mình một cách làm ăn nghiêm túc, có suy tính toàn diện và cặn kẽ, quyết định chọn sản phẩm, khách hàng, phương pháp tiến hành căn cứ khoa học và thực tế Trong sản xuất công nghiệp chúng ta phải đặc biệt chú trọng đầu tư nghiên cứu đối với sản phẩm, mạnh dạn đầu tư đổi mới công nghệ, trang thiết, thiết bị, máy móc và con người Trong đó quan trọng nhất là đầu tư cho con người (nhân lực) Hơn lúc nào hết, vấn đề này luôn luôn
là những đòi hỏi bức xúc của tất cả các doanh nghiệp Có được con người rồi nhưng để sử dụng những người này làm sao cho đúng, thức sự có hiệu quả, phát
Trang 2huy được hết khả năng sáng tạo của họ quả là một việc vô cùng khó khăn Vậy đòi hỏi người sử dụng lao động sáng tạo đòi hỏi các doanh nghiệp phải có các tiêu trí đánh giá về con người trong việc tuyển dụng, bồi dưỡng, sủ dụng, đãi ngộ là một vấn đề trọng tâm và thường xuyên mà các doanh nghiệp phải chú ý đến.
Xuất phát từ những lý do trên, cùng với những kiến thức lý thuyết học được tại trường và kiến thức thực tiễn lắm bắt được trong thời gian thực tập tại
xí nghiệp than Nam Mẫu- công ty TNHH một thành viên than Uông Bí Vận dụng những suy nghĩ và nhận thức của bản thân với nguyện vọng đóng góp một phần suy nghĩ bé nhỏ của mình cho sự đi lên của đất nước nói chung và doanh nghiệp nói riêng, tôi đã chọn đề tài:
“ Phân tích và xây dựng biện pháp cải thiện tình hình sử dụng nhân lực ở Xí nghiệp than Nam Mẫu - công ty TNHH một thành viên than Uông Bí.
Đây là một trong những nội dung quan trọng mà các doanh nghiệp sản xuất nước ta phải quan tâm nói chung Xí nghiệp than Nam Mẫu nói riêng.
Đề tài gồm: 3 phần.
Phần I : Cơ sở lý luận về sử dụng nhân lực ở doanh nghiệp SXCN.
1-1 Nhân lực đối với hoạt động của của doanh nghiệp SXCN.
1-2 Các chỉ tiêu phản ánh và so sánh, đánh giá tình hình sử dụng nhân
lực của doanh nghiệp SXCN.
1-3 Các yếu tố quyết định, ảnh hưởng đến tình hình sử dụng nhân lực
và phương hướng cải thiện.
Phần II : Đánh giá tình hình sử dụng nhân lực ở xí nghiệp than Nam Mẫu – Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí.
Trang 32- 1 Đặc điểm sản phẩm – khách hàng, đặc điểm công nghệ và tình hình hiệu quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
2-2 Tính toán các chỉ tiêu và phản ánh tình hình, sử dụng nhân lực ở xí nghiệp than Nam Mẫu , so sánh và nhận xét và đánh giá.
2- 3 Tìm chỉ ra những nguyên nhân trực tiếp, trung gian, sâu xa của tình hình sử dụng nhân lực của xí nghiệp.
Phần III : Một số biện pháp cải thiện tình hình sử dụng nhân lực ở xí nghiệp than Nam Mẫu – Công ty TNHH một thành viên than Uông Bí
Trên cơ sở về những kiến thức bản thân tôi tiếp thu được trong thời gian học tại trường và kiến thức thực tế, lắm bắt được trong thời gian thực tập tại xí nghiệp than Nam Mẫu cùng với kiến thức do giáo viên hướng dẫn làm đồ án
thực tập và tốt nghiệp Tôi đã hoàn thiện đồ án tốt nghiệp với nội dung: phân tích và xây dựng biện pháp cải thiện tình hình sử dụng nhân lực ở xí nghiệp than Nam mẫu Với hy vọng đề tài của tôi sẽ đạt được những thành công nhất
định trong việc nhìn nhận, đánh giá khả năng của xí nghiệp than Nam Mẫu trong giai đoạn hiện tại cũng như trong tương lai Góp một phần công sức nhỏ
bé của bản thân vào việc sử dụng nhân lại lực ở xí nghiệp để thúc đẩy sản xuất nâng cao năng xuất lao động mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xí nghiệp nói riêng và cho cả xã hội, đất nước nói chung Trong việc hoàn thiện đồ án do trình độ hiểu biết và nhận thức của bản thân có nhiều điểm còn hạn chế Do vậy trong nội dung của đề án không tránh khỏi những sơ xuất Tôi rất mong được sự châm trước của các thày các cô và cả hội đồng.
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy, thầy giáo
hướng dẫn GS – TS Đỗ văn Phức cùng tập thể ban giám đốc, các phòng ban
chuyên môn xí nghiệp than Nam Mẫu - công ty TNHH một thành viên than Uông Bí, cảm ơn những người bạn đã tham gia ý kiến cho đề tài này.
Sinh viên
Trang 4Nguyễn Văn Ba.
PHẦN I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO VÀ SỬ DỤNG NHÂN LỰC Ở
DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP
1.1- Nhân lực đối với hoạt động của doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.
Nhân lực của doanh nghiệp là toàn bộ những khả năng lao động màdoanh nghiệp cần và huy động được cho việc thực hiện, hoàn thành nhữngnhiệm vụ trước mắt và lâu dài của doanh nghiệp
Nhân lực của doanh nghiệp có ý nghĩa là sức mạnh quan trọng trong cácnguồn lực của doanh nghiệp Trong các ngành sản suất nói chung, ngành côngnghiệp và các doanh nghiệp sản suất công nghiệp nói riêng mỗi doanh nghiệp, xínghiệp có những nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực khác nhau Nhưng đều cónhững điểm chung đó là căn cứ vào tình hình sản suất kinh doanh của đơn vịmình để xây dựng kế hoạch sử dụng nhân lực sao cho phù hợp với ngành mìnhcần sử dụng
Trong mọi lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội nói chung, trong cácdoanh nghiệp sản xuất công nghiệp nói riêng Để thực hiện nhiệm vụ sản xuấtkinh doanh tạo ra sản phẩm, của cải vật chất cho doanh nghiệp và xã hội Cho
dù tài nguyên sẵn có và máy móc thiết bị có tiên tiến hiện đại đến đâu thì nhânlực luôn là yếu tố then chốt quyết định đến việc điều hành tổ chức thực hiện việckhai thác chế biến thành các sản phẩm theo ý muốn của con người đem ra sửdụng, tiêu thụ ngoài thị trường mang lại lợi ích cho xã hội và hiệu quả hoạt độngsản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Như chúng ta đã biết quá trình sản xuất bao giờ cũng bao gồm ba yếu tố
cơ bản đó là: Con người - công cụ sản xuất- đối tượng lao động Chính ba yếu
Trang 5tố này kết hợp với nhau tạo thành quá trình sản xuất, từ quá trình sản xuất đó đãtạo ra sản phẩm, của cải vật chất cho xã hội Cả ba yếu tố đều cần thiết song yếu
tố con người là quan trọng nhất
Trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nếu không có nhân lực thìmọi hoạt đông sẽ bị ngừng trệ mặc dù máy móc thiết bị công nghệ có hiện đạiđến đâu nhưng không có bàn tay khối óc của con người điều khiển, lao độngsáng tạo ra thì không giải quyết được vấn đề gì cả
Nhân lực của doanh nghiệp còn là đầu vào độc lập, quyết định chất lượngcủa sản phẩm sản xuất ra Tất cả mọi chi phí cho quá trình sản xuất, đến việchoàn thành các sản phẩm đều do nhân lực đảm nhiệm Nếu quá trình sản xuấtcon người biết tiết kiệm, sử dụng hợp lý hoá các thiết bị, công cụ lao động thì sẽtiết kiệm được chi phí, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, làm tăng năng suấtlao động, đem lại lợi ích cho xí nghiệp Điều đó được khẳng định bởi: Tất cảhoạt động của doanh nghiệp đều do con người thực hiện và quay trở lại phục vụcho con người
Con người có khả năng phân tích, dự báo nhu cầu thị trường, xác định cácđối thủ cạnh tranh, quyết định chiến lược sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,lập kế hoạch, xây dựng phương án sản xuất kinh doanh, sản phẩm, khách hàngvới chất lượng và số lượng xác định Trong sản xuất con người còn sáng tạothực hiện đổi mới công nghệ, chuyển giao công nghệ, vận hành máy móc thiết bị
và không ngừng cải tiến, hiện đại hoá máy móc thiết bị Con người còn xác địnhnhu cầu lao động và đảm bảo các đầu vào quan trọng đó Chính vì vậy nhân lực
có tác dụng quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Nhân lực luôn được coi là yếu tố then chốt quyết định đến hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp Do vậy các doanh nghiệp khi thực hiện lập
kế hoạch nhân lực phải căn cứ vào các chỉ tiêu sau:
+ Nhu cầu nhân lực
+ Số lượng , chất lượng nhân lực
Trang 6* Nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp sản suất công nghiệp :
Là toàn bộ nhu cầu lao động cần thiết cho thực hiện, hoàn thành các nhiệm
vụ trước mắt và các nhiệm vụ chuẩn bị cho tương lai Nhu cầu nhân lực củadoanh nghiệp về mặt tổng số lượng (NL) bao gồm nhu cầu cho thực hiện, hoàn
nhân lực được tính theo công thức:
NL= NL1 +NL2 +NL3
NL : Nhu cầu nhân lực
NL1 : nhân lực hoàn thành nhiệm vụ trước mắt
NL2 : Nhân lực thực hiện nhiệm vụ tương lai
NL3 : Nhân lực thay thế cho lao động về nghỉ hưu, chuyển công tác,
đi đào tạo
* Số lượng nhân lực, chất lượng nhân lực:
Số lượng nhân lực là toàn bộ số nhân lực của xí nghiệp theo danh sách đểtham gia lao động, sản suất làm ra một đơn vị sản phẩm hoặc một thời gian nhấtđịnh theo quy định của doanh nghiệp
Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng phù hợp về chất
lượng nhân lực theo các loại cơ cấu mà doanh nghiệp thu hút, huy động được(B) với chất lượng nhân lực theo các cơ cấu nhân lực đó mà hoạt động củadoanh nghiệp yêu cầu (A) như vậy cần xác định, làm rõ(A),(B) và chỉ ra mức độchênh lệch giữa chúng
Trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh các doanh nghiệp sản xuấtcông nghiệp phải thực hiện xây dựng một đội ngũ cán bộ công nhân viên chức
đủ về số lượng, tốt về chất lượng nhằm tạo ra năng suất chất lượng hiệu quả caotrong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đáp ứng được yêu cầutrong sự nghiệp công nghiệp hoá đất nước
Trang 7Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp quyết định các yếu tố đầu vào,chất lượng các sản phẩm trung gian, chất lượng của sản phẩm đầu ra, khả năngcạnh tranh của các sản phẩm đầu ra và quyết định làm tăng, giảm hiệu quả sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chất lượng nhân lực bao gồm: Chất lượng nhân lực theo cơ cấu giới tính,chất lượng nhân lực theo cơ cấu khoảng tuổi, chất lượng nhân lực theo cơ cấu balực lượng chủ chốt và chất lượng nhân lực theo cơ cấu ngành nghề, trình độchuyên môn, bậc thợ
Trong doanh nghiệp sản xuất công nghiệp nếu nhân lực đạt chất lượngcao tức là đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nêu trên là điều kiện thuận lợi cho việc
sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp được diễn ra thuận lợi và đạt kết quả như mong muốn
Nếu chất lượng nhân lực không đảm bảo có ảnh hưởng rất lớn trong việcphân công lao động, phân công không đúng với trình độ chuyên môn nghiệp vụhoặc trình độ chuyên môn nghiệp vụ yếu kém, không đúng năng lực sở trường,
cơ cấu độ tuổi, giới tính không phù hợp, môi trường làm việc, chế độ nghỉ ngơikhông đảm bảo thì dẫn đến người lao động làm việc không nhiệt tình Nếu cónhiệt tình thì hiệu quả lao động cũng không được cao, chất lượng không đảmbảo bởi vi không đúng với chuyên môn nghiệp vụ thì phải mất thời gian nghiêncứu mới thực hiện được công việc được giao Do vậy sản phẩm làm ra ít chấtlượng không đảm bảo thiếu sự cạnh tranh làm cho quá trình sản xuất bị ngừngtrệ, doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả thua lỗ dẫn đến phá sản
Chất lượng nhân lực của doanh nghiệp là mức độ đáp ứng phù hợp về chấtlượng nhân lực theo các loại về cơ cấu nhân lực mà doanh nghiệp thu hút, huyđộng được với chât lượng nhân lực theo cơ cấu nhân lực đó mà hoạt động củadoanh nghiệp yêu cầu Trong các doanh nghiệp thường có các loại khả năng laođộng: Lao động trực tiếp; Bộ phận quản lý; Bộ phận phục vụ Khả năng laođộng của doanh nghiệp theo cơ cấu này phải có số lượng và chất lượng đáp ứng
Trang 8phù hợp với yêu cầu thực tế hiện tại tương lai, có quan hệ ( cơ cấu) hợp lý, cósức mạnh hợp thành lớn nhất mới có thể sử dụng nhân lực một cách có hiệu quảnhất, làm ra nhiều sản phẩm, chất lượng cao để nâng cao hiệu quả sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong kinh tế thị trường cần đặc biệt quan tâm đầu tư ( chínhsách thu hút và sử dụng hấp dẫn hơn các đối thủ cạnh tranh) để có bộ ba nhânlực mạnh đồng bộ là: chuyên gia quản lý chiến lược và quản lý điều hành;chuyên gia công nghệ; thợ lành nghề Đây là ba lực lượng có trình độ cao là trụcột của doanh nghiệp khi được đào tạo cơ bản , làm việc đúng đắn và mạnh mẽ
họ sẽ tạo ra và áp dụng nhiều sản phẩm sáng tạo
- Người lãnh đạo quản lý là thực hiện những công việc quan trọng và phứctạp bậc cao Đây là loại công việc có tác dụng định hướng, điều phối các hoạtđộng ở xí nghiệp Đó là công việc xác định mục tiêu, chọn hướng sản xuất kinhdoanh, đảm bảo vốn, công cụ và lực lượng sản xuất, tổ chức hệ thống sản xuất,
tổ chức bộ máy, xây dựng quy chế hoạt động, điều hành phối hợp các hoạt độngthành phần trong sản xuất kinh doanh Loại công việc này đòi hỏi người cán bộlãnh đạo quản lý phải hiểu biết về thị trường, công nghệ, kỹ thuật sản xuất kinhdoanh, về con người, về kiến thức quản lý Sáng suốt trong các tình huống phứctạp, căng thẳng và dũng cảm là yêu cầu chung cơ bản đối với cán bộ quản lý.Trong quản lý điều hành không sáng suốt không thể giải quyết tốt các vấn đềquản lý, tình huống nảy sinh trong quá trình quản lý Cán bộ quản lý phải làngười hiểu biết sâu sắc trước hết về con người và về phương pháp cách thức(công nghệ) tác động đến con người, là người có khả năng tư duy biện chứng, tưduy hệ thống, tư duy nhân quả liên hoàn, nhạy cảm và hiểu được những gì mới,tiến bộ dũng cảm áp dụng những khoa học kỹ thuật mới ứng dụng trong sảnxuất
Công việc lãnh đạo quản lý được chia theo từng cấp khác nhau, lãnh đạoquản lý ở cấp càng cao thì càng phức tạp do đó phải cân đối lực lượng lãnh đạo
Trang 9cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công tác Trong công tác quản lý công việcxây dựng chiến lược sản xuất kinh doanh, công việc tìm kiếm công cụ, phươngpháp công nghệ tiến bộ, công việc ra các quyết định quản lý, công việc đề bạtcán bộ chủ chốt, công việc phân phối thành quả lao động chung là những côngviệc có mức độ phức tạp cực kỳ cao cần đến trí tuệ toàn diện của cán bộ lãnh
đạo
- Đội ngũ chuyên môn nghiệp vụ được bố trí làm việc ở các phòng ban,phân xưởng của xí nghiệp Tuỳ theo trình độ nghiệp vụ, năng lực sở trường củacán bộ để phân công công việc cho phù hợp Các cán bộ nghiệp vụ với chứcnăng nhiệm vụ làm công tham mưu giúp việc cho lãnh đạo trong lĩnh vựcchuyên môn nhiệp vụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh ở xí nghiệp
Đó là những công việc như chuẩn bị tư liệu, thông tin, chuẩn bị các dự án chocán bộ lãnh đạo xem xét quyết định và làm những công việc giúp cho cán bộtriển khai, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện các quyết định đó Do vậy cán bộđược phân công làm việc phải hiểu biết nắm vững các yêu cầu phục vụ cụ thể vàcách thực hiện các yêu cầu đó, phải hiểu biết các dạng thông tin, các công cụphương tiện thông tin, có khả năng giao tiếp tốt, có khả năng làm việc chu đáo,nhiều sáng kiến, triển khai tốt những công việc do cán bộ lãnh đạo phân côngtheo chức năng nhiệm vụ của mình
- Công nhân- nhân viên : Là những người trực tiếp tham ra sản xuất vàchuẩn bị cho sản xuất để làm ra các sản phẩm tiêu thụ ra ngoài thị trường độingũ công nhân nhân viên được bố trí làm việc ở các phân xưởng sản xuất và cácđơn vị phục vụ sản xuất
Công nhân sản xuất được chia thành công nhân sản xuất chính và công nhânsản xuất phụ Công nhân sản xuất chính là những người trực tiếp sản xuất ra sảnphẩm của xí nghiệp được bố trí làm việc theo trình độ bậc thợ tại các phânxưởng sản xuất của xí nghiệp Công nhân sản xuất phụ làm những công việc hỗtrợ, phục vụ cho công nhân trực tiếp sản xuất kinh doanh Do vậy đòi hỏi công
Trang 10nhân phụ phải nắm vững phục vụ những gì, khi nào, bao nhiêu, phải biết chuẩn
bị tiến hành phục vụ đầy đủ, kịp thời, đạt yêu cầu chất lượng không gây lãng phívật chất và sức lao động
Trình độ lao động được đánh giá bằng trình độ quản lý, chuyên môn, nghiệp
vụ, chuyên gia công nghệ, thợ lành nghề Trong nền kinh tế có cạnh tranh,những người tham gia sản xuất sản phẩm công nghiệp cần có khả năng trình độcao hơn, toàn diện hơn Trình độ của người lao động được thể hiện chủ yếu,thông qua khả năng nhận thức nhanh, trúng vấn đề và kỹ năng hành động thựctiễn Trình độ lao động là cơ sở để doanh nghiệp thực hiện phân công bố trí laođộng cho phù hợp với khả năng, năng lực của người lao động Nhằm tạo ra năngsuất lao động cao hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao góp phần thúc đẩy sựphát triển chung của xí nghiệp
Trong tất cả các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp sản xuất côngnghiệp nói riêng khi có đủ số lượng, chất lượng nhân lực theo yêu cầu thì côngtác sử dụng lao động, phân công lao động là yếu tố không kém phần quan trọng.Nếu phân công lao động đúng người đúng việc thì sẽ thúc đẩy quá trình sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp và ngược lại Do vậy doanh nghiệp phải quản
lý và sử dụng nhân lực có hệ thống, khoa học tức là quản lý nhân lực một cáchbài bản, áp dụng nhiều nhất các thành tựu khoa học vào trong quá trình sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp
1.2- Các chỉ tiêu phản ánh và so sánh, đánh giá tình hình sử dụng nhân lực của doanh nghiệp sản xuất.
Trong quá trình sử dụng nhân lực của các doanh nghiệp sản xuất công
nghiệp được đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu 1: Thời gian lao động
Thời gian lao động là thời gian cần thiết để sản xuất ra một khối lượng sảnphẩm
Trang 11Sử dụng hợp lý và tiết kiệm thời gian lao động là một yêu cầu quan trọngcủa công tác quản lý lao động trong xí nghiệp Công tác này bao gồm việc lập kếhoạch hoá sử dụng ngày công, giờ công, việc hạch toán thời gian lao động vàthực hiện các chế độ quản lý sử dụng lao động trong xí nghiệp Nhằm nâng cao
số ngày công, công tác trong tháng, trong năm và số giờ công có ích trong ngàycủa mọi người lao động, góp phần nâng cao năng suất lao động
Cơ cấu thời gian lao động theo ngày công và theo giờ công của công nhânsản xuất :
Ngày công làm việc của một công nhân trong tháng (hoặc quý, năm) đượcxác định từ ngày công theo lịch(-) ngày công vắng mặt và ngày công ngừngviệc Khác với số ngày công làm việc theo dự kiến, ngày công làm việc thực tếcòn tính thêm ngày công làm việc thêm ca
Các chỉ tiêu và biện pháp sử dụng thời gian lao động của công nhân sản xuấtnhằm đánh giá kết quả sử dụng thời gian lao động, phát hiện những nguyên nhânlãng phí thời gian lao động, vi phạm kỷ luật lao động và qua đó đề ra những biệnpháp bảo đảm nâng cao ngày công trong tháng (quý, năm) và số giờ công có íchtrong ngày
Để tính tổng hợp các chỉ tiêu sử dụng thời gian lao động trước hết phảitheo dõi chặt chẽ giờ công của công nhân hàng ngày, dựa vào bảng chấm công ởcác tổ sản xuất, các phiếu theo dõi công tác của tổ, phiếu báo ngừng việc…và sổtổng hợp thời gian lao động của công nhân toàn phân xưởng
Đánh giá tình hình sử dụng thời gian lao động theo đơn vị ngày công qua sơ
Trang 12Số ca làm thêm Số ngày công làm việc
thực tế trong chế độ
Số ngày công ngừng việc
Tổng số ngày công làm việc thực tế cho người lao động
Từ sơ đồ trên ta tính được:
+ Độ dài bình quân kỳ công tác trong chế độ theo công thức:
Tổng số ngày công làm việc thực tế trong chế độ
Tổng số ngày công thực tế nói chung
Tổng số ngày công làm việc thực tế trong chế độ
Hc = 1: Khi không có làm thêm ca
Hc > 1: Khi có ca làm thêm
- Các chỉ tiêu sử dụng thời gian theo đơn vị giờ công theo sơ đồ sau:
Tổng số giờ công làm việc theolịch
Số giờ công
Làm thêm
Số giờ công làm
và thực tế trongchế độ
Số gìơ côngtổn thất
Số giờ công Vắng mặt
Số giờ công làm việc thực tế hoàn toàn
Trang 13
+ Từ đó có thể tính chỉ tiêu về:
+ Độ dài bình quân ngày làm việc trong chế độ:
Tổng số giờ công làm việc thực tế trong chế độ
Tổng số ngày công làm việc thực tế nói chung
+ Độ dài ngày làm việc thực tế hoàn toàn
Tổng số giờ làm việc thực tế hoàn toàn
Tổng số ngày công làm việc thực tế nói chung
Ngoài ra có thể tính hệ số làm thêm giờ
Tổng số giờ làm việc thực tế hoàn toàn
Tổng số giờ công làm việc thực tế trong chế độ
Hg> 1: Khi có thời gian làm thêm
Ngoài các chỉ tiêu nêu trên đây, khi nghiên cứu tình hình sử dụng thời gianlao động của công nhân ta có thể lập bảng cân đối thời gian lao động của côngnhân trong phân xưởng trong đó có phân rõ các nguyên nhân vắng mặt ( nghỉ
ốm, con ốm mẹ nghỉ, nghỉ việc riêng, hội họp, học tập) và các nguyên nhânngừng việc (vì thiếu nguyên liệu, không có nhiệm vụ, máy hỏng…) Căn cứ vàocác tỷ lệ (%) tính được và xuất phát từ thực tế của phân xưởng mà nhận xét tìnhhình, vạch ra những khả năng tiềm tàng trong việc sử dụng giờ công, ngày côngcủa công nhân sản xuất
Nhận xét: Nếu thời gian thực sự làm việc bình quân một ca của một
công nhân càng cao tương ứng sản phẩm làm ra trong một ca càng nhiều, chấtlượng sản phẩm càng tốt sẽ là điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp hoàn thành kếhoạch sản xuất theo đúng kế hoạch đã đặt ra và ngược lại
Tận dụng thời gian lao động và sử dụng hợp lý thời gian lao động là mộtchỉ tiêu quan trọng nhằm đánh giá tình hình sử dụng nhân lực trong doanhnghiệp sản xuất công nghiệp
Trang 14Chỉ tiêu 2: Phân công lao động:
Phân công lao động là một quá trình tách riêng các loại lao động khácnhau theo một tiêu thức nhất định trong một điều kiện xác định (Mà thực chất làchia quá trình sản xuất- Kinh doanh) thành các bộ phận tổ và giao cho mỗi cánhân phù hợp với năng lực sở trường và đào tạo của họ
Phân công lao động là tìm cách biết cách giao việc cho người hoặc sắp xếp
người vào việc, đảm bảo người phù hợp với việc nhất Phân công lao động là sự
chia nhỏ toàn bộ các công việc để giao cho từng người họăc nhóm người Đóchính là quá trình gắn từng người lao động với nhiệm vụ phù hợp với khả năngcủa họ
Phân công lao động hợp lý hoá và khoa học sẽ tạo nên sự phù hợp với khảnăng trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người lao động sau khi họ được tuyển
mộ, tuyển chọn Tuy nhiên , với mỗi nhà quản lý ứng với mỗi khả năng, sángtạo xẽ có một sự kết hợp phân công theo nghệ thuật và khoa học quản lý khácnhau, nhưng để làm tốt vấn đề này nhà quản lý phải tuân thủ theo những nguyêntắc sau:
Thứ nhất phải đánh giá đúng thực trạng của dôanh nghiệp mình về đặcđiểm, loại hình sản xuất, quy mô cũng như về công nghệ và máy móc thiếtbị….để áp dụng phân công theo tính chất của từng công việc đây là bước côngviệc quan trọng, chông chỉ quyết định đến kết quả phân công lao động mà cònảnh hưởng của nhiều khâu của quá trình sản xuất
Thứ hai việc xây dựng hệ thống nội quy, quy định hoàn chỉnh trong xínghiệp
Thứ ba Để phân công lao động phù hợp với yêu cầu kỹ thuật công nghệ,với công việc được giao thì lao động có cơ sở khoa học tức là có định mức , cóđiều kiện và có khả năng hoàn thành
Trang 15Thứ tư : phải có sự cân đối phân đều nguồn lực cho người lao độngtrong quá trình sản xuất kinh doanh của của doanh nghiệp diễn ra thường xuyênliên tục.
Từ đây chúng ta có thể biết rõ rằng các nhà quản lý có những kỹ năng cơbản để phân công lao động, nhưng để đánh giá được những kỹ năng đó, còn phảidựa vào những điều mà người quản lý có làm được hay không như sau:
+ Khi phân công lao động, công nhân sản xuất chính luôn được lấy làmtrung tâm quyết định năng suất lao động của toàn bộ dây chuyền sản xuất
+ Sau khi phân công lao động hiệu quả của nó làm giảm lượng lao độnghao phí để sản xuất ra một sản phẩm dẫn đến chi phí cho một sản phẩm giảm,trong thời gian tác nghiệp của cá nhân và tăng năng suất lao động
+ Phân công không quá tỷ mỉ mà dẫn đến nhàm chán đơn điệu, dẫn đếnbệnh nghề nghiệp
+Phân công lao động phải đáp ứng được yêu cầu xã hội cá nhân làm đượctrong tổ chức phù hợp với khả năng, môi trường nhằm phát huy năng lực cánhân tạo trong doanh nghiệp, có tinh thần tập thể, có trách nhiệm, yêu thích vàhoàn thành công việc của mình
Để có cơ sở căn cứ cho phân công lao động hợp lý cần phải biết cách phânđịnh công việc và biết cách xác định khả năng lao động, tìm được tập hợp cácyếu tố thuộc khả năng lao động thích hợp với yêu cầu công việc đối với ngườitham gia thực hiện
Một yêu cầu chung của sự phân công lao động là phải đảm bảo sử dụnghợp lý, tiết kiệm sức lao động, phát huy tính chủ động và sáng tạo của mỗingười, tạo điều kiện duy trì và nâng cao khả năng làm việc lâu dài cũng nhưhứng thú của người lao động đồng thời vẫn đảm bảo sử dụng có hiệu quả cácnguồn vật chất kỹ thuật như máy móc, thiết bị, vật tư…
Trang 16Đảm bảo sự phù hợp giữa nội dung và hình thức của phân công lao độngvới trình độ phát triển của kỹ thuật và công nghệ với yêu cầu khách quan củasản xuất.
Đảm bảo mỗi người có đủ việc làm trên cơ sở mức lao động, khoa học,công việc phù hợp với năng lực sở trường đào tạo của mỗi người ; Nhằm mụcđích phát triển con người một cách toàn diện
Đảm bảo sử dụng một cách có hiệu quả nhất mọi nguồn lực trong doanhnghiệp( Vốn, vật tư, kỹ thuật và lao động)
Tuy nhiên trong phân công lao động cũng phải chú ý đến những giới hạn của
nó đó là giới hạn về kỹ thuật công nghệ, kinh tế, tâm sinh lý lao động, xã hội, tổchức…
Phân công lao động cho phép mỗi cá nhân và mỗi tập thể có điều kiện thựchiện chuyên môn hoá sản xuất góp phần nâng cao chất lượng công tác, nâng caonăng suất lao động và hiệu quả sản xuất kinh doanh
Các hình thức phân công lao động trong doanh nghiệp
+ Phân công lao động theo chức năng : đây là hình thức chia tách các hoạtđộng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo các chức năng chính và giaocho toàn thể những người lao động trong doanh nghiệp Các chức năng chủ yếunhư : chức năng quản lý chung- Lãnh đạo ; Chức năng thương mại ; Chức năngtài chính ; Chức năng cung ứng vật tư kỹ thuật ; Chức năng lao động- nhân sự ;Chức năng kỹ thuật công nghệ ; chức năng sản xuất
Phân công lao động theo chức năng tạo nên cơ cấu lao động chung trongtoàn doanh nghiệp Có tác dụng giúp cho mọi cá nhân và bộ phận làm việc theođúng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình đồng thời thực hiện tốt mối liên
hệ trong sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
+ Phân công lao động theo công nghệ : đây là hình thức phân công lao độngtrong đó tách riêng các loại công việc khác nhau theo tính chất của quy trìnhcông nghệ thực hiện chúng Hình thức phân công này là quan trọng nhất trong
Trang 17doanh nghiệp bởi vì nó phụ thuộc vào kỹ thuật và công nghệ sản xuất ra sảnphẩm của doanh nghiệp Theo cách này có các hình thức phân công lao động sauđây : Theo nghề ; các giai đoạn công nghệ chủ yếu ; các nguyên công ; các sảnphẩm chi tiết.
Phân công lao động theo công nghệ cho phép hình thành một đội ngũnhững người công nhân (Thợ chuyên môn và lành nghề đảm bảo chế tạo ranhững sản phẩm chất lượng cao, thoả mãn nhu cầu ngày càng tăng của kháchhàng
+ Phân công lao động theo mức độ phức tạp của công việc : đây là hìnhthức phân công lao động trong đó tách riêng các hoạt động, các công việc khácnhau theo tính chất phức tạp của ngành nghề Thực chất là căn cứ vào độ phứctạp khác nhau của công việc mà bố trí người lao động có trình độ lành nghềtương ứng Trong doanh nghiệp người ta dựa theo tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật đểxác định mức độ phức tạp công việc và trình độ lành nghề của công nhân từ bậc1- bậc 4 và từ bậc 5- bậc 7 Còn trong công việc hành chính và quản lý người tachia ra các trình độ từ sơ cấp, trung cấp, kỹ sư, kỹ sư chính, kỹ sư cao cấp
Hình thức phân công này cho phép sử dụng một cách hợp lý nhất cán bộcông nhân , tạo điều kiện nâng cao trình độ lành nghề và tạo điều kiện trả cônglao động hợp lý
Để đánh giá mức độ hợp lý của phân công lao động người ta dựa vào cáctiêu chuẩn sau đây :
Tiêu chuẩn về kinh tế : Tổng chi phí lao động nhỏ nhất, chu kỳ sản xuấtngắn nhất
Tiêu chuẩn về tâm sinh lý : Phù hợp với khả năng và giới hạn tâm sinh lýcủa con người, duy trì khả năng làm việc lâu dài, góp phần phát triển con ngườimột cách toàn diện
Tiêu chuẩn về xã hội : Tạo ra được tính tích cực lao động, quan niệmđúng đắn về lao động và xây dựng được các thể sản xuất tốt
Trang 18+ Hoàn thiện phân công lao động : Hoàn thiện phân công lao động trongdoanh nghiệp theo hướng sau : Kiêm nghề, kiêm chức, quay vòng các chỗ làmviệc, mở rộng công việc, làm phong phú công việc, tổ chức đứng nhiều máy.
Nhận xét: Nếu phân công lao động đúng và tương đối đúng với trình độ
chuyên môn thì người lao động sẽ tiếp cận được ngay với công việc được giao,phát huy được hết khả năng, sở trường, trình độ của bản thân là điều kiện thuậnlợi làm ra nhiều sản phẩm đạt chất lượng theo yêu cầu Đây là điều kiện đểdoanh nghiệp hoàn thành khối lượng sản phẩm theo đúng kế hoạch đã đặt ra.Một doanh nghiệp dù có trình độ chuyên môn bình quân cao nhưng nếu khôngphân công lao động hợp lý theo đúng chuyên môn nghiệp vụ thì hiệu quả côngviệc của mỗi cá nhân và tập thể sẽ đạt thấp Dẫn đến việc sử dụng nhân lực kémhiệu quả
Chỉ tiêu 3: Rủi do trong lao động (Người bị tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, về nghỉ do không còn khả năng lao động bình thường trước thời hạn) Khi làm việc trong những điều kiện lao động không thuận lợi của doanhnghiệp, người lao động thường phải gánh chịu một số hậu quả do ảnh hưởng củacác yếu tố điều kiện lao động gây ra Người ta dùng các chỉ tiêu về tình trạng tainạn lao động, bệnh nghề nghiệp, về nghỉ do không còn khả năng lao động bìnhthường trước thời hạn để phản ánh và đánh giá tình hình sử dụng nhân lực củadoanh nghiệp
Tai nạn lao động: Tai nạn xảy ra gây tác hại đến cơ thể người lao động dotác động của các yếu tố nguy hiểm và có hại trong sản xuất
Bệnh nghề nghiệp: Là bệnh phát sinh do tác động của điều kiện lao động cóhại đối với người lao động
Người lao động phải nghỉ việc do không còn khả năng lao động: Trong quátrình lao động người lao động có thể bị chấn thương do không tuân theo các yêucầu về an toàn lao động
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động trong sản xuất công nghiệp:
Trang 19+ Nguyên nhân khách quan do công nghệ, thiết bị máy móc(hay còn gọi làcác dạng tai nạn lao động) gồm : Tai nạn lao động do điện giật ;tai nạn lao động
do ngã từ trên cao xuống; tai nạn lao động do sử dụng nồi hơi và thiết bị chịu áplực; tai nạn lao động do sụt lở, sập hầm lò; Do vi phạm an toàn lao động; Tainạn lao động do các phương tiện vận tải; Ngoài ra còn có một số nguyên nhânkhác như: sập đổ công trình xây dựng gây chết người, chết đuối, ngộ độc… + Nguyên nhân chủ quan do con người bao gồm: Người lao động vi phạmquy chế an toàn, vệ sinh lao động không thực hiện nghiêm túc công tác bảo hộlao động; nguyên nhân do rủi ro gây ra
Có thể thấy rằng nguyên nhân chính gây nên tai nạn lao động nói chung vàtai nạn lao động làm chết người nói riêng là do người lao động vi phạm an toàn
vệ sinh lao động Các doanh nghiệp trong quá trình sử dụng lao động mặc dù cóquan tâm đến đầu tư kinh phí để cải thiện điều kiện lao động, trang bị bảo hộlao động, huấn luyện công tác an toàn, vệ sinh lao động nhưng không coi trọngcông tác tuyên truyền giáo dục cho người lao động có ý thức chấp hành quy chế
an toàn, vệ sinh lao động
Ngoài ra còn có các nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động(TNLĐ) và bệnhnghề nghiệp( BNN) là do trang thiết bị tồi, kém chất lượng, công tác sửa chữabảo dưỡng kém, có các hoá chất và khí ga độc hại, cũng như là công việc quásức, cường độ làm việc quá cao, quá ồn ào, bụi bặm và thiếu ánh sáng
Qua nghiên cứu cho thấy tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp thường xảy ra
ở các đối tượng như sau:
+ Những nhân viên trẻ hơn 30 tuổi
+ Những nhân viên chưa được đào tạo kỹ càng, chưa yên tâm với công việc + Những nhân viên cẩu thả
+ Những nhân viên đang ở tâm trạng buồn chán… dẫn đến tai nạn lao động,bệnh nghề nghiệp và hậu quả của nó
Trang 20Các tai nạn nghiêm trọng xảy ra phần lớn đều do các thiếu sót và lỗi củacon người, hoặc sự cố kỹ thuật hoặc các yếu tố bên ngoài Các tai nạn hầu hết làhậu quả của rất nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chính từ thiếu sót của conngười, không chỉ do những người trực tiếp điều khiển mà cả những nhân viênbảo quản, người giám sát, các nhà quản lý sản xuất, các nhà thiết kế, chế tạothiết bị và người cung cấp thiết bị.
Các sự cố kỹ thuật thường do thiếu sót của con người như bảo quản kém, sửdụng quá tải hoặc sử dụng không đúng quy trình Vì thế sự chú ý nên hướng trựctiếp tới việc ngăn chặn các lỗi và thiếu sót của con người ở tất cả các cấp
Thông thường, một sự kiện hoặc một điều kiện có thể dẫn đến nhiều sai lầmhoặc thiếu sót được gọi là các thiếu sót chung Hoạt động huấn luyện và hướngdẫn sơ sài cho người điều khiển sẽ dẫn đến một hành động sai lầm Nếu doanhnghiệp chưa có một chương trình huấn luyện được tổ chức tốt điều đó có thể donhững nhà quản lý của doanh nghiệp chưa quan tâm coi trọng công tác an toànnhư là ưu tiên hàng đầu và chưa đầu tư thời gian và tiền của một cách tươngxứng Không chỉ việc huấn luyện và hướng dẫn cho người điều khiển, mà cả kỹthuật an toàn và bảo dưỡng thiết bị cũng có xu hướng bị lơ là
Sai sót chung nguy hại nhất thuộc về tình trạng tổ chức giao trách nhiệmquản lý an toàn lao động không đầy đủ; Thiếu các bộ phận quản lý về an toàn,thiếu phối hợp giữa các phòng ban chức năng, thông tin tuyên truyền và hướngdẫn đến người lao động chưa tương xứng Sai sót chung rơi vào sự phân cấpquản lý nhiều hơn thì có thể dẫn đến thiệt hại nhiều hơn Do vậy trong quá trình
sử dụng lao động người quản lý phải có cam kết đầy đủ về an toàn máy mócthiết bị và thông báo cam kết đó đến mọi thành viên
Để đánh giá tình hình tai nạn lao động người ta căn cứ vào hệ số tần suất tainạn( Sts) là tỷ số giữa người bị tai nạn trên số lượng người làm việc trong thờigian xác định
S
Kts x 100
Trang 21N
Trong đó: S - số người bị tai nạn
N- số người làm việc bình quân hàng ngày
Như vậy hệ số tần suất tai nạn chính là số người bị tai nạn tính theo tỷ lệphần nghìn Hệ số tần suất mới chỉ cho biết tình hình tai nạn xảy ra nhiều hay ít,chưa cho biết đầy đủ về tình trạng tai nạn nặng hay nhẹ Để đánh giá tình trạngtai nạn, người ta xét thêm hệ số nặng nhẹ( Kn) là số ngày phải nghỉ việc trungbình tính cho mỗi người bị tai nạn
D
S
Trong đó: D- Tổng số ngày nghỉ việc do tai nạn lao động gây ra trong thờigian xét
S là số người bị tai nạn tại thời điểm đang xét
Trong hệ số này chỉ kể đến các trường hợp tai nạn phải nghỉ việc tạm thời,còn các trường hợp tai nạn dẫn tới mất sức lao động hoàn toàn hoặc chết ngườiphải xét riêng
Để đánh giá một cách tổng quát thể hiện đầy đủ đặc trưng về tình hình tainạn, nên đưa thêm vào hệ số tai nạn nói chung (Ktn) hệ số này là phân tích hai
hệ số trên, tức là:
Ktn = Kts x Ktn
Nhận xét: Chỉ tiêu trên đây đánh giá tình hình sử dụng lao động trong doanh
nghiệp Giúp doanh nghiệp nắm bắt được tình trạng lao động của mình để cóbiện pháp khắc phục, giảm thiểu những rủi ro không đáng có xảy ra nhằm nângcao chất lượng lao động, hiệu quả sản xuất của doanh nghiệp
Chỉ tiêu 4 : Hiệu quả sản xuất kinh doanh (giá trị gia tăng/ tổng số người
lao động và giá trị gia tăng/ tổng số giờ lao động)
Kn =
Trang 22Hiệu quả sản suất xuất kinh doanh là nền tảng cho khả năng sinh lời của
công ty hay xí nghiệp và nó được thúc đẩy bằng việc gia tăng hiệu quả của lựclượng lao động, của máy móc thiết bị Khả năng sinh lời của một công ty hay xínghiệp có mối quan hệ hết sức chặt chẽ với hiệu quả sản suất và do đó, chúng taphải phân tích mối quan hệ Hiệu quả sản suất được đo bằng giá tri gia tăng
Giá trị gia tăng có nghĩa là giá trị mới tạo được thông qua hoạt động sảnsuất kinh doanh Nói chung chỉ số này ngụ ý về giá trị mà công ty hay xí nghiệp
bổ xung vào việc sản suất kinh doanh
Có hai phương pháp để tính giá trị gia tăng
+ Một là phương pháp khấu trừ, tức là lấy doanh thu trừ đi chi phí Cáchthứ hai là phương pháp bổ sung, tức là bổ sung vào những khoản mục tạo ra giátrị gia tăng Theo phương pháp bổ sung, tổng giá trị gia tăng bao gồm những chiphí nhân sự và lao động, chi phí thêm và các khoản khác, các khoản lệ phí., chiphí tài chính dòng và lợi nhuận hoạt động sau khi thanh toán lãi vay Lấy tổnggiá trị gia tăng trừ đi chi phí khấu hao sẽ được giá trị gia tăng dòng Chi phíkhấu hao chuyển đổi tài sản cố định thành chi phí trong thời gian hữu ích của tàisản Hiệu quả sản suất được chia thành mức độ tập trung vốn và hiệu quả củavốn, được diễn giải dưới đây:
Tổng giá trị gia tăng
Số lao động bình quân đầu kỳ và cuối kỳ
Tổng giá trị gia tăng = Lợi nhuận từ hoạt động + chi phí nhân sự và laođộng + chi phí thuê + thuế và các chi phí xã hội + Các khoản chi phí + chi phíkhấu hao
Tổng giá trị gia tăng
Tổng số giờ lao động của công nhân
Trang 23* Tài sản cố định hữu hình trên số nhân công (Mức độ tập trung vốn)được đánh giá theo công thức:
Giá trị bình quân đầu kỳ và cuối kỳ cho
(Tài sản cố định hữu hình- Giá trị xây dựng dở dang)
Số lao động bình quân đầu kỳ và cuối kỳ
Tỷ số này thể hiện giá trị đầu tư vào thiết bị trên đầu công nhân và giúpchúng ta hiểu được mức độ tiết kiệm lao động và sự hợp lý hoá các khoản đầutưu vào thiết bị nhà máy trong quá trình sản xuất và bán hàng
Tổng giá trị gia tăng
Giá trị bình quân đầu kỳ và cuối kỳ cho
( Tài sản cố định hữu hình- giá trị xây dựng dở dang)
Tỷ số này tính toán giá trị gia tăng trên một đồng vốn tài sản cố địnhhữu hình hoạt động Đây là một chỉ số thể hiện hiệu quả sản xuất
* Hệ số chi phí lao động đối với giá trị gia tăng:
Công thức tính:
Chi phí lao động và nhân sự
Tổng giá trị gia tăng
Chỉ tiêu này tính toán tỷ lệ giữa chi phí nhân sự phân bổ như là tiềncông lao động đối với tổng gía trị gia tăng Hệ số này dùng để xem xét gánhnặng của chi phí nhân sự Nếu tỷ số này cao thì gánh nặng chi phí nhân sự lớn.Trong trường hợp đó có khả năng công ty gặp vấn đề trong quản lý do giảm lợinhuận mà có thể dùng để tái đầu tư
Các chỉ tiêu trên nói nên kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, năng suấtlao động cho biết một CBCNVC trong một thời gian nhất định đem lại baonhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp Điều này biểu hiện được chất lượng sửdụng lao động Nó mang nhiều ý nghĩa cho sự phát triển kinh tế xã hội nóichung và doanh nghiệp nói riêng gồm :
(Đồng)
* Hiệu quả của đồng
vốn =
( % )
Trang 24Tổng số ngày công làm việc thực tế
+ Năng suất lao động bình quân một lao động
Sản lượng sản suất ra
Tổng số giờ làm việc thực tế
Mức thu nhập bình quân một đầu người
Thu nhập của người lao động là một trong những yếu tố quan trọng nhằmthoả mãn các nhu cầu thiết yếu hàng ngày cho chính người lao động Ngoài ra
nó còn là yếu tố quan trọng trong việc bù đắp tái sản suất sức lao động chongười lao động Thu nhập có cao người lao động mới có đủ điều kiện thực hiệnmọi mong muốn của người sử dụng lao động, do vậy khi đánh giá hiệu quả sửdụng nhân lực cũng sử dụng yếu tố này
Trang 25Tổng quỹ lương = các thu nhập khác
= Số lao động bình quân
Năng suất lao động là hiệu quả có ích của lao động cụ thể của con ngườitrong quá trình sản xuất Mức năng suất của lao động được biểu hiện bằng sốlượng của sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian, hoặc lượng thời gianlao động đã hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm Từ đó năng suất laođộng có nghĩa là người lao động sản xuất khối lượng sản phẩm nhiều hơn hoặcbằng một số lượng lao động hao phí ít hơn Hay nói cách khác tăng năng suấtlao động chính là nâng cao hiệu quả có ích của lao động cụ thể bằng cách thựchiện những sự cải tiến trong cách thức lao động, sao cho tổng số lao động haophí để sản xuất ra trong đơn vị giảm xuống và số lượng sản phẩm sản xuất ratrong đơn vị thời gian tăng lên
thêm khối lượng sản phẩm, hạ thấp chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh
tế Mặt khác nhờ đó mà cải thiện điều kiện làm việc, cải thiện đời sống của côngnhân viên chức trong doanh nghiệp
Do vậy tăng năng suất lao động là nhiệm vụ hàng đầu của mỗi xí nghiệp,mọi người lao động trong xí nghiệp kể cả những người làm công tác quản lý,công tác kỹ thuật đều có trách nhiệm nâng cao năng suất lao động của phânxưởng, của toàn xí nghiệp
Mức năng suất lao động trong xí nghiệp được tính theo công thức tổngquát :
Khối lượng sản phẩm sản xuất ra(Q)
Lượng lao động đã hao phí (T)
Nhận xét: Nếu năng suất lao động cao sẽ phản ánh hiệu quả hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là đang đi đúng hướng và gặp phải nhữngthuận lợi nhất định trong hoạt động sản xuất và ngược lại
Trang 261.3 Các yếu tố quyết định, ảnh hưởng đến tình hình sử dụng nhân lực
và phương hướng cải thiện.
1.3.1 Các yếu tố quyết định, ảnh hưởng đến tình hình sử dụng nhân lực ở doanh nghiệp SXCN.
tố cấu thành nên hoạt động sản xuất Việc sử dụng nhân lực là yếu tố mang tínhquan trọng trong hoạt động sản xuất, nó quyết định tới năng suất và hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh Để sử dụng nhân lực có hiệu quả là vấn đề bất
cứ doanh nghiệp nào cũng quan tâm, đây là yếu tố mang tính sống còn với bảnthân doanh nghiệp Với nguồn nhân lực hiện có doanh nghiệp phải cân đối tínhtoán đưa vào sử dụng như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất Trong quátrình sử dụng nhân lực có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tình hình sử dụng nhânlực, tuy nhiên có yếu tố ảnh hưởng nhiều, có yếu tố ảnh hưởng ít, có những yếu
tố quyết định trực tiếp làm làm thay đổi kết quả hoạt động sản xuất kinh doanhcủa một đơn vị, tổ sản xuất, phân xưởng, hoặc cả một doanh nghiệp Những yếuảnh hưởng đến tình hình sử dụng nhân lực đó là:
* Yếu tố số lượng và chất lượng lao động:
Số lượng nhân lực của doanh nghiệp hiện có và huy động được để phục
vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tại thời điểm phân tích.Đây là nguồn nhân lực trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia vào hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp để thực hiện mục tiêu trước mắt cũng như lâu dàitrong hoạt động sản xuất kinh doanh Để đánh giá yếu tố biến động lao động đến
đâu hay như thế nào ta phải xem xét vào những nội dung như sau:
Trước tiên cần xem xét lượng lao động tham gia vào quá trình sản xuất
Tổng số lao động của doanh nghiệp thường được phân thành các loại sau đây: + Công nhân sản xuất: Bao gồm công nhân sản xuất trực tiếp và nhân viênsản xuất gián tiếp
Trang 27+ Công nhân viên ngoài sản xuất bao gồm : Nhân viên bán hàng và nhânviên quản lý.
Nhận xét: Thông qua các chỉ tiêu về nhân lực của doanh nghiệp cho thấy:
- Nếu nhân lực thực có của doanh nghiệp vừa đủ để đáp ứng nhu cầu hoạtđộng sản suất kinh doanh , đây sẽ là điều kiện thuân lợi cho việc sử dụng nhânlực của doanh nghiệp
- Nếu một doanh nghiệp dù có khả năng sử dụng nhân lực tốt đến đâu, nhưngnhân lực thực có không đủ đáp ứng nhu cầu nhân lực phục vụ cho hoạt động sảnxuất kinh doanh của doanh nghiệp thì chắc chắn việc sử dụng nhân lực củadoanh nghiệp cũng không được thuận lợi Được thể hiện theo quy luật cung cầu
- Ngược lại nếu nhân lực thực có của doanh nghiệp lớn hơn nhu cầu nhân lựccần thiết phục vụ sản xuất của doanh nghiệp, có thể nói đây là điều kiện thuậnlợi cho quá trình sử dụng nhân lực, nhưng lại là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đếnyêú tố lao động thì thừa ,công việc lại thiếu từ đó dẫn đến làm giảm hiệu quảhoạt động sản xuất kinh doanh, do thừa nguồn nhân lực so với thực tế cần dùng
* chỉ tiêu thứ hai: Chất lượng nguồn nhân lực
Nếu nguồn nhân lực của doanh nghiệp có chất lượng tốt hay xấu sẽ là yếu tốảnh hưởng trực tiếp đến quá trình phân công nhân lực của doanh nghiệp, cụ thể:
+ Với một khối lượng công việc sản xuất nhất định, nếu nhân lực có chấtlượng tốt sẽ là điều kiện thuận lợi để phân công nhân lực phù hợp và đảm bảohoàn thành khối lượng công việc được phân công Điều này sẽ là tiền đề thuậnlợi cho việc phân công nguồn nhân lực của doanh nghiệp được thuận lợi
+ Nếu nguồn nhân lực của doanh nghiệp có chất lượng không tốt, cũngcùng với khối lượng công việc sản xuất đã xác định sẽ là yếu tố ảnh hưởng trực
Trang 28tiếp đến việc hoàn thành khối lượng công việc được phân công Do vậy trongquá trình sản xuất phải phân công điều chuyển nguồn nhân lực bổ xung từ vị trínày sang vị trí khác, vì vậy sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc bố trí và sử dụngnhân lực của doanh nghiệp không ổn định từ đó dẫn đến loãng phí về thời gian
đi lại làm giảm năng suất trong lao động
Trên thực tế cho thấy nếu một doanh nghiệp có chất lượng nhân lực tốt sẽ
là điều kiện thuận lợi trong quá trình sử dụng nhân lực và là tiền đề để bố trínhân lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thuận lợi
* chỉ tiêu thứ ba: Trình độ nhân lực.
Trình độ nhân lực cũng là một yếu tố mang tính quyết định ảnh hưởng tớitình hình sử dụng nhân lực trong doanh nghiệp Doanh nghiệp muốn sử dụngnhân lực có hiệu quả thì vấn đề đầu tiên phải thống kê đánh giá trình độ nhânlực của toàn xí nghiệp, phân loại theo trình độ đại học, trung cấp, công nhân kỹthuật, thợ loa động lành nghề Nếu trình độ nhân lực theo phân loại đạt thấp ,không đáp ứng được yêu cầu thì dẫn đến việc sử dụng nhân lực bị hạn chế, năngsuất chất lượng, hiệu quả kém
* Chỉ tiêu thứ tư: Phân công lao động
Phân công lao động là một quá trình tách riêng các loại lao động khác
nhau theo một tiêu thức nhất định trong một điều kiện xác định (Mà thực chất làchia quá trình sản xuất- Kinh doanh) thành các bộ phận tổ và giao cho mỗi cánhân phù hợp với năng lực sở trường và đào tạo của họ
Một yêu cầu chung của sự phân công lao động là phải đảm bảo sử dụnghợp lý, tiết kiệm sức lao động, phát huy tính chủ động và sáng tạo của mỗingười, tạo điều kiện duy trì và nâng cao khả năng làm việc lâu dài cũng nhưhứng thú của người lao động đồng thời vẫn đảm bảo sử dụng có hiệu quả nhânlực của mình